Atlas về Trầm cảm: Con quỷ giữa ban trưa - Chương 2.3

atlas-ve-tram-cam-con-quy-giua-ban-trua-chuong-2-3

Trầm cảm là một phản ứng trước những mất mát trong quá khứ, và lo âu là phản ứng trước mất mát của tương lai.

Ác Quỷ giữa ban trưa
Atlas Về Trầm Cảm

Tác giả: ANDREW SOLOMON

Người dịch: December Child

 

Trong công trình nghiên cứu của mình, López đã quay trở lại với những mô hình động vật đơn giản nhất. “Nếu anh làm cho một con chuột bị stress,” ông nói, “con chuột ấy sẽ có lượng hormone stress ở mức cao. Nếu như anh nhìn vào các thụ thể serotonin của nó, chúng gần như đã bị rối loạn bởi vì stress. Bộ não của một con chuột bị căng thẳng thần kinh nặng trông rất giống với bộ não của một con chuột bị trầm cảm. Nếu anh cho nó dùng thuốc chống trầm cảm làm thay đổi serotonin, cortisol của nó cuối cùng sẽ bình thường trở lại. Như thể ở một số dạng trầm cảm có liên quan nhiều hơn đến tế bào thần kinh có thể giải phóng serotonin,” López nói, “và một số thì liên quan đến cortisol hơn, và hầu hết các trường hợp là sự pha trộn của cả hai độ nhạy này theo một cách nào đó. Sự giao thoa của hai hệ thống này là một phần của sinh lý bệnh học.” Các thí nghiệm trên chuột đã cho ta thấy được vài điều, nhưng vỏ não trước trán, khu vực của bộ não mà con người sở hữu và khiến cho chúng ta phát triển hơn loài chuột, cũng chứa rất nhiều thụ thể cortisol, và chúng có lẽ cũng liên quan đến sự phức tạp của chứng bệnh trầm cảm ở người. Bộ não của những người từng tự tử cho thấy mức độ cực kỳ cao của chất CRF – “nó vô cùng cao, như thể là họ đã bơm vào chất đó vậy.” Tuyến thượng thận của họ lớn hơn hẳn so với những người chết bởi những nguyên nhân khác bởi vì mức độ cao của chất CRF đã thực sự dẫn tới sự mở rộng của hệ thống thượng thận. Nghiên cứu gần đây nhất của López chỉ ra rằng các nạn nhân tự tử thực sự cho thấy sự giảm sút đáng kể của các thụ thể cortisol ở vỏ não trước trán (có nghĩa là chất cortisol ở khu vực đó không được dọn sạch nhanh như mong muốn). Bước tiếp theo, López nói, là nhìn vào bộ não của những người phải chịu sức ép vô cùng lớn và những người có thể vượt qua nó. “Hóa sinh của cơ chế đối phó của họ là gì?” López đặt ra câu hỏi. “Làm thế nào mà họ có thể duy trì khả năng phục hồi như vậy? Mô hình giải phóng CRF trong não họ là gì? Các thụ thể của họ trông ra sao?”

John Greden, trưởng khoa của López và Young, lại tập trung vào những tác động lâu dài của việc duy trì căng thẳng và những cơn trầm cảm. Nếu như bạn có quá nhiều stress và mức cortisol quá cao trong một thời gian quá dài, bạn sẽ bắt đầu hủy hoại những neuron kiểm soát vòng hồi tiếp và giảm mức cortisol xuống sau khi stress đã được xử lý. Rốt cuộc, điều này dẫn đến tổn thương vùng đồi thị và hạch hạnh nhân, làm mất các mô mạng lưới thần kinh. Bạn càng ở lâu trong tình trạng trầm cảm, bạn càng chịu tổn thương nặng nề hơn, mà có thể dẫn đến biến chứng viêm dây thần kinh ngoại biên: thị lực của bạn bắt đầu giảm xuống và mọi thứ khác đều có thể gặp phải vấn đề. “Điều này phản ánh một sự thật hiển nhiên rằng chúng ta không chỉ cần phải điều trị trầm cảm khi nó xuất hiện,” Greden nhấn mạnh, “mà còn cần phải ngăn ngừa nó tái phát. Cách tiếp cận của chúng ta đối với sức khỏe cộng đồng ở thời điểm này là rất sai lầm. Những người bị trầm cảm tái phát cần phải dùng thuốc suốt đời, chứ không phải là dùng rồi lại ngưng, bởi vì bên cạnh sự khó chịu của việc phải trải qua nhiều đau đớn của những cơn trầm cảm, những con người ấy thực sự đang phá hủy mô thần kinh của chính họ.” Greden hi vọng rằng trong tương lai sự hiểu biết của chúng ta về những hậu quả đối với cơ thể sẽ dẫn chúng ta đến những chiến lược giúp loại bỏ điều này. “Có thể chúng ta sẽ thử tiêm chọn lọc một số kích thích tố tăng trưởng mô thần kinh vào những khu vực nhất định của bộ não để làm một số loại mô sinh sản và phát triển. Có lẽ chúng ta sẽ sử dụng các biện pháp kích thích khác, như là kích thích từ hoặc dòng điện, để kích thích sự phát triển ở những khu vực nhất định.”

Tôi cũng hi vọng là như vây. Việc sử dụng thuốc rất đắt đỏ - không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt tinh thần nữa. Thật nhục nhã khi phải phụ thuộc vào chúng. Và việc phải theo dõi việc dùng thuốc và cất giữ các đơn thuốc cũng vô cùng bất tiện. Và cũng thật là độc hại khi biết rằng nếu thiếu đi những sự can thiệp vĩnh viễn này bạn sẽ không còn là con người mà bạn vẫn thường cho là nữa. Tôi không biết tại sao tôi lại cảm thấy như vậy – tôi đeo kính áp tròng và nếu không có chúng tôi gần như trở nên mù dở, và tôi không hề thấy xấu hổ về kính áp tròng hay sự cần thiết của chúng đối với tôi (mặc dù nếu được lựa chọn, thì tôi vẫn chọn có được đôi mắt sáng). Sự hiện diện thường xuyên của những viên thuốc trầm cảm đối với tôi mà nói chính là một lời nhắc nhở về sự yếu đuối và không hoàn hảo; và tôi là một kẻ cầu toàn và muốn rằng sự việc không bị nắm gọn trong lòng bàn tay của Chúa.

Mặc dù những tác dụng đầu tiên của thuốc chống trầm cảm bắt đầu phát huy hiệu quả sau một tuần dùng thuốc, nhưng phải mất tới sáu tháng mới có thể thu được lợi ích đầy đủ từ chúng. Zoloft làm tôi cảm thấy rất tệ, vì thế bác sĩ cho tôi chuyển sang dùng Paxil sau vài tuần. Tôi không quá thích Paxil, nhưng nó có vẻ hiệu quả và gây ra ít tác dụng phụ với tôi hơn. Mãi tận sau này tôi mới biết rằng trong khi có hơn 80 phần trăm bệnh nhân trầm cảm có phản ứng với thuốc, thì chỉ có 50 phần trăm bệnh nhân có phản ứng với loại thuốc đầu tiên được kê cho họ - hay, thực ra, với bất kỳ một loại thuốc cụ thể nào. Trong khi ấy, là cả một chu kỳ khủng khiếp: những triệu chứng của trầm cảm gây ra trầm cảm. Sự cô đơn làm ta phiền muộn, nhưng trầm cảm cũng dẫn đến cô đơn. Nếu như bạn không thể hoạt động, cuộc đời bạn sẽ vô cùng bề bộn; nếu như bạn không thể nói chuyện và có hứng thú tình dục, đời sống tình cảm và xã hội của bạn sẽ tan biến, và điều ấy thật sự gây tuyệt vọng. Trong hầu hết thời gian, tôi khó chịu trước tất cả mọi thứ để không phải khó chịu trước một điều cụ thể nào; đó là cách duy nhất giúp tôi có thể chịu được những ảnh hưởng của mất mát, niềm vui, và phẩm giá mà căn bệnh mang lại cho tôi. Tôi cũng, thật phiền phức, có một chuyến giao lưu đọc sách ngay sau sinh nhật của mình. Tôi phải đi tới các hiệu sách và các địa điểm khác nhau và phải đứng trước những người lạ để đọc to cuốn tiểu thuyết mình vừa mới viết. Đấy là cái công thức cho thảm họa, nhưng tôi quyết tâm phải vượt qua được nó. Trước buổi đọc đầu tiên, ở New York, tôi ngâm mình bốn giờ trong bồn tắm, và rồi một người bạn thân cũng đang phải vật lộn với chứng trầm cảm đã giúp tôi giội người bằng nước lạnh. Anh ấy không chỉ giúp tôi mở vòi nước mà còn giúp tôi thực hiện những việc khó khăn mệt mỏi như cài khuy áo và kéo khóa quần, và đưa tôi ra ngoài. Rồi tôi tới điểm hẹn và đọc. Tôi cảm thấy như thể trong miệng mình đầy những phấn rôm, và tôi không thể nghe rõ, và tôi cứ nghĩ rằng tôi có thể sẽ ngất xỉu, nhưng tôi đã làm được. Rồi một người bạn khác đưa tôi về nhà, và tôi nằm trên giường suốt ba ngày. Tôi đã ngừng khóc; và nếu tôi uống đủ Xanax, tôi có thể giữ cho sự căng thẳng nằm trong tầm kiểm soát. Tôi vẫn thấy những hoạt động thường ngày là bất khả thi, và tôi thức dậy mỗi ngày trong hoảng loạn, từ rất sớm và phải mất tới vài giờ mới có thể tạm vượt qua được nỗi sợ hãi để mà rời giường; nhưng tôi có thể buộc bản thân mình ra ngoài xã hội trong một hay hai giờ mỗi lần.  

Sự xuất hiện của trầm cảm thường chậm, và mọi người dừng lại ở các giai đoạn khác nhau của nó. Một nhân viên sức khỏe tâm thần miêu tả cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của bản thân với chứng trầm cảm: “Nó không bao giờ thực sự rời bỏ tôi, nhưng tôi chiến đấu với nó mỗi ngày. Tôi đang dùng thuốc, và điều này thực sự có ích, và tôi vừa quyết định rằng tôi sẽ không chịu thua trước nó. Anh biết đấy, tôi có một cậu con trai cũng phải vật lộn với chứng bệnh này, và tôi không muốn thằng bé nghĩ rằng đây là một lý do để không có được một cuộc sống tốt đẹp. Tôi thức dậy mỗi ngày, tôi làm bữa sáng cho các con. Có những ngày tôi có thể tiếp tục làm việc, nhưng có những ngày tôi phải lên giường nằm ngay sau đó, nhưng tôi đều thức dậy mỗi ngày. Tôi đến văn phòng này vào một lúc nào đó trong ngày. Đôi khi tôi muộn một vài giờ, nhưng tôi chưa bao giờ nghỉ hẳn một ngày vì chứng trầm cảm.” Khuôn mặt cô đẫm nước mắt khi nói những lời này, nhưng quai hàm cô xiết lại và cô nói tiếp. “Một ngày vào tuần trước tôi thức dậy và nó thật tệ. Tôi cố gắng xuống giường, đi vào bếp, đếm từng bước một, để mở tủ lạnh ra. Và rồi tất cả những thứ cần cho bữa sáng ở ngay trong tủ lạnh, vậy mà tôi chẳng thể với lấy chúng. Khi các con của tôi xuất hiện, tôi chỉ đứng đó, nhìn chằm chằm vào tủ lạnh. Tôi ghét khi cứ như vậy, khi trở nên như thế trước mặt các con tôi.” Chúng tôi nói về trận chiến hàng ngày: “Một người như Kay Jamison, hay một người giống như anh, vượt qua được điều này với rất nhiều sự giúp đỡ,” cô nói. “Cha mẹ tôi đều đã mất, và tôi đã li dị, và tôi thấy thật khó khăn khi tìm kiếm sự giúp đỡ.”

Các biến cố cuộc đời thường là tác nhân gây nên trầm cảm. “Một người có khả năng ít bị trầm cảm trong một hoàn cảnh ổn định hơn nhiều so với một người ở trong cảnh bấp bênh,” Melvin McInnis của viện Johns Hopkins nhận định. George Brown, thuộc trường Đại học London là nhà tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu về các biến cố cuộc đời thì nhận định, “Quan điểm của chúng tôi là hầu hết trầm cảm đều có nguồn gốc từ sự chống đối xã hội; cũng có cả đặc tính bệnh nữa, nhưng hầu hết mọi người đều có thể rơi vào chứng trầm cảm điển hình nếu gặp phải một số tình huống cụ thể. Mức độ tổn thương là khác nhau, dĩ nhiên là vậy, nhưng tôi cho rằng, có ít nhất hai phần ba dân số phải chịu đủ mức độ tổn thương.” Dựa trên kết quả nghiên cứu chi tiết mà ông đã thực hiện trong suốt hai mươi nhăm năm, các sự kiện đe dọa nghiêm trọng cuộc sống chính là nguyên nhân gây ra trầm cảm ban đầu. Những sự kiện này thường liên quan đến sự mất mát – sự ra đi của một người được ta quý trọng, của một vai trò, của một ý tưởng về bản thân ta – và ở mức tệ hại nhất chúng liên quan tới sự nhục nhã hoặc một cảm giác bế tắc. Trầm cảm cũng có thể bị gây ra bởi sự thay đổi tích cực. Sinh con, thăng chức, hoặc kết hôn cũng có khả năng gây ra trầm cảm giống cái chết hoặc sự mất mát.

Theo truyền thống, sẽ có một ranh giới giữa mô hình trầm cảm nội sinh[1] và trầm cảm phản ứng[2], trầm cảm nội sinh bắt đầu ngẫu nhiên từ bên trong, trong khi trầm cảm phản ứng là một phản ứng cực đoan trước một tình huống đau buồn. Sự phân biệt đã gần như biến mất trong thập kỷ qua, vì rõ ràng là hầu hết các ca trầm cảm đều là sự pha trộn giữa các yếu tố phản ứng và nội sinh. Russell Goddard, giáo sư trường ĐH Yale, kể cho tôi nghe câu chuyện về cuộc chiến của ông với trầm cảm: “Tôi dùng thuốc Asendin[3] và nó dẫn đến loạn thần; vợ tôi phải đưa tôi đến ngay bệnh viện.” Ông có kết quả tốt hơn với Dexedrine. Chứng trầm cảm của ông thường trở nặng bởi các sự kiện gia đình. “Tôi biết rằng đám cưới của con trai tôi sẽ gây xúc động,” ông nói với tôi, “và bất cứ điều gì gây xúc động, dù tốt hay xấu, đều khiến tôi bị tái phát. Tôi muốn có sự chuẩn bị trước. Tôi luôn ghét cái ý tưởng phải sử dụng đến liệu pháp sốc điện, nhưng tôi đã tới viện và thực hiện điều đó. Nhưng nó chẳng ích gì. Vào thời điểm diễn ra đám cưới, tôi chẳng thể rời khỏi giường. Điều ấy khiến tôi vô cùng đau đớn, nhưng tôi chẳng làm thế nào để tới được đám cưới.” Điều này gây áp lực khủng khiếp cho gia đình và các mối quan hệ gia đình. “Vợ tôi biết là cô ấy chẳng thể làm gì để giúp được tôi,” Goddard giải thích. “Cô ấy đã học được rằng tốt nhất cứ để mặc tôi, tạ ơn Chúa.” Nhưng gia đình và bạn bè thường không thể làm được điều đó, và không thể cảm thông. Một số người gần như quá nuông theo. Nếu như bạn đối xử với một người như thể người đó bị tàn tật, thì anh ta sẽ nhìn nhận bản thân mình như một người tàn tật, và điều đó có thể khiến anh ta trở nên tàn tật thật, có lẽ là tàn tật hơn cả cái mức mà anh ta thật sự mắc phải. Sự tồn tại của dược phẩm càng làm tăng thêm sự thiếu khoan dung của xã hội. “Con có vấn đề ư?” tôi đã từng nghe thấy một phụ nữ nói như vậy với con trai mình trong bệnh viện. “Con đã uống cái thuốc Prozac đó và con đã khỏi bệnh và giờ thì con lại gọi cho mẹ.” Xác định chính xác mức độ chịu đựng không chỉ là cần thiết đối với bệnh nhân mà còn với cả gia đình bệnh nhân nữa. “Người nhà phải tự bảo vệ mình,” Kay Jamison từng có lần nói với tôi, “trước sự lây lan của nỗi tuyệt vọng.”

Điều vẫn còn chưa rõ ràng là khi nào thì trầm cảm gây ra các biến cố cuộc đời, và khi nào thì các biến cố cuộc đời gây ra trầm cảm. Hội chứng và triệu chứng hòa lẫn vào nhau và gây ra nhau: hôn nhân thất bại dẫn đến biến cố cuộc đời tồi tệ bởi vì trầm cảm dẫn tới sự gắn kết tệ hại, mà cũng lại là nguyên nhân của những cuộc hôn nhân tồi tệ. Dựa trên các nghiên cứu được thực hiện ở Pittsburgh, cơn trầm cảm đầu tiên thường liên quan chặt chẽ tới biến cố cuộc đời; cơn trầm cảm thứ hai, ít có sự liên quan hơn; và vào lần thứ tư hay thứ năm thì biến cố cuộc đời hầu như không còn đóng vai trò gì nữa cả. Brown đồng ý rằng sau một điểm nhất định, trầm cảm “tự nó giải thoát” và trở nên ngẫu nhiên và nội sinh, tách biệt với các sự kiện trong cuộc sống. Mặc dù hầu hết những người bị trầm cảm đều đã trải qua những sự kiện đặc trưng, nhưng chỉ có một phần năm trong số những người đã trải qua những sự kiện kiểu đó sẽ mắc phải trầm cảm. Rõ ràng là stress làm tăng tỷ lệ trầm cảm. Sự căng thẳng lớn nhất là sự nhục nhã; tiếp theo đó là sự mất mát. Sự phòng ngự tốt nhất, dành cho những người có loại gen dễ bị tổn thương, là một “cuộc hôn nhân đủ tốt”, mà sẽ hấp thụ những sự bẽ bàng đến từ bên ngoài và giúp giảm thiểu chúng. “Tâm lý xã hội tạo ra sự thay đổi về mặt sinh học,” Brown cho biết. “Vấn đề nằm ở chỗ sự tổn thương ban đầu phải bị gây ra bởi những sự kiện bên ngoài.”

Chỉ ngay trước khi bắt đầu chuyến đọc sách của mình, tôi bắt đầu dùng thuốc Navane, một loại thuốc làm giảm rối loạn thần kinh có tác dụng chống lo âu, mà, chúng tôi hi vọng, sẽ giúp tôi ít phải thường xuyên uống Xanax hơn. Buổi đọc sách tiếp theo diễn ra ở California. Tôi đã nghĩ rằng tôi không thể đi được; tôi biết là tôi không thể đi một mình. Cuối cùng, cha tôi đã đưa tôi tới đó; trong khi tôi ở vào tình trạng lơ mơ vì Xanax, ông đã đưa tôi lên và xuống máy bay, rời khỏi sân bay, về khách sạn. Tôi bị ảnh hưởng của thuốc nặng đến mức tôi gần như ngủ thiếp đi, nhưng ở trong trạng thái đó tôi vẫn có thể tự thực hiện những hoạt động này, điều mà tôi không thể tưởng tượng nổi vào một tuần trước đó. Tôi biết rằng mình càng tự làm được nhiều việc, thì tôi sẽ càng ít muốn chết, nên việc đi lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Khi chúng tôi tới San Francisco, tôi lên giường và ngủ liền mười hai tiếng. Rồi, trong suốt bữa tối đầu tiên của tôi ở đó, bỗng nhiên tôi cảm thấy nó biến mất. Chúng tôi ngồi trong căn phòng ăn rộng lớn, ấm cúng của khách sạn, và tôi tự gọi món cho mình. Tôi đã ở cùng với cha trong nhiều ngày, nhưng tôi chẳng có một khái niệm nào về những gì diễn ra với cuộc đời ông, ngoại trừ tôi; chúng tôi nói chuyện vào tối đó như thể vừa mới gặp lại nhau sau vài tháng xa cách. Khi lên đến trên phòng, chúng tôi tiếp tục nói chuyện cho tới đêm khuya, và khi tôi cuối cùng cũng lên giường đi ngủ, tôi gần như ở trong cơn phấn khích. Tôi ăn một ít sô-cô-la được bày trong phòng, viết một bức thư, đọc vài trang sách trong cuốn tiểu thuyết mà tôi mang theo. Tôi cảm thấy mình đã sẵn sàng trước thế giới.

Sáng ngày hôm sau, tôi cảm thấy tồi tệ như tôi vẫn từng cảm thấy. Cha giúp tôi rời giường, mở vòi hoa sen cho tôi. Ông cố gắng cho tôi ăn, nhưng tôi quá sợ hãi để mà nhai thức ăn. Tôi cố gắng uống một ít sữa. Tôi gần như nôn ra mấy lần, nhưng không làm vậy. Tôi khổ sở với cái cảm giác đau khổ ảm đạm, giống như điều mà một người sẽ trải qua nếu người đó lỡ đánh rơi và làm vỡ một vật quý giá. Những ngày này, 0,25 mg Xanax cũng có thể khiến tôi ngủ trong mười hai tiếng. Ngày hôm ấy, tôi uống 8 mg Xanax và vẫn căng thẳng đến mức chẳng thể ngồi yên. Vào buổi tối tôi thấy khá hơn nhưng không đỡ được bao nhiêu. Đó là những gì mà một cơn suy sụp diễn ra ở vào giai đoạn ấy: một bước tiến, hai bước lùi, hai bước tiến, một bước lùi. Một chiếc hộp của những bước tiến và lùi là những gì mà bạn sẽ phải trải qua.

Trong suốt giai đoạn tiếp theo, các triệu chứng bắt đầu thuyên giảm. Tôi cảm thấy khỏe hơn vào sớm hơn, và lâu hơn, và thường xuyên hơn. Chẳng mấy chốc, tôi đã tự ăn được. Thật khó để có thể giải thích về việc mất đi một khả năng đã từng tồn tại, nhưng với tôi nó gần giống như những gì tôi từng hình dung về cái ngày mình đã rất già. Bà dì Beatrice của tôi thật đáng ngưỡng mộ ở cái tuổi chín mươi tám, bởi vì bà đã gần chín mươi chín tuổi rồi và hàng ngày, bà vẫn thức dậy và mặc quần áo. Nếu thời tiết dễ chịu, bà sẽ đi dạo quanh tám khu nhà. Bà vẫn rất quan tâm tới trang phục của mình của mình, và bà thích buôn điện thoại hàng tiếng đồng hồ. Bà nhớ hết ngày sinh nhật của mọi người và thỉnh thoảng bà còn ra ngoài ăn trưa. Khi vượt qua một cơn trầm cảm, bạn sẽ ở vào cái điểm mà bạn có thể thức dậy và mặc quần áo mỗi ngày. Nếu trời đẹp, bạn có thể đi dạo, và thậm chí bạn còn có thể dùng bữa trưa ở ngoài. Bạn nói chuyện điện thoại. Dì Bea không hề thở nhọc sau một cuốc đi bộ; bà đi chậm rãi, nhưng bà có được một quãng thời gian tuyệt vời và vui mừng vì được rời khỏi nhà. Vì vậy khi mà bạn qua khỏi cơn trầm cảm, việc bạn hoàn toàn bình thường trong một bữa ăn trưa không hề có nghĩa là bạn đã khá hơn, cũng chỉ giống như khả năng đi bộ qua tám khu nhà của dì Bea có nghĩa là bà đã từng khiêu vũ suốt đêm hồi mới mười bảy tuổi.

Bạn chẳng hề vượt qua cơn suy sụp tinh thần một cách nhanh chóng và dễ dàng. Mọi thứ cứ trở nên gập ghềnh trúc trắc. Mặc dù một số triệu chứng của căn bệnh trầm cảm dường như đã được cải thiện, tôi lại có phản ứng bất thường, không may với Navane. Vào cuối tuần thứ ba, tôi không thể đứng thẳng. Tôi đi lại trong vài phút và rồi tôi sẽ phải nằm xuống. Tôi không thể kiểm soát được bất cứ điều gì ngoại trừ việc hít thở. Tôi sẽ tới các buổi đọc sách và sẽ bám vào bục giảng. Vào giữa buổi đọc, tôi sẽ bắt đầu lược bớt các đoạn văn để có thể kết thúc sớm. Khi kết thúc buổi đọc, tôi sẽ ngồi xuống và bám chặt vào ghế. Ngay khi rời khỏi phòng, đôi khi tôi vờ rằng tôi cần đi vệ sinh, và tôi sẽ lại nằm xuống đâu đó. Tôi không biết chuyện gì đang diễn ra. Tôi nhớ rằng có lần từng đi dạo với một người bạn ở gần khu học xá Berkeley, bởi vì cô ấy đề nghị rằng khí trời sẽ tốt cho tôi. Chúng tôi đi bộ một vài phút và rồi tôi bắt đầu thấy mệt. Tôi buộc mình phải tiếp tục, nghĩ rằng thời tiết và không khí trong lành sẽ có tác dụng; tôi đã nằm trên giường suốt năm mươi giờ qua. Kể từ khi tôi cắt giảm liều lượng thuốc Xanax, để ngăn bản thân khỏi ngủ một lèo năm mươi tiếng, tôi lại bắt đầu phải trải qua trạng thái lo lắng tột độ. Nếu như bạn chưa khi nào nếm trải cảm giác lo lắng, bạn hãy hình dung nó như là một sự đối lập với sự thanh thản. Tất cả thanh thản – cả bên trong lẫn bên ngoài – đều bị tước đoạt khỏi cuộc đời tôi trong thời điểm đó.

Trầm cảm nhiều khi kết hợp với các triệu chứng lo âu. Việc nhìn nhận riêng biệt giữa trầm cảm và lo âu là hoàn toàn có thể, nhưng theo như James Ballenger của trường ĐH Y South Carolina, một chuyên gia hàng đầu về lo âu, thì “chúng là cặp anh em sinh đôi.” George Brown nói ngắn gọn, “Trầm cảm là một phản ứng trước những mất mát trong quá khứ, và lo âu là phản ứng trước mất mát của tương lai.” Thomas Aquinas cho rằng sợ hãi ứng với buồn rầu còn hi vọng thì ứng với ước mơ; hoặc, nói theo cách khác, lo âu là một dạng điềm báo của trầm cảm. Tôi phải trải qua vô số lo âu khi tôi trầm cảm, và cảm thấy cực kỳ chán nản khi mà tôi lo lắng, vì thế tôi hiểu ra rằng sự thu mình lại và nỗi sợ hãi là không thể tách rời. Lo âu không phải là sự hoang tưởng; những người bị mắc chứng rối loạn lo âu cũng nắm bắt vị trí của họ trên thế giới này giống như là những người bình thường khác. Sự khác biệt đối với lo âu nằm ở cái cách mà một người cảm nhận về sự nắm bắt ấy. Có khoảng một nửa số bệnh nhân chỉ thuần túy mắc chứng rối loạn lo âu đã phát triển thành trầm cảm trong vòng năm năm. Ở mức độ mà trầm cảm và lo âu thường được quyết định bởi gen, chúng thường có chung một bộ gen (mà cũng gắn liền với các gen gây nghiện rượu). Các ca trầm cảm bị làm trầm trọng thêm bởi lo âu sẽ có tỷ lệ tự vẫn cao hơn so với các ca trầm cảm đơn thuần, và chúng cũng khó hồi phục hơn nhiều. “Nếu như bạn hứng chịu hàng loạt những cuộc tấn công nghiêm trọng mỗi ngày,” Ballenger nói, “nó sẽ khiến Hannibal[4] cũng phải quỳ xuống. Những con người ấy bị đánh bại thành đống bột nhão, như một bào thai nằm lặng lẽ trên giường.”

Từ 10 đến 15 phần trăm dân số Hoa Kỳ mắc phải một số loại rối loạn lo âu. Một phần, các nhà khoa học nghĩ, là bời vì vùng locus coeruleus[5] trong não kiểm soát cả việc sản sinh ra chất norepinephrine[6] lẫn phần ruột dưới, có ít nhất một nửa số bệnh nhân bị chứng rối loạn lo âu cũng dễ bị hội chứng ruột kích thích; và bất kỳ ai có tâm trạng lo lắng mãnh liệt đều biết rằng thức ăn có thể di chuyển nhanh và dữ dội qua hệ tiêu hóa như thế nào. Cả norepinephrine và serotonin đều có liên quan tới lo âu. “Hai trong ba lần, các biến cố cuộc đời đều có liên quan, và đó luôn là sự mất cảm giác an toàn,” Ballenger nhận xét. Khoảng một phần ba số cơn hoảng loạn, đặc hữu của một số dạng trầm cảm, xảy ra trong khi ngủ, trong giấc ngủ sâu delta, không mơ màng. “Thực ra, chứng rối loạn hoảng sợ bị kích thích bởi những thứ khiến cho tất cả chúng ta lo lắng,” Ballenger nói. “Khi chúng tôi chữa trị cho họ, đó gần như là việc đưa một người trở lại mức độ lo lắng thông thường.” Chứng rối loạn hoảng sợ thực sự là sự rối loạn về quy mô. Ví dụ như là, việc đi lại giữa đám đông theo một nghĩa nào đó khiến cho hầu hết mọi người đều căng thẳng cho dù họ không bị rối loạn lo âu đi chăng nữa; nhưng nếu như một người bị mắc chứng bệnh này, thì đối với người đó nó sẽ trở nên khủng khiếp đến mức không thể nói thành lời. Chúng ta đều cẩn trọng ít nhiều mỗi khi đi qua một cây cầu – liệu cây cầu này có chịu nổi sức nặng? liệu nó có đủ an toàn? – nhưng đối với một người bị chứng rối loạn lo âu mà nói, việc đi qua một cây cầu bằng thép chắc chắn có tuổi đời vài thập kỷ cũng đáng sợ như là việc phần đông chúng ta vượt qua hẻm núi Grand Canyon trên một sợi dây thừng vậy.

Trước sự lo lắng của tôi, người bạn của tôi ở Berkeley và tôi bắt đầu vận động một chút và chúng tôi cứ tiếp tục đi bộ và rồi tôi không thể đi tiếp nữa. Tôi nằm xuống, mặc nguyên bộ quần áo đẹp, xuống mặt bùn. “Thôi nào, hãy ngồi xuống một gốc cây nào đó vậy,” cô ấy nói. Tôi cảm thấy tê liệt. “Làm ơn hãy để mình lại đây,” tôi nói, và tôi cảm thấy nước mắt trào ra. Trong suốt một giờ tôi nằm trong vũng bùn, cảm thấy như thể nước từ trong cơ thể mình đang rỉ ra, và rồi bạn tôi gần như đã phải vác tôi vào trong xe ô tô. Những sợi dây thần kinh từng bị bóc sống theo một cách nào đó giờ đây dường như đã bị bọc lại bằng chì. Tôi biết rằng đó là một thảm họa, nhưng sự nhận biết thực là vô nghĩa. Sylvia Plath đã viết rất hay về cơn suy sụp của mình trong cuốn tiểu thuyết The Bell Jar: “Tôi không thể khiến bản thân mình phản ứng. Tôi cảm thấy rất tĩnh lặng và trống rỗng, cái cách mà một mắt bão ắt phải cảm thấy, di chuyển lờ đờ giữa những tiếng ồn ào vây quanh.” Tôi cảm thấy như thể đầu óc mình đã bị giam cầm bởi Lucite[7], như là những chú bướm mãi mãi bị nhốt trong thứ vật chất dày đặc trong suốt của cái chặn giấy.

Việc đọc sách trước đám đông là một trong những nỗ lực khó khăn nhất trong cuộc đời tôi: nó là thách thức lớn nhất mà tôi từng đối mặt trước đó hoặc cả về sau này. Vị chuyên gia xuất bản đã tổ chức chuyến lưu diễn đọc sách của tôi đã đi cùng tôi trong một nửa số buổi đọc ấy và trở thành một người bạn thân thiết. Cha đi cùng với tôi trong nhiều chuyến; khi chúng tôi xa nhau, ông luôn gọi cho tôi cứ mỗi vài giờ một lần. Một số người bạn thân cũng chăm lo cho tôi, và tôi không khi nào phải ở một mình. Tôi có thể nói với bạn rằng tôi chẳng phải là một người bạn đồng hành vui vẻ gì; và cái tình yêu sâu sắc ấy và sự nhận biết về tình yêu sâu sắc tự thân nó không phải là phương thuốc chữa lành. Tôi cũng có thể nói rằng nếu như không có tình yêu sâu sắc và sự nhận biết về tình yêu sâu sắc, tôi sẽ không thể tìm thấy nó trong chính bản thân mình để có thể vượt qua được toàn bộ chuyện này. Tôi có lẽ sẽ tìm một nơi nào đó trong khu rừng để mà nằm xuống và tôi sẽ nằm lại đó cho tới khi lạnh cóng và chết đi.

Cơn hoảng loạn biến mất vào tháng Mười hai. Là vì thuốc đã phát huy tác dụng hay bởi vì chuyến lưu diễn đã kết thúc, tôi cũng không biết nữa. Rốt cuộc, tôi chỉ phải hủy bỏ một buổi đọc sách; từ ngày 1 tháng Mười một và ngày 15 tháng Mười hai, tôi đã tới mười một thành phố. Tôi có được cho mình một vài ô cửa sổ ngẫu nhiên trong cơn trầm cảm, như thể vào một lúc nào đó sương mù bất chợt tan đi. Jane Kenyon, một nhà thơ cũng từng phải vật lộn với chứng trầm cảm trầm trọng trong phần lớn đời mình, đã viết về căn bệnh như thế này:

…Với sự ngạc nhiên

và nỗi cay đắng của một người bị bỏ rơi

vì một tội ác mà cô ta chẳng hề thực hiện

tôi quay trở về với gia đình và bè bạn,

để tô hồng nhưng bông thục quỳ trên giấy vẽ;

tôi trở về với chiếc bàn, cái ghế, và những trang sách.

Vì vậy vào ngày 4 tháng Mười hai, tôi đi bộ lên nhà một người bạn ở khu Upper West Side, và tôi đã có một khoảng thời gian khá ổn ở đó. Trong vài tuần tiếp theo, tôi thấy vui không phải vì mình đã trở lại bình thường, mà là bởi vì cái thực tế rằng tôi đã có được niềm vui đó. Tôi vượt qua được Giáng sinh và năm mới và tôi hành động đồng điệu với vẻ cái bề ngoài của mình. Tôi đã sụt năm mươi pound, và giờ đây tôi bắt đầu lấy lại cân nặng. Cha và các bạn của tôi đều chúc mừng tôi vì sự tiến bộ đáng ngạc nhiên này. Tôi cảm ơn họ. Tuy nhiên, trong lòng mình, tôi thực rõ thứ rời đi chỉ là những triệu chứng. Tôi ghét phải uống thuốc hàng ngày. Tôi ghét cái việc tôi từng gặp phải cơn suy sụp tinh thần và đánh mất tâm trí mình. Tôi ghét cái từ cổ lỗ sĩ nhưng chính xác suy sụp tinh thần ấy, với ngụ ý của nó về việc một cỗ máy trở nên đình trệ. Tôi thấy nhẹ nhõm vì đã vượt qua được chuyến lưu diễn đọc sách, nhưng tôi kiệt sức vì tất cả những gì tôi phải làm để vượt qua được nó. Tôi đã bị khuất phục trước thế giới này, bởi những con người và những cuộc đời mà tôi không thể dẫn dắt, bởi những công việc mà tôi chẳng thể thực hiện – thậm chí là chịu khuất phục trước cả những phần việc mà tôi chưa muốn hay cần phải thực hiện. Tôi lại quay trở về vị trí mà tôi từng ở vào hồi tháng Chín, chỉ là vào lúc này tôi đã biết nó có thể tồi tệ đến nhường nào. Tôi quyết tâm sẽ không không bao giờ trải qua một điều gì giống như vậy nữa.

Cái giai đoạn bán hồi phục này có thể diễn ra trong thời gian dài. Đây cũng là quãng thời gian nguy hiểm. Trong thời điểm tồi tệ nhất của căn bệnh trầm cảm, khi tôi khó có thể cắt được một miếng thịt cừu, tôi không thể tự hại chính mình. Nhưng trong giai đoạn gần hồi phục này, tôi cảm thấy đủ khỏe để có thể tự sát. Lúc này tôi có thể làm được khá nhiều việc mà tôi vẫn luôn có thể làm được, ngoại trừ việc tôi vẫn đang ở trong tình trạng mất đi khoái cảm, sự bất lực trong việc cảm nhận niềm vui thú. Tôi cứ ép mình phải cư xử cho đúng lề thói, nhưng lúc này đây khi tôi đã có đủ năng lượng để tự hỏi rằng tại sao tôi lại ép buộc bản thân mình như vậy, tôi chẳng tìm ra được một lý do thích hợp. Tôi nhớ có một tối nọ, khi một người quen đã thuyết phục tôi cùng ra ngoài xem phim với anh ta. Tôi đã đi cùng để chứng minh sự hoan hỉ của chính mình và suốt nhiều giờ đã phải thể hiện cái dáng vẻ vui tươi mà mọi người đều có, dù trong lòng tôi cảm thấy đau đớn trước những điều mà họ thấy vui. Khi về đến nhà, tôi cảm thấy cơn hoảng loạn quay trở lại, và một nỗi buồn khổng lồ xâm chiếm lấy tôi. Tôi chạy vào phòng tắm và nôn liên tục, dù tôi nhận biết sâu sắc rằng nỗi cô đơn của tôi là một loại virus ẩn nấp trong cơ thể mình. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ chết trong cô độc, và rằng chẳng có lý do tốt đẹp nào để mà tiếp tục sống nữa, và tôi nghĩ cái thế giới bình thường và chân thực mà tôi đã từng lớn lên, mà tôi tin rằng những người khác sống trong đó, sẽ chẳng bao giờ chấp nhận tôi. Và khi những phát hiện này ập vào đầu tôi như những viên đạn, tôi nôn ọe lên khắp sàn buồng tắm, và chất chua trong dịch vị dạ dày dâng lên trong thực quản tôi, và khi mà tôi cố hít thở, tôi lại hít vào dịch mật của mình. Tôi đã ăn rất nhiều để cố gắng lấy lại cân nặng, và tôi cảm thấy như thể tất cả số thức ăn đó đang dâng ngược lên, như thể dạ dày tôi đang lộn từ trong ra ngoài và tôi nằm rũ ra sàn nhà.

Tôi nằm trên sàn phòng tắm khoảng hai mươi phút, rồi bò ra ngoài và nằm xuống giường mình. Tâm trí tỉnh táo của tôi thấy rõ rằng tôi đã điên trở lại, và sự nhận thức ấy khiến tôi càng thêm mệt mỏi; nhưng tôi biết rằng việc để cho sự điên rồ này tự do phát tác là một ý tưởng tồi. Tôi cần phải nghe thấy giọng nói của người khác, dù chỉ chốc lát thôi, để có thể xuyên thủng nỗi cô đơn đáng sợ trong tôi. Tôi không muốn gọi cho cha bởi vì tôi biết rằng ông sẽ lại lo lắng, và bởi vì tôi hi vọng tình trạng này chỉ mang tính tạm thời. Tôi muốn nói chuyện với một ai đó có đầu óc lành mạnh và có thể an ủi mình (một sự thôi thúc tệ hại: những người điên mới là những người bạn tốt hơn khi mà ta ở trong trạng thái điên rồ; bởi vì họ biết cảm giác điên ấy là như thế nào). Tôi cầm lấy điện thoại và nhấn số gọi cho một trong những người bạn lớn tuổi nhất của mình. Hồi trước chúng tôi đã từng nói chuyện về việc dùng thuốc, về sự hoảng loạn, và bà ấy đã rất thông thái và phóng khoáng trong những câu trả lời của mình.

Tôi cứ nghĩ bà ấy có thể giúp tôi khơi gợi lại bản thể trước đây của mình. Lúc ấy đã là hai giờ rưỡi sáng. Chồng bà nghe điện thoại, và rồi đưa nó cho bà. “Xin chào?” bà nói. “Chào chị,” tôi trả lời, rồi dừng lại. “Có chuyện gì thế?” bà ấy hỏi. Rõ ràng là tôi không thể giải thích được chuyện gì đang xảy ra. Tôi chẳng có gì để nói. Rồi tôi nhận một cuộc gọi khác; đó là người đã đi xem phim cùng với tôi, gọi điện bởi vì anh ta nghĩ rằng đã đưa nhầm cho tôi chiều khóa cùng với tiền lẻ được thối lại khi chúng tôi mua lon soda. Tôi kiểm tra túi của mình và tìm thấy chùm chìa khóa của anh ấy. “Tôi phải cụp máy đây,” tôi nói với người bạn lớn tuổi của mình, và dập máy. Đêm ấy, tôi leo lên sân thượng và nhận thấy mặt trời đã ló lên và tôi cảm thấy buồn không thể tả và rằng chẳng thể nào, nếu như ta sống ở New York, lại có thể tự tử từ trên nóc của một tòa nhà sáu tầng.

Tôi không muốn ngồi trên mái nhà, dù tôi nhận thức được rằng nếu như tôi không cho phép bản thân mình có được sự nhẹ nhõm từ việc cân nhắc tới khả năng tự tử, thì bên trong con người tôi sẽ sớm nổ tung và tôi rồi sẽ tự tử thật. Tôi cảm thấy những xúc tua chết chóc của nỗi tuyệt vọng này đang quấn lấy tay chân mình. Rồi chẳng mấy chốc chúng sẽ quấn chặt lấy những ngón tay mà tôi cần dùng tới để uống thuốc hay để kéo cò súng, và khi tôi chết, chúng sẽ là chuyển động duy nhất còn sót lại. Tôi biết rằng tiếng nói lý trí (“Vì Chúa, hãy xuống dưới nhà đi!”) là tiếng nói lý trí, nhưng tôi cũng biết rằng bằng lý trí tôi sẽ phủ nhận mọi nguồn độc hại trong mình, và tôi cảm thấy có một sự tuyệt vọng ngất ngây kỳ lạ trước cái ý nghĩ về sự kết thúc. Nếu như tôi chỉ là một tờ giấy bỏ đi! Thì rồi tôi sẽ buông rơi bản thân mình thật lặng lẽ và sẽ thấy thật vui sướng về sự vắng mặt, vui mừng trong nấm mồ nếu như đó là nơi chốn duy nhất có thể cho phép một sự mừng vui nào đó.

Sự nhận biết của bản thân tôi rằng trầm cảm là thứ ủy mị và việc có thể cười được đã giúp tôi rời khỏi mái nhà. Cũng như là ý nghĩ về cha tôi, người đã quá vất vả vì tôi. Tôi không thể khiến mình tin đủ vào bất kỳ một thứ tình yêu nào đó để hình dung được sự ra đi của tôi sẽ được để tâm tới, nhưng tôi biết cha sẽ buồn ra sao khi đã phải cố gắng nhường ấy để cứu tôi mà chẳng thể thành công. Và tôi cứ nghĩ mãi về việc cắt thịt cừu cho ông vào một ngày nào đó, và tôi biết là tôi đã hứa làm điều đó, và tôi vẫn luôn tự hào về việc luôn giữ vững lời hứa của mình, và cha tôi cũng chưa bao giờ thất hứa với tôi cả, và rằng, rốt cuộc, đó là điều đã đưa tôi xuống cầu thang. Vào khoảng sáu giờ sáng, ướt sũng người vì mồ hôi và ở trong sương giá và bắt đầu phát sốt, tôi trở về căn hộ của mình. Tôi thật sự không muốn chết nhưng tôi cũng chẳng muốn sống thêm một chút nào nữa.

 ----------------

[1] trầm cảm nội sinh (endogenous depression): chứng trầm cảm diễn ra không phải do sự phản ứng trước một sự kiện hoặc kinh nghiệm đau buồn. Thể trầm cảm này có thời kỳ đầu tiến triển từ vài tuần đến vài tháng với các hiện tượng mất ngủ, mệt mỏi, giảm khí sắc, lo lắng đến sức khỏe và tương lai; thời kỳ toàn phát có 3 triệu chứng đặc trưng là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy và ức chế vận động. Trầm cảm nội sinh có đặc điểm là biểu biện nặng lên vào buổi sáng và nhẹ đi về buổi tối, tiến triển thường xuất hiện từng giai đoạn, giữa các giai đoạn khí sắc bình ổn hoàn toàn, không làm biến đổi nhân cách và không đi đến sa sút tâm thần. Ngoài thể lâm sàng điển hình đã nêu trên, còn có các thể lâm sàng không điển hình được ghi nhận như: trầm cảm sững sờ, trầm cảm kích động, trầm cảm nghi bệnh, trầm cảm ám ảnh, trầm cảm hoang tưởng, trầm cảm ẩn, trầm cảm ở trẻ em...

[2] trầm cảm phản ứng (reactive depression) là một thể của trầm cảm tâm sinh. Trầm cảm phản ứng là một thể của loạn thần phản ứng với một hoạt động tâm thần có thể làm rối loạn đến mức mất tính toàn vẹn, tính thống nhất; có những rối loạn về hoạt động nhận thức, ý thức, tiếp xúc, hành vi.

[3] Asendin: một loại thuốc chống trầm cảm nặng

[4] Hannibal Lecter: nhân vật hư cấu trong series truyện trinh thám kinh dị của Thomas Harris, trrong đó tác phẩm Sự Im Lặng Của Bầy Cừu được nhiều người biết đến hơn cả. Lecter được giới thiệu lần đầu vào năm 1981 trong cuốn tiểu thuyết kinh dị Hình xăm Rồng Đỏ, là một bác sĩ tâm thần xuất sắc và là một kẻ ăn và giết người hàng loạt.

[5] locus coeruleus: vùng thân não liên quan đến các kích thích và cảm xúc

[6] norepinephrine: chất dẫn truyền thần kinh quan trọng điều chỉnh tâm trạng và hành vi

[7] Lucite: tên thương mại của Polymethyl methacrylate – kính acrylic, thủy tinh hữu cơ, nhựa acrylic hoặc thủy tinh acrylic.

menu
menu