Atlas về Trầm cảm: Con quỷ giữa ban trưa - Chương 2.5

atlas-ve-tram-cam-con-quy-giua-ban-trua-chuong-2-5

Chúng ta không bao giờ điều trị bệnh tiểu đường hay huyết áp cao theo cái cách chữa rồi lại ngừng; vậy thì tại sao chúng ta lại làm thế với bệnh trầm cảm?

Ác Quỷ giữa ban trưa
Atlas Về Trầm Cảm

Tác giả: ANDREW SOLOMON

Người dịch: December Child

 

Và đối với tôi mọi thứ dường như đã quay trở lại, ban đầu thật lạ lùng, rồi bỗng nhiên trở nên quen thuộc, và tôi nhận ra rằng một nỗi buồn sâu sắc đã được nhen nhóm kể từ khi mẹ tôi bị bệnh, trở nên tồi tề hơn khi bà qua đời, đã biến nỗi đau khổ thành tuyệt vọng, đã khiến tôi bất lực, sẽ không còn tàn phá tôi được nữa. Tôi vẫn còn thấy buồn về những chuyện buồn, nhưng tôi lại là chính tôi, như đã từng trước đó, vì tôi luôn muốn được sống.

Bởi vì tôi đang viết một cuốn sách về trầm cảm, trong những tình huống xã hội tôi thường được yêu cầu mô tả lại trải nghiệm của bản thân trước căn bệnh, và tôi thường kết thúc bằng việc nói rằng tôi đang dùng thuốc. “Vẫn phải dùng à?” mọi người hỏi. “Nhưng anh trông có vẻ ổn mà!” Và tôi lúc nào cũng trả lời rằng tôi nom có vẻ ổn là bởi vì tôi ổn, và tôi ổn một phần là bởi vì thuốc. “Vậy anh định sẽ dùng thuốc trong bao lâu?” người ta hỏi. Khi tôi nói rằng tôi không biết sẽ phải sử dụng chúng đến bao giờ, những con người từng đối mặt một cách bình tĩnh và đầy cảm thông trước những tin tức về nỗ lực tự tử, rối loạn tâm lý, mất việc làm trong nhiều năm, sụt cân đáng kể, vân vân và vân vân sẽ nhìn tôi đầy hoảng hốt. “Nhưng uống thuốc như thế thì rất tệ,” họ nói. “Chắc chắc là hiện tại anh đã đủ khỏe để ngưng sử dụng những thứ thuốc ấy!” Nếu như bạn nói với họ rằng điều đó giống như việc loại bỏ bộ chế hòa khí ra khỏi xe của bạn hay tháo các cột trụ ra khỏi Nhà thờ Đức bà Paris vậy, thì họ sẽ bật cười. “Vậy thì có lẽ anh nên duy trì một liều lượng thấp thôi?” họ hỏi. Bạn giải thích rằng lượng thuốc bạn uống đã được lựa chọn bởi vì nó giúp bình thường hóa những hệ thống hoạt động chập chờn, và một liều thấp cũng giống như là việc tháo ra một nửa bộ chế hòa khí của xe vậy. Bạn thêm vào rằng bạn hầu như không gặp phải tác dụng phụ nào từ loại thuốc mà bạn đang sử dụng, và không có bằng chứng nào về tác dụng tiêu cực của việc dùng thuốc dài hạn hết cả. Bạn nói rằng bạn thật sự không muốn trở bệnh nữa. Nhưng sự khỏe mạnh, về mặt này, không chỉ liên quan tới khả năng kiểm soát được vấn đề của bản thân bạn, mà còn cả ở việc ngưng dùng thuốc nữa. “Ồ, tôi mong rằng anh sẽ sớm ngưng dùng thuốc,” họ nói.

 “Có lẽ tôi không biết được tác động chính xác của việc dùng thuốc trong thời gian dài,” John Greden nói. “Chưa có ai từng dùng Prozac suốt tám mươi năm cả. Nhưng chắc chắn là tôi biết tác hại của việc không dùng thuốc, hay việc dùng thuốc ngắt quãng, hay là việc cố gắng giảm liều thuốc thích hợp ở một mức độ bất hợp lý – và những tác động đó sẽ gây tổn hại đến bộ não. Anh sẽ bắt đầu phải chịu những hậu quả mãn tính. Anh sẽ có những đợt tái phát ngày càng nghiêm trọng, với mức độ đau khổ khủng khiếp mà không vì lý do gì cả. Chúng ta không bao giờ điều trị bệnh tiểu đường hay huyết áp cao theo cái cách chữa rồi lại ngừng; vậy thì tại sao chúng ta lại làm thế với bệnh trầm cảm? Cái áp lực xã hội kỳ cục này đến từ đâu thế? Chứng bệnh này có tỷ lệ tái phát lên đến tám mươi phần trăm trong vòng một năm nếu không dùng thuốc, và có tỷ lệ khỏe mạnh lên tới tám mươi phần trăm nếu như dùng thuốc.” Robert Post, thuộc NIMH, đồng tình, “Mọi người lo lắng về những tác dụng phụ của việc dùng thuốc cả đời, nhưng những tác dụng phụ ấy có vẻ ít ỏi, vô cùng ít ỏi nếu đem so sánh với khả năng có thể gây chết người nếu xem nhẹ bệnh trầm cảm. Nếu như anh có người quen hay bệnh nhân đang sử dụng mao địa hoàng[1], anh sẽ nghĩ gì về việc khuyên người đó ngừng sử dụng nó, xem người đó có bị lên cơn nhồi máu cơ tim khác hay không, và khiến cho trái tim của người đó yếu đến mức nó không còn hoạt động như trước được nữa? Điều này cũng chẳng có gì khác cả.” Những tác dụng phụ của các loại thuốc này chỉ đáng kể với những ai khỏe mạnh hơn nhiều so với căn bệnh mà họ nói đến.

Có bằng chứng về việc con người ta có phản ứng dữ dội trước mọi thứ: chắc chắn là rất nhiều người có phản ứng mạnh với Prozac. Một mức độ thận trọng nhất định là hoàn toàn hợp lý khi bạn quyết định sử dụng một thứ gì đó, từ nấm dại cho tới thuốc ho. Một trong những đứa con nuôi của tôi suýt chết vì ăn phải quả óc chó trong một bữa tiệc sinh nhật ở London vì bị dị ứng; quy định yêu cầu các sản phẩm phải liệt kê chi tiết trên nhãn mác tất cả các loại hạt có trong sản phẩm là một điều đúng đắn. Những người sử dụng Prozac nên để ý ngay từ đầu về những phản ứng mạnh của cơ thể mình trước thuốc. Loại thuốc này có thể gây ra chứng giật mặt và căng cơ. Các loại thuốc chống trầm cảm cũng mang đến câu hỏi về việc nghiện thuốc, mà tôi sẽ đề cập ở phần sau của cuốn sách. Giảm ham muốn tình dục, có những giấc mơ lạ, và những tác dụng khác được nhắc đến trên nhãn của SSRI có lẽ là vô cùng khổ sở. Tôi thấy lo lắng trước những báo cáo rằng một số loại thuốc chống trầm cảm có thể liên quan đến việc tự tử; tôi tin rằng điều này liên quan đến việc chất lượng cho phép của các loại thuốc, bởi vì nó có thể giúp ai đó làm điều mà trước đây anh ta quá suy nhược để có thể thực hiện. Tôi thừa nhận rằng chúng ta không thể biết được chắc chắn về tác dụng dài hạn của các loại thuốc. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là một số nhà khoa học đã chọn cách tận dụng những phản ứng bất lợi này để tạo nên một ngành công nghiệp của những kẻ phỉ báng Prozac, những kẻ xuyên tạc thứ thuốc này như một thứ hiểm họa chết người với công chúng vô tội. Trong một thế giới lý tưởng, sẽ không một ai phải dùng đến bất kỳ loại thuốc nào và cơ thể sẽ có khả năng tự chữa lành; nếu thế thì ai mà muốn uống thuốc kia chứ? Nhưng những sự quả quyết lố bịch kiểu ấy đã tạo nên một cuốn sách ngớ ngẩn như là Prozac Backlash[2] không thể làm được gì hơn ngoài việc gây nhiễu loạn và tạo nên nỗi hoảng sợ không cần thiết nơi một độc giả đang sợ hãi. Tôi thấy xót xa trước việc những kẻ chỉ trích cứ ngăn cản những bệnh nhân khổ sở khỏi những phương pháp điều trị cần thiết vô hại để được trở về với cuộc sống của mình. 

Cũng giống như sinh con, trầm cảm là một sự đau đớn khủng khiếp đến mức không thể tưởng tượng được. Chứng bệnh này của tôi đã không phát triển thêm cho tới khi mối quan hệ tình cảm của tôi kết thúc tệ hại vào mùa đông năm 1997. Đấy là một sự chọc thủng phòng tuyến, như tôi từng nói với một người, rằng đừng để bị suy sụp khi chia tay. Nhưng bạn sẽ không bao giờ còn như trước nữa một khi bạn nhận thức được rằng không có bản ngã nào mà không sụp đổ. Chúng ta được bảo rằng hãy học cách tự chủ, nhưng điều ấy thật khó mà thực hiện khi bạn không có được một bản thể để mà tin tưởng vào. Những người khác đã giúp đỡ tôi, và có một số hóa chất đã giúp thực hiện việc điều chỉnh lại này, và tôi cảm thấy ổn với tất cả những điều ấy ở vào thời điểm này, nhưng những cơn ác mộng lặp đi lặp lại không còn là những điều sẽ xảy ra với tôi, những điều xảy ra bởi các yếu tố bên ngoài, mà là những điều xảy ra trong tôi. Sẽ thế nào nếu một mai tôi thức dậy và không còn là mình nữa mà là một con bọ hung? Mỗi buổi sáng đều bắt đầu như thế - với một sự vô định đến khó thở về việc tôi là ai, với sự kiểm tra về những căn bệnh ung thư dường như chẳng bao giờ xuất hiện, với một nỗi lo lắng nhất thời rằng liệu những ác mộng kia có trở thành sự thật. Cứ như thể bản thể của tôi quay lại và nhổ nước bọt vào mặt tôi và nói, đừng có thúc giục, đừng có cậy vào tôi quá, tôi cũng có vấn đề của mình cần phải lo lắng. Nhưng vậy thì ai là người đã phủ nhận sự điên loạn và đau đớn ở đây? Ai là người nhổ nước bọt vào ai? Tôi đã mất nhiều năm để tiến hành trị liệu tâm lý và sống và yêu và mất mát, và thú thật, đến giờ tôi vẫn chẳng biết. Có ai đó hay thứ gì đó tồn tại mà mạnh mẽ hơn cả những hóa chất hay ý chí kia, một cái tôi đã đưa tôi vượt qua sự chán ghét bản thể tôi, một cái tôi thuộc thành viên công đoàn vẫn nhất quyết bám trụ cho tới khi những hóa chất nổi loạn và những ý tưởng hệ quả của nó được đưa trở lại đường ngay. Liệu đó có phải là một bản thể của những hóa chất không? Tôi không phải là người theo thuyết duy linh và tôi lớn lên không theo tôn giáo, nhưng cái chất đặc quánh chảy trong cơ thể tôi ấy, lại càng chảy nhanh hơn khi bản thể của tôi bị xé ra thành từng mảnh khỏi chính nó: những người từng sống sót qua điều này đều biết rằng nó chẳng bao giờ đơn giản như những đặc tính hóa học phức tạp cả.

 

Một người có được lợi thế trong suốt thời kỳ suy sụp của mình vì đã trong đó, nơi mà người đó có thể thấy được những gì đang diễn ra. Từ bên ngoài, người ta chỉ có thể đoán định; nhưng bởi vì trầm cảm mang tính chu kỳ, có thể sẽ hữu ích khi học cách kiên trì chịu đựng và thừa nhận. Eve Kahn, một người bạn của tôi, kể cho tôi về những mất mát mà căn bệnh trầm cảm của cha chị gây ra cho gia đình: “Cha tôi đã có một cuộc đời vất vả, khởi đầu từ rất sớm. Ông nội tôi đã mất, và bà nội cấm không được theo đuổi tôn giáo trong nhà. Bà nói rằng, nếu như Chúa có thể cướp đi chồng của ta và để lại cho ta bốn đứa con như thế này, thì chẳng có Chúa nào hết cả. Và bà bắt đầu chuẩn bị món tôm và thịt lợn muối vào mọi ngày lễ của người Do Thái! Những cái đĩa đầy tôm và thịt lợn muối! Cha của tôi cao một thước chín, nặng hai trăm hai mươi pound, và chưa từng thua trong các trận đấu bóng ném cũng như là bóng chày và bóng bầu dục tại trường đại học, loại người mà anh không thể hình dung nổi là rất mong manh. Ông trở thành một bác sĩ tâm lý. Rồi, tôi đoán khi ông khoảng ba mươi tám tuổi, thật ra thì trình tự của mọi việc không được chính xác bởi vì mẹ tôi không muốn nói về nó và cha tôi không thực sự nhớ được nó và khi chuyện ấy bắt đầu thì tôi mới còn là đứa trẻ lên ba – một ngày nọ có ai đó ở bệnh viện nơi ông làm việc gọi cho mẹ tôi và nói rằng cha tôi đã biến mất, đã rời chỗ làm, và họ không biết ông ấy ở đâu. Vì vậy mà mẹ lôi tất cả chúng tôi ra xe và lái vòng quanh cho tới khi chúng tôi tìm thấy ông đang dựa vào một cái thùng thư và khóc. Ngay sau đó ông ấy được điều trị bằng phương pháp xung điện (ECT), và khi họ điều trị xong cho ông, họ bảo với mẹ tôi rằng hãy ly dị ông đi bởi vì ông sẽ không bao giờ còn như trước nữa. ‘Các con của bà sẽ không nhận ra ông ấy nữa,’ họ nói. Dù vậy bà không thực sự tin lời của họ, bà ngồi trong xe và khóc trong lúc lái xe về nhà sau cuộc điều trị. Khi ông thức dậy, ông giống như một phiên bản copy của chính mình. Một chút mơ hồ, trí nhớ không tốt, thận trọng với chính mình hơn, ít quan tâm tới chúng tôi hơn. Hồi chúng tôi còn nhỏ xíu, ông là một người cha vô cùng tận tâm – luôn về nhà sớm để xem chúng tôi học được gì ở trường vào ngày hôm đó và luôn mua đồ chơi cho chúng tôi. Sau ECT, ông có hơi xa cách. Và rồi sự việc lại diễn ra lần nữa vào bốn năm sau đó. Họ cố gắng sử dụng các loại thuốc và thực hiện ECT nhiều lần hơn. Ông phải nghỉ việc một thời gian. Hầu hết thời gian tâm trạng của ông rất xấu. Không còn có thể nhận ra gương mặt của ông nữa; chiếc cằm của ông đã thụt sâu vào khuôn mặt. Ông sẽ rời khỏi giường và gần như là lẩn thẩn đi quanh nhà với đôi tay run rẩy, đôi bàn tay rộng lớn ấy chỉ còn treo lơ lửng ở đó bên cơ thể ông. Anh đã từng nghe những câu chuyện về quỷ nhập thể chưa, bởi vì hẳn phải có kẻ nào đó đã chiếm lấy thân xác của cha tôi. Tôi khi ấy mới năm tuổi và tôi có thể thấy được điều đó. Ông trông vẫn vậy nhưng tôi cảm giác như thể không có ai ở nhà cả.

 “Rồi ông ấy có vẻ khỏe hơn và có một giai đoạn ở vào trạng thái tuyệt vời trong khoảng hai năm, và rồi ông lại suy sụp. Và rồi ông cứ suy sụp và suy sụp mãi. Đôi khi ông khá hơn rồi suy sụp trở lại, hết lần này tới lần khác. Ông bị tai nạn xe khi ấy, khi tôi khoảng mười lăm tuổi, bởi vì ông bị chóng mặt hoặc bởi vì ông muốn tự sát – ai mà biết được? Sự việc ấy lại xảy ra lần nữa khi tôi học năm đầu đại học. Tôi nhận được điện thoại; tôi phải bỏ dở buổi thi và đến bệnh viện thăm ông. Họ đã phải lấy đi thắt lưng và cà vạt của ông ấy, toàn bộ mọi thứ. Và rồi ông lại vào viện năm năm sau đó. Rồi ông cảm thấy mệt mỏi. Và ông điều chỉnh lại cuộc sống của mình. Ông uống rất nhiều thuốc vitamin và ông tập thể dục chăm chỉ và ông không làm việc nữa. Và bất kỳ khi nào có sự việc làm ông căng thẳng, ông lại rời khỏi phòng. Con gái tôi khóc? Ông đội mũ vào và đi về nhà. Nhưng mẹ tôi vẫn ở bên ông trong suốt những thời điểm này và khi mà ông tỉnh táo, ông là một người chồng tuyệt vời. Ông có được mười năm tốt đẹp ở độ tuổi chín mươi, cho tới khi một cơn đột quỵ đánh bại ông vào năm 2001.”

Eve đã quyết định rằng không đẩy gia đình mình vào tình thế tương tự. “Bản thân tôi cũng phải trải qua vài cơn trầm cảm khủng khiếp,” cô nói. “Khi tôi khoảng ba mươi tuổi, tôi đã làm việc quá sức, nhận vào quá nhiều thứ, hoàn thành chúng, và rồi nằm trên giường một tuần liền mà không thể đối phó thêm được nữa. Có lúc tôi đã dùng thuốc Nortriptyline[3], mà chẳng ăn thua gì ngoại trừ việc khiến tôi tăng cân. Rồi vào tháng Chín năm 1995, chồng tôi nhận được công việc tại Budapest và chúng tôi phải chuyển tới đó, và tôi bắt đầu dùng Prozac nhằm đối phó với sự căng thẳng khi phải chuyển chỗ ở. Ở đấy, tôi hoàn toàn suy sụp. Hoặc là tôi nằm trên giường cả ngày hoặc trở nên vô cùng khó chịu. Cái nỗi căng thẳng của việc ở một nơi xa lạ và không có lấy một người bạn – và chồng tôi thì phải làm việc đến mười lăm tiếng một ngày khi chúng tôi vừa tới đó vì một vụ mua bán mới. Khi hợp đồng này kết thúc, vào bốn tháng sau đó, tôi hoàn toàn vỡ vụn. Tôi quay về Mỹ để gặp bác sĩ và tôi phải sử dụng rất nhiều loại thuốc: Klonopin, lithium, Prozac. Tôi không thể mơ mộng hay sáng tạo và lúc nào tôi cũng phải mang theo bên mình một hộp thuốc lớn, với những viên thuốc được đánh dấu sáng, trưa, chiều, tối bởi vì tôi không thể nhớ nổi những gì đang diễn ra. Rốt cuộc, tôi cũng có thể tạo lập được một cuộc sống ở nơi đó, quen được với một vài người bạn tốt, và có được một công việc khá ổn, nên tôi cắt giảm số thuốc xuống cho tới khi tôi chỉ phải uống vài viên vào mỗi tối. Rồi tôi có thai, ngưng dùng toàn bộ số thuốc, và cảm thấy thật tuyệt vời. Chúng tôi quay lại quê nhà, và rồi sau khi tôi sinh con ra, tất cả những hormone tuyệt vời ấy đều biến mất, và với việc chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh – tôi không có được một đêm ngủ ngon trong suốt một năm – tôi lại suy sụp lần nữa. Tôi quyết định rằng mình sẽ không để con gái mình phải trải qua điều này. Hiện tôi đang dùng Depakote, thứ thuốc làm tôi cảm thấy ít uể oải hơn và là loại thuốc an toàn đối với những phụ nữ đang cho con bú. Tôi sẽ làm bất cứ những gì cần thiết để mang tới cho con gái tôi một môi trường sống ổn định, để không biến mất hay bỏ đi thường xuyên.

Hai năm tốt đẹp tiếp nối sau cơn suy sụp thứ hai của tôi. Tôi toại nguyện, và vui mừng khi được toại nguyện. Rồi vào tháng Chín năm 1999, tôi trải qua một trải nghiệm khủng khiếp khi bị bỏ rơi trong tình yêu, bởi một người mà tôi đã nghĩ rằng sẽ ở bên tôi mãi mãi, và đâm ra buồn bã – không phải tuyệt vọng, mà chỉ buồn thôi. Và rồi một tháng sau đó, tôi bị ngã cầu thang khi ở nhà và bị trật khớp vai và bị rách cơ. Tôi đến ngay bệnh viện. Tôi cố gắng giải thích với các nhân viên cứu hộ trên xe cấp cứu và rồi cả các nhân viên ở phòng cấp cứu rằng tôi muốn ngăn chặn sự tái phát của bệnh trầm cảm. Tôi giải thích về những viên sỏi thận và việc chúng đã kích thích cơn trầm cảm lúc trước như thế nào. Tôi hứa sẽ điền vào bất kỳ mẫu đơn nào được yêu cầu và trả lời các câu hỏi thuộc mọi chủ đề kể cả về lịch sử thời thuộc địa của Zanzibar nếu như chúng giúp làm giảm bớt nỗi đau thể xác mà tôi biết rằng quá đỗi mãnh liệt đối với sự thanh thản của tâm trí tôi. Tôi giải thích rằng tôi có lịch sử với những cơn suy sụp nghiêm trọng và yêu cầu họ xem xét bệnh án của tôi. Phải mất đến một giờ mới được nhận thuốc giảm đau; và vào lúc đó tôi được tiêm một liều morphine IV nhỏ đến mức không thể làm tôi bớt đau. Chiếc vai bị trật khớp là một vấn đề không hề phức tạp, nhưng phải tám tiếng sau khi tôi tới bệnh viện khớp vai của tôi mới được nắn lại. Tôi cuối cùng có được một liều thuốc giảm đau có nghĩa, thuốc Dilaudid, bốn tiếng rưỡi sau khi tôi đến viện – vì vậy ba tiếng rưỡi sau đó không quá đỗi khủng khiếp như những gì diễn ra vào mấy giờ trước.

 Cố gắng duy trì sự bình tĩnh trong những giai đoạn đầu của tất cả điều này, tôi yêu cầu một cuộc tư vấn tâm lý. Một vị bác sĩ trực nói với tôi rằng, “Bị trật khớp vai quả thật rất đau và nó sẽ vẫn còn đau cho tới khi ta đưa nó trở về vị trí cũ, và anh chỉ cần kiên nhẫn và đừng nghĩ về nó nữa là được.” Cô ta cũng nói, “Anh đang mất kiểm soát bản thân, tức giận, thở quá gấp, và tôi sẽ không làm gì cho anh cả cho tới khi anh bình tĩnh trở lại.” Tôi được nghe rằng “chúng tôi không biết anh,” “chúng tôi không dễ dàng cho thuốc giảm đau mạnh,” và rằng tôi nên “cố gắng thở sâu và cố gắng tưởng tượng ra rằng anh đang ở trên một bãi biển với tiếng sóng vỗ bên tai và làn cát mịn dưới lòng bàn chân.” Một trong các bác sĩ nói với tôi, “Hãy tự chủ đi và ngừng thương hại bản thân. Nhiều người ở trong cái phòng cấp cứu này gặp phải nhiều vấn đề tồi tệ hơn anh nhiều.” Và khi tôi nói rằng tôi biết mình cần phải vượt qua nỗi đau nhưng muốn giảm thiểu sự mãnh liệt của nó lại, rằng tôi không quá quan tâm tới cơn đau thể xác này nhưng tôi lo lắng về các biến chứng tâm lý của nó, tôi được bảo rằng tôi đúng là “trẻ con” và “thiếu hợp tác.” Khi mà tôi nói rằng tôi từng có tiền sử về bệnh tâm thần, tôi được bảo rằng trong trường hợp đó tôi không thể kỳ vọng rằng bất kỳ ai cũng có cùng quan điểm với tôi về vấn đề này. “Tôi là một chuyên gia được đào tạo và tôi có mặt ở đây là để giúp anh,” vị bác sĩ ấy nói. Khi tôi nói rằng tôi là một bệnh nhân đã từng có trải nghiệm trước đó và biết rằng những gì mà cô ta đang làm thực sự gây tổn thương cho tôi, cô ta bảo với tôi rằng tôi đâu có học ngành y và sẽ phải tuân theo những đánh giá và phác đồ điều trị của cô ấy.

Tôi lặp lại yêu cầu của mình về việc được tư vấn tâm lý, nhưng không hề được đáp ứng. Hồ sơ ghi chép về tư vấn tâm lý không được lưu trữ trong phòng cấp cứu, và vì thế chẳng có cách nào để kiểm tra những lời phàn nàn của tôi, mặc dù bệnh viện này là một trong những nơi mà bác sĩ riêng và bác sĩ tâm lý của tôi từng hợp tác. Tôi tin rằng chính sách của một phòng cấp cứu mà tại đó câu nói “Tôi bị rối loạn trầm cảm nghiêm trọng bị làm trầm trọng thêm bởi một cơn đau tột bực” sẽ được đối xử giống như câu nói “Tôi cần phải có con gấu bông bên mình trước khi các vị có thể khâu vết thương” là không thể chấp nhận được. Sách giáo khoa tiêu chuẩn về thực hành tại phòng cấp cứu ở Hoa Kỳ không hề đề cập đến các khía cạnh tâm thần của các bệnh thể xác. Không một ai trong phòng cấp cứu được trang bị dù là ở mức nhỏ nhất để có thể đối phó với các biến chứng tâm thần. Tôi chẳng qua chỉ là một kẻ đòi món sườn lợn ở một cửa hàng bán cá.

Khi các cơn đau tích tụ, năm giờ đau đớn ít nhất cũng đau gấp sáu lần so với một giờ đau đớn. Tôi nhận thấy chấn thương thể xác là một trong những yếu tố chính dẫn đến chấn thương tâm thần, rằng để chữa trị thứ này theo cái cách mà bạn sẽ tạo ra thứ kia là một hành động ngớ ngẩn trong ngành y tế. Dĩ nhiên cơn đau diễn ra càng lâu, nó càng khiến tôi kiệt sức; các dây thần kinh của tôi càng bị kích thích; thì tình hình càng trở nên nghiêm trọng. Máu ở dưới da tụ lại cho tới khi bờ vai của tôi trông như một đốm đen trên mình con báo hoa. Tôi bị choáng khi thuốc Dilaudid[4] phát huy tác dụng. Quả thực có nhiều người trong phòng cấp cứu gặp phải nhiều thương tích nghiêm trọng hơn tôi nhiều; tại sao tất cả chúng tôi lại phải chịu đựng cơn đau vô lý này?

Trong vòng ba ngày kể từ thử thách tại phòng cấp cứu, tôi có cảm giác muốn tự tử mạnh mẽ mà tôi chưa từng trải qua kể từ cơn trầm cảm nghiêm trọng đầu tiên của mình; và nếu như tôi không nằm dưới sự giám sát hai mươi tư giờ một ngày của gia đình và bạn bè, tôi sẽ tìm đến sự giải thoát tức thời cực đoan nhất bởi vì tôi đã tiến tới mức độ đau đớn về thể xác và tinh thần vượt quá sức chịu đựng của bản thân mình. Một lần nữa đó lại là vấn đề của cây sồi và những sợi dây leo. Nếu như bạn nhìn thấy một chồi non vươn lên từ mặt đất và nhận thấy nó là chồi của cái cây leo nặng trĩu ấy, bạn có thể nhổ nó ra khỏi mặt đất bằng ngón tay cái và ngón tay trỏ của mình và mọi chuyện sẽ lại tốt đẹp. Nếu như bạn chờ đợi cho tới khi cái chồi non kia trở nên cứng cáp và ôm trọn lấy cây sồi, bạn có lẽ sẽ phải dùng đến cưa và có lẽ là cả một cái rìu và xẻng để loại bỏ thứ đó và đào phần rễ lên. Chắc hẳn bạn chẳng thể nào loại bỏ cái dây leo mà không làm tổn thương đến vài cành lá của cây sồi. Tôi thường có thể kiểm soát được cái khuynh hướng muốn tự tử trong mình, nhưng, như tôi chỉ ra với các nhân viên của bệnh viện sau khi cơn trầm cảm đã qua đi, việc từ chối chữa trị cho những than phiền về chứng bệnh tâm thần của bệnh nhân có thể biến một vấn đề nhỏ bé như là trật khớp vai trở nên nghiêm trọng và khiến nó trở thành chứng bệnh chết người. Nếu như có ai đó nói rằng anh ta đang đau khổ, thì các nhân viên của phòng cấp cứu cần phải hành động thích hợp. Nạn tự tử xảy ra ở đất nước này là bởi vì sự bảo thủ các bác sĩ như là người mà tôi đã gặp phải trong cái phòng cấp cứu đó, những người xem việc không chịu được cơn đau tột bực (cả về mặt thể xác lẫn tinh thần) là một sự yếu đuối trong tính cách.

Tuần tiếp theo, tôi lại suy sụp lần nữa. Tôi gặp phải vấn đề về nước mắt trong các lần trước đó, nhưng không bao giờ theo cái cách mà tôi có chúng vào lúc này. Tôi khóc vào mọi lúc, như một khối thạch nhũ. Thật là vô cùng mệt mỏi khi rơi từng đấy nước mắt, khiến cho khuôn mặt tôi cứ như bị nứt ra. Dường như phải dùng đến nỗ lực khổng lồ để làm những điều đơn giản. Tôi vẫn còn nhớ đã bật khóc nức nở bởi vì tôi đã dùng hết bánh xà phòng khi tắm. Tôi khóc bởi một phím chữ trên máy tính bị tắc trong vòng một giây. Tôi nhận thấy mọi việc đều trở nên khó khăn đến mức không thể chịu đựng nổi, và, ví dụ như, là cái viễn cảnh nhấc điện thoại lên đối với tôi cũng ngang ngửa với việc phải nâng lên một chiếc ghế nặng bốn trăm pound vậy. Cái thực tế rằng tôi phải đi vào không phải một mà là hai chiếc tất và rồi hai chiếc giày làm tôi nhụt chí đến mức chỉ muốn quay trở lại giường. Dù tôi không rơi vào sự lo âu mãnh liệt đã gây nên cơn suy sụp của tôi trước đó, nhưng sự hoang tưởng cũng bắt đầu xuất hiện: tôi bắt đầu sợ hãi, mỗi khi con chó của tôi rời khỏi phòng, rằng đó là bởi vì nó không còn yêu tôi nữa.

Có thêm một nỗi kinh hoàng trong cơn suy sụp lần này. Hai lần suy sụp trước đó của tôi diễn ra khi mà tôi không dùng thuốc. Sau cơn suy sụp thứ hai, tôi đã chấp nhận rằng tôi sẽ phải dùng thuốc mãi mãi nếu như muốn tránh khỏi những lần suy sụp về sau này. Ở mức độ chi phí tinh thần đáng kể, tôi đã uống thuốc mỗi ngày trong vòng bốn năm. Giờ đây tôi phát hiện ra mình hoàn toàn bị suy sụp bất kể cái thực tế rằng tôi đã sử dụng Effexor, BuSpar, và Wellbutrin. Điều này có nghĩa là gì? Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi đã gặp gỡ những người từng trải qua một hay hai cơn suy sụp tinh thần, rồi bắt đầu uống thuốc, và trở nên ổn. Tôi cũng gặp gỡ cả những người ngưng dùng một loại thuốc nào đó trong vòng một năm, bị suy sụp, mất vài tháng để thoát khỏi một cơn suy sụp khác – những người chẳng bao giờ có thể đặt chứng trầm cảm của mình vào trong sự an toàn của thì quá khứ. Tôi từng tin rằng mình thuộc về nhóm số một. Nhưng giờ đây tôi dường như bỗng nhiên lại thuộc về nhóm thứ hai. Tôi đã chứng kiến những cuộc đời mà ở đó tinh thần khỏe mạnh chỉ là một điều thi thoảng diễn ra. Có lẽ là tôi đã vượt quá khả năng được giúp đỡ bằng Effexor – nhiều người cũng từng mệt mỏi với thứ thuốc này. Nếu là như vậy, thì tôi đã gia nhập vào một thế giới khủng khiếp. Trong tâm trí mình tôi nhìn thấy viễn cảnh một năm dùng thuốc này, một năm dùng thuốc kia, cho tới khi tôi sử dụng hết tất cả những tùy chọn sẵn có.

Giờ đây tôi đã nắm bắt được những việc cần thực hiện khi gặp phải cơn suy sụp tinh thần. Tôi biết phải gọi cho bác sĩ nào và nói những gì. Tôi biết khi nào thì phải giấu đi chiếc dao cạo râu và tiếp tục dẫn chó đi dạo. Tôi gọi cho mọi người và thẳng thắn trình bày rằng tôi bị trầm cảm. Một vài người bạn thân, mới vừa kết hôn, đến ngay nhà tôi và ở lại với tôi trong vòng hai tháng, giúp tôi vượt qua những phần khó khăn của những ngày tháng đó, nói chuyện với tôi về những lo lắng và sợ hãi của bản thân, kể cho tôi nghe những câu chuyện, giám sát việc tôi ăn uống, làm vơi bớt đi nỗi cô đơn – họ trở thành những tri kỷ của đời tôi. Em trai tôi bay về từ California và khiến tôi phải bất ngờ ngay trước thềm nhà mình vào thời điểm mà tôi suy sụp nhất. Cha tôi ở vào tư thế cảnh giác cao độ. Theo tôi biết đây là những gì đã cứu tôi: hành động nhanh; có được một bác sĩ giỏi sẵn sàng lắng nghe bạn; hiểu rõ những vấn đề bản thân; ăn và ngủ điều độ cho dù việc ấy có đáng ghét đến nhường nào; lập tức từ bỏ mọi khả năng gây căng thẳng; tập thể dục; huy động tình yêu.

Ngay lập tức tôi gọi cho người đại diện của mình và nói rằng tôi đang cảm thấy rất tệ và rằng tôi sẽ phải tạm dừng việc thực hiện cuốn sách này. Tôi nói rằng tôi không biết quá trình tệ hại này sẽ ra sao. “Cứ giả vờ như hôm qua tôi vừa mới bị đụng xe,” tôi nói, “và rằng tôi đang bị giữ lại ở bệnh viện để chờ chụp X quang. Ai mà biết được khi nào thì tôi mới có thể đánh máy lại?” Tôi uống Xanax ngay cả khi nó khiến tôi trở nên đờ đẫn và không thể đứng vững, bởi vì tôi biết rằng nếu như tôi để mặc cơn lo lắng đang ngự trị trong lồng ngực và ruột gan mình, nó sẽ trở nên tệ hại hơn và tôi sẽ gặp rắc rối. Tôi không hề mất trí, tôi giải thích với gia đình và bạn bè mình, nhưng tôi gần như chắc chắn rằng mình đã để nó thất lạc ở đâu đó. Tôi cảm thấy mình như đang ở trong thời chiến tại Dresden[5], như một thành phố đã bị phá hủy và chẳng thể tự bảo vệ mình trước đạn bom, nó chỉ đơn giản là bị đánh sập, và chỉ còn lại những tàn dư vàng son lấp lánh dưới đống đổ nát hoang tàn.

Bối rối khóc lóc thậm chí là trong cả thang máy của bệnh viện nơi mà nhà tâm thần dược học của tôi đặt văn phòng làm việc, tôi đã hỏi ông ấy rằng liệu có thể làm được gì không. Thật ngạc nhiên khi ông không thấy tình huống này kinh khủng giống như tôi. Ông nói rằng ông sẽ không cho tôi dừng thuốc Effexor – “nó có tác dụng với cậu trong thời gian dài và chẳng có lý do gì lại dừng nó vào lúc này cả.” Ông kê cho tôi Zyprexa, một loại thuốc chống rối loạn tâm thần mà đồng thời cũng có tác dụng chống lo âu. Ông tăng liều Effexor bởi vì, ông nói, cậu không bao giờ nên rời xa thứ sản phẩm đã giúp được cậu trừ khi cậu bắt buộc phải làm vậy. Effexor đã tỏ ra có tác dụng lúc trước và có lẽ với việc tăng liều nó sẽ mang lại hiệu quả lần nữa? Ông cắt giảm liều lượng Wellbutrin của tôi bởi vì Wellbutrin gây kích động, và trước tình trạng lo lắng cao độ tôi cần ít bị kích thích hơn. Chúng tôi giữ nguyên liều lượng BuSpar. Bác sĩ của tôi tăng một số thứ và giảm một số thứ và đọc phản hồi và sự mô tả bản thân của tôi và dựng nên một phiên bản gần “đúng” về tôi, có lẽ gần giống với trước đây, có lẽ hơi khác biệt một chút. Hiện tại tôi đã có được nhiều kiến thức chuyên môn và đọc về các loại thuốc mà tôi sử dụng (mặc dù tôi tránh việc tìm hiểu các tác dụng phụ của bất kỳ thứ gì cho tới khi tôi đã sử dụng nó được một thời gian; việc biết về các tác dụng phụ ước chừng là một sự đảm bảo về việc phát triển các tác dụng phụ). Tuy nhiên, tất cả chỉ là một thứ khoa học mơ hồ về những mùi và vị và sự kết hợp. Nhà tâm thần dược học của tôi đã giúp tôi vượt qua được cái thí nghiệm này: ông là nhà vô địch của việc liên tục trấn an tôi tin vào một tương lai chí ít cũng có thể ngang bằng với quá khứ.

Vào buổi tối sau cái ngày tôi bắt đầu dùng Zyprexa, tôi có kế hoạch tham gia buổi tọa đàm về Virginia Woolf. Tôi rất thích Virginia Woolf. Giảng về Virginia Woolf và đọc to lên những đoạn văn của bà đối với tôi mà nói cũng giống như là việc vừa giảng về socola và ăn nó luôn vậy. Tôi thực hiện buổi tọa đàm này ở nhà của một người bạn, trước một nhóm gồm khoảng năm mươi những con người thân thiện. Đó là một buổi hoạt động từ thiện vì một mục đích mà tôi tin tưởng. Dưới những tình huống thông thường, điều này sẽ thật là vui và chả đòi hỏi mấy nỗ lực, và tôi có thể sẽ đắm mình trong ánh đèn sân khấu – là điều mà tôi vẫn luôn thích thú nếu như tâm trạng của tôi ổn định. Một ai đó có thể sẽ cho rằng buổi giảng này sẽ khiến cho các vấn đề của tôi càng trở nên trầm trọng, nhưng thực ra khi ấy thần kinh tôi quá kích động nên buổi giảng ấy đã chẳng còn quan trọng: nội việc thức giấc thôi cũng đã đủ căng thẳng, và chẳng điều gì có thể khiến sự việc tệ hại hơn được nữa. Nên tôi tới đó và thực hiện những giao tế lịch sự nho nhỏ trong khi uống cocktail và rồi đứng dậy với cuốn sổ của mình và nhận thấy bản thân thật bình tĩnh, bình tĩnh một cách kỳ lạ, như thể tôi chỉ đang đưa ra một vài ý kiến bên bàn ăn tối, và như thể tôi đang rời khỏi cơ thể mình, tôi nhìn thấy mình đã giảng bài khá mạch lạc về Woolf từ những gì có trong trí nhớ và ghi chép của bản thân.  

Sau bài giảng, tôi đi cùng với một nhóm bạn và những người tổ chức sự kiện này đến một nhà hàng ở gần đó. Bữa tối bao gồm đủ những người khác nhau nên đòi hỏi một vài nỗ lực để có thể gom góp lại cho đủ cái diện mạo của phép lịch sự hoàn hảo, nhưng dưới những tình huống thông thường đó sẽ là một niềm vui. Còn đây, cứ như thể không khí quanh tôi đang se lại, như cái cách mà keo dán se lại, trở nên cứng rắn đến kỳ lạ, khiến tiếng nói của những người khác như bị vỡ ra và nứt nẻ trong không khí rắn chắc, và những âm thanh vỡ vụn ấy khiến cho việc nghe họ nói trở nên càng khó khăn hơn. Tôi cần phải phá vỡ bầu không khí đó dù chỉ để nâng lên chiếc nĩa của mình. Tôi gọi món cá hồi và bắt đầu nhận ra tình cảnh kỳ cục mà tôi đang bộc lộ. Tôi hơi xấu hổ khi không biết phải làm gì trước điều đó. Những tình huống như thế này khá là bẽ mặt, dù bạn có biết bao nhiêu người đã dùng Prozac đi chăng nữa, dù cho mọi người dường như có vẻ bình thản ra sao trước trầm cảm. Mọi người bên bàn ăn đều biết rằng tôi đang viết một cuốn sách về chủ đề này và hầu hết bọn họ đều đã đọc các bài báo của tôi. Điều ấy cũng chẳng ích gì. Tôi lầm bầm và xin lỗi suốt cả bữa ăn như một nhà ngoại giao trong thời Chiến tranh lạnh. “Thật xin lỗi nếu như tôi có vẻ hơi mất tập trung, nhưng các vị biết đấy tôi vừa rơi vào một cơn trầm cảm nữa,” tôi có thể nói vậy nhưng rồi mọi người sẽ thấy buộc phải hỏi về những triệu chứng cụ thể và các nguyên nhân và cố gắng an ủi tôi, và những lời an ủi ấy thực ra lại càng làm cho cơn trầm cảm trở nên trầm trọng. Hoặc, “Tôi xin lỗi nhưng tôi thực sự không thể theo kịp những gì các bạn nói bởi vì tôi phải dùng năm mg Xanax mỗi ngày, dù dĩ nhiên là tôi không hề nghiện nó, và tôi cũng vừa mới bắt đầu dùng một loại thuốc làm dịu thần kinh mới mà tôi tin rằng có đặc tính an thần mạnh. Món salad của bạn ngon chứ?” Mặt khác, tôi có cảm giác rằng nếu như tôi cứ tiếp tục không nói gì, mọi người sẽ nhận ra tôi kỳ quặc ra sao.

Và rồi tôi nhận thấy không khí trở nên thật cứng rắn và giòn tan đến mức ngôn từ xuyên qua như những tiếng động huyên náo mà tôi chẳng thể nào kết nối lại được với nhau. Có lẽ bạn cũng đã từng tham dự một buổi học và nhận thấy rằng để có thể theo kịp những ý chính bạn cần phải tập trung; nhưng đầu óc bạn thì cứ lang thang tận đâu đâu và rồi bạn chẳng hiểu những gì được nói đến khi quay trở về với bài giảng. Sự logic đã biến mất. Và đó là những gì mà tôi cảm thấy, nhưng ở mức độ của từng câu chữ. Tôi cảm thấy logic biến mất ngay bên trong tôi lúc này. Có ai đó nói điều gì đó về Trung Quốc, nhưng tôi không biết chắc đó là chuyện gì. Tôi nghĩ có người nào đó đã nhắc tới ngà voi, nhưng tôi không biết đó có phải là cùng một người đã đề cập tới Trung Quốc hay không, dù tôi nhớ rằng người Trung Quốc có chế tác các sản phầm từ ngà voi. Có ai đó hỏi tôi điều gì đó về cá, phải chăng là món cá mà tôi vừa gọi? Có phải tôi đã gọi món cá không? Liệu tôi có thích câu cá không? Có phải có nhắc tới loài cá ở Trung Quốc hay không? Tôi nghe thấy có ai đó lặp lại câu hỏi (tôi nhận ra cấu trúc câu lúc trước), và rồi tôi cảm thấy mắt mình nhắm lại và tôi thầm nghĩ, thật bất lịch sự khi nhắm mắt ngủ lúc người ta hỏi mi một câu hỏi đến lần thứ hai. Tôi cần phải thức dậy. Nên tôi nâng đầu lên khỏi ngực mình và mỉm cười theo cái cách có nghĩa là tôi-không-theo-kịp-câu-chuyện. Tôi thấy những khuôn mặt bối rối đang nhìn tôi. “Anh có ổn không?” có ai đó hỏi, và tôi trả lời “Có lẽ là không,” và vài người bạn có mặt ở đó đã đỡ tôi đứng dậy và đưa tôi ra ngoài.

 ------------------

[1] Lá mao địa hoàng được sử dụng làm thuốc chữa suy tim.

[2] Prozac Backlash: Overcoming the Dangers of Prozac, Zoloft, Paxil, and Other Antidepressants with Safe, Effective Alternatives (tạm dịch: Khe hở của Prozac – Vượt qua những nguy hiểm của Prozac, Paxil, và các loại thuốc chống trầm cảm khác bằng những phương pháp an toàn, hiệu quả) của tác giả Joseph Glenmullen M.D.

[3] Nortriptyline: một loại thuốc chống trầm cảm

[4] Dilaudid: một loại thuốc giảm đau

[5] Dresden là thành phố thủ phủ của Bang tự do Sachsen tại Đức. Thành phố nằm trên một thung lũng ven con sông Elbe, gần biên giới với Cộng hòa Séc. Chùm đô thị Dresden là một phần của vùng đô thị Tam giác Sachsen. Dresden có một lịch sử lâu dài giữ vai trò là thủ đô hoặc nơi ở vương giả của các tuyển đế hầu và vua của Sachsen, trong nhiều thế kỷ, họ đã trang hoàng cho thành phố bằng các nét văn hóa và công trình nghệ thuật tráng lệ. Thành phố từng được gọi là "Chiếc hộp Đá quý", do trung tâm thành phố có các công trình theo kiến trúc baroque và phong cách nghệ thuật rococo.

Một vụ ném bom của Đồng Minh vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai giết chết hàng nghìn dân thường và phá hủy hoàn toàn trung tâm thành phố. Hậu quả của vụ ném bom và 40 năm phát triển đô thị hậu thế chiến đã làm thay đổi bộ mặt của thành phố. Sau khi tái thống nhất nước Đức vào năm 1990, Dresden lấy lại được vị thế quan trọng của mình, trở thành một trong các trung tâm văn hóa, giáo dục, chính trị và kinh tế của nước Đức.

menu
menu