Atlas về Trầm cảm: Con quỷ giữa ban trưa - Chương 2.4

atlas-ve-tram-cam-con-quy-giua-ban-trua-chuong-2-4

Khi mà bạn quá đỗi suy sụp đến mức tình yêu trở thành vô nghĩa, sự ngạo mạn và cảm giác về bổn phận là thứ cứu rỗi cuộc đời bạn.

Ác Quỷ giữa ban trưa
Atlas Về Trầm Cảm

Tác giả: ANDREW SOLOMON

Người dịch: December Child

 

Những điều đã cứu sống bạn có thể là tầm thường mà cũng có thể vô cùng lớn lao. Một trong số đó, chắc chắn, là cảm giác về sự riêng tư; việc tự sát cũng có nghĩa là phơi bày nỗi bất hạnh của bạn với cả thế giới này. Một người đàn ông nổi tiếng, vô cùng đẹp trai, thông minh, có hôn nhân hạnh phúc, có những tấm áp phích được dán trên tường của các cô bé nữ sinh trung học mà tôi biết, từng nói với tôi rằng ông đã trải qua những cơn trầm cảm trầm trọng ở độ tuổi hai mươi và đã nhiều lần suy nghĩ nghiêm túc đến việc tự tử. “Chỉ có lòng tự đại là đã cứu được tôi,” ông nói, khá thành thật. “Tôi không thể chịu đựng nổi cái ý nghĩ rằng sau này người đời sẽ nói về tôi rằng tôi không thể thành công, hay là tôi không thể đối mặt với sự thành công, hay cười nhạo tôi.” Những người nổi tiếng và thành công thường có khuynh hướng bị trầm cảm. Bởi vì thế giới này là không hoàn mỹ, những người cầu toàn thường có khuynh hướng bị thất vọng. Trầm cảm hạ thấp lòng tự trọng, nhưng trong nhiều tính cách, nó không hề xóa bỏ sự kiêu ngạo, mà cũng là một cơ chế chiến đấu tốt theo như tôi được biết. Khi mà bạn quá đỗi suy sụp đến mức tình yêu trở thành vô nghĩa, sự ngạo mạn và cảm giác về bổn phận là thứ cứu rỗi cuộc đời bạn.

Những hai ngày sau sự việc trên mái nhà tôi mới gọi điện cho người bạn lớn tuổi kia, người chỉ trích tôi vì đã đánh thức bà dậy và rồi biến mất. Khi bà quở trách, tôi bị áp đảo bởi một cảm giác kỳ lạ về cái cuộc đời mà tôi đang sống, mà tôi biết rằng tôi chẳng thể giải thích được. Đờ đẫn vì cơn sốt và sợ hãi, tôi chẳng nói gì. Bà không bao giờ còn thực sự nói chuyện với tôi nữa. Tôi sẽ nói về bà như là một người yêu thích sự bình thường, và tôi thì đã trở nên quá đỗi dị thường. Trầm cảm vô cùng hà khắc với bạn bè. Bạn khiến cho những gì là tiêu chuẩn của thế giới trở thành những yêu cầu vô lý từ họ, và thường thì họ không có được sự mềm dẻo hay linh hoạt hay sự hiểu biết hay thiên hướng để đối phó với nó. Nếu như bạn may mắn, một số người sẽ làm bạn ngạc nhiên trước khả năng thích nghi của họ. Bạn bày tỏ những gì mà bạn có thể và hi vọng. Dần dà, tôi học được cách chấp nhận mọi người theo đúng như con người họ. Một số người bạn có thể đối mặt trực tiếp với cơn trầm cảm nặng, còn một số khác thì không. Hầu như mọi người đều chẳng mấy thích thú với nỗi bất hạnh của người khác. Một số ít có thể chấp nhận được cái ý nghĩ về một chứng bệnh trầm cảm tách biệt hẳn với thực tại bên ngoài; trong khi nhiều người sẽ thích cho rằng nếu như bạn đang chịu đựng căn bệnh này, thì hẳn sẽ phải có giải pháp hợp lý và logic dành cho nó. 

Phần lớn bạn bè thân thiết của tôi đều hơi bị điên. Mọi người nhìn nhận sự bộc trực ở tôi như là một lời mời gọi để họ cũng bộ lộ sự bộc trực của mình, và tôi có rất nhiều bạn bè mà tôi có thể tìm kiếm sự tin tưởng như thế nơi các bạn học và người tình cũ, sự thoải mái trong việc hiểu rõ về nhau. Tôi cố gắng cẩn trọng với những người bạn có tâm trí quá đỗi lành mạnh. Trầm cảm tự thân nó là một sự hủy hoại, và nó sinh ra những xung lực hủy diệt: tôi dễ dàng thất vọng trước những người không hiểu được nó và đôi khi phạm sai lầm vì nói thẳng vào mặt những ai làm tôi thất vọng. Sau mỗi một cơn trầm cảm, lại có một đống việc cần phải sửa chữa. Tôi nhớ tôi yêu quý những người bạn mà tôi đã từng nghĩ tới việc buông tay. Tôi cố gắng xây dựng lại những gì mà tôi đã phá hủy. Sau bất kỳ một cơn trầm cảm nào cũng là khoảng thời gian để gắn lại những mảnh vỏ trứng bị vỡ và đổ lại sữa vào trong chiếc hộp ban đầu của nó.

Vào mùa xuân năm 1995, giai đoạn cuối của việc phân tích tâm lý của tôi đã bị kéo dài. Bác sĩ của tôi đang dần dần thu xếp việc về hưu, và mặc dù tôi không muốn phải chia tay bà, tôi nhận thấy cái tiến trình từng bước một ấy thật là đau khổ, như thể chậm rãi lột ra từng mảng da vậy. Nó như là tái hiện lại cái chết kéo dài của mẹ tôi vậy. Tôi cuối cùng cũng tự mình kết thúc nó, một ngày nọ tôi đột ngột bước vào phòng khám và tuyên bố dõng dạc và rõ ràng rằng tôi sẽ không quay lại đấy nữa.

Qua phân tích tâm lý, tôi đã nghiên cứu về quá khứ của mình một cách chi tiết. Từ đó tôi kết luận rằng mẹ tôi cũng bị trầm cảm. Tôi còn nhớ có lần bà đã miêu tả về tình trạng cô độc của bà khi còn nhỏ. Khi trưởng thành bà là một người hay cáu kỉnh. Bà sử dụng chủ nghĩa thực dụng như một tấm khiên kiên cố nhằm che chắn bản thân trước nỗi buồn không kiểm soát được. Điều ấy, may mắn lắm, chỉ có hiệu quả một phần. Tôi tin rằng bà đã giữ mình khỏi bị cơn suy sụp tinh thần bằng cách kiểm soát và đưa cuộc sống của mình vào khuôn phép; bà là một người phụ nữ có tính kỷ luật tự giác vô cùng cao. Giờ thì tôi tin rằng tính kỷ luật mà bà may mắn có được được hình thành bởi nỗi đau mà bà đã che giấu trong lòng. Tôi thấy đau lòng trước những nỗi đau mà bà đã phải chịu đựng, thứ mà tôi gần như không phải chịu đựng – cuộc đời của bà, của chúng tôi, thực ra sẽ thay đổi như thế nào nếu thuốc Prozac ra đời khi mà tôi còn bé? Tôi thích nhìn thấy những biện pháp điều trị tốt hơn với ít tác dụng phụ hơn, nhưng tôi cũng thấy biết ơn vì được sống trong cái kỷ nguyên của những giải pháp này hơn là cái thời của sự tranh đấu u mê. Vì vậy mà rất nhiều kinh nghiệm sống của mẹ tôi về cách vượt qua khó khăn trong đời sống hóa ra lại là không cần thiết đối với tôi, và nếu như bà chỉ cần sống lâu hơn một chút nữa, thì nó hóa ra cũng sẽ không cần thiết với bà. Điều này có vẻ thật cay đắng khi mà hồi tưởng lại. Tôi tự hỏi, rất đỗi thường xuyên, bà sẽ nói gì về căn bệnh trầm cảm của tôi, liệu bà có nhận thấy được điều gì trong đó, liệu chúng tôi có cùng bị nhấn chìm trong cơn suy sụp của tôi – nhưng bởi vì cái chết của bà chí ít cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến sự suy sụp này, tôi sẽ chẳng bao giờ biết được. Tôi thường không có những câu hỏi ấy cho tới khi tôi đã mất đi người mà tôi muốn hỏi. Tuy nhiên, tôi thấy ở mẹ mình hình mẫu của một người mà nỗi buồn luôn luôn ngự trị.

Khi tôi ngừng uống thuốc, tôi thực hiện điều này thật nhanh chóng. Tôi biết rằng như thế thật ngu ngốc, nhưng tôi chỉ mong không phải dùng tới thuốc nữa. Tôi nghĩ rằng tôi có thể tìm ra tôi là ai một lần nữa. Đó không phải là một chiến lược tốt. Đầu tiên, tôi chưa từng bao giờ trải qua bất cứ điều gì giống với những triệu chứng của việc ngưng sử dụng Xanax: tôi không thể ngủ an ổn, và tôi cảm thấy lo lắng và băn khoăn một cách kỳ lạ. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như thể mình đã nốc hàng lít rượu cognac rẻ tiền vào đêm trước. Mắt tôi đau đớn và dạ dày tôi khó chịu, mà có lẽ đến từ việc ngừng sử dụng Paxil. Ban đêm, khi tôi không thể ngủ say, tôi liên tục gặp phải những cơn ác mộng khủng khiếp, và khi thức dậy tim tôi đập dữ dội. Nhà tâm thần dược học đã nhắc đi nhắc lại với tôi rằng khi mà tôi đã sẵn sàng để dừng uống thuốc, tôi cần phải làm điều đó thật từ từ và dưới sự giám sát của ông, nhưng quyết định của tôi dâng lên đột ngột và tôi sợ sẽ mất đi cái quyết tâm đó.

Tôi cảm thấy hơi giống với con người cũ của tôi, nhưng năm vừa qua quả thật tồi tệ, làm tôi chấn động sâu sắc, vì vậy dù lúc này đã bình thường trở lại, tôi cũng nhận ra rằng tôi chẳng thể nào như trước nữa. Điều này không có vẻ gì là phi lý, nó giống như một nỗi khiếp sợ hơn; nó cũng không phải là sự giận dữ; nó hoàn toàn có thể hiểu được. Tôi thấy đã quá đủ với cuộc đời, và tôi muốn tìm ra cách để kết thúc nó theo cách ít gây tổn thương nhất tới những người quanh mình. Tôi cần một điều gì đó mà tôi tin tưởng, một thứ gì đó để chỉ ra, để những con người ấy có thể hiểu được rằng tôi đã tuyệt vọng đến nhường nào. Tôi đã phải từ bỏ trở ngại vô hình vì một sự bày tỏ. Trong đầu tôi có một câu hỏi nhỏ rằng có phải hành vi cụ thể mà tôi lựa chọn là rất riêng biệt và liên quan tới chứng loạn thần kinh nơi tôi, nhưng cái quyết định về việc hành xử với nỗi khao khát được từ bỏ bản thân là điển hình của cơn trầm cảm kích động. Tất cả những gì tôi phải làm là bị bệnh, và điều ấy sẽ trở thành tấm vé được cho phép của tôi. Ao ước về một chứng bệnh hiển hiện hơn, mà sau này tôi được biết, là một điều rất phổ biến ở những người bị trầm cảm, những người thường tự gây tổn hại cho mình để trạng thái thể xác cũng ngang bằng với trạng thái tinh thần. Tôi biết rằng việc tôi tự vẫn sẽ hủy hoại gia đình tôi và mang đến nỗi buồn cho bạn bè tôi, nhưng tôi cảm thấy rằng họ sẽ hiểu cho lựa chọn của tôi.

Tôi không biết làm thế nào để khiến cho mình bị ung thư hay bị bệnh đa xơ cứng hay những chứng bệnh chết người khác, nhưng tôi biết rõ làm thế nào để bị AIDS, vì thế tôi đã quyết định sẽ làm vậy. Trong một công viên ở London, ở vào một giờ vắng lặng sau nửa đêm, một gã đàn ông thấp bé, mập mạp với đôi mắt kính gọng đồi mồi tiến tới và gạ gẫm tôi. Gã tụt quần mình và cúi xuống. Tôi xông tới. Tôi cảm thấy như thể toàn bộ điều này đang diễn ra với một ai đó khác; tôi nghe thấy tiếng chiếc kính của gã ta rơi xuống, và tôi chỉ nghĩ rằng: rồi tôi sẽ sớm chết, và vì thế mà tôi sẽ chẳng bao giờ già đi và trở nên đáng buồn như người đàn ông này. Có tiếng nói trong đầu tôi vang lên rằng tôi đã khởi động cái quá trình này và tôi sẽ chết sớm, và với cái ý nghĩ ấy tôi cảm thấy bản thân mình như được giải phóng và cảm thấy biết ơn. Tôi cố luận ra người đàn ông này sống như thế nào, làm sao mà ông ta có thể thức dậy và làm mọi việc vào ban ngày để có thể tới được đây vào ban đêm. Đó là một đêm trăng hạ huyền và khí xuân tràn ngập khắp đất trời.

Tôi không định chết từ từ vì bệnh AIDS; tôi chỉ muốn tự sát với việc bị nhiễm HIV như là một cái cớ. Về đến nhà, tôi bỗng nhiên cảm thấy sợ hãi và gọi cho một người bạn thân và kể với anh ấy về những gì mà tôi đã làm. Anh ấy an ủi tôi và tôi lên giường đi ngủ. Khi tôi thức dậy vào sáng hôm sau, tôi cảm thấy như những gì tôi đã từng cảm thấy vào ngày đầu tiên đi học đại học hay tham dự trại hè hay nhận một công việc mới. Đây hẳn phải là một chương mới trong cuộc đời tôi. Ăn xong trái cấm, tôi quyết định thưởng thức thêm món táo thắng nước đường. Sự kết thúc đã ở trong tầm tay. Tôi có một cảm giác mới mẻ về sự hiệu quả. Cái cơn trầm cảm cùng với sự chán nản vô mục đích đã biến mất. Trong vòng ba tháng tiếp theo, tôi tìm kiếm những trải nghiệm khác với những người lạ mà tôi cho là đã bị nhiễm bệnh, chấp nhận rủi ro trực tiếp và lớn hơn bao giờ hết. Tôi thấy rất tiếc khi mình chẳng có được một chút khoái cảm nào từ những lần giao hoan ấy, nhưng tôi lại quá bận tâm tới cái kế hoạch của mình để mà cảm thấy ghen tị với những kẻ có được nó. Tôi không bao giờ hỏi tên của những người đó, không bao giờ về nhà với họ hay mời họ tới nhà mình. Tôi đi hàng tuần, thường là vào thứ Tư, tới một địa điểm địa phương mà tôi sẽ có được trải nghiệm một cách kinh tế và sẽ dễ dàng bị lây nhiễm.

Trong khi ấy, tôi đã trải qua các triệu chứng điển hình của chứng trầm cảm kích động. Tôi bị lo lắng, mà hầu như chỉ có chút ít là hoảng loạn; thứ mà tôi cảm thấy nhiều hơn cả là sự hận thù, đau đớn, tội lỗi, căm ghét bản thân. Chưa bao giờ trong đời tôi cảm thấy tạm bợ đến thế. Tôi ngủ rất kém, và tôi vô cùng cáu kỉnh. Tôi ngừng nói chuyện với ít nhất là sáu người, trong đó có một người mà tôi nghĩ là tôi đã yêu người đó. Tôi dập mạnh điện thoại khi nghe thấy ai đó nói điều mà tôi không muốn nghe. Tôi chỉ trích tất cả mọi người. Thật khó ngủ khi đầu óc tôi cứ quay cuồng với những sự bất công nhỏ xíu từ trong quá khứ, mà giờ đây thành ra không thể tha thứ. Tôi không thể thực sự tập trung vào bất cứ điều gì: tôi thường là một người ham đọc vào mùa hè, nhưng mùa hè đó tôi còn chẳng thể đọc nổi một tờ tạp chí. Tôi bắt đầu giặt quần áo hàng đêm vì tôi không ngủ được, để giữ cho bản thân mình bận rộn và xao lãng. Khi bị muỗi đốt, tôi gãi vết ngứa cho tới khi chảy máu, rồi sau đó lại bóc lớp vảy ra; tôi cũng cắn móng tay nên ngón tay tôi lúc nào cũng chảy máu; tôi bị thương và trầy xước khắp mọi nơi trên cơ thể, dù tôi chẳng bao giờ tự rạch người mình. Tình huống của tôi khác xa nhiều so với triệu chứng sinh dưỡng[1] mà đã cấu thành nên cơn suy sụp tinh thần của tôi thuở trước, nên đối với tôi mà nói tôi thấy mình không rơi vào căn bệnh như lúc trước.

Rồi vào một ngày đầu tháng Mười, sau một trong những cuộc truy hoan thiếu an toàn mà chẳng vui vẻ gì, lần này là với một cậu nhóc theo chân tôi đến khách sạn và phát tín hiệu gạ tình trong thang máy, tôi nhận ra rằng tôi có thể sẽ lây bệnh cho người khác – một điều không nằm trong kế hoạch của tôi. Tôi bỗng nhiên phát hoảng rằng tôi đã lây bệnh cho một ai đó; tôi muốn tự sát, nhưng tôi không hề muốn cả thế giới này phải chết theo tôi. Tôi có khả năng nhiễm bệnh trong bốn tháng; tôi quan hệ không an toàn khoảng mười lăm lần; và giờ là lúc để dừng lại trước khi tôi lây bệnh khắp nơi. Việc biết rằng tôi sẽ chết cũng xua tan cơn trầm cảm và theo một cách thật lạ kỳ nó làm giảm mong muốn được chết trong tôi. Tôi bỏ lại đằng sau giai đoạn đó của cuộc đời mình. Tôi lại trở thành một kẻ lịch lãm hào hoa. Vào sinh nhật tuổi ba mươi hai của mình, tôi nhìn quanh quất nơi những người bạn tới dự buổi lễ, và tôi đã có thể mỉm cười, biết rằng đây sẽ là bữa tiệc sinh nhật cuối cùng, rằng tôi sẽ không còn một sinh nhật nào nữa, rằng tôi sẽ sớm chết. Việc ăn mừng thật mệt mỏi; tôi để mặc những món quà nằm yên trong lớp giấy bọc của chúng. Tôi tính toán xem mình sẽ phải chờ đợi thêm bao lâu nữa. Tôi đã viết một bức thư cho mình vào tháng Ba tới mà sẽ là sáu tháng kể từ lần quan hệ cuối cùng của tôi, khi mà tôi có thể lấy kết quả xét nghiệm, sự xác nhận dành cho số phận của tôi. Và trong suốt thời gian đó, tôi cố gắng hành xử thật bình thường.

Tôi làm việc cật lực trong một số dự án viết lách, tổ chức lễ Tạ ơn và Giáng sinh cho gia đình mình, và khá đa cảm trước những ngày lễ cuối cùng của cuộc đời. Rồi một vài tuần sau năm mới, tôi nhìn lại chi tiết những cuộc gặp gỡ của mình cùng với một người bạn là chuyên gia về HIV, và anh ấy bảo với tôi rằng tôi có thể không sao cả. Ban đầu tôi vô cùng thất vọng, nhưng rồi giai đoạn trầm cảm kích động của tôi biến mất, bất cứ điều gì đã dẫn tôi tới cái hành vi ấy, giờ đây cũng đã biến mất. Tôi không nghĩ rằng những trải nghiệm về HIV có tính cứu chuộc; thời gian chỉ đơn giản là trôi đi, chữa lành lối suy nghĩ bệnh hoạn đã đẩy tôi đến sự cực đoan ấy ngay từ điểm ban đầu. Trầm cảm, thứ sẽ đến bên bạn cùng với sức mạnh của một cơn suy sụp, từ từ rời đi, lặng lẽ. Cơn suy sụp tinh thần đầu tiên của tôi đã kết thúc.

Sự khăng khăng về tính bình thường, niềm tin vào một thứ logic nội tại khi đối mặt với sự bất thường không thể nhầm lẫn, là đặc hữu của chứng trầm cảm. Đây là câu chuyện của bất kỳ ai trong cuốn sách này, câu chuyện mà tôi đã gặp hết lần này đến lần khác. Tuy nhiên, trạng thái bình thường của mỗi người là hoàn toàn khác nhau: sự bình thường, mà có lẽ còn mang tính riêng biệt hơn cả tính khác thường. Bill Stein, một chuyên gia xuất bản mà tôi quen biết, đến từ một gia đình mà cả chứng trầm cảm và tổn thương về tinh thần đều ở vào tỷ lệ cao. Cha của anh, là một người Đức gốc Do Thái, rời Bavaria theo visa thương mại vào đầu năm 1938. Ông bà anh đã xếp hàng chờ tới lượt bên ngoài ngôi nhà của gia đình ở Kristallnacht, vào tháng Mười một năm 1938, và mặc dù họ không bị bắt, họ đã phải chứng kiến cảnh rất nhiều bạn bè và hàng xóm của mình bị đưa tới Dachau[2]. Cú sốc tinh thần của việc là một người Do Thái ở thời Đức quốc xã thật khủng khiếp, và bà của Bill bị suy sụp trong suốt sáu tháng, mà dẫn đến hành động tự vẫn của bà vào ngày lễ Giáng sinh. Tuần tiếp theo, thị thực xuất cảnh được cấp cho cả ông và bà của Bill. Cha của anh đã phải di cư một mình.

Cha mẹ Bill kết hôn ở Stockholm vào năm 1939 và chuyển tới Brazil trước khi định cư tại Mỹ. Cha anh luôn từ chối nói về quá khứ; “thời kỳ đó của nước Đức,” Bill kể lại, “đơn giản là không tồn tại.” Họ sống trên một con phố dễ thương ở vùng ngoại ô trù phú trong một thứ bong bóng hão huyền. Có lẽ một phần là bởi vì sự phủ nhận của bản thân, cha của Bill phải trải qua một cơn suy sụp tinh thần nghiêm trọng ở tuổi năm mươi bảy và đã tái phát liên tục cho tới tận khi ông qua đời ba mươi năm sau đó. Những cơn trầm cảm của ông tuân theo một trình tự mà sau này đã kế thừa lại cho con trai mình. Cơn suy sụp đầu tiên của ông diễn ra khi con trai ông tròn năm tuổi; ông tiếp tục bị suy sụp một cách định kỳ, với một cơn trầm cảm sâu kéo dài từ hồi Bill học lớp sáu cho tới tận khi anh tốt nghiệp trung học cơ sở.

Mẹ của Bill xuất thân từ một gia đình người Đức gốc Do Thái giàu có và quyền uy hơn nhiều và đã rời Đức để tới Stockholm vào năm 1919. Là một người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, bà từng tát vào mặt một tên đại úy Đức quốc xã hành xử thô lỗ với mình; “Tôi là một công dân Thụy Điển,” bà nói với hắn, “và tôi sẽ không để bị nói chuyện theo lối đó.”

Ở tuổi lên chín, Bill Stein đã trải qua những thời kỳ trầm cảm dài. Trong khoảng hai năm, anh luôn sợ hãi mỗi khi đi ngủ và hoảng loạn mỗi khi cha mẹ anh lên giường đi ngủ. Rồi cảm giác u ám của anh biến mất trong vài năm. Sau vài đợt phát bệnh nhỏ, chúng trở lại khi anh bước vào đại học, hoàn toàn mất kiểm soát vào năm 1974, trong suốt học kỳ thứ hai của năm đầu tiên. “Tôi có một người bạn cùng phòng khá bạo lực, và áp lực học tập thì rất lớn. Tôi cứ sợ rằng mình bị chứng khó thở,” anh kể lại, “Tôi không thể chịu được áp lực. Vì thế tôi đi tới bệnh xá của trường và họ cho tôi thuốc Valium.”

Cơn trầm cảm không biến mất trong mùa hè. “Thường thì khi tôi bị trầm cảm sâu, hệ tiêu hóa của tôi sẽ mất kiểm soát. Tôi nhớ mùa hè đó đặc biệt dữ dội theo cách này. Tôi khiếp sợ năm học thứ hai. Tôi không thể đối mặt với kỳ thi hay bất cứ điều gì. Khi tôi quay lại trường và vượt qua năm học đầu tiên và nhận điểm A, tôi thật sự nghĩ rằng hẳn ai đó đã nhầm lẫn gì rồi. Khi sự việc hóa ra không phải vậy, nó khiến tôi cảm thấy phấn khởi, và kéo tôi ra khỏi cơn trầm cảm.” Nếu như có những yếu tố kích thích cơn suy sụp tinh thần, thì cũng có cả những yếu tố tạo ra sự chuyển ngược, như trong trường hợp của Stein. “Tôi trở về trạng thái bình thường vào ngày hôm sau, tôi thực sự không bao giờ suy sụp ở trường nữa. Tuy nhiên, tôi thật sự đã mất hết tham vọng. Nếu như hồi đó anh nói với tôi về những gì tôi làm hiện giờ, về những con người mà tôi làm việc cùng, tôi sẽ rất sốc. Khi ấy tôi là kẻ không có tham vọng.” Bất kể việc chấp nhận sự rút lui của mình, Stein luôn nỗ lực điên cuồng. Anh tiếp tục được nhận điểm A. “Tôi không biết tại sao tôi lại bận tâm,” anh nói, “tôi không muốn học trường luật hay gì đó. Tôi chỉ nghĩ rằng có lẽ điểm cao sẽ giúp tôi an toàn, sẽ thuyết phục được tôi rằng tôi cũng có chút năng lực.” Sau khi tốt nghiệp, Stein dạy học ở một trường cấp ba công ở nông thôn New York. Đó là một thảm họa, anh chẳng thể quản nổi một lớp học và chỉ làm được công việc đó trong vòng một năm. “Tôi ra đi trong thất bại. Tôi sụt rất nhiều ký. Tôi rơi vào một cơn trầm cảm khác. Và rồi cha của một người bạn nói với tôi rằng ông có thể giới thiệu một công việc cho tôi, và tôi nhận lấy nó để cho có việc mà làm.”

Bill Stein là một người đàn ông trầm lặng, cực kỳ thông minh và có cái tôi bị kìm nén. Anh khiêm tốn đến mức gần như là một khiếm khuyết. Bill bị trầm cảm nhiều lần, mỗi lần kéo dài khoảng sáu tháng, gần như là theo mùa, thường trở nặng nhất vào tháng Tư. Cơn trầm cảm tồi tệ nhất diễn ra vào năm 1986, đến sớm bởi sự hỗn loạn trong công việc, sự ra đi của một người bạn thân, và nỗ lực ngừng sử dụng Xanax của Bill, thứ thuốc mà anh chỉ mới sử dụng trong vòng một tháng nhưng đã bị nghiện. “Tôi mất căn hộ của mình,” Stein kể. “Tôi mất việc, Tôi đã mất hầu hết bạn bè. Tôi không thể ở một mình trong nhà. Đáng lý ra tôi sẽ chuyển từ căn hộ hộ cũ mà tôi đã bán đến căn hộ vừa mới được sửa sang lại, nhưng tôi không thể. Tôi suy sụp nhanh chóng và nỗi lo lắng đánh bại tôi. Tôi sẽ thức dậy vào ba hay bốn giờ sáng với những cơn lo lắng dồn dập mãnh liệt đến mức tôi cảm thấy sẽ dễ chịu hơn nhiều nếu lao mình ra ngoài cửa sổ. Khi tôi ở bên những người khác, tôi luôn cảm thấy như thể sắp ngất đi vì căng thẳng. Tôi đã đi cả một vòng thế giới để đến được Australia, khá ổn, vào ba tháng trước đó, và lúc này đây thế giới đã cướp đi nó khỏi tay tôi. Tôi đang ở New Orleans khi căn bệnh thật sự ập tới và bỗng nhiên tôi biết rằng tôi cần phải về nhà, nhưng tôi không thể lên máy bay. Mọi người lợi dụng tôi; tôi là một con gia súc bị thương trên đồng cỏ.” Anh hoàn toàn suy sụp vào khi ấy. “Khi mà anh thực sự cảm thấy tồi tệ, anh sẽ có cái vẻ lờ đờ trên gương mặt mình, như thể anh đang bị choáng váng. Anh hành xử lạ lùng bởi vì sự thiếu trọn vẹn của mình; trí nhớ ngắn hạn của tôi biến mất. Và rồi nó còn trở nên tồi tệ hơn nữa. Tôi không thể kiểm soát hệ tiêu hóa của mình và đi cả ra quần. Rồi tôi sống trong sự sợ hãi rằng tôi sẽ không thể rời khỏi nhà, và đó lại là một cú sốc nữa. Cuối cùng, tôi lại dọn về nhà cha mẹ mình.” Nhưng cuộc sống ở nhà cũng chẳng tốt hơn. Cha của Bill suy sụp trước áp lực bệnh tật của con trai và rốt cuộc bản thân ông cụ cũng phải nhập viện. Bill đến ở với chị gái mình, rồi một người bạn từ thời đi học chăm sóc anh trong bảy tuần. “Điều đó thật kinh khủng,” anh nói. “Khi đó, tôi nghĩ, rằng tôi sẽ bị bệnh tâm thần trong suốt phần đời còn lại. Cơn suy sụp kéo dài hơn một năm. Dường như trôi nổi với cơn suy sụp thì tốt hơn là chiến đấu chống lại nó. Tôi nghĩ rằng khi ấy anh sẽ phải buông tay và hiểu rằng thế giới này sẽ được tái tạo lại và có lẽ sẽ chẳng bao giờ còn giống như những gì mà anh từng biết trước đó.”  

Anh bước tới cửa một bệnh viện nhiều lần nhưng chẳng thể quyết tâm để đăng ký khám bệnh. Anh cuối cùng cũng xin khám tại Bệnh viện Mt. Sinai của New York vào tháng Chín năm 1986, và yêu cầu được trị liệu bằng liệu pháp co điện giật (electroconvulsive therapy – ECT). ECT đã giúp được cha của anh nhưng lại không hiệu quả với Stein. “Đó là chốn vô nhân tính nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra, từ thế giới bên ngoài kia đi vào một nơi mà anh không được phép mang theo dao cạo râu hay cái bấm móng tay. Phải mặc quần áo bệnh nhân. Phải ăn tối lúc bốn rưỡi chiều. Bị rầy la như thể anh là một kẻ trì độn bên cạnh việc bị mắc căn bệnh trầm cảm. Nhìn thấy những bệnh nhân khác trong những căn buồng có tường lót đệm. Anh không được trang bị điện thoại trong phòng mình bởi vì người ta sợ rằng anh có thể tự treo cổ bằng dây điện thoại và bởi vì họ muốn kiểm soát việc anh tiếp cận với thế giới bên ngoài. Đây đâu phải là một sự nhập viện thông thường. Anh bị tước đoạt những quyền lợi của mình trên chiếc giường bệnh tâm thần này. Tôi không cho rằng bệnh viện là nơi thích hợp với các bệnh nhân trầm cảm trừ khi họ đã hoàn toàn bất lực hoặc muốn tìm đến giải pháp tự tử trong tuyệt vọng.”

Phương pháp điều trị sốc cũng thật khủng khiếp. “Người giám sát chúng tôi là một vị bác sĩ nhìn rất giống Herman Munster[3]. Việc điều trị diễn ra ở tầng hầm của bệnh viện Mt. Sinai. Tất cả bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này đều đi xuống đó, vào trong địa ngục sâu thẳm, và tất cả chúng tôi đều khoác áo choàng ngủ, và có cảm giác như thể chúng tôi đang ở trong một giáo phái nào đó. Bởi vì tôi giữ bình tĩnh khá tốt, họ sắp xếp tôi là người được điều trị cuối cùng, và tôi đứng quanh quẩn ở đó cố gắng xoa dịu tất cả những người đang hoảng loạn chờ đến lượt mình, trong khi nhân viên giám sát bước vào và len qua chúng tôi để đi tới tủ đựng đồ của họ, mà cũng được đặt ở dưới đó. Nếu là Dante, tôi sẽ rất giỏi trong việc diễn tả điều này như thế nào. Tôi đã từng muốn được chữa trị bằng phương pháp ấy, nhưng căn phòng và những con người này – khiến tôi cảm thấy nó như là một cảnh man rợ trong thí nghiệm của Mengele[4]. Nếu như anh muốn làm những việc này, hãy thực hiện chúng trên tầng tám cùng với những ô cửa sổ có ánh nắng và những màu sắc tươi sáng! Giờ thì tôi sẽ không bao giờ cho phép điều đó xảy ra nữa.

“Tôi vẫn nuối tiếc trước việc mất ký ức,” anh nói. “Tôi có một trí nhớ đặc biệt, như là ảnh chụp, và nó không bao giờ quay trở lại. Khi rời khỏi đó, tôi chẳng thể nhớ được số khóa tủ của mình, và cả những cuộc nói chuyện.” Ban đầu, khi mới ra viện, anh cũng không thể nộp đơn tham gia công việc tình nguyện, nhưng không lâu sau anh lại có thể bắt đầu hoạt động trở lại. Anh chuyển tới Santa Fe trong sáu tháng và ở cùng một người bạn. Vào mùa hè anh quay trở về New York để sống một mình lần nữa. “Có lẽ cũng tốt khi một phần trí nhớ của tôi mất đi vĩnh viễn,” anh nói. “Nó giúp tôi quên đi một số cơn suy sụp tinh thần. Tôi quên chúng cũng dễ dàng như việc tôi quên mọi thứ khác.” Việc phục hồi diễn ra từ từ. “Có rất nhiều ý chí nhưng anh chẳng thể nào điều khiển quá trình hồi phục. Anh chẳng thể đoán được khi nào thì nó sẽ xảy ra, cũng giống như việc anh chẳng thể đoán khi nào thì một người sẽ qua đời.”

Stein thường ghé thăm một giáo đường của Do Thái giáo, đến đó hàng tuần cùng với một người bạn theo đạo. “Tôi về căn bản được tương trợ bởi đức tin. Theo một cách nào đó nó đã giải phóng sự căng thẳng trong tôi để tin vào một điều gì đó khác,” anh nói. “Tôi vẫn luôn tự hào là một người Do Thái và bị thu hút bởi những điều liên quan đến tôn giáo. Sau cơn trầm cảm lớn ấy, tôi cảm thấy rằng nếu tôi đủ tin tưởng, những gì có thể xảy ra có lẽ sẽ cứu được thế giới này. Tôi đã chìm sâu đến mức chẳng còn gì để tin vào nữa ngoại trừ Chúa trời. Tôi khá xấu hổ khi phát hiện ra mình bị cuốn vào tôn giáo; nhưng đó là một điều đúng. Đúng là dù cho một tuần có tồi tệ ra sao, thì vẫn luôn có buổi hành lễ vào mỗi ngày thứ Sáu.

“Nhưng mà thứ đã cứu tôi lại là Prazac, ra đời vào năm 1988, vừa đúng lúc. Đó đúng là một phép nhiệm màu. Đầu óc tôi bỗng nhiên cảm thấy, sau rất nhiều năm, như thể chưa từng có một vết rạn ngày một lớn trong đó vậy. Nếu như anh bảo với tôi vào năm 1987 rằng vào năm sau tôi sẽ có thể đi máy bay, làm việc với các thống đốc và thượng nghị sĩ - ôi, có lẽ tôi sẽ thấy buồn cười lắm. Tôi khi ấy thậm chí còn chẳng thể sang đường nữa kia.” Bill Stein hiện nay đang dùng Effexor và lithium. “Sợ hãi lớn nhất trong đời tôi là tôi không thể vượt qua cái chết của cha mình. Ông cụ mất năm chín mươi tuổi, và khi ông mất, tôi gần như phấn khích khi phát hiện ra rằng tôi có thể đối mặt với nó. Tôi đã đau khổ và đã khóc, nhưng tôi có thể làm được những việc bình thường: đóng vai một người con trai trong gia đình, nói chuyện với luật sư, viết điếu văn. Tôi đối mặt với điều đó tốt hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi.

“Tôi vẫn phải thật cẩn thận. Tôi luôn cảm thấy như thể mọi người đều muốn một phần từ con người tôi vậy. Chừng ấy là quá nhiều để tôi có thể cho đi và rồi tôi sẽ thật sự, thật sự căng thẳng. Tôi nghĩ, có lẽ thật sai lầm, rằng mọi người sẽ coi thường tôi nếu như tôi hoàn toàn cởi mở về những trải nghiệm của đời mình. Tôi vẫn còn nhớ về việc từng bị xa lánh. Cuộc đời luôn nằm trên bờ vực chỉ chực rơi xuống một lần nữa. Tôi đã học được cách để che giấu nó, để khiến cho không một ai biết được khi nào thì tôi đang phải sử dụng tới ba loại thuốc và sắp gục ngã đến nơi. Tôi không nghĩ rằng mình đã từng cảm thấy thật sự hạnh phúc. Người ta chỉ có thể mong đợi rằng cuộc sống không khốn khổ. Khi mà anh cực kỳ có ý thức về bản thân, thật khó để có thể hạnh phúc trọn vẹn. Tôi thích môn bóng chày. Và khi tôi nhìn thấy những người khác ở sân vận động, uống bia, dường như không nhận biết gì về bản thân mình và mối tương quan của họ với thế giới này, tôi thấy thật ghen tị. Trời ơi, giá mà được như vậy thì tốt biết bao!

“Tôi cứ luôn nghĩ đến những tấm thị thực xuất cảnh đó. Nếu như bà tôi chỉ cần đợi thêm một chút nữa thôi. Câu chuyện về sự tự vẫn của bà đã dạy cho tôi về sự nhẫn nại. Không phải nghi ngờ gì về việc dù mọi chuyện có lại trở nên tồi tệ đến nhường nào, tôi sẽ vượt qua được nó. Nhưng tôi sẽ không phải là con người tôi của ngày hôm nay nếu không có được sự thông thái mà tôi gặt hái được sau những gì mình dã kinh qua, sự rụng rời của cái sự vị kỷ mà chúng mang đến cho tôi.”

Câu chuyện của Bill Stein tương đối tác động đến tôi. Tôi đã thường nghĩ về những tấm thị thực xuất cảnh kể từ khi gặp Bill lần đầu tiên. Tôi nghĩ về cái thị thực không bao giờ được dùng tới, và đồng thời, cả về tấm thị thực đã được dùng tới nữa. Việc vượt qua cơn trầm cảm đầu tiên của tôi liên quan tới việc kiên trì cố gắng. Một thời gian ngắn của sự yên bình vừa phải đến ngay sau đó. Khi tôi bắt đầu trải qua lo lắng và cơn trầm cảm lần thứ hai – trong khi tôi vẫn ở trong bóng tối của cơn trầm cảm đầu tiên và vẫn chưa rõ sự ám ảnh của mình với căn bệnh AIDS từ bỏ tôi từ đâu – tôi nhận ra được điều gì đang xảy ra. Tôi bị choáng ngợp với cái nhu cầu cần phải dừng lại. Đời sống tự thân nó dường như trở nên cấp thiết đến đáng lo ngại, đòi hỏi cái tôi quá nhiều. Quá khó khăn để có thể ghi nhớ và suy nghĩ và bày tỏ và thấu hiểu – tất cả những gì mà tôi muốn mình có thể làm được khi đó là nói chuyện. Để giữ cho gương mặt tôi có sinh khí cùng lúc cũng là một sự xúc phạm thêm tới vết thương. Giống như thể là việc cố gắng nấu ăn và trượt pa-tanh và hát hò và đánh máy trong cùng một lúc. Nhà thơ người Nga Daniil Kharms từng miêu tả về cơn đói: “Rồi bắt đầu sự yếu ớt. Rồi bắt đầu sự khó chịu. Rồi tiếp đó là việc mất đi khả năng suy luận nhanh chóng. Rồi tới sự an tĩnh. Và rồi là nỗi kinh hoàng.”  Cũng trong tình trạng khủng khiếp và logic tương tự, cơn trầm cảm thứ hai xuất hiện – bị làm cho tệ thêm bởi nỗi sợ hãi về xét nghiệm HIV mà tôi đã lên lịch hẹn. Tôi không muốn quay lại dùng thuốc, và trong một thời gian tôi cố gắng không sử dụng nó. Rồi một ngày tôi nhận ra việc này không hề hiệu quả. Tôi biết trước những ba ngày rằng tôi sẽ rơi xuống đáy vực. Tôi bắt đầu dùng Paxil mà tôi cất sẵn trong tủ thuốc của mình. Tôi gọi điện cho nhà tâm thần dược học của mình. Tôi cảnh báo cha mình. Tôi cố gắng tiến hành sắp xếp mọi việc cho hợp lý: việc đánh mất tâm trí, cũng giống như việc bạn đánh mất chìa khóa xe vậy, thật sự rất khó chịu. Ngoài sự hoảng loạn, tôi nghe thấy tiếng mình đầy mỉa mai khi một người bạn gọi đến. “Tôi xin lỗi, tôi phải hủy cuộc hẹn thứ Ba tới thôi,” tôi nói. “Tôi lại thấy sợ những miếng thịt cừu rồi.” Các triệu chứng ập tới chóng vánh và đáng ngại. Trong vòng một tháng, tôi mất tới một phần năm trọng lượng cơ thể, khoảng ba mươi nhăm pound.

Nhà tâm thần dược học nghĩ rằng, bởi vì tôi cảm thấy mê sảng với Zoloft và căng thẳng với Paxil, nên đáng để thử một thứ gì đó mới, vì thế ông kê cho tôi Effexor và BuSpar, cả hai loại thuốc này tôi vẫn còn sử dụng cho tới tận bây giờ, sau sáu năm. Trong những cơn vật lộn với trầm cảm, một người có thể tiến tới một điểm kỳ lạ mà tại đó không thể nhìn thấy lằn ranh giữa tính cường điệu của bản thân và thực tế của sự điên rồ. Tôi đã nhận ra hai đặc điểm mâu thuẫn ấy của tính cách. Tôi là kẻ cường điệu về mặt bản chất; nhưng mặt khác, tôi có thể ra ngoài kia và “ra vẻ bình thường” dưới hầu hết các tình huống khác thường. Antonin Artaud từng viết trên một bức tranh của mình rằng, “Không bao giờ thật và luôn đúng,” là những gì mà trầm cảm mang lại. Bạn biết rằng nó không phải là thật, rằng bạn là một con người khác, nhưng bạn cũng biết rằng nó hoàn toàn đúng. Điều đó thật khó hiểu.

Vào tuần làm xét nghiệm HIV, tôi đã dùng mười hai đến mười sáu mg. Xanax (tôi đã tích trữ thêm một ít thứ thuốc này) mỗi ngày, để có thể ngủ vào mọi lúc và để không phải cảm thấy lo lắng. Vào ngày thứ Năm của tuần đó, tôi thức dậy và kiểm tra các tin nhắn trong hộp thoại. Y tá của phòng xét nghiệm nhắn tôi rằng: “Lượng cholesterol của anh đang thấp, điện tâm đồ bình thường, và xét nghiệm HIV của anh ổn.” Tôi gọi lại cho cô ấy ngay lập tức. Thông tin chính xác. Tôi có kết quả âm tính với HIV. Như Gatsby từng nói, “Tôi đã rất cố gắng để chết nhưng lại có một cuộc sống đầy mê hoặc.” Rồi sau đó tôi biết rằng tôi thực muốn sống, và tôi thấy biết ơn vì cái tin tức ấy. Nhưng tôi vẫn còn cảm thấy kinh khủng thêm hai tháng nữa. Tôi cắn răng chống lại ý muốn tự tử mỗi ngày.

Rồi, vào tháng Bảy, tôi quyết định nhận lời mời du lịch tàu biển với vài người bạn tới Thổ Nhĩ Kỳ. Với tôi việc đến đó sẽ rẻ hơn nhiều so với nhập viện, và nó ít nhất cũng ba lần hiệu quả hơn: dưới ánh mặt trời rực rỡ của Thổ Nhĩ Kỳ, cơn trầm cảm đã bốc hơi. Mọi thứ từ từ trở nên tốt đẹp hơn sau đó. Vào cuối mùa thu, tôi bỗng nhiên nhận ra mình thức giấc giữa đêm khuya, cả người tôi run rẩy, như khi tôi ở trong thời điểm tệ hại nhất của cơn trầm cảm của mình, nhưng lần này tôi thức dậy với niềm hạnh phúc. Tôi rời khỏi giường và viết về nó. Đã nhiều năm trôi qua kể từ khi tôi cảm thấy hạnh phúc, và tôi đã quên mất cái cảm giác muốn sống là như thế nào, cái cảm giác được tận hưởng một ngày mà ta đang sống và khao khát mong chờ đến ngày tiếp theo, khi biết rằng ta là một trong những kẻ may mắn vẫn còn có cuộc đời để mà sống. Cũng như là chiếc cầu vồng giao ước mà Chúa ban cho Noah, tôi cảm thấy mình có bằng chứng rằng sự tồn tại đã và sẽ luôn đáng giá. Tôi biết rằng cơn đau này có thể sẽ còn tiếp diễn, rằng trầm cảm có tính chu kỳ và sẽ quay trở lại để làm khổ sở bệnh nhân của nó hết lần này tới lần khác. Tôi cảm thấy an toàn trước bản thân mình. Tôi biết rằng nỗi buồn bất tận, dù có rất nhiều trong tôi, cũng không hề làm giảm niềm hạnh phúc. Tôi bước sang tuổi ba mươi ba không lâu sau đó, và cuối cùng thì đấy cũng là một sinh nhật thật sự vui vẻ. 

Đó là tất cả những gì tôi học được từ chứng trầm cảm của mình qua một thời gian dài. Như nhà thơ Jane Kenyon từng viết:

Chúng tôi thử dùng thuốc mới, một sự kết hợp mới

của các loại thuốc, và bỗng nhiên

tôi lại rơi vào cuộc đời mình

như một chú chuột đồng bị cuốn đi trong gió bão

rồi bị thả xuống cách nhà mình

ba thung lũng và hai ngọn núi.

Tôi đã có thể tìm được đường về. Tôi biết

tôi sẽ nhận ra cửa hàng

nơi tôi từng mua sữa và dầu.

Tôi nhớ nhà và chuồng trại

cái cào, những chiếc cốc và cái đĩa màu xanh

cuốn tiểu thuyết của Nga mà tôi yêu thích,

và chiếc váy ngủ bằng lụa màu đen

mà anh từng thả

xuống bàn chân đi vớ của tôi.

 ------------------

[1] triệu chứng sinh dưỡng (vegetative symptom): mất khẩu vị, mất khả năng cảm nhận khoái lạc, khó ngủ, táo bón

[2] Trại tập trung Dachau (tiếng Đức: Konzentrationslager (kz) Dachau) là trại tập trung đầu tiên do Đức Quốc xã mở tại Đức, nằm trên phần đất của một nhà máy sản xuất đạn dược bị bỏ hoang gần thị trấn thời Trung cổ Dachau, khoảng 16 km phía tây bắc của Munich ở bang Bayern, nằm ở miền nam nước Đức. Trại tập trung Dachau có vai trò như là một nguyên mẫu và mô hình cho các trại tập trung Đức Quốc xã khác sau đó.

[3] Herman Munster: một nhân vật hư cấu trong bộ phim hài The Munster của đài CBS. Nhân vật này có diện mạo gần giống Frankenstein

[4] Josef Mengele (16/3/1911 – 7/2/1979) là một sĩ quan Schutzstaffel (SS) người Đức và cũng là một bác sĩ ở Trại tập trung Auschwitz trong chiến tranh thế giới thứ hai. Mengele khét tiếng về việc lựa chọn những nạn nhân để tiêu diệt tại các phòng hơi ngạt và thực hiện các thí nghiệm trên người lên các tù nhân. Sau chiến tranh, Mengele bỏ trốn đến Nam Mỹ và trốn tránh khỏi sự truy lùng trong suốt phần đời còn lại.

menu
menu