Atlas về Trầm cảm: Con quỷ giữa ban trưa - Chương 2.1

atlas-ve-tram-cam-con-quy-giua-ban-trua-chuong-2-1

CHƯƠNG II Suy Sụp Tinh Thần

Ác Quỷ giữa ban trưa
Atlas Về Trầm Cảm

Tác giả: ANDREW SOLOMON

Người dịch: December Child

 

CHƯƠNG II

Suy Sụp Tinh Thần

Tôi chưa từng trải qua trầm cảm cho tới mãi tận sau này, khi tôi hầu như đã giải quyết được các vấn đề của mình. Mẹ tôi mất vào ba năm trước đó và tôi đã bắt đầu chấp nhận được điều này; tôi vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay; tôi hòa thuận với gia đình mình; tôi đã vượt qua được cái ngưỡng hai năm của một mối quan hệ bền chặt; tôi vừa mới mua một căn hộ xinh xắn; tôi viết bài cộng tác cho tờ New Yorker. Đó là khi cuộc sống cuối cùng cũng đi vào quỹ đạo và khi mà tất cả những lời biện minh dành cho nỗi tuyệt vọng đều đã được dùng tới, và cơn trầm cảm lén lút lẩn vào đời ta êm ru như bước chân của loài mèo và phá hỏng mọi thứ, tôi cảm nhận sâu sắc rằng không có lời giải thích hợp lý nào dưới tình huống như vậy cả. Bị trầm cảm khi mà bạn vừa trải qua một chấn thương tâm lý hay khi mà cuộc đời bạn rõ ràng là một mớ bòng bong là một chuyện, nhưng nếu như chỉ ngồi đó và đâm ra trầm cảm trong khi bạn cuối cùng cũng thoát khỏi những tổn thương và cuộc đời bạn không có gì rối ren thì thật là khó hiểu và bất định. Dĩ nhiên là bạn có nhận thức được những nguyên nhân sâu xa: việc luôn tái diễn của cơn khủng hoảng tồn tại, nỗi đau thương thuở bé đã bị lãng quên từ lâu, những lỗi lầm nhỏ bé mà ta từng phạm phải với người đã khuất, kết thúc của một tình bạn chỉ bởi vì sự sơ suất của ta, sự thật rằng ta chẳng phải là đại văn hào Tolstoy, sự vắng mặt của thứ gọi là tình yêu hoàn hảo trong cái thế giới này, sự thôi thúc của lòng tham và độc ác nằm ngay sát trái tim ta – hay những điều tương tự như thế. Nhưng giờ đây, khi mà tôi nhìn lại, tôi tin rằng chứng trầm cảm của mình vừa là một tình trạng hợp lý, vừa không thể chữa được.

Tôi không hề, theo những ngữ nghĩa về mặt vật chất, có một cuộc sống khó khăn. Hầu hết mọi người đều sẽ tương đối hài lòng với những lá bài mà tôi có trong tay ngay từ điểm khởi đầu. Tôi đã trải qua những giai đoạn tốt đẹp hay tồi tệ, theo quan điểm của cá nhân tôi, nhưng sự suy sụp này vẫn không đủ để giải thích cho những gì xảy ra với tôi. Nếu cuộc đời tôi khó khăn hơn, tôi sẽ hiểu về chứng trầm cảm của mình rất khác. Thực ra, tôi đã từng có một tuổi thơ khá hạnh phúc với cha mẹ vô cùng yêu thương mình, và một người em trai mà cha mẹ cũng yêu thương không kém và là người vẫn luôn thân thiết với tôi. Chính sự trọn vẹn của gia đình đã khiến cho tôi không bao giờ nghĩ tới khả năng ly dị hay xung đột giữa cha mẹ tôi, những người mà thật ra là vô cùng thương yêu nhau; và cho dù họ có cãi và lúc này hay lúc khác về dăm ba chuyện, họ chẳng bao giờ nghi ngờ về sự hết lòng tận tụy của người này dành cho người kia và cho cả các con nữa. Chúng tôi luôn có đủ để có thể sống được thoải mái. Tôi không phải là một đứa trẻ nổi bật ở trường tiểu học hay trung học cơ sở, nhưng vào cuối thời trung học tôi cũng cảm thấy mình kha khá hạnh phúc giữa vòng tay bạn bè. Và tôi vẫn luôn là một học sinh giỏi.

Khi còn nhỏ tôi có hơi rụt rè, sợ bị cự tuyệt trong những tình huống buộc phải bộc lộ bản thân – nhưng có ai mà lại không như vậy? Vào thời điểm tôi học trung học, tôi nhận thấy đôi khi mình có những tâm trạng bất an, mà, dường như thật bất thường đối với một cậu thiếu niên. Có một thời điểm, vào năm lớp mười một, tôi từng cho rằng dãy phòng học của chúng tôi (đã tồn tại cả trăm năm nay) sẽ bị sụp đổ, và tôi vẫn nhớ việc từng buộc bản thân mình phải chống lại nỗi lo lắng ấy hết ngày này qua ngày khác. Tôi biết rằng như thế thật kỳ cục và rồi cảm thấy thật nhẹ nhõm khi, vào khoảng một tháng sau đó, cái cảm giác này biến mất.

Rồi tôi lên đại học, nơi tôi vô cùng hạnh phúc, và là nơi mà tôi đã gặp gỡ rất nhiều người trở thành bạn thân của tôi cho tới tận ngày nay. Tôi học tập và vui chơi hết mình và thức dậy với những trạng thái cảm xúc và cả những phạm vi kiến thức mới mẻ. Đôi lúc khi tôi ở một mình, tôi bỗng cảm thấy cô đơn, và cái cảm giác ấy không đơn giản chỉ là sự buồn rầu vì phải ở một mình, mà còn là cả sự sợ hãi nữa. Tôi có nhiều bạn, và tôi sẽ tới thăm một người trong số họ, và tôi thường có thể dễ dàng làm xao nhãng nỗi buồn của bản thân. Đấy chỉ là điều đôi khi xảy ra và không phải là một vấn đề nghiêm trọng. Tôi tiếp tục thực hiện chương trình thạc sĩ của mình tại Anh, và khi tôi hoàn thành việc học, tôi không gặp khó khăn gì khi theo đuổi nghiệp viết. Tôi ở lại London vài năm. Tôi có nhiều bạn ở đó, và một số trong những tình bạn đó trờ thành tình yêu. Theo nhiều cách, tất cả những điều ấy đều ít nhiều giống như nhau. Cho tới giờ tôi đã có được một cuộc sống tốt đẹp, và tôi cảm thấy biết ơn vì điều đó.

Khi bạn bắt đầu rơi vào cơn trầm cảm, bạn có khuynh hướng nhìn lại để tìm kiếm nguyên nhân gây ra nó. Bạn tự hỏi rằng nó đến từ đâu, liệu có phải nó vẫn luôn có đó, chỉ nằm ngay bên dưới bề mặt kia, hay là nó đột ngột ập đến với bạn như là một cơn ngộ độc thực phẩm. Kể từ lần suy sụp tinh thần đầu tiên, tôi đã dành ra hàng tháng trời để liệt kê về những khó khăn thuở trước, nếu như chúng có tồn tại. Tôi bị sinh ngược, và có một số tác giả đã liên hệ sự sinh ngược này tới những tổn thương ban đầu. Tôi bị mắc chứng khó đọc, dù mẹ tôi là người phát hiện ra vấn đề từ rất sớm, đã bắt đầu dạy tôi cách để bù đắp cho điều này khi tôi chỉ mới hai tuổi, và nó chưa bao giờ là trở ngại lớn đối với tôi cả. Là một đứa trẻ, tôi chỉ có thể nói từng từ và rất lộn xộn. Khi tôi hỏi mẹ về việc phát hiện tổn thương ban đầu của tôi, bà nói rằng việc biết đi không hề đến với tôi dễ dàng, rằng trong khi việc nói lại diễn ra một cách trôi chảy, khả năng tự giữ thăng bằng đến với tôi rất muộn và không được hoàn chỉnh. Tôi nghe kể lại rằng tôi suốt ngày bị ngã, và chỉ nhờ có sự khích lệ lớn mà tôi mới có thể cố gắng đứng dậy. Và việc không thích thể thao về sau này khiến tôi trở nên mờ nhạt ở trường tiểu học. Dĩ nhiên là việc không được bạn bè công nhận đã khiến tôi thất vọng, nhưng tôi vẫn có một vài người bạn và tôi vẫn luôn thích người lớn, những người cũng yêu quý tôi.

Tôi có rất nhiều những kí ức lạ kỳ, lộn xộn về thời thơ ấu, hầu như tất cả trong số đó đều là những hình ảnh hạnh phúc. Một vị bác sĩ tâm lý từng điều trị cho tôi đã nói rằng một chuỗi kí ức mờ nhạt thuở đầu đời mang đôi chút ý nghĩa với tôi đã cho bà gợi ý rằng tôi từng là đối tượng của nạn ấu dâm. Điều này là hoàn toàn có thể, nhưng tôi chưa bao giờ có thể dựng nên một kí ức thuyết phục về điều đó hay viện dẫn tới những chứng cớ khác để đi đến kết luận này. Nếu có điều gì đó xảy ra, thì nó hẳn phải tương đối nhẹ nhàng, bởi vì tôi là một đứa trẻ được chăm chút cực kỳ cẩn thận, và bất kỳ một vết bầm tím hay trầy xước nào trên cơ thể tôi đều sẽ bị phát hiện. Tôi vẫn còn nhớ cơn trầm cảm khi tham gia một trại hè vào năm sáu tuổi, khi bỗng nhiên và và không vì một lý do gì tôi phải đối diện với nỗi sợ hãi. Tôi có thể thấy nó đầy sống động: sân tennis ở phía trước, nhà ăn bên tay phải, và cách đó chừng năm mươi foot, là một cây sồi lớn mà tôi vẫn thường ngồi nghe kể chuyện dưới tán cây. Bỗng nhiên, tôi chẳng thể động đậy. Tôi choáng ngợp trước sự nhận biết rằng có điều gì đó thật kinh khủng sắp xảy ra với tôi, hiện tại hoặc sau này, và rằng, cho tới chừng nào mà tôi còn sống, tôi sẽ chẳng thể thoát khỏi nó. Cuộc đời, cho tới tận khi ấy dường như là một bề mặt chắc chắn ở nơi tôi đứng, bỗng nhiên trở nên thật mềm và dẻo quẹo, và tôi bắt đầu trượt qua nó. Nếu như đứng yên, có thể tôi vẫn ổn, nhưng ngay khi tôi di chuyển, tôi sẽ lại rơi vào nguy hiểm. Dường như việc tôi sang trái hay sang phải hay đi thẳng về phía trước là vô cùng quan trọng, nhưng tôi không biết được hướng đi nào mới cứu mạng tôi, ít nhất là trong thời điểm ấy. Thật may làm sao, một giáo viên bước tới chỗ tôi và giục tôi hãy nhanh lên, tôi đã muộn giờ học bơi rồi đấy, và tâm trạng ấy qua đi, nhưng tôi vẫn còn nhớ đến nó suốt một thời gian dài sau đó và mong sao nó đừng quay trở lại.

Tôi cho rằng điều này không phải là bất thường ở trẻ nhỏ. Cảm giác lo lắng liên quan tới sự tồn tại thường diễn ra ở người trưởng thành, dù có thể là đau đớn, thường như một trò may rủi; phát giác đầu tiên về sự yếu đuối của con người, gợi ý đầu tiên về cái chết, đều gây tổn hại và quá mức chịu đựng. Tôi đều đã nhìn thấy những điều này ở các con nuôi và các cháu của mình. Sẽ thật là lãng mạn và ngớ ngẩn khi nói rằng vào tháng Bảy năm 1969, tại Trại hè Grant Lake, tôi đã hiểu ra rằng tôi rồi sẽ chết vào một ngày nào đó, nhưng tôi quả thực đã sảy chân, không vì một lý do nào cả, vào sự yếu đuối của chính mình, vào cái thực tế rằng cha mẹ tôi chẳng thể kiểm soát nổi cái thế giới này và toàn bộ những gì diễn ra trong đó, và rằng tôi cũng chẳng bao giờ kiểm soát được nó cả. Tôi có một trí nhớ rất tệ, và sau cơn trầm cảm ở trại hè ấy tôi trở nên sợ hãi trước những điều có thể mất đi cùng thời gian, và mỗi khi đêm về tôi sẽ nằm trên giường và cố gắng nhớ lại những sự việc đã diễn ra trong ngày để tôi có thể lưu giữ chúng – một sự tích trữ vô hình. Tôi đặc biệt trân trọng nụ hôn chúc ngủ ngon của cha mẹ, và tôi thường ngủ với một tờ khăn giấy được kê dưới đầu để hứng lấy những nụ hôn nếu như chúng có lỡ rơi xuống, để mà tôi có thể gói chúng lại và lưu giữ chúng mãi về sau.

Kể từ khi bước vào trung học, tôi nhận thức được một cảm giác rối bời về tính dục, mà tôi có thể nói rằng đó là một trong những thách thức cảm xúc lớn nhất trong đời mình. Tôi chôn vùi vấn đề này đằng sau sự hòa đồng của bản thân để không phải đối mặt với nó, một sự phòng thủ đơn giản đã bị bộc lộ khi vào đại học. Tôi đã có vài năm bất định, một thời kỳ dài dính vào cả nam lẫn nữ; và điều này khiến cho mối quan hệ giữa tôi và mẹ trở nên căng thẳng. Tôi thường rơi vào một tâm trạng lo lắng dữ dội mà không vì lý do nào cả, một sự pha trộn lạ kỳ giữa nỗi buồn và sợ hãi không biết đến từ đâu. Đôi khi nó ập đến vào những lúc tôi ngồi trên xe buýt khi còn là một đứa trẻ. Đôi khi nó ập đến vào những tối thứ Sáu ở trường đại học, khi mà tiếng ồn ã của không khí hội hè nhấn chìm sự riêng tư trong bóng tối. Đôi khi nó ập đến lúc tôi đang đọc sách, và đôi khi nó ập đến lúc tôi đang làm tình. Nó vẫn luôn ập đến với tôi mỗi khi xa nhà, và cho đến giờ nó vẫn là một món trang sức của những chuyến đi xa. Cho dù tôi chỉ rời nhà cho một kỳ nghỉ cuối tuần, nó ùa đến ngay khi tôi vừa khóa lại cánh cửa sau lưng mình. Và nó cũng thường xuất hiện mỗi lúc tôi trở về. Mẹ tôi, cô bạn gái, và thậm chí là một trong những chú chó của chúng tôi nữa, sẽ chào đón tôi và tôi sẽ thấy thật buồn, và nỗi buồn ấy khiến cho tôi sợ hãi. Tôi đối phó với nó bằng cách hành xử theo kiểu áp đặt với mọi người, là điều vẫn luôn khiến tôi có thể xao lãng. Và tôi cứ phải huýt sáo một điệu vui vẻ mới có thể thoát được khỏi nỗi buồn đó.

Vào mùa hè sau năm cuối đại học, tôi bị suy sụp tinh thần nhẹ, nhưng vào thời điểm đó tôi không biết nó có nghĩa là gì. Khi ấy tôi đang chu du ở châu Âu, tận hưởng một mùa hè mà tôi vẫn hằng mơ ước, hoàn toàn tự do. Đó là một món quà tốt nghiệp mà cha mẹ dành cho tôi. Tôi trải qua một tháng tuyệt vời trên đất Ý, rồi sang Pháp, rồi ghé thăm một người bạn ở Morocco. Morocco khiến cho tôi khiếp sợ. Như thể tôi bỗng nhiên được giải phóng khỏi quá nhiều những bó buộc thông thường, và tôi luôn cảm thấy lo lắng, cái cảm giác mà tôi vẫn thường có mỗi khi đứng sau cánh gà ngay trước giờ diễn kịch ở trường. Tôi trở lại Paris, gặp thêm một vài người bạn ở đó, có một thời gian tuyệt vời, và rồi tôi tới Vienna, một thành phố mà tôi vẫn hằng mong được đặt chân tới. Tôi bị mất ngủ ở Vienna. Tôi tới nơi, đăng ký phòng ở một khách sạn tư nhân nhỏ, và gặp gỡ vài người bạn cũng đang ở Vienna. Chúng tôi lên kế hoạch cùng nhau đi Budapest. Chúng tôi đã có một buổi tối dễ chịu và rồi tôi quay về khách sạn và thức trắng cả đêm đó, hoảng hốt vì một sai lầm mà tôi cho rằng mình đã mắc phải, dù tôi cũng chẳng biết đó là gì. Ngày hôm sau, tôi thấy vô cùng khó chịu khi phải ăn sáng trong một căn phòng đầy những người lạ, nhưng khi rời khách sạn, tôi đã cảm thấy khá hơn và quyết định sẽ tham quan một số điểm nghệ thuật và nghĩ rằng chẳng qua là mình mệt quá. Bạn tôi có hẹn ăn tối với người khác, và khi họ thông báo với tôi như vậy, tôi cảm thấy bị chấn động tới tận xương tủy, như thể tôi đang được nghe kể về một âm mưu giết người nào đó vậy. Họ đồng ý đi uống cùng tôi sau bữa tối. Tối đó tôi không ăn. Chỉ là tôi chẳng thể nào đi vào một nhà hàng xa lạ và gọi món một mình (mặc dù tôi đã làm điều này vô số lần trước đó); cũng như tôi chẳng thể bắt chuyện với bất kỳ ai. Khi tôi cuối cùng cũng gặp được các bạn mình, toàn thân tôi run rẩy. Chúng tôi ra phố và tôi uống nhiều hơn nhiều so với những lần tôi từng uống trước đó, và tôi cảm thấy tạm thời bình tĩnh lại. Đêm ấy, tôi lại thức trắng với cái đầu đau đớn và những cơn quặn thắt nơi dạ dày, lo lắng một cách đầy ám ảnh về giờ khởi hành của chuyến tàu đi Budapest. Tôi vượt qua được ngày hôm sau, và trong suốt đêm thứ ba không ngủ liên tiếp, tôi hoảng sợ đến nỗi tôi chẳng thể đứng dậy để vào nhà vệ sinh suốt cả một đêm. Tôi gọi cho cha mẹ. “Con cần phải về nhà,” tôi nói. Họ nghe chừng có vẻ rất ngạc nhiên, vì trước chuyến đi này tôi đã phải kì kèo để có thêm được mỗi một ngày và một điểm đến, cố gắng kéo dài thời gian ở nước ngoài hết mức có thể. “Có chuyện gì thế con?” họ hỏi, và tôi chỉ có thể nói rằng tôi thấy không khỏe và mọi thứ diễn ra không được thú vị như tôi mong đợi. Mẹ tôi đồng cảm. “Du lịch một mình có thể sẽ vất vả,” bà nói. “Mẹ nghĩ là con sẽ gặp các bạn ở đó, nhưng dầu vậy, thì cũng vô cùng mệt mỏi.” Còn cha thì nói, “Nếu con muốn về nhà thì hãy dùng thẻ của cha để mua vé máy bay và cứ về đi.”

Tôi mua vé, gói ghém đồ đạc, và về nhà vào chiều hôm ấy. Cha mẹ đón tôi ở sân bay. “Có chuyện gì vậy?” họ hỏi, nhưng tôi chỉ có thể nói rằng tôi không thể ở đó lâu hơn được nữa. Trong vòng tay ôm ấp của họ, lần đầu tiên tôi cảm thấy thật an toàn sau nhiều tuần lễ. Tôi bật khóc vì nhẹ nhõm. Khi quay trở lại ngôi nhà mà tôi đã từng lớn lên, tôi thấy tuyệt vọng và cảm thấy hoàn toàn ngu ngốc. Tôi đã phá hỏng chuyến du lịch mùa hè của mình; tôi đã quay trở lại New York, nơi mà tôi chẳng có gì để làm ngoại trừ những việc lặt vặt cũ rích. Tôi đã không được thăm Budapest. Tôi gọi cho mấy người bạn, những người rất ngạc nhiên khi nghe thấy giọng tôi. Tôi thậm chí còn chẳng buồn giải thích về điều đã xảy ra. Tôi ở nhà suốt cả mùa hè đó. Tôi thấy chán, khó chịu, và lúc nào cũng cau có, mặc dù chúng tôi cũng có vài khoảng thời gian tốt đẹp cùng nhau.

Tôi gần như đã quên hết những gì diễn ra vào mấy năm sau đó. Sau mùa hè ấy, tôi tới Anh học cao học. Bắt đầu sự nghiệp học hành tại một ngôi trường mới ở một đất nước mới, tôi hầu như chẳng sợ hãi gì. Tôi bắt nhịp được ngay với cuộc sống mới, nhanh chóng kết bạn, đạt kết quả học tập tốt. Tôi yêu nước Anh, và dường như chẳng một điều gì có thể khiến tôi sợ hãi nữa. Cái bản thể sợ hãi đi cùng với quãng đời đại học trên nước Mỹ nay nhường chỗ cho một anh chàng khỏe mạnh, tự tin và dễ chịu nhường này. Khi tôi mở tiệc, mọi người đều muốn tham gia. Những người bạn thân thiết nhất của tôi (mà cho tới giờ vẫn là những người bạn thân nhất) là những người mà tôi sẽ ngồi cùng cả đêm, trong một sự thân thiết nhanh chóng và sâu sắc với niềm vui thích tuyệt vời. Tôi gọi điện về nhà mỗi tuần một lần, cha mẹ nhận thấy rằng tôi hạnh phúc qua giọng nói của mình. Tôi khao khát được có bầu có bạn mỗi khi tôi cảm thấy hoang mang, và tôi đã tìm thấy nó thật dễ dàng. Trong vòng hai năm, tôi gần như lúc nào cũng hạnh phúc, và chỉ thấy không vui vì thời tiết xấu, sự khó khăn trong việc khiến mọi người luôn yêu quý tôi, khi thiếu ngủ, và bắt đầu rụng tóc. Cái khuynh hướng trầm cảm duy nhất luôn hiện diện trong tôi là cảm giác hoài niệm: không giống như Edith Piaf[1], tôi tiếc nuối mọi điều chỉ bởi vì nó đã kết thúc, và ngay từ khi tôi mười hai tuổi, tôi đã thấy bi ai vì thời gian cứ thế trôi đi. Ngay cả khi ở trong tâm trạng tốt nhất, dường như tôi đang vật lộn với hiện tại trong một nỗ lực mơ hồ nhằm ngăn nó trở thành quá khứ.

Tôi nhớ những năm đầu tuổi hai mươi của mình trôi qua thật yên bình. Tôi quyết định, gần như là trong một ý định bất chợt, trở thành một kẻ mạo hiểm và sẽ phớt lờ những lo lắng của bản thân kể cả khi nó liên quan tới những hoàn cảnh đáng sợ đi chăng nữa. Mười tám tháng sau khi tôi hoàn thành chương trình thạc sĩ, tôi bắt đầu thường xuyên tới Moscow, Liên Xô và sống bán-thời gian cùng một vài nghệ sĩ mà tôi quen biết ở một ngôi nhà bị chiếm dụng bất hợp pháp. Khi một kẻ cố gắng cướp đồ của tôi vào một đêm nọ ở Istanbul, tôi đã chống cự thành công và hắn ta bỏ chạy mà không cướp được gì từ tôi. Tôi cho phép bản thân xem xét đến mọi khả năng tính dục; tôi bỏ lại sau lưng gần như mọi sự kiềm chế và nỗi sợ tình ái. Tôi nuôi tóc dài; rồi tôi cắt ngắn nó đi. Thi thoảng tôi có diễn cùng một ban nhạc rock; tôi cũng đi nghe cả opera. Tôi xây dựng một niềm khát khao trải nghiệm, và tôi đã có được nhiều trải nghiệm nhất có thể ở nhiều nơi chốn nhất có thể mà tôi có đủ khả năng để tới được đó. Tôi ở trong một mối quan hệ yêu đương và tạo nên một không khí hạnh phúc gia đình.

Và rồi vào tháng 8 năm 1989, khi tôi hai mươi lăm tuổi, mẹ tôi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng và cái thế giới hoàn hảo của tôi bắt đầu sụp đổ. Nếu như bà không đổ bệnh, cuộc đời tôi có lẽ sẽ rất khác; nếu như câu chuyện ấy ít bi thương hơn một chút, thì có lẽ tôi sẽ vượt qua cuộc đời này với một vài khuynh hướng trầm cảm nhưng sẽ không suy sụp; hoặc có lẽ tôi sẽ có một cơn suy sụp tinh thần về sau này như là một phần của cơn khủng hoảng tuổi trung niên; hay có lẽ tôi sẽ chỉ trải qua giống như lần ở châu Âu hồi trước. Nếu như phần đầu tiên của một sơ yếu lý lịch về cảm xúc là những trải nghiệm tiền thân, thì phần thứ hai sẽ là những trải nghiệm bị kích thích. Hầu hết những ca trầm cảm nặng đều có tiền căn là những cơn trầm cảm nhẹ hơn mà hầu như đã không được để ý tới hoặc đơn giản là không được lý giải. Dĩ nhiên là nhiều người chưa bao giờ trải qua trầm cảm đều có những trải nghiệm mà về sau này khi nhìn nhận lại sẽ được xem như là những cơn trầm cảm tiền căn nếu như chúng có dẫn tới bất cứ điều gì, và chúng không hề tồn tại trong ký ức là bởi vì ta không thể cụ thể hóa những gì mà chúng có thể báo trước.

Tôi sẽ không kể chi tiết về việc mọi thứ đã sụp đổ như thế nào bởi vì với những người đã từng biết đến chứng bệnh có tính tàn phá này thì điều đó là vô cùng rõ ràng và với những người chưa từng mắc phải nó thì căn bệnh vẫn luôn là thứ gì đó không thể giải nghĩa nổi như hồi tôi hai mươi nhăm tuổi vậy. Chỉ cần nói rằng lúc ấy mọi chuyện thật khủng khiếp. Năm 1991, mẹ tôi qua đời. Bà năm mươi tám tuổi. Tôi buồn tê tái. Bất kể bao nhiêu nước mắt đã tuôn rơi và nỗi đau đớn khôn cùng, bất kể sự ra đi của người mà ta vẫn hằng lệ thuộc vào, tôi khá ổn sau cái chết của mẹ. Tôi buồn và tôi tức giận, nhưng tôi không phát điên.

Mùa hè đó, tôi bắt đầu trị bệnh bằng phân tâm học. Tôi nói với bác sĩ trị liệu cho tôi rằng tôi cần có một lời hứa trước khi tôi có thể bắt đầu, tôi muốn bà ấy hứa rằng sẽ không dừng lại cho tới khi chúng tôi hoàn thành việc phân tích, bất kể có điều gì xảy ra đi nữa, trừ khi sức khỏe của bà không cho phép. Khi ấy bà đã gần bước sang tuổi bảy mươi. Bà đồng ý với tôi. Bà ấy là một người phụ nữ thông thái và duyên dáng làm tôi nhớ đến mẹ của mình. Tôi dựa dẫm vào cuộc hẹn hàng ngày của chúng tôi để kiềm chế nỗi đau khổ trong mình.  

Đầu năm 1992, tôi phải lòng một người con gái gái thông minh, xinh đẹp, hào phóng, tử tế, và luôn xuất hiện thật tuyệt vời trong mọi mối giao thiệp của chúng tôi, nhưng đồng thời cũng là người cực kỳ khắt khe. Chúng tôi đã có một mối quan hệ dữ dội nhưng cũng thường hạnh phúc. Cô ấy mang thai vào mùa thu năm 1992 và buộc phải từ bỏ cái thai trong bụng, điều đó mang lại cho tôi cái cảm giác bất ngờ về sự mất mát. Cuối năm 1993, một tuần trước ngày sinh nhật thứ ba mươi của tôi, chúng tôi đồng ý chia tay trong đau đớn. Tôi rơi vào một cơn suy sụp khác.

Tháng 3 năm 1994, bác sĩ tâm lý của tôi nói với tôi rằng bà quyết định nghỉ hưu bởi vì việc đi lại giữa ngôi nhà của bà ở Princeton tới New York đã trở nên thật khó khăn. Tôi đã cảm thấy giữa chúng tôi không có được sự kết nối và đã từng cân nhắc đến việc chấm dứt điều trị; tuy nhiên, khi bà thông báo với tôi tin này, bỗng nhiên tôi bật khóc nức nở suốt một giờ liền. Tôi thường không khóc nhiều; tôi đã không khóc như vậy kể từ khi mẹ mất. Tôi cảm thấy cô đơn khủng khiếp và hoàn toàn bị phản bội. Chúng tôi có vài tháng (bà ấy không chắc là bao lâu; hóa ra là hơn một năm) để kết thúc việc điều trị trước khi bà nghỉ.

Cuối tháng đó, tôi phàn nàn với bác sĩ tâm lý về cảm giác mất mát, một sự chết lặng, đã tiêm nhiễm tới mọi mối quan hệ của tôi với người khác. Tôi chẳng màng đến yêu đương; đến công việc; đến gia đình; đến bạn bè. Việc viết lách của tôi trở nên trì trệ, rồi ngưng hẳn. “Tôi chẳng biết điều chi,” họa sĩ Gerhard Richter từng viết. “Tôi chẳng làm được việc gì. Tôi chẳng hiểu được điều gì. Tôi chẳng biết tới điều gì. Không gì cả. Và tất cả những khổ sở này thậm chí còn chẳng thể khiến tôi đau khổ.” Và cả tôi nữa cũng nhận ra rằng tất cả những cảm xúc mạnh mẽ đều đã ra đi, ngoại trừ nỗi lo lắng dai dẳng nhất định. Tôi vẫn luôn có một ham muốn tình dục mạnh mẽ mà thường dẫn tôi đến nhiều rắc rối; nay nó dường như đã bốc hơi. Tôi không hề cảm thấy nỗi khát khao quen thuộc về sự thân mật thể xác hay cảm xúc và chẳng hề bị hấp dẫn bởi những con người tôi gặp trên phố hay trước những người mà tôi đã biết và yêu; trong những lúc ân ái, tâm trí tôi cứ trôi dạt về mấy cái danh sách mua hàng và những việc tôi cần phải làm. Điều ấy khiến tôi cảm thấy rằng tôi đang đánh mất chính mình, và nó làm tôi hoảng hốt. Tôi đi đến quyết định lên lịch cho những khoái lạc của đời mình. Trong suốt mùa xuân năm 1994, tôi tới các bữa tiệc và cố gắng và thất bại trong việc tìm kiếm niềm vui; tôi gặp những người bạn và cố gắng và thất bại trong việc kết nối với họ; tôi mua những món đồ đắt đỏ mà tôi từng muốn sở hữu trong quá khứ và chẳng thu được một chút thỏa mãn nào từ chúng; và tôi ép mình vào những thái cực chưa từng có trước đây để đánh thức hứng thú tình dục trong mình, tôi xem những bộ phim khiêu dâm và cực đoan hơn cả là mua dâm. Tôi không những cảm thấy vô cùng hoảng sợ trước các hành vi mới này, mà tôi cũng chẳng thể có được bất kỳ sự thỏa mãn, hay sự khuây khỏa nào, từ đó. Bác sĩ của tôi và tôi cùng phân tích về tình huống này: tôi đã bị trầm cảm. Chúng tôi cố gắng tìm đến gốc rễ của vấn đề trong khi tôi cảm thấy sự xa cách đang dần dần tăng lên. Tôi bắt đầu phàn nàn rằng tôi cảm thấy bị nhấn chìm trong những tin nhắn trong hộp thoại của mình và tôi cứ khăng khăng vềs điều đó: tôi thấy những cuộc gọi, thường là của bạn bè, như một thứ gánh nặng không thể chịu đựng nổi. Mỗi khi tôi trả lời một cuộc gọi, nhiều cuộc gọi khác sẽ đổ vào. Tôi cũng bắt đầu sợ hãi cả việc lái xe. Khi tôi lái xe vào buổi tối, tôi chẳng thể nhìn rõ đường, và mắt tôi khô khốc. Tôi thường nghĩ tôi sẽ lạc tay lái mà đâm vào giải phân cách hoặc lao vào một chiếc xe khác. Nhiều khi tôi đang đi giữa đường cao tốc và bỗng nhiên tôi nhận ra rằng tôi chẳng biết phải lái xe như thế nào nữa. Trong cơn khiếp đảm, tôi sẽ đánh xe vào lề đường và đổ mồ hôi lạnh. Tôi bắt đầu dành những cuối tuần ở trong thành phố để tránh phải lái xe. Bác sĩ và tôi lục lại quá khứ của những buồn bã lo âu trong tôi. Hóa ra mối tình giữa tôi và bạn gái kết thúc là bởi vì một giai đoạn trầm cảm sớm, mặc dù tôi biết rằng có thể việc kết thúc mối quan hệ này cũng là nguyên nhân dẫn đến trầm cảm. Khi tôi xoáy sâu vào đầu mối này, tôi tiếp tục tìm ra những điểm khởi đầu khác của trầm cảm: kể từ cuộc chia tay; kể từ cái chết của mẹ; kể từ khi mẹ bắt đầu bị bệnh trong suốt hai năm trời; kể từ khi kết thúc mối quan hệ trước đó nữa; kể từ hồi dậy thì; kể từ lúc sinh ra. Rồi ngay sau đó, tôi chẳng thể nghĩ tới một thời điểm hay một hành vi nào mà lại không dẫn tới một triệu chứng. Dẫu vậy, những gì tôi trải qua chỉ là chứng trầm cảm loạn thần kinh (neurotic depression), gây ra bởi nỗi buồn rầu lo lắng, chứ chẳng bởi vì điên. Nó có vẻ như nằm trong sự kiểm soát của tôi; nó là một phiên bản kéo dài của thứ mà tôi từng phải chịu đựng trước đó, một thứ gì đó quen thuộc ở cấp độ này hay cấp độ khác với những người khỏe mạnh. Trầm cảm diễn ra cũng từ từ như là sự trưởng thành.     

Vào tháng Sáu năm 1994, tôi bắt đầu cảm thấy chán chường. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi được phát hành ở Anh, và sự yêu thích của công chúng dành cho nó chẳng có mấy ý nghĩa với tôi. Tôi đọc những bài bình luận một cách thờ ơ và cảm thấy mệt vào mọi lúc. Đến tháng Bảy, tôi quay về nhà ở New York. Tôi cảm thấy bị đọa đầy với những sự kiện xã hội, cho dù đó chỉ là những cuộc trò chuyện. Nó có vẻ như đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn hẳn so với những giá trị mà nó mang lại. Tàu điện ngầm trở nên không thể chịu nổi. Bác sĩ tâm lý của tôi, lúc này vẫn chưa nghỉ hưu, nói rằng tôi đang trải qua một cơn trầm cảm nhẹ. Chúng tôi thảo luận về những nguyên nhân, như thể gọi tên của con quái vật có thể sẽ thuần hóa được nó. Tôi biết quá nhiều người và làm quá nhiều việc; tôi nghĩ rằng có lẽ tôi nên cố gắng buông bỏ.

Cuối tháng Tám, tôi bị sỏi thận, một chứng bệnh từng xảy ra với tôi trước đó. Tôi gọi cho bác sĩ riêng, người hứa rằng sẽ báo với bệnh viện và tôi sẽ được đưa thẳng tới phòng cấp cứu. Tuy nhiên, khi tôi tới bệnh viện, dường như không có ai nhận được thông báo. Cơn đau nơi túi mật vô cùng kinh khủng, và trong khi tôi ngồi đợi, cứ như thể có ai đó, đã nhúng hệ thần kinh trung ương của tôi vào dung dịch acid, khiến các dây thần kinh bong tróc đến tận lõi. Dù tôi có trình bày về cơn đau của mình rất nhiều lần cho rất nhiều người, chẳng một ai làm gì hết cả. Và rồi có thứ gì đó dường như chộp lấy tôi. Đứng giữa phòng cấp cứu của Bệnh viện New York, tôi bắt đầu la hét. Họ tiêm một mũi morphine vào tay tôi. Cơn đau dịu đi. Rồi ngay sau đó, nó quay trở lại: tôi cứ ra vào viện suốt năm ngày, tôi được đặt ống thông bốn lần; cuối cùng, tôi được kê liều morphine tối đa cho phép, được bổ sung bằng cách tiêm Demerol cứ sau vài giờ. Tôi được thông báo rằng những viên sỏi của tôi không rõ hình và vì thế mà tôi không phải là một ứng viên cho phương pháp tán sỏi thận qua da, một phương pháp giúp loại bỏ chúng nhanh chóng. Có thể tiến hành phẫu thuật nhưng cách này gây đau đớn và có thể sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Tôi không muốn làm phiền đến cha mình, lúc này đang đi nghỉ ở Maine; giờ thì tôi muốn liên lạc với ông, bởi vì ông biết rõ bệnh viện này từ những ngày mẹ tôi còn điều trị ở đó, và có thể giúp sắp xếp mọi việc. Ông dường như không hề lo lắng. “Sỏi thận, sẽ khỏi thôi, cha đảm bảo là con sẽ không sao đâu, và cha sẽ gặp lại con khi cha về tới nhà,” ông nói. Trong khi ấy, tôi không ngủ quá ba tiếng mỗi đêm. Tôi đang thực hiện một dự án lớn, một bài báo về những chính trị gia khiếm thính, và trong một trạng thái đờ đẫn tôi đã làm việc với những người xác minh dữ kiện và các biên tập viên. Tôi cảm thấy đã để tuột mất sự kiểm soát cuộc đời của chính mình. “Nếu như cơn đau này không dừng lại,” tôi nói với một người bạn, “thì tôi sẽ tự sát.” Trước đây tôi không bao giờ nói thế.

Khi rời khỏi bệnh viện, lúc nào tôi cũng sợ hãi. Cả cơn đau và thuốc giảm đau đều khiến tinh thần tôi suy yếu. Tôi biết rằng viên sỏi thận vẫn còn đấy và rằng tôi có thể sẽ bị tái phát bất cứ lúc nào. Tôi sợ hãi khi phải ở một mình. Tôi cùng một người bạn trở về căn hộ của mình, thu dọn đồ đạc, và rời đi. Đó là một tuần lễ phiêu bạt; tôi chuyển từ nhà người này sang nhà người khác. Hầu hết những người bạn ấy đều phải đi làm vào ban ngày, và tôi sẽ ở trong nhà họ, tránh xa phố phường, chú ý để không rời điện thoại quá xa. Tôi vẫn tiếp tục uống thuốc giảm đau phòng bệnh và cảm thấy mình có lẽ hơi điên. Tôi tức giận với cha mình, tức giận một cách vô lý, ngang ngạnh, cáu bẳn. Cha xin lỗi vì điều mà tôi gọi là thái độ vô tâm của ông và cố gắng giải thích với tôi rằng ông chỉ muốn bày tỏ sự nhẹ nhõm của mình trước việc tôi không mắc phải một căn bệnh chết người. Ông nói rằng ông đã tin vào khả năng chịu đựng khổ sở tương đối của tôi trong điện thoại. Tôi rơi vào một cơn cuồng loạn khiến tôi chẳng thể suy nghĩ được điều gì. Tôi từ chối nói chuyện với ông hoặc báo cho ông biết nơi tôi đang ở. Lúc này hay lúc khác tôi sẽ gọi điện và để lại tin nhắn trong hộp thoại của ông: “Con ghét cha và con ước gì cha chết đi” thường là câu mở đầu của những lời nhắn này. Thuốc ngủ giúp tôi vượt qua những đêm này. Tôi bị tái phát nhẹ một lần và phải quay lại bệnh viện; chẳng có gì nghiêm trọng, nhưng nó khiến tôi sợ chết khiếp. Ngẫm lại, tôi có thể nói rằng đó là tuần lễ mà tôi thực sự đã phát điên.

Cuối tuần đó, tôi tới Vermont để dự đám cưới của mấy người bạn. Đó là một cuối tuần đẹp trời vào lúc cuối hè. Tôi gần như đã hủy bỏ chuyến đi, nhưng sau khi có được thông tin chi tiết về bệnh viện nằm gần nơi tổ chức đám cưới, tôi quyết định cố gắng thực hiện nó. Tôi đến nơi vào thứ Sáu vừa đúng giờ tiệc tối và khiêu vũ (tôi không tham gia khiêu vũ), và tôi nhìn thấy một người quen sơ hồi đại học vào mười năm trước. Chúng tôi nói chuyện, và tôi cảm thấy như thể mình đã trải qua nhiều cảm xúc hơn cả mấy năm qua. Tôi thấy bản thân mình tỏa sáng; tôi thấy ngây ngất và không hiểu được tại sao lại không có điều tốt đẹp nào nảy sinh từ đó. Tôi rơi từ cảm xúc này sang cảm xúc khác theo một cách gần như vô lý.

Sau đám cưới ở Vermont, sự trượt dốc trở nên ổn định hơn. Tôi làm việc ngày càng ít đi và kém hiệu quả hơn. Tôi hủy bỏ kế hoạch đi Anh để dự một đám cưới khác, cảm thấy rằng chuyến đi ấy vượt quá sức của tôi, mặc dù, chỉ một năm trước đó, tôi đi London thường xuyên mà chẳng gặp mấy khó khăn. Tôi bắt đầu cảm thấy rằng không ai có thể yêu được tôi và rằng tôi sẽ chẳng bao giờ yêu được nữa. Tôi không còn một chút cảm giác ham muốn nào nữa cả. Tôi bắt đầu ăn uống thất thường bởi vì hiếm khi tôi cảm thấy đói. Bác sĩ tâm lý của tôi nói rằng đó vẫn là dấu hiệu của sự trầm cảm, và tôi cảm thấy mệt mỏi với cái từ ấy và mệt mỏi với cả vị bác sĩ. Tôi nói rằng tôi không điên nhưng sợ rằng có thể tôi sẽ phát điên và theo bà tôi có phải dùng thuốc chống trầm cảm hay không, và bà ấy bảo với tôi rằng tránh sử dụng thuốc là một điều dũng cảm và rằng chúng tôi có thể giải quyết được mọi việc. Cuộc nói chuyện ấy là điều cuối cùng mà tôi là người khởi xướng; đó là những cảm xúc cuối cùng mà tôi có được trong suốt một thời gian dài.

Chứng trầm cảm điển hình có một số yếu tố xác định – thường liên quan tới sự tự thu mình lại, mặc dù trầm cảm kích động (agitated depression) và trầm cảm không điển hình[2] (atypical depression) có thể sẽ có nét tiêu cực mãnh liệt hơn so với hơi hướng thụ động - và thường khá dễ nhận ra; nó làm xáo trộn giấc ngủ, sự thèm ăn, và mức năng lượng trong cơ thể. Nó có khuynh hướng làm tăng độ nhạy cảm trước sự cự tuyệt, và nó có thể đi cùng với việc mất đi sự tự tin hoặc tự trọng. Nó dường như phụ thuộc vào cả chức năng của vùng dưới đồi (mà kiểm soát giấc ngủ, sự thèm ăn, và năng lượng) lẫn chức năng của vỏ não (giúp diễn giải các trải nghiệm thành triết lý sống và thế giới quan). Cơn trầm cảm diễn ra như một phương diện của chứng bệnh hưng trầm cảm (maniac depressive) (hay rối loạn lưỡng cực – bipolar) bị ảnh hưởng bởi tính di truyền (khoảng 80 phần trăm) nhiều hơn nhiều so với bệnh trầm cảm thông thường (khoảng 10 đến 50 phần trăm); mặc dù dạng bệnh này được điều trị rộng rãi hơn, nhưng việc kiểm soát nó lại không hề dễ dàng hơn, đặc biệt là khi các loại thuốc chống trầm cảm có thể khởi phát cơn hưng cảm. Nguy hiểm lớn nhất ở chứng bệnh hưng trầm cảm là đôi khi nó bùng lên ở những trạng thái hỗn hợp, mà một trong số đó là hưng trầm cảm – đầy những cảm giác tiêu cực và phóng đại về chúng. Đây chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến hành vi tự tử, và nó cũng có thể bị gây ra bởi việc sử dụng các loại thuốc chống trầm cảm không có chất ổn định tâm trạng (là một phần thiết yếu của thuốc chống rối loạn lưỡng cực). Trầm cảm có thể làm kiệt sức hoặc là không điển hình/ kích động. Ở dạng đầu, bạn cảm thấy không muốn làm gì cả; ở dạng sau, bạn cảm thấy muốn tự sát. Một cơn suy sụp tinh thần là một giao điểm vào trong sự điên loạn. Đó là, ở đây ta hãy mượn một phép ẩn dụ từ trong thế giới vật chất, một hoạt động không điển hình của vật chất được xác định bởi các biến ẩn. Đó cũng còn là một kết quả cộng dồn: dù cho bạn có thấy được chúng hay không, những yếu tố dẫn đến một cơn suy sụp tinh thần sẽ được tập hợp qua nhiều năm, thường là trong suốt cuộc đời. Chẳng cuộc đời nào mà lại không có sự hiện diện của nỗi thất vọng, nhưng một số người thì tiến quá gần tới mép vực trong khi những người khác lại có thể xoay xở để đôi khi chỉ rơi vào nỗi buồn ở một vị trí an toàn cách xa bờ vực. Một khi bạn bước qua cái ranh giới an toàn đó, mọi quy tắc đều thay đổi. Mọi thứ được viết ra bằng tiếng Anh thì giờ đây trở thành tiếng Trung; mọi thứ diễn ra nhanh chóng thì giờ đây trở nên chậm chạp; giấc ngủ nghĩa là sự rõ ràng trong khi thức giấc lại là một chuỗi những hình ảnh rời rạc, vô nghĩa. Các cảm giác sẽ dần dần rời bỏ bạn trong cơn trầm cảm. “Sẽ có thời điểm bỗng nhiên bạn có thể cảm thấy được các hóa chất,” Mark Weiss, một người bạn bị trầm cảm từng nói với tôi như vậy. “Nhịp thở của tôi thay đổi và hơi thở của tôi trở nên khó chịu. Nước tiểu của tôi có mùi tởm lợm. Khuôn mặt tôi vỡ vụn ra trong gương. Tôi biết khi nào thì nó xuất hiện.”   

 

Xem tiếp chương 2.2 ở đây

Xem tiếp chương 2.3 ở đây

Xem tiếp chương 2.4 ở đây

Xem tiếp chương 2.5 ở đây

Xem tiếp chương 2.6 ở đây

--------------------------------

[1] Édith Giovanna Gassion, thường được biết đến với nghệ danh Édith Piaf và trước đó là La Môme Piaf (19/12/1915 – 10/10/1963) là nữ ca sĩ huyền thoại của Pháp thế kỷ 20. Édith Piaf được biết tới qua rất nhiều bài hát nổi tiếng như La Vie en rose, Non, je ne regrette rien, Hymne à l'amour, Mon légionnaire hay Milord. Bà còn là một diễn viên sân khấu và điện ảnh cũng như là người đỡ đầu cho nhiều ca sĩ mới mà sau đó đã trở thành ngôi sao của ca nhạc Pháp như Yves Montand và Charles Aznavour.

[2] trầm cảm không điển hình (atypical depression): các dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng bao gồm quá phấn khích với các sự kiện mang tính tích cực, tăng cảm giác thèm ăn gây ra tăng cân, ngủ nhiều hơn, thường trên 10 giờ một ngày, nhạy cảm với lời phê bình, gây ảnh hưởng đến mối quan hệ, công việc và hoạt động xã hội.

 

menu
menu