Atlas về Trầm cảm: Con quỷ giữa ban trưa - Chương 2.2

atlas-ve-tram-cam-con-quy-giua-ban-trua-chuong-2-2

Bị trầm cảm giống như là bị mù vậy, lúc ban đầu bóng tối dần buông xuống, rồi bao phủ trọn vẹn; giống như là bị điếc, nghe được ngày càng ít hơn cho tới khi một sự im lặng khủng khiếp bao trùm lấy bạn

Ác Quỷ giữa ban trưa
Atlas Về Trầm Cảm

Tác giả: ANDREW SOLOMON

Người dịch: December Child

 

 

Vào năm tôi ba tuổi, tôi quyết định rằng tôi muốn trở thành một nhà văn. Kể từ đó, tôi vẫn luôn mong đợi được xuất bản cuốn tiểu thuyết của mình. Khi tôi ba mươi, cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi được phát hành, và tôi đã lên lịch cho một chương trình giao lưu đọc sách, và tôi ghét cay ghét đắng cái ý tưởng ấy. Một người bạn thân tình nguyện tổ chức một bữa tiệc đọc sách cho tôi vào ngày 11 tháng Mười. Bình thường tôi rất thích tiệc tùng và tôi yêu sách, và tôi biết rằng mình nên thấy phấn khích trước điều này, nhưng thực tế tôi lại quá đỗi lờ đờ để gửi lời mời tới nhiều người, và quá mệt để có thể đứng lâu trong suốt bữa tiệc. Các chức năng ghi nhớ và cảm xúc được thực hiện thông qua bộ não, nhưng thùy trán và hệ viền là chìa khóa dẫn tới cả hai điều này, và khi ta tác động đến hệ viền, mà kiểm soát các cảm xúc, thì ta cũng sẽ tác động đến trí nhớ. Tôi chỉ nhớ được về bữa tiệc đó với những đường nét hư ảo và những màu sắc nhạt nhòa: thức ăn màu xám, con người màu be, ánh đèn mờ đục trong những căn phòng. Tôi nhớ được rằng tôi đổ mồ hôi như tắm trong suốt buổi tiệc, và tôi chỉ mong được rời đi. Tôi cố gắng giải nghĩa về tất cả những điều này là bởi vì sự căng thẳng. Tôi quyết tâm, bằng mọi giá, phải giữ vững thể diện, một sự thôi thúc hiệu quả đối với tôi vào thời điểm đó. Tôi đã làm được: không một ai để ý thấy có điều gì bất thường. Tôi đã vượt qua được tối đó.

Khi về đến nhà vào đêm đó, tôi bắt đầu cảm thấy sợ hãi. Tôi nằm trên giường, không ngủ, ôm chặt chiếc gối của mình để cảm thấy dễ chịu hơn. Hai tuần rưỡi sau đó, sự việc ngày một tệ hơn. Ngay trước sinh nhật lần thứ ba mươi mốt của tôi, tôi hoàn toàn suy sụp. Toàn bộ cơ thể tôi dường như sụp đổ. Khi ấy tôi không chịu rời khỏi nhà với ai hết. Cha tôi xung phong tổ chức một bữa tiệc sinh nhật cho tôi, nhưng tôi không thể chịu được cái ý tưởng ấy, và chúng tôi đồng ý rằng thay vì vậy chúng tôi sẽ tới một nhà hàng yêu thích cùng với bốn người bạn thân thiết nhất của tôi. Vào ngày trước ngày sinh nhật, tôi chỉ rời nhà có một lần, để mua một ít nhu yếu phẩm cần thiết. Trên đường từ cửa hàng về nhà, tôi bỗng nhiên mất kiểm soát phần ruột dưới và tự làm bẩn mình. Tôi có thể cảm thấy vết bẩn lan ra khi tôi vội vã về nhà. Về tới nhà, tôi thả túi đồ xuống, chạy vội vào phòng tắm, thay đồ, và lên giường nằm.

Đêm ấy tôi không ngủ mấy, và tôi chẳng thể thức dậy vào sáng ngày hôm sau. Tôi biết rằng tôi sẽ chẳng thể tới được nhà hàng nào hết cả. Tôi muốn gọi cho các bạn và hủy cuộc hẹn, nhưng mà tôi không thể. Tôi nằm yên trên giường và nghĩ đến việc nói, cố gắng tìm cách để làm điều đó. Tôi chuyển động đầu lưỡi nhưng chẳng có âm thanh nào phát ra. Tôi đã quên mất cách nói chuyện. Rồi tôi bắt đầu khóc, nhưng chẳng có nước mắt, chỉ có tiếng thở nặng nề. Tôi nằm ngửa. Tôi muốn xoay người, nhưng tôi cũng chẳng thể nhớ ra được cách để làm điều đó. Tôi cố gắng suy nghĩ về nó, nhưng cái phần việc ấy dường như quá đỗi gian nan. Tôi nghĩ rằng có thể tôi đã bị đột quỵ, và rồi tôi lại khóc mất một lúc. Vào khoảng ba giờ chiều, tôi cố gắng rời giường và đi vào phòng tắm. Tôi run rẩy quay trở lại giường. Thật may mắn làm sao, cha lại gọi cho tôi. Tôi trả lời điện thoại. “Cha phải hủy bữa tối nay thôi,” tôi nói với ông, giọng tôi run rẩy. “Sao thế con?” ông cứ hỏi tôi, nhưng tôi nào có biết.

Có một thời điểm, nếu như bạn vấp chân hoặc trượt ngã, trước khi bạn kịp chống tay để ngăn cú ngã lại, khi mà bạn cảm thấy mặt đất đang lao về phía mình và bạn chẳng thể làm được điều gì để ngăn nó lại, bạn sẽ cảm thấy một nỗi kinh hoàng trong khoảng một giây. Tôi đã cảm thấy như thế hết giờ này qua giờ khác. Trở nên lo lắng ở một mức độ cực đoan như thế này quả thật là kỳ lạ. Bạn cảm thấy vào mọi lúc rằng bạn muốn làm một điều gì đó, rằng có một số tác động không có nghĩa lý gì đối với bạn, rằng có một nhu cầu cấp bách và khó chịu khôn cùng mà không thể giải tỏa nổi của cơ thể, như thể dạ dày bạn đang liên tục co thắt trong cơn nôn mửa nhưng bạn lại không có miệng để mà nôn ra. Với cơn trầm cảm, tầm nhìn của bạn thu hẹp và bắt đầu đóng lại; cứ như thể bạn đang cố gắng xem TV qua một màn hình nhiễu khủng khiếp, khi mà bạn chỉ có thể nhìn thấy những hình ảnh thật mù mờ; khi mà bạn chẳng thể nhận rõ mặt người, trừ khi ở thật gần; khi mà chẳng có gì mang một đường nét rõ ràng. Không khí có vẻ đặc quánh lại, như thể chứa đầy thứ cháo đặc sệt. Bị trầm cảm giống như là bị mù vậy, lúc ban đầu bóng tối dần buông xuống, rồi bao phủ trọn vẹn; giống như là bị điếc, nghe được ngày càng ít hơn cho tới khi một sự im lặng khủng khiếp bao trùm lấy bạn, cho tới khi bạn chẳng thể phát ra một âm thanh nào nhằm phá vỡ sự yên lặng này. Nó có cảm giác như thể quần áo của bạn dần dần biến thành gỗ trên cơ thể bạn, một sự cứng ngắc nơi khuỷu tay và đầu gối dần biến thành một sức nặng khủng khiếp và sự cô lập bất động sẽ làm bạn héo mòn và vào một lúc nào đó sẽ hủy hoại bạn.  

Cha đến nhà của tôi cùng với một người bạn của tôi, cùng với cả em trai và vị hôn thê của cậu ấy. Thật may, cha tôi có sẵn chiều khóa nhà. Suốt hai ngày tôi chưa ăn gì, và họ cố cho tôi ăn một ít súp. Mọi người nghĩ rằng tôi hẳn phải bị nhiễm một thứ virus gì kinh khủng lắm. Tôi ăn một thìa rồi nôn thốc ra khắp người mình. Tôi không thể ngừng khóc. Tôi căm ghét ngôi nhà này nhưng chẳng thể rời đi. Ngày hôm sau, bằng cách nào đó, tôi cũng cố tới được văn phòng của bác sĩ tâm lý. “Tôi nghĩ rằng tôi cần phải uống thuốc thôi,” tôi nói, nhấn mạnh những lời ấy. “Tôi rất tiếc,” bà ấy nói, và gọi cho một nhà tâm thần dược học, người đồng ý sẽ gặp tôi sau một giờ nữa. Cuối cùng bà ấy, dù rất chậm trễ, cũng nhận ra rằng chúng tôi cần phải gọi giúp đỡ. Theo lời của một nhà phân tích tâm lý mà tôi biết, vị cấp trên của của ông ấy kể rằng vào những năm 1950, nếu như anh muốn bắt đầu cho một bệnh nhân dùng thuốc, thì anh cần phải dừng việc phân tích tâm lý lại. Phải chăng chính sự nệ cổ ấy đã cho phép bác sĩ tâm lý của tôi khuyến khích tôi tránh xa việc dùng thuốc? Hay là bà đã quá tin vào cái vẻ bề ngoài mà tôi cố gắng duy trì? Tôi không biết được.

Nhà tâm thần dược học như thể vừa bước ra từ một bộ phim về quá khứ: văn phòng của ông có giấy dán tường màu vàng mù tạt nhạt in hình những chiếc bánh nướng và hàng chồng sách với những tựa đề như Addicted to Misery[1] và Suicidal Behavior: The Search for Psychic Economy[2]. Ông ấy tầm bảy mươi tuổi, hút xì gà, có chất giọng của người Trung Âu, và mang dép đi trong nhà. Ông có lối cư xử lịch lãm của thời tiền chiến và một nụ cười tử tế. Ông hỏi nhanh tôi một loạt các câu hỏi – tôi cảm thấy gì vào buổi sáng và buổi chiều? Tôi thấy khó khăn như thế nào với việc có thể cười trước một điều gì đó? Tôi có biết là tôi sợ hãi điều gì không? Liệu giấc ngủ của tôi có bị gián đoạn và cơn thèm ăn của tôi có thay đổi không? – và tôi cố gắng hết mức có thể để trả lời các câu hỏi của ông. “Ôi chà,” ông bình tĩnh nói khi tôi thổ lộ nỗi sợ hãi của mình. “Thực ra là rất bình thường. Cậu đừng lo lắng, chúng ta sẽ khiến cậu nhanh chóng bình phục.” Ông kê đơn thuốc với Xanax, rồi cân nhắc một chút và ghi ra Zoloft. Ông hướng dẫn tôi về việc sử dụng các loại thuốc. “Cậu hãy quay lại đây vào ngày mai nhé,” ông mỉm cười. “Thuốc Zoloft đôi khi không hiệu quả. Xanax sẽ làm dịu sự lo lắng của cậu ngay lập tức. Đừng lo về khả năng gây nghiện của nó hay những điều tương tự, vì đó không phải là vấn đề của cậu vào lúc này. Khi mà ta đã phần nào xua đi được nỗi bất an, ta sẽ thấy rõ được chứng trầm cảm hơn và sẽ tập trung vào nó. Đừng lo, cậu có nhóm triệu chứng rất điển hình.”

Ngày đầu tiên dùng thuốc, tôi chuyển tới ở cùng cha. Khi ấy cha tôi đã gần bảy mươi tuổi, và hầu hết đàn ông ở cái lứa tuổi ấy không thể dễ dàng chịu đựng những thay đổi hoàn toàn trong cuộc sống. Cha của tôi không chỉ xứng đáng được ca ngợi vì sự hi sinh cao cả của ông, mà còn bởi sự linh hoạt trong tâm trí và tinh thần đã cho phép ông tìm ra cách để làm chỗ dựa tinh thần cho tôi trong những thời điểm khó khăn, và cả bởi sự dũng cảm đã giúp ông trở thành chỗ dựa tinh thần cho tôi nữa. Ông tới đón tôi ở phòng khám và đưa tôi về nhà. Tôi không mang theo quần áo sạch để thay, nhưng tôi thật sự không cần tới chúng vì suốt một tuần sau đó tôi hiếm khi nào rời khỏi giường. Vào thời điểm ấy, hoảng loạn là thứ cảm giác duy nhất mà tôi có. Xanax sẽ giúp đẩy lùi cơn hoảng loạn nếu như tôi uống đủ liều, nhưng đủ liều của thứ thuốc ấy cũng đủ để khiến tôi hoàn toàn rơi vào giấc ngủ trầm, hỗn loạn, mơ nhiều. Những ngày ấy diễn ra như thế này: tôi thức dậy, biết rằng tôi đang trải qua sự hoảng loạn tột độ. Tất cả những gì tôi muốn chỉ là uống đủ thuốc chống hoảng loạn để tôi có thể quay trở lại với giấc ngủ, và rồi tôi muốn ngủ cho tới tận khi tôi khỏe lại. Khi tôi thức dậy vào vài giờ sau đó, tôi lại muốn dùng thêm thuốc ngủ. Việc tự sát, cũng giống với việc tự mặc đồ, là quá đỗi phức tạp để đưa vào tâm trí tôi; tôi không dành hàng giờ để nghĩ về việc tôi có thể làm điều đó như thế nào. Tất cả những gì tôi muốn ở “nó” là dừng lại; tôi thậm chí còn chẳng thể nói rõ “nó” là cái gì. Tôi không thể nói nhiều; các từ ngữ, vốn là điều quá đỗi quen thuộc với tôi, dường như bỗng nhiên trở thành phép ẩn dụ vô cùng phức tạp, khó hiểu khiến cho việc sử dụng chúng đòi hỏi nhiều năng lượng hơn so với mức mà tôi có thể gom góp được. “Chứng bệnh u sầu dẫn đến việc mất đi ý nghĩa … tôi trở nên câm lặng và tôi chết,” Julia Kristeva[3] từng viết. “Những kẻ mắc chứng u sầu là những kẻ ngoại quốc trong thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của chính mình. Thứ ngôn ngữ chết mà họ nói phủ bóng đen lên sự tự vẫn của họ.” Trầm cảm, cũng giống như tình yêu, chứa đựng những điều sáo rỗng, và rất khó để nói về nó mà không rơi vào lối sử dụng những câu chữ hoa mỹ bóng bẩy; nó sống động đến mức thật khó tin khi biết rằng những người khác không có chút khái niệm gì về điều tương tự. Có lẽ ngòi bút của Emily Dickinson là hùng hồn nhất khi viết về cơn suy sụp tinh thần:

Trí óc tôi như có một đám tang[4]

Những người Khóc than đi tới đi lui

Giậm chân—không ngừng—cho tới lúc

Cảm giác ấy vỡ vụn—

Rồi khi tất cả họ đã ngồi xuống,

Buổi Lễ, như một hồi Trống—

Dội mãi—không ngừng—cho tới lúc

Tôi tưởng Tâm trí mình tê liệt—

Rồi sau đó tôi nghe tiếng họ khiêng Hòm

Kẽo kẹt xuyên qua Linh hồn tôi

Vẫn những gót giầy đóng cá ấy,

Rồi Không gian—bắt đầu ngân vang,

Như mọi Tầng Trời là một quả Chuông,

Và Hiện hữu, chỉ là một Vành Tai,

Và tôi, chạy đua cùng Im Lặng, lạ lùng thay

Như thuyền đắm, cô độc, ngay đây—

Rồi một mạn thuyền Lí trí bục vỡ

Tôi rơi xuống, chìm nghỉm—

Vùng vẫy đâu cũng đập phải một Cõi,

Và rồi —không còn biết gì nữa—

Có rất ít bài viết về thực tế rằng những cơn suy sụp tinh thần là hoàn toàn trái với lẽ thường; trong quá trình tìm kiếm chân giá trị cho chính mình, và tìm kiếm để đề cao sự đau khổ của những người khác, một người có thể dễ dàng bỏ sót thực tế này. Tuy nhiên, điều này lại trở nên thật và đúng, và rất đỗi hiển nhiên khi bạn bị trầm cảm. Một phút trong cơm trầm cảm giống như một năm cuộc đời của loài chó, bởi vì ở đó tồn tại một ý niệm không chân thực về thời gian. Tôi vẫn nhớ việc mình nằm bất động trên giường, bật khóc vì quá mức sợ hãi trước việc phải tắm rửa, và cùng lúc cũng biết rằng việc tắm rửa chẳng có gì để mà sợ hãi. Trong tâm trí tôi cứ hiện lên những bước hành động riêng rẽ: mày lật người lại và đặt chân xuống sàn nhà; mày đứng dậy; mày đi từ đây tới phòng tắm; mày mở cửa phòng tắm ra; mày bước tới bên bồn tắm; mày vặn vòi nước; mày xát xà phòng lên người; mày tráng người; mày bước ra khỏi bồn tắm; mày lau người; mày quay về giường. Mười hai bước, mà với tôi dường như còn khó nhọc hơn cả Đàng Thánh Giá[5]. Nhưng tôi biết rằng, về mặt logic, việc tắm gội là một việc đơn giản, rằng suốt nhiều năm tôi đã tắm gội mỗi ngày và rằng tôi đã làm điều này thật chóng vánh và đương nhiên đến nỗi chẳng cần phải bàn luận gì thêm. Tôi biết rằng mười hai bước này là có thể làm được. Tôi biết rằng tôi thậm chí còn có thể nhờ người khác giúp tôi thực hiện một vài bước trong đó. Khi nghĩ vậy tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn hẳn trong giây lát. Một ai đó có thể mở giúp tôi cửa phòng tắm. Tôi biết tôi có thể tự thực hiện hai hoặc ba bước, vì thế với toàn bộ sức lực tồn tại trong cơ thể mình tôi ngồi dậy; tôi xoay người và đặt chân xuống đất; và rồi tôi cảm thấy bất lực và sợ hãi đến nỗi tôi ngã lăn ra và úp mặt xuống giường, chân tôi vẫn còn ở dưới đất. Thi thoảng tôi lại khóc, không chỉ thổn thức về những điều mà tôi không làm nổi, mà còn trước cái thực tế rằng việc tôi không làm được những điều ấy mới xuẩn ngốc làm sao. Trên khắp thế gian này con người ta vẫn thường tắm rửa mỗi ngày. Tại sao, ôi tại sao, tôi lại chẳng thể là một trong số họ? Và rồi tôi sẽ nghĩ ra rằng những con người ấy cũng có gia đình và công việc và tài khoản ngân hàng và hộ chiếu và những dự định ăn tối và những vấn đề, những vấn đề thực thụ, ung thư và nghèo khổ và cái chết của con cái họ và nỗi cô đơn và sự thất bại; và nếu đem so sánh thì tôi gặp phải quá ít vấn đề, ngoại trừ việc tôi không thể lật người lại, cho tới tận vài giờ sau đó, khi mà cha tôi hoặc một người bạn nào đó ghé qua và đặt giúp chân tôi lên giường. Và khi ấy, cái ý tưởng về việc tắm rửa sẽ thành ra thật ngớ ngẩn và thiếu chân thật, và tôi sẽ thấy nhẹ nhõm vì đã có thể đặt lại chân lên giường, và tôi sẽ nằm an toàn trên giường và cảm thấy thật nực cười. Và đôi khi ở một phần yên lặng nào đó bên trong con người tôi có một tiếng cười nho nhỏ trước sự ngớ ngẩn này, và cái khả năng của tôi để thấy được điều đó, tôi nghĩ, chính là điều đã giúp tôi vượt qua được. Trong tận cùng tâm trí tôi luôn có một tiếng nói, rõ ràng và từ tốn, nói rằng, đừng ủy mị như vậy nữa; đừng cường điệu hóa mọi việc lên như thế. Hãy cởi quần áo ra, mặc đồ ngủ vào, lên giường; vào buổi sáng, hãy thức dậy, và làm bất cứ điều gì cần phải làm. Tôi nghe thấy tiếng nói ấy vào mọi lúc, tiếng nói ấy giống như là giọng nói của mẹ. Có một nỗi buồn và nỗi cô đơn khủng khiếp khi tôi ngẫm lại về những thứ đã mất đi. “Liệu có một ai – ngoại trừ nhân viên đầy nhiệt huyết của một trung tâm văn hóa mới mở, mà là bất kỳ ai, kể cả bác sĩ nha khoa của tôi nữa – bận tâm tới việc tôi đã rút khỏi cuộc chơi?” Daphne Merkin[6] viết như vậy trong một bài tự luận về cơn trầm cảm của mình. “Liệu người ta có than khóc vì tôi nếu như tôi không bao giờ trở lại, chẳng bao giờ nữa quay về vị trí của mình?”

Đến tối, tôi đã có thể xuống được giường. Hầu hết cơn trầm cảm đều xuất hiện một lần trong ngày, khá hơn vào thời điểm trong ngày và rồi lại trở nặng vào buổi sáng. Vào bữa tối, tôi cảm thấy không thể ăn nổi, nhưng tôi có thể dậy và ngồi trong bếp cùng với cha mình, người đã hủy bỏ mọi kế hoạch để ở bên tôi. Tôi cũng có thể nói chuyện vào khi ấy. Tôi cố gắng giải thích điều này diễn ra như thế nào. Cha gật đầu, cam đoan với tôi rằng nó sẽ qua đi, và cố ép tôi ăn. Ông cắt nhỏ thức ăn cho tôi. Tôi bảo ông rằng đừng đút cho tôi, tôi không phải là đứa trẻ năm tuổi, nhưng khi tôi không thể dùng nĩa để xiên miếng thịt cừu trong đĩa của mình, ông đã giúp tôi. Trong suốt lúc ấy, ông nhớ lại việc cho tôi ăn hồi tôi còn nhỏ xíu, và ông bắt tôi hứa, đùa thôi, rằng tôi sẽ cắt thịt cừu cho ông khi ông đã già và rụng hết răng. Ông đã liên hệ với vài người bạn của tôi, vài người đã gọi cho tôi, và sau bữa tối tôi cảm thấy đủ khỏe để gọi lại cho họ. Đôi khi, một người sẽ tới thăm sau bữa tối. Lạ thay, tôi thường có thể đi tắm trước khi lên giường đi ngủ! Và kể cả khi vượt qua được sa mạc mà không uống giọt nước nào cũng chẳng thể tuyệt vời hơn cái chiến thắng và sự sạch sẽ ấy. Trước khi ngủ, thuốc Xanax đã phát huy tác dụng nhưng tôi vẫn chưa buồn ngủ, tôi sẽ nói đùa với cha và với các bạn mình về căn bệnh này, và sự thân mật hiếm hoi xoay quanh căn bệnh ấy sẽ khiến nó hiện hữu ở trong căn phòng, và đôi khi tôi lại cảm thấy quá nhiều và lại khóc, và rồi sẽ đến lúc phải tắt đèn, để tôi có thể quay về với giấc ngủ. Đôi khi những người bạn thân thiết sẽ ngồi lại bên tôi cho tới lúc tôi thiếp đi. Một người bạn từng nắm lấy tay tôi trong lúc cô ấy hát một khúc hát ru. Có những tối, cha sẽ đọc cho tôi nghe từ những quyển sách mà ông từng đọc cho tôi hồi tôi còn nhỏ. Tôi sẽ ngăn ông lại. “Hai tuần trước, con vừa mới phát hành cuốn tiểu thuyết của con,” tôi nói. “Con từng làm việc mười hai tiếng liền và tới bốn bữa tiệc trong cùng một buổi tối, vào một số ngày. Có chuyện gì đang xảy ra thế?” Cha sẽ khẳng định với tôi, một cách vui vẻ, rằng tôi sẽ sớm có thể làm được điều đó. Ông cũng sẽ nói với tôi rằng tôi sẽ sớm tự xây được cho mình một chiếc máy bay từ đống bột nhão và dùng nó để bay tới Hải vương tinh, đối với tôi điều ấy rõ ràng đến mức dường như cuộc đời thực của tôi, cái cuộc đời mà tôi từng sống trước đây, đã hoàn toàn chấm dứt. Lúc này hay lúc khác, cơn hoảng loạn sẽ biến mất trong chốc lát. Và một nỗi tuyệt vọng bình thản xuất hiện. Sự không thể giải nghĩa nổi của toàn bộ những điều này đã chối bỏ mọi thứ logic. Thật vô cùng xấu hổ khi phải nói với người khác rằng tôi bị trầm cảm, khi mà cuộc đời tôi dường như có quá nhiều điều tốt đẹp và tình yêu và sự thoải mái về vật chất; với tất cả mọi người ngoại trừ những người bạn thân của tôi, tôi đã viện tới thứ “virus nhiệt đới lạ lùng” rằng tôi “phải gói ghém đồ đạc vào hè năm ngoái và đi du lịch.” Câu hỏi về việc cắt thịt cừu trở thành một biểu tượng đối với tôi. Bạn tôi, nhà thơ Elizabeth Prince, từng viết

Đêm ấy

đã khuya và ẩm ướt: Khi

New York bước vào tháng Bảy

tôi trốn trong phòng mình,

căm ghét sự chịu đựng lặng câm này.

Sau này tôi đọc được miêu tả của Leonard Woolf về bệnh trầm cảm của Virginia[7] trong nhật ký của ông: “Nếu để cô ấy một mình, cô ấy sẽ không ăn uống gì và rồi chết vì đói. Cũng rất nhọc mới có thể khiến cô ấy ăn uống đủ để đảm bảo sức khỏe. Xâm chiếm sự điên rồ của cô ấy thường là cảm giác tội lỗi, thứ bản chất khởi nguyên và chặt chẽ mà tôi không bao giờ có thể phát hiện ra; nhưng nó tác động theo một cách riêng biệt đến thức ăn và việc ăn uống. Ở giai đoạn cấp tính ban đầu, muốn tự sát của chứng trầm cảm, cô ấy sẽ ngồi hàng giờ và chôn mình trong nỗi u sầu tuyệt vọng, yên lặng, không hề phản ứng trước bất kỳ lời nói nào dành cho cô ấy. Khi tới bữa ăn, cô ấy sẽ chẳng để ý đến việc trên đĩa của mình có những thứ gì. Tôi thường có thể khiến cô ấy ăn một lượng nhất định, nhưng đấy là cả một sự chật vật. Mọi bữa ăn đều mất tới một hay hai tiếng; tôi phải ngồi bên cạnh cô ấy, đặt một cái thìa hay cái nĩa vào trong tay cô ấy, và luôn luôn phải nhẹ nhàng yêu cầu cô ấy ăn và cùng lúc chạm vào tay hay cánh tay của cô ấy. Cứ khoảng mỗi năm phút cô ấy sẽ tự động ăn một thìa đầy.”

Khi bị trầm cảm, bạn thường được bảo rằng khả năng nhận định của bạn đã bị tổn hại, nhưng một phần của chứng trầm cảm chính là sự tác động của nó tới nhận thức. Rằng việc bạn bị suy sụp tinh thần không có nghĩa là cuộc đời bạn không phải là một mớ hỗn độn. Nếu có những vấn đề mà bạn đã có thể lảng tránh hoặc đi đường vòng trong nhiều năm, chúng sẽ quay trở lại và xuất hiện ngay trước mặt bạn, và một khía cạnh của trầm cảm chính là sự nhận biết sâu sắc rằng những lời an ủi của bác sĩ khi cam đoan rằng chẳng qua là sự phán đoán của bạn gặp vấn đề là hoàn toàn không đúng. Bởi vì khi ấy bạn sẽ chạm vào những điều thật sự kinh khủng trong cuộc đời mình. Bạn có thể chấp nhận tương đối rằng về sau này, khi các loại thuốc đã phát huy tác dụng, bạn sẽ có thể khỏe hơn để đối phó với những điều khủng khiếp ấy, nhưng bạn sẽ chẳng thể hoàn toàn thoát khỏi nó. Khi bạn bị trầm cảm, quá khứ và tương lai hòa vào khoảnh khắc hiện tại, như là thế giới của một đứa trẻ ba tuổi vậy. Bạn không thể nhớ ra lúc nào bạn cảm thấy khá hơn, hay ít nhất là cũng chẳng rõ rằng; và bạn chắc chắn chẳng thể hình dung về một thời điểm trong tương lai khi mà bạn sẽ cảm thấy khá hơn. Cảm thấy khó chịu, thậm chí là cực kỳ khó chịu, là một trải nghiệm mang tính tạm thời, trong khi trầm cảm là vĩnh viễn. Những cơn suy sụp tinh thần khiến bạn không còn nhìn nhận được bất cứ điều gì.

Có rất nhiều điều xảy ra trong một giai đoạn trầm cảm. Có những thay đổi trong chức năng của chất dẫn truyền thần kinh: sự thay đổi trong chức năng của synap; sự tăng lên hay giảm đi của tính dễ kích thích của các neuron; thay đổi biểu hiện gen; sự giảm mức chuyển hóa ở thùy trán (thường xuyên) hoặc giảm chuyển hóa ở cùng một khu vực; sự tăng tuyến giáp mà sản sinh ra hormone (TRH); sự gián đoạn chức năng của hạch hạnh nhân và có thể là cả vùng dưới đồi (các khu vực trong não); thay đổi mức độ của melatonin (một loại hormone mà tuyến tùng tiết ra từ chất serotonin); sự tăng lên của chất prolactin (lactat tăng ở những người có khuynh hướng lo lắng bất an sẽ dẫn đến những cơn hoảng loạn); làm giảm nhiệt độ cơ thể trong hai mươi bốn giờ; sự biến đổi trong việc tiết ra chất cortisol trong hai mươi bốn giờ; gián đoạn của sự kết nối giữa đồi thị, hạch đáy não, và thùy trán (một lần nữa, các trung tâm nằm ở bộ não); sự tăng lưu lượng máu đến thùy trán của bán cầu não trội; giảm lưu lượng máu tới thùy chẩm (kiểm soát thị lực); làm giảm dịch tiết dạ dày. Rất khó để có thể biết được điều gì đã gây ra toàn bộ những hiện tượng này. Đâu là nguyên nhân dẫn đến trầm cảm; đâu là triệu chứng; đâu chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Bạn có thể cho rằng sự tăng lên của mức độ TRH có nghĩa là TRH đã gây ra những cảm xúc xấu, nhưng thực ra sử dụng TRH liều cao có thể là một phương pháp điều trị tạm thời hiệu quả đối với chứng bệnh trầm cảm. Bởi vì hóa ra, cơ thể bắt đầu sản sinh ra TRH trong suốt giai đoạn trầm cảm vì khả năng chống trầm cảm của nó. Và TRH, nhìn chung không phải là một chất chống trầm cảm, có thể được tận dụng như là một chất chống trầm cảm tức thời sau một giai đoạn trầm cảm nặng bởi vì bộ não, mặc dù gặp phải rất nhiều vấn đề trong cơn trầm cảm, cũng đồng thời trở nên đặc biệt nhạy cảm với những thứ có thể giúp giải quyết các vấn đề đó. Các tế bào não thay đổi chức năng của chúng một cách dễ dàng, và trong một giai đoạn trầm cảm, tỷ lệ giữa sự thay đổi bệnh lý (mà dẫn tới trầm cảm) và sự thích nghi (chống lại nó) sẽ quyết định việc bạn tiếp tục mắc bệnh hay khỏe lại. Nếu như bạn sử dụng các loại thuốc mà lợi dụng hoặc hỗ trợ các yếu tố thích nghi đủ để áp đảo các yếu tố bệnh lý, thì bạn sẽ thoát khỏi cái chu kỳ này và bộ não của bạn có thể quay trở lại với những thói quen thường nhật của nó.      

Bạn càng bị trầm cảm nhiều lần, thì bạn sẽ càng có nguy cơ bị trầm cảm nhiều lần hơn nữa, và nhìn chung những cơn trầm cảm, theo thời gian, sẽ ngày càng nặng và diễn ra gần nhau hơn. Sự leo thang này là một manh mối về việc căn bệnh này diễn ra như thế nào. Cuộc tấn công ban đầu của trầm cảm thường liên quan tới sự kiện gây kích động hoặc bi kịch; những người có gen tố bẩm mắc phải chứng trầm cảm là, như Kay Jamison – một nhà tâm lý học uy tín với những bài viết, mang tính học thuật lẫn phổ thông, đã có công lớn trong việc làm thay đổi suy nghĩ của công chúng về chứng rối loạn cảm xúc – đã nhận xét, “một giàn thiêu khô khốc và giòn tan, trơ khấc trước những tàn lửa không thể tránh được phát ra từ đời sống.” Sự tái phát ở một khía cạnh nào đó đã phá vỡ hoàn cảnh. Nếu như bạn kích thích sự co giật của một con vật mỗi ngày, sự co giật ấy cuối cùng sẽ trở thành một thứ phản xạ; con vật sẽ trải qua cơn co giật một lần mỗi ngày bất kể bạn có dừng việc kích thích lại hay không. Cũng tương tự như vậy, bộ não đã trải qua cơn trầm cảm một vài lần sẽ tiếp tục quay lại với trầm cảm hết lần này đến lần khác. Điều này gợi ý rằng trầm cảm, dù xuất phát từ một bi kịch bên ngoài, cũng hoàn toàn làm thay đổi cấu trúc, cũng như là sinh hóa của bộ não. “Vì thế nó không phải là một chứng bệnh vô hại như chúng ta vẫn tưởng,” Robert Post, truởng khoa Tâm sinh học của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia (National Institute of Mental Health – NIMH) giải thích. “Nó có khuynh hướng sẽ tái phát; nó có khuynh hướng sẽ trở nặng; và vì thế một người nên có tâm lý chuẩn bị sẵn sàng trước việc phải đối mặt nhiều lần với cơn trầm cảm và cân nhắc tới các liệu pháp ngừa bệnh về mặt dài hạn nhằm tránh những hậu quả khủng khiếp.” Kay Jamison vỗ mạnh vào bàn khi nói đến chủ đề này. “Trầm cảm không phải là một thứ vô hại. Anh biết đấy, bên cạnh việc ở trong tình trạng đau khổ, kinh sợ, bất lực, đa phần, nó cũng giết chết con người ta. Không chỉ qua việc tự vẫn thôi đâu, mà còn thông qua việc làm tăng nhịp tim, làm giảm khả năng miễn dịch, v.v.” Thông thường, các bệnh nhân có phản ứng với thuốc sẽ ngừng phản ứng nếu họ cứ liên tục uống rồi ngừng thuốc; với mỗi một cơn trầm cảm, có 10% nguy cơ rủi ro tăng lên của việc trầm cảm sẽ trở thành chứng bệnh mãn tính và không thể thoát khỏi. “Nó gần giống như căn bệnh ung thư nguyên phát mà rất nhạy cảm với thuốc, nhưng mà một khi căn bệnh đã di căn, thì nó không phản ứng với thuốc nữa,” Post giải thích. “Nếu như anh gặp phải quá nhiều cơn trầm cảm, nó sẽ biến đổi hệ hóa sinh của cơ thể anh theo chiều hướng xấu, có thể là mãi mãi. Khi đó, nhiều chuyên gia điều trị vẫn tiếp tục tìm kiếm theo một hướng hoàn toàn sai lầm. Nếu giờ đây các cơn trầm cảm diễn ra một cách tự động, thì việc lo lắng tới tình huống gây khó chịu đã đẩy lùi quá trình ban đầu nào có ích gì? Khi ấy đã là quá muộn.”  Đó chính là ý nghĩa của việc sửa chữa chỉ có thể tạo ra những mảnh chắp vá mà chẳng bao giờ có thể trả lại sự nguyên vẹn như trước nữa.   

Ba sự việc riêng biệt – việc giảm thụ thể serotonin; tăng cortisol, một hormone gây căng thẳng thần kinh; và trầm cảm – có liên quan đến nhau. Trình tự của chúng vẫn còn chưa được rõ: đó gần như là câu chuyện đau buồn về gà con, gà mái và quả trứng. Nếu bạn làm tổn thương hệ thống serotonin trong não của động vật, mức độ cortisol sẽ tăng lên. Nếu bạn làm tăng mức cortisol, chất serotonin sẽ giảm xuống. Nếu bạn khiến một người bị căng thẳng, yếu tố giải phóng corticotropin (corticotropin releasing factor - CRF) tăng lên và dẫn tới mức độ cortisol tăng cao. Nếu bạn làm cho một người bị căng thẳng, mức độ serotonin sẽ giảm xuống. Vậy điều này có nghĩa là gì? Cốt lõi của thập kỷ này là serotonin, và biện pháp được sử dụng nhiều nhất để chữa trầm cảm ở nước Mỹ là tăng cường mức độ hoạt động của serotonin trong não. Mỗi khi bạn tác động tới serotonin, bạn cũng làm biến đổi hệ thống căng thẳng và làm thay đổi mức độ của cortisol có trong não. “Tôi không nói rằng cortisol là nguyên nhân gây ra trầm cảm,” Elizabeth Young – một chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực này tại trường Đại học Michigan, cho biết, “nhưng nó có thể làm trầm trọng thêm một tình trạng nhỏ và tạo ra một hội chứng thực sự.” Cortisol, một khi được sinh ra, sẽ liên kết với các thụ thể glucocorticoid trong não. Các loại thuốc chống trầm cảm làm tăng số lượng thụ thể glucocorticoid này – mà sau đó chúng sẽ hấp thụ lượng cortisol dư thừa đang trôi nổi xung quanh đó. Điều này là vô cùng quan trọng đối với sự điều tiết của toàn cơ thể. Thụ thể glucocorticoid thực sự có khả năng bật và tắt một số gen, và khi bạn có một số thụ thể liên quan bị tràn ngập trong quá nhiều cortisol, hệ thống sẽ bị quá tải. “Nó giống như là một hệ thống sưởi,” Young nói. “Nếu bộ phận cảm ứng nhiệt của bộ ổn nhiệt nằm ở điểm giá lạnh, máy sưởi sẽ không bao giờ tắt cho dù thực tế trong căn phòng đang rất nóng bức. Nếu như anh đặt thêm một vài cái cảm ứng nhiệt quanh căn phòng, anh có thể khiến cho hệ thống hoạt động bình thường trở lại.”

Trong những trường hợp thông thường, mức độ cortisol tuân theo các quy tắc khá đơn giản. Mô hình sinh học của cortisol là tăng lên vào buổi sáng (là thứ khiến bạn rời khỏi giường) và rồi giảm xuống trong ngày. Ở những bệnh nhân trầm cảm, cortisol có khuynh hướng duy trì ở mức cao suốt cả ngày. Đã có trục trặc nào đó với các mạch ức chế mà đáng lẽ ra phải dừng việc sản sinh ra chất cortisol lại trong ngày, và đây có thể là một phần lý do tại sao cảm giác giật mình khi tỉnh giấc xảy ra vào buổi sáng lại tiếp tục kéo dài cả ngày đối với những người bị trầm cảm. Có thể kiểm soát trầm cảm bằng cách giải quyết trực tiếp hệ thống cortisol, thay vì tác động tới nó thông qua hệ thống serotonin. Dựa trên nghiên cứu cơ bản được thực hiện tại Michigan, các nhà nghiên cứu ở nơi khác đã chữa cho các bệnh nhân kháng trị với thuốc chống trầm cảm bằng ketoconazole, một loại thuốc làm giảm cortisol, và gần như 70 phần trăm số bệnh nhân này cho thấy sự cải thiện rõ rệt. Hiện tại, ketoconazole gây ra quá nhiều tác dụng phụ để được xem là loại thuốc chống trầm cảm hiệu quả, nhưng có rất nhiều công ty dược lớn đang nghiên cứu những loại thuốc liên quan có thể sẽ không mang lại những tác động tiêu cực ấy. Tuy nhiên, sự điều trị như vậy cần phải được tiến hành cẩn trọng bởi vì chất cortisol là cần thiết cho phản ứng chiến đấu-hoặc-bỏ chạy; cho năng lượng tiết ra do tuyến thượng thận là thứ giúp cho một người có thể chiến đấu khi đối mặt với khó khăn; cho sự kháng viêm; cho việc ra quyết định và sự quyết tâm; và quan trọng hơn cả, là trong việc khiến hệ thống miễn dịch hoạt động khi gặp phải một căn bệnh truyền nhiễm.

Các nghiên cứu về cấu trúc của cortisol gần đây đã được thực hiện trên khỉ đầu chó và kiểm soát viên không lưu. Những con khỉ đầu chó có lượng cortisol cao trong một thời gian dài có khuynh hướng bị hoang tưởng, không thể phân biệt giữa một mối đe dọa thực tế và một tình huống khó chịu nhẹ, như là sẽ đánh nhau quyết liệt vì một quả chuối nằm gần một cái cây với những trái chín sai trĩu trịt như thể đấy là vấn đề sống còn của chúng vậy. Với những kiểm soát viên không lưu, ở những người có tinh thần khỏe mạnh có sự tương liên giữa mức độ mà họ phải làm việc thêm giờ và mức độ chất cortisol của cơ thể họ, trong khi những người ở trong tình trạng tâm lý kém có mức cortisol tăng vọt và đạt mức báo động cao trong mọi tình huống. Khi mà sự tương liên giữa stress/cortisol bị bóp méo, bạn có thể trở nên kích động thái quá trước những trái chuối; bạn sẽ thấy rằng mọi thứ diễn ra với bạn thật là căng thẳng. “Và đó chính là một dạng của trầm cảm, và rồi dĩ nhiên bản thân việc bị trầm cảm cũng vô cùng căng thẳng,” Young nhận xét. “Đó là một vòng xoắn ốc đi xuống.”

Một khi bạn bị căng thẳng đủ để gây ra một sự tăng thêm kéo dài của mức độ cortisol trong cơ thể bạn, hệ thống cortisol của bạn sẽ bị hủy hoại, và trong tương lai nó sẽ không dễ dàng dừng lại một khi nó đã được kích hoạt. Do đó, sự dâng cao của chất cortisol sau một tổn thương tinh thần nhỏ có thể sẽ không trở lại bình thường như là nó vẫn thường diễn ra trong những tình huống thông thường. Cũng giống như bất kỳ thứ gì từng bị hỏng một lần, hệ thống cortisol sẽ có xu hướng bị phá vỡ hết lần này tới lần khác, dưới sức ép ngày càng nhẹ hơn. Những người bị nhồi máu cơ tim sau một căng thẳng về thể chất sẽ có khả năng tái phát rất lớn ngay cả khi đang ngồi trên ghế bành – trái tim lúc này đã hơi kiệt sức, và đôi khi nó chỉ đơn giản là bỏ cuộc dù không căng thẳng mấy. Điều tương tự cũng xảy ra đối với tâm trí của chúng ta.   

Thực tế là những thứ như là thuốc men không hề mâu thuẫn với căn nguyên tâm lý xã hội. “Vợ tôi là bác sĩ điều trị rối loạn tuyến nội tiết,” Juan López – một đồng nghiệp của Young nói, “và cô cô ấy có bệnh nhân là những đứa trẻ bị bệnh tiểu đường. Vâng, tiểu đường rõ ràng là một chứng bệnh của tuyến tụy, nhưng những yếu tố bên ngoài lại tác động tới nó. Không chỉ những gì mà anh ăn vào, mà còn là việc anh căng thẳng ra sao – những đứa trẻ sống trong những gia đình cực kỳ tồi tệ thường sẽ phát điên và lượng đường trong máu của chúng sẽ bị rối loạn. Thực tế rằng điều này xảy ra không hề khiến cho tiểu đường trở thành một căn bệnh tâm lý.” Trong lĩnh vực trầm cảm, căng thẳng tâm lý gây ra biến đổi về mặt sinh học và ngược lại. Nếu một người bị căng thẳng thần kinh tột độ, CRF được giải phóng và thường kiến tạo nên thực tế sinh học của bệnh trầm cảm. Các kỹ thuật tâm lý nhằm ngăn ngừa bản thân bạn khỏi việc bị căng thẳng quá độ có thể giúp bạn giữ cho mức CRF cũng như mức cortisol của mình ở mức thấp. “Anh có những gen của mình,” López nói, “và anh chẳng thể làm gì được với điều đó. Nhưng đôi khi anh có thể kiểm soát cách chúng bộc lộ bản thân.”

 ----------------------

[3] Julia Kristeva (sinh ngày 24 tháng 6 năm 1941) là nhà phân tâm học, phê bình văn học, triết học, nữ quyền và là một tiểu thuyết gia nổi tiếng sinh ra tại Sliven, Bulgaria.

[4] Bài thơ số #280 trong chùm thơ của Emily Dickinson. Đây là bản dịch của dịch giả Trịnh Lữ: https://trinhlu.wordpress.com/translations-2/chum-tho-emily-dickinson/

[5] Đàng Thánh Giá hay Đường Thánh Giá (Latinh: Via Crucis) là một loạt gồm mười bốn hình ảnh nghệ thuật, thường là điêu khắc, mô tả diễn tiến Cuộc thương khó của Giêsu, từ khi ngài bị kết án đến khi bị đóng đinh trên thập giá và cuối cùng là an táng trong hầm mộ.

[6] Daphne Miriam Merkin là một nhà phê bình văn học, nhà tiểu luận và tiểu thuyết gia người Mỹ. Bà là tác giả của cuốn tiểu thuyết Enchantment (1984) và hai tập tiểu luận Dreaming of Hitler (1997) và The Fame Lunches (2014), và một cuốn hồi ký This Close to Happy: A Reckoning With Depression (2017).

[7] Chỉ nhà văn Virginia Woolf

menu
menu