Atlas về Trầm cảm: Con quỷ giữa ban trưa - Chương 2.6

atlas-ve-tram-cam-con-quy-giua-ban-trua-chuong-2-6

Trầm cảm có thể dễ dàng là hệ quả của quá nhiều điều vui vẻ cũng như của quá nhiều điều khủng khiếp. Trên đời này cũng có cả thứ gọi là sự căng thẳng hậu-vui vẻ nữa.

 “Tôi vô cùng xin lỗi,” tôi cứ nói vậy, lờ mờ nhận ra rằng tôi đã khiến mọi người ngồi ở bàn nghĩ rằng tôi có lẽ đang phê thuốc, và ước gì tôi chỉ đơn giản nói rằng mình bị trầm cảm, dùng quá nhiều thuốc, và không biết tôi có thể vượt qua tối nay thế nào. “Thật xin lỗi,” và mọi người cứ nói rằng chẳng có gì phải xin lỗi cả. Và những người bạn đã giải cứu tôi đã đưa tôi về nhà và đỡ tôi nằm xuống giường. Tôi tháo kính áp tròng ra và rồi cố gắng nói chuyện vài phút, để an ủi bản thân. “Vậy cậu thế nào?” tôi hỏi, nhưng khi bạn tôi bắt đầu trả lời, anh ấy trở nên thật hư ảo, như chú mèo Cheshire vậy, và rồi tôi lịm đi và rơi vào một giấc ngủ sâu suốt mười bảy tiếng đồng hồ và mơ về một cuộc chiến vĩ đại. Chúa ơi, tôi đã quên mất sự dữ dội của cơn trầm cảm. Nó tác động thật sâu, thật xa! Chúng ta bị quy định bởi các quy chuẩn vượt ra ngoài chúng ta. Những quy chuẩn mà tôi đã được nuôi dạy và tôi đã thiết lập cho bản thân mình khá là cao so với tiêu chuẩn của thế giới; nếu như tôi cảm thấy không thể viết sách, tôi cảm thấy bản thân mình có gì đó bất ổn. Tiêu chuẩn của nhiều người khác thì thấp hơn nhiều; trong khi có những người lại cao hơn nhiều. Nếu như George W. Bush thức dậy vào một ngày nào đó và cảm thấy rằng mình không thể là nhà lãnh đạo của một thế giới tự do, thì có lẽ đã có điều gì đó không ổn với ông ấy. Nhưng nhiều người cảm thấy rằng họ vẫn ổn chừng nào mà họ còn có thể kiếm được miếng ăn và tiếp tục sống. Còn với tôi, việc gục xuống trong bữa tối vượt xa mức độ mà tôi cho là ổn.

Khi tỉnh dậy tôi cảm thấy ít kinh khủng hơn so với ngày trước đó, mặc dù tôi vẫn buồn bã vì việc mất khả năng kiểm soát của mình. Cái ý tưởng ra khỏi nhà vẫn có vẻ khó khăn một cách đáng ngạc nhiên, nhưng tôi biết rằng tôi đã có thể xuống dưới nhà (dù tôi không chắc là tôi có muốn làm một việc như vậy hay không). Tôi có thể gửi một vài e-mail. Tôi uể oải gọi điện cho nhà tâm thần dược học của mình, và ông đề nghị rằng tôi nên giảm liều Zyprexa xuống còn một nửa và giảm cả thuốc Xanax nữa. Tôi hoài nghi khi các triệu chứng của tôi biến mất vào buổi chiều hôm đó. Vào buổi tối, tôi gần như ổn, như một con ốc mượn hồn giờ đã lớn hơn so với cái vỏ của mình và phải rời bỏ nó, yếu ớt bò trên bãi biển, và rồi tìm thấy chiếc vỏ mới ở một nơi nào đó. Dù tôi vẫn còn có những chặng đường chờ đợi ở phía trước, tôi thấy vui khi biết rằng mình đang hồi phục.

Và đó là cơn suy sụp tinh thần thứ ba. Đó là một sự mặc khải. Trong khi cơn suy sụp thứ nhất và thứ hai diễn ra ác liệt nhất trong sáu tuần và mỗi đợt kéo dài khoảng tám tháng, cơn suy sụp tinh thần thứ ba, mà tôi gọi là cơn suy sụp-nhỏ, diễn ra ác liệt trong sáu ngày và kéo dài khoảng hai tháng. Tôi thật may mắn vì có phản ứng tốt với thuốc Zyprexa, nhưng tôi cũng nhận ra rằng những nghiên cứu mà tôi thực hiện để viết cuốn sách này, dù nó có giá trị với một ai đó hay không, thì cũng cực kỳ hữu ích đối với tôi. Tôi đã buồn bã trong vài tháng vì nhiều nguyên nhân khác nhau và ở trong mức độ căng thẳng đáng kể, vẫn có thể xoay sở với mọi việc, nhưng chẳng dễ dàng gì. Bởi vì tôi đã tìm hiểu rất nhiều về trầm cảm, tôi nhận ra nó ngay lập tức. Tôi đã gặp được một nhà tâm thần dược học giỏi – người có thể có thể khéo léo điều biến việc điều trị bằng việc kết hợp nhiều thứ thuốc với nhau. Tôi tin rằng nếu như tôi bắt đầu uống thuốc từ trước khi cơn suy sụp tinh thần đầu tiên của tôi đẩy tôi xuống vực sâu, tôi đã có thể khiến nó phải quy phục trước khi nó trở nên mất kiểm soát, và có lẽ tôi đã có thể tránh được các cơn suy sụp tinh thần tiếp theo. Nếu như tôi không ngưng các loại thuốc đã giúp tôi thoát khỏi cơn suy sụp ấy, thì có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ phải rơi vào cơn suy sụp thứ hai. Vào thời điểm tôi bắt đầu rơi vào cơn suy sụp thứ ba, tôi đã quyết tâm rằng sẽ không bao giờ phạm phải sai lầm ngu ngốc như vậy nữa.

Sự thuyên giảm của bệnh tâm thần đòi hỏi sự duy trì: tất cả chúng ta đều có thời kỳ phải trải qua chấn thương về tinh thần và thể xác, và có nhiều khả năng là những ai trong chúng ta có sự yếu đuối nhất định về mặt tính cách sẽ có những lúc lặp lại những tổn thương này khi đối mặt với các vấn đề. Một cuộc đời tự do tương đối có thể mở ra tốt nhất với sự thận trọng và có trách nhiệm trong việc dùng thuốc, kết hợp với việc thực hiện tư vấn tâm lý đều đặn, chuyên sâu. Hầu hết những người bị trầm cảm nghiêm trọng buộc phải sử dụng kết hợp nhiều loại thuốc, đôi khi là theo liều không chính thống. Họ cũng cần phải hiểu về sự thay đổi của bản thân, một điều mà các chuyên gia có thể hỗ trợ. Rất nhiều người trong số những người mà tôi gặp từng trải qua những chuyện đau thương đều bị trầm cảm, đã tìm kiếm sự giúp đỡ, và đã được ném cho những loại thuốc mà họ nhận lấy, thường là sai liều lượng, để chế ngự nửa vời các triệu chứng mà đáng lý ra đã có thể chữa trị hoàn toàn. Có lẽ những người bất hạnh nhất là những người biết rằng mình đang nhận được sự điều trị tệ hại nhưng chương trình bảo hiểm sức khỏe (HMO) và các gói bảo hiểm của họ khiến họ không được tiếp cận với sự điều trị tốt hơn.

Có một câu chuyện ngụ ngôn cổ thường được kể trong gia đình tôi về một gia đình nghèo khổ, nhà hiền triết, và con dê. Gia đình nghèo nọ sống trong tình trạng nghèo khổ và bẩn thỉu, chín người cùng chia sẻ một túp lều, và không ai đủ ăn và quần áo của mọi người đều rách nát và cuộc đời họ là một chuỗi đau khổ khôn nguôi. Cuối cùng một ngày nọ ông chủ của gia đình đi tới gặp nhà hiền triết và nói với ngài rằng, “Thưa thầy, chúng con khổ quá nên không sống nổi. Các tiếng ồn thật kinh khủng, rác rưởi thật kinh khủng, và sự thiếu riêng tư có thể giết chết một người, và chúng con chẳng bao giờ đủ ăn, và chúng con bắt đầu căm hận lẫn nhau, và điều đó thật kinh khủng. Chúng con nên làm thế nào bây giờ?” Nhà hiền triết chỉ trả lời đơn giản, “Anh cần phải kiếm một con dê và để cho con dê sống trong nhà của anh trong vòng một tháng. Rồi thì các vấn đề của anh sẽ được giải quyết.” Người đàn ông kinh ngạc nhìn nhà hiền triết. “Con dê ấy ạ? Sống chung với dê á?” Nhưng nhà hiền triết vẫn khăng khăng như vậy, và bởi vì đó là một nhà hiền triết vô cùng thông thái, người đàn ông làm theo những gì được dạy. Trong tháng sau đó, cuộc sống địa ngục của gia đình người đàn ông kia trở nên không thể nào chịu đựng nổi. Tiếng ồn ào càng thêm tệ hại; rác rưởi càng nhiều thêm; chả có gì là gần giống với sự riêng tư cả; chẳng còn gì để ăn bởi vì con dê đã ăn tất cả mọi thứ; và chẳng có gì để mặc bởi vì con dễ cũng ăn luôn cả quần áo của mọi người. Sự oán giận trong ngôi nhà bùng nổ. Đến cuối tháng, người đàn ông tức tối đến gặp nhà hiền triết. “Chúng con đã sống cùng với con dê suốt một tháng trong túp lều của chúng con,” ông ta nói. “Thật là kinh khủng. Sao thầy lại có thể đưa ra một lời khuyên lố bịch như thế được?” Nhà hiền triết gật đầu và nói, “Giờ thì hãy đưa con dê đi và anh sẽ thấy cuộc sống của mình bình yên và đẹp đẽ ra sao.”

Trầm cảm cũng giống như vậy đấy. Nếu bạn có thể đánh bại cơn trầm cảm của mình, bạn sẽ có thể sống một cuộc đời tuyệt vời bình an với những vấn đề của thế giới thực mà bạn có thể sẽ phải đối mặt, mà dường như sẽ nhỏ bé hơn nhiều nếu đem ra so sánh. Tôi gọi điện cho một người mà tôi từng phỏng vấn trong quá trình viết cuốn sách này và bắt đầu câu chuyện một cách lịch sự bằng việc hỏi rằng anh ta có khỏe không. “Ồ,” anh ta nói, “lưng tôi đau; tôi bị bong gân ở mắt cá chân; bọn trẻ đang giận tôi; trời thì đang mưa to; con mèo đã chết; và tôi thì đang phải đối mặt với phá sản. Mặt khác, tôi không có triệu chứng bệnh tâm lý vào lúc này, vì thế tôi sẽ nói là nhìn chung mọi thứ đều tuyệt vời.” Cơn suy sụp tinh thần của tôi quả thực là một chú dê của sự suy sụp; nó diễn ra vào thời điểm mà tôi cảm thấy bất mãn về nhiều điều khác nhau trong cuộc sống của mình mà tôi biết rằng, theo lý trí, cuối cùng cũng có thể giải quyết được. Khi tôi vượt qua được nó, tôi cảm thấy như thể cần phải tổ chức một bữa tiệc nhỏ để ăn mừng niềm vui hiện diện trong cuộc đời đầy hỗn loạn của mình. Và tôi cảm thấy đã sẵn sàng một cách đáng ngạc nhiên, thực ra là hạnh phúc một cách lạ kỳ, khi được quay trở về với cuốn sách này, mà tôi đã phải đặt sang một bên vào hai tháng trước đó. Như tất cả những gì đã nói ở trên, đó là một cơn suy sụp tinh thần và nó đã diễn ra trong lúc tôi vẫn đang điều trị bằng thuốc, và tôi chưa bao giờ cảm thấy hoàn toàn an tâm đến thế. Vào thời điểm gần cuối của quá trình viết cuốn sách này tôi thình lình cảm thấy sợ hãi và cô đơn. Đó không phải là sự suy sụp tinh thần, nhưng đôi khi tôi sẽ soạn thảo một trang sách và rồi tôi phải nằm xuống trong nửa giờ để hồi phục trước những câu chữ của mình. Đôi khi tôi bật khóc; đôi khi tôi thấy bất an và nằm trên giường suốt một hoặc hai ngày. Tôi nghĩ rằng những trải nghiệm này phản ánh chính xác sự khó khăn của việc viết lách và một sự không chắc chắn đáng sợ về phần đời còn lại của tôi, nhưng tôi không hề cảm thấy tự do; tôi không hề được giải thoát.

Tôi khá ổn trước các tác dụng phụ của thuốc. Nhà tâm thần dược học của tôi là một chuyên gia trong việc kiểm soát các tác dụng phụ. Tôi gặp phải tác dụng phụ liên quan đến tính dục khi dùng thuốc – một sự giảm nhẹ ham muốn tình dục và vấn đề mang tính toàn cầu về việc chậm đạt được cực khoái. Một vài năm trước, tôi thêm Wellbutrin vào chương trình điều trị của mình; nó dường như khiến sự ham muốn tình dục của tôi hoạt động trở lại, dù cho mọi việc không bao giờ còn được như lúc trước. Bác sĩ của tôi cũng kê cho tôi cả thuốc Viagra, phòng trường hợp tôi gặp phải cái tác dụng phụ ấy, và rồi thêm vào dexamphetamin[1], nhằm mục đích tăng ham muốn tình dục. Tôi nghĩ rằng nó có hiệu quả nhưng đồng thời cũng khiến tôi sợ hãi. Cơ thể tôi dường như trải qua những thay đổi nằm ngoài khả năng nhận thức của tôi, và những gì tỏ ra tuyệt vời vào đêm này có thể sẽ trở nên khó khăn vào đêm tiếp theo. Zyprexa thì có tính an thần và khiến tôi ngủ quá nhiều, khoảng mười tiếng mỗi tối, nhưng tôi còn có Xanax bên mình cho những đêm hiếm hoi khi mà tôi bị tấn công bởi sự xúc động mạnh và không thể chợp mắt.

Có một sự thân mật lạ kỳ đến từ việc chia sẻ những câu chuyện về các cơn suy sụp tinh thần. Laura Anderson và tôi đã liên lạc với nhau gần như hàng ngày trong hơn ba năm, và trong suốt cơn suy sụp tinh thần thứ ba của tôi, cô đã tỏ ra rất chu đáo. Cô ấy đột nhiên xuất hiện trong cuộc đời tôi và chúng tôi đã phát triển một thứ tình bạn lạ kỳ và thân thiết: chỉ trong vòng vài tháng sau lá thư đầu tiên mà cô gửi cho tôi, tôi cảm thấy như thể tôi đã quen biết cô từ rất lâu rồi, và mặc dù sự liên lạc của chúng tôi – hầu hết là qua email nhưng đôi khi cũng bằng cả thư giấy hoặc bưu thiếp, thỉnh thoảng qua điện thoại, và một lần gặp mặt trực tiếp – vẫn hoàn toàn tách biệt với những phần khác của cuộc đời tôi, dù sao nó cũng quen thuộc đến mức trở nên, rất nhanh, gây nghiện. Nó mang hình hài của một câu chuyện tình, trải qua sự khám phá, hưng phấn, mệt mỏi, hồi sinh, thói quen, và sự sâu sắc. Ở những thời điểm mà Laura trở nên “quá cuồng nhiệt”, và trong giai đoạn đầu tiếp xúc tôi đôi khi đã chống lại cô ấy hoặc cố gắng hạn chế sự tiếp xúc giữa chúng tôi – nhưng tôi sớm cảm thấy trong những ngày hiếm hoi khi mà tôi không nghe được tin gì từ Laura như thể tôi vừa bỏ một bữa ăn hay mất ngủ một đêm vậy. Mặc dù Laura Anderson là một người bị chứng rối loạn lưỡng cực, những cơn hưng cảm của cô ấy ít rõ rệt hơn so với những cơn trầm cảm, và chúng dễ kiểm soát hơn hẳn – một tình trạng được biết đến với tên gọi rối loạn lưỡng cực loại hai. Cô ấy là một trong số rất nhiều người mà, bất kể việc kiểm soát dùng thuốc và điều trị và hành vi có cẩn thận ra sao, trầm cảm vẫn luôn trực chờ sẵn – có những ngày cô ấy có thể thoát khỏi nó nhưng vào những ngày khác thì không, và cô ấy chẳng thể làm gì được để ngăn nó lại.

Cô gửi cho tôi lá thư đầu tiên vào tháng Một năm 1998. Đó là một bức thư tràn đầy hi vọng. Cô ấy đã đọc câu chuyện trên báo của tôi về chứng trầm cảm, và cô cảm thấy rằng chúng tôi như đã quen biết từ lâu. Cô cho tôi số điện thoại nhà và bảo rằng tôi có thể gọi vào bất kỳ khi nào bất kỳ giờ nào mà tôi muốn, và cô ấy cũng ghi ra một danh sách những album nhạc đã giúp cô ấy vượt qua được những khoảng thời gian tồi tệ và một trong những cuốn sách mà cô ấy nghĩ rằng tôi sẽ trở nên như vậy khi bị bệnh. Cô sống ở Austin, Texas, bởi vì đó là nơi mà bạn trai cô sống, nhưng cô có phần cô đơn và buồn chán ở đó. Cô bị trầm cảm quá nặng để có thể làm việc, dù rằng cô có hứng thú với mảng dịch vụ công và hi vọng rằng mình sẽ tìm được một công việc ở nghị viện bang Texas. Cô kể với tôi với tôi rằng cô đã dùng Prozac, Paxil, Zoloft, Wellbutrin, Klonopin, BuSpar, Valium, Librium, Ativan, và “dĩ nhiên là Xanax” và hiện đang dùng một số loại thuốc trong đó và cả Depakote và Ambien. Cô gặp vấn đề với vị bác sĩ tâm thần của mình, “từ bỏ-bác sĩ-đoán xem để chuyển sang vị bác sĩ thứ bốn mươi chín.” Có điều gì đó ở cô đã hấp dẫn tôi, và tôi hồi âm theo cách nồng nhiệt nhất có thể.

Lần tiếp theo tôi nghe được từ cô ấy là vào tháng Hai. “Thuốc Depakote không phát huy tác dụng,” cô viết. “Tôi thấy nản lòng vì việc mất ký ức và bị run tay và nói lắp và quên mất chỗ để bật lửa trong khi đã phải mất tới bốn mươi phút để tìm ra thuốc lá và cái gạt tàn. Tôi nản lòng bởi vì căn bệnh đối với tôi dường như rành rành là chứng rối loạn đa cực trong nhiều trường hợp – nó khiến cho tôi ước gì Lévi-Strauss[2] chưa từng khiến ta biết tới sự đối lập nhị phân. Việc đạp xe đối với tôi cũng phức tạp như là định nghĩa về tiền tố. Tôi tin rằng có tới bốn mươi sắc độ khác nhau của màu đen, và tôi không thích nhìn vào điều này trên thang đo tuyến tính – tôi nhìn nhận nó như một vòng tròn nhiều hơn và một chu kỳ nơi mà bánh xe quay quá nhanh và ham muốn được chết có thể thâm nhập vào bất kỳ một cuộc nói chuyện nào. Tôi nghĩ tới việc đến bệnh viện kiểm tra trong tuần này, nhưng tôi đã tới đó đủ nhiều để biết rằng tôi sẽ không được sử dụng chế độ cài đặt stereo cho chiếc tai nghe của mình, hay dùng kéo để làm thiệp Valentine, và rằng tôi sẽ nhớ những chú chó của mình, và rằng tôi sẽ hoảng sợ nếu như không có bạn trai Peter bên cạnh, và sẽ thấy nhớ anh ấy khủng khiếp, người vẫn yêu tôi sau tất cả những trận nôn mửa và giận dữ và sự không ngơi nghỉ và việc không làm tình và rằng tôi sẽ phải nằm trong hành lang bệnh viện hoặc bị nhốt trong một căn phòng để bị giám sát trước ý định tự tử và những điều tương tự như thế - ôi, không xin cảm ơn. Tôi khá tự tin rằng với những loại thuốc đang giữ cho tôi ở trên đường xích đạo – giữa hai đầu cực của trái đất – rằng tôi sẽ không sao cả.”

Khi mùa xuân đến, tinh thần của cô ấy được cải thiện. Vào tháng Năm, cô có thai và rất phấn khởi về việc sinh em bé. Tuy nhiên, cô cũng biết rằng thuốc Depakote có liên quan tới tật nứt đốt sống và phát triển não bộ không bình thường; cố gắng ngưng sử dụng nó; lo lắng rằng mình ngừng thuốc quá trễ; bắt đầu mất ổn định; và rồi viết ngay cho tôi, “Lúc này đây tôi đang ở trong tâm trạng buồn và sốc sau khi phá thai. Tôi đoán rằng việc trở lại dùng thuốc là mặt tốt đẹp đối với tôi vào lúc này. Tôi cố gắng không tức giận hay phẫn uất về điều này, nhưng đôi khi nó dường như thật bất công. Hôm nay là một ngày trời trong xanh, có gió nhẹ ở Austin và tôi tự hỏi rằng tại sao mình lại cảm thấy trống rỗng đến thế. Anh thấy không? Bất cứ điều gì – dù là một phản ứng thông thường trước một khó chịu nhỏ – cũng khiến tôi rơi vào lo lắng về một cơn trầm cảm có thể sắp diễn ra. Mặc dù tôi đang ở trong một làn sương mù của sự lờ đờ, cục cằn khi dùng Valium: đau đầu và căng thẳng vì khóc.”

Mười ngày sau đó, cô ấy viết, “Tôi đã ổn định lại – có lẽ là rơi xuống sâu hơn mức tôi muốn, nhưng không ở vào mức độ đáng lo ngại. Tôi đã thay bác sĩ và đổi thuốc – từ Depakote sang Tegretol, cùng với Zyprexa để đẩy nhanh tác dụng của Tegretol. Zyprexa thực sự khiến tôi trở nên chậm chạp. Các tác dụng phụ về mặt cơ thể đối với chứng bệnh tâm thần dường như là một sự sỉ nhục! Tôi nghĩ rằng với tất cả những thứ thuốc mà tôi sử dụng, hiện giờ tôi đã đủ điều kiện để được xếp vào hạng Chuyên gia Trầm cảm. Dầu vậy – tôi gặp phải chứng quên kỳ lạ này – tôi đâm ra không tài nào nhớ được, khi nào một giờ là một giờ chân thật, rằng trầm cảm đáng sợ đến nhường nào – đẩy một người vào những phút giây bất tận. Tôi quá đỗi mệt mỏi, quá kiệt sức trước việc cố gắng luận ra tôi là ai khi mà tôi ‘ổn’ – những gì là bình thường hay có thể chấp nhận được ở nơi tôi.”

Vài ngày sau đó cô viết, “Sự nhận biết về bản thân mang đến rất nhiều chiều sâu về tính cách con người – như là một kết quả, hầu hết những người bạn mà tôi có được trong suốt tám hay chín năm qua đều khá bình thường. Điều này khiến tôi trở nên cô đơn, khiến tôi cảm thấy mình ngu ngốc. Ví dụ như, tôi vừa gọi cho một người bạn rất thân (và khắt khe) ở West Virginia, muốn được nghe giải thích rằng vì sao tôi lại không tới thăm cô ấy và em bé mới sinh của mình. Tôi phải nói gì bây giờ? Rằng tôi cũng muốn tới đó lắm nhưng lại bận rộn với việc làm sao để không phải vào viện tâm thần ư? Điều ấy thật nhục nhã – thật hèn hạ. Nếu như tôi biết rằng mình sẽ không bị phát hiện, tôi sẽ muốn nói dối về điều đó – bịa ra một chứng bệnh ung thư có lẽ là điều có thể chấp nhận được, rằng nó đã xuất hiện và biến mất, rằng mọi người có thể sẽ hiểu – rằng điều đó sẽ không khiến họ hoảng sợ và cảm thấy khó chịu.”

Laura vẫn luôn bị cản trở; mọi phần của đời cô đều được định nghĩa quanh căn bệnh của cô. “Chẳng hạn như là trong chuyện hẹn hò yêu đương: tôi cần người tôi hẹn hò phải tự chăm sóc được cho bản thân mình, bởi vì việc tôi tự lo cho mình cũng đã ngốn rất nhiều năng lượng, và tôi không thể chịu trách nhiệm trước mọi cảm giác tổn thương nhỏ xíu mà người đó gặp phải. Có phải thật kinh khủng khi cảm nhận như vậy về tình yêu hay không? Cũng rất khó để kiểm soát sự nghiệp nữa – những công việc ngắn hạn, rồi cả quãng thời gian trống giữa chúng. Ai mà thèm nghe cái hi vọng của anh về một loại thuốc mới kia chứ? Làm sao mà anh đòi người khác phải hiểu cho mình được? Trước khi tôi từng mắc phải căn bệnh này, tôi có một người bạn thân bị bệnh trầm cảm. Tôi đã lắng nghe mọi điều mà cậu ấy nói như thể chúng tôi hiểu cùng một thứ ngôn ngữ vậy, rồi tôi nhận ra rằng đó là bởi vì trầm cảm đã lên tiếng, hay dạy cho anh, một ngôn ngữ hoàn toàn khác.”

Trong những tháng tiếp theo, cô ấy có vẻ như đang vật lộn với điều gì đó mà cô có thể cảm nhận được. Trong khi ấy, cô và tôi tiếp tục cái công việc tìm hiểu nhau. Tôi biết được rằng cô ấy từng bị lạm dụng khi còn là một thiếu niên và bị cưỡng hiếp ở tuổi đôi mươi, và mỗi một sự kiện ấy đều để lại một dấu ấn sâu sắc. Cô đã kết hôn khi hai mươi sáu tuổi và trải qua cơn trầm cảm đầu tiên vào một năm sau đó. Chồng cô dường như không thể đối mặt được với điều đó, và cô ấy thì đối mặt với chuyện này bằng cách uống rượu vô độ. Vào mùa thu, cô trở nên hơi hưng cảm và đi khám bác sĩ, bác sĩ nói rằng cô chỉ đang căng thẳng thôi và cho cô dùng Valium. “Sự hưng cảm bao trùm lấy tâm trí tôi nhưng cơ thể tôi lại trở nên chậm chạp kinh khủng,” sau này cô ấy nói với tôi. Trong bữa tiệc Giáng sinh mà cô và chồng mình tổ chức vào một tháng sau đó, cô đã nổi điên và ném đĩa cá hồi vào người chồng. Rồi cô lên lầu và uống cả lọ Valium. Anh ấy phải đưa cô đi cấp cứu và nói với các nhân viên y tế rằng anh không thể đối phó với cô; cô được đưa vào khoa tâm thần và ở lại đó qua dịp lễ Giáng sinh. Khi cô ra viện, bị tác động bởi việc dùng thuốc quá nhiều, “cuộc hôn nhân này kết thúc. Chúng tôi gần như lê lết qua năm mới, nhưng Giáng sinh tiếp theo tôi đã tới Paris, và tôi nhìn anh ấy ở phía bên kia bàn ăn và nghĩ, ‘Lúc này mình chẳng hề hạnh phúc hơn so với khi ở bệnh viện vào một năm trước.’ ” Cô rời khỏi ngôi nhà của họ; gặp được người bạn trai mới không lâu sau đó; và chuyển tới Austin với anh ta. Căn bệnh trầm cảm diễn ra khá thường xuyên sau đó, ít nhất là một năm một lần.

Vào tháng Chín năm 1998, Laura viết cho tôi để kể vắn tắt về “nỗi âu lo khủng khiếp.” Vào giữa tháng Mười cô bắt đầu chìm sâu và cô biết điều đó. “Tôi chưa hoàn toàn ở trong tình trạng trầm cảm, nhưng tôi đang suy sụp một chút – ý tôi là tôi cần phải tập trung vào mỗi việc tôi làm hơn rất nhiều. Lúc này tôi chưa hoàn toàn bị trầm cảm, nhưng tôi đã bước vào sự suy thoái.” Cô bắt đầu sử dụng Wellbutrin. “Tôi ghét cái cảm giác xa cách với mọi thứ,” cô ca thán. Ngay sau đó, cô dành nhiều ngày ở trên giường. Các loại thuốc đã thất bại một lần nữa. Cô cách ly bản thân mình khỏi những người xa lạ và chỉ chú ý tới những con chó của mình. “Khi sự thèm ăn bình thường của tôi bị giảm sút bởi trầm cảm – hay những nhu cầu của tôi trước việc cười đùa, sex, thức ăn – chỉ có những chú chó mới mang tới cho tôi những khoảng khắc thực sự quý giá.”

Vào đầu tháng Mười một cô thông báo, “Hiện giờ tôi tắm bồn bởi vì nước từ vòi sen đập vào người tôi quá nhiều vào buổi sáng và dường như, vào những ngày này, đó là một cách quá đỗi dữ dội để bắt đầu ngày mới. Việc lái xe đòi hỏi cả một nỗ lực. Cũng như là việc đi tới quầy ATM, hay mua sắm vậy – bất kỳ điều gì mà anh có thể kể ra.” Cô thuê bộ phim The Wizard of Oz để làm mình xao nhãng, nhưng “những đoạn buồn khiến tôi bật khóc.” Sự thèm ăn của cô hoàn toàn biến mất. “Hôm nay tôi thử ăn món cá ngừ, nhưng nó khiến tôi bị nôn, nên tôi chỉ ăn một ít cơm mà tôi đã nấu cho lũ chó.” Cô than thở rằng thậm chí cả việc đi khám cũng khiến cô cảm thấy tồi tệ. “Thật khó để có thể thành thật với ông ấy về việc tôi cảm thấy thế nào bởi vì tôi không muốn làm ông ấy thất vọng.”

Chúng tôi tiếp tục duy trì việc trao đổi thư từ hàng ngày; khi tôi hỏi Laura rằng chẳng lẽ cô không cảm thấy việc viết thư cũng khó khăn hay sao, cô nói, “Chú ý tới người khác là cách thức đơn giản nhất để nhận được sự chú ý từ họ. Đó cũng là cách đơn giản nhất để giữ ý thức về bản thân. Tôi cần phải chia sẻ sự ám ảnh về bản thân. Vào lúc này tôi nhận thức được nó rất rõ trong cuộc đời mình nên tôi rên lên mỗi khi gõ chữ ‘tôi.’ (Ôi. Ôi.) Toàn bộ ngày cho tới lúc này trở thành một bài tập của việc ÉP BUỘC bản thân tôi làm những điều nhỏ nhặt nhất và cố gắng đánh giá tình trạng của mình nghiêm trọng ra sao – Tôi có thật sự trầm cảm không? Hay tôi chỉ lười thôi? Liệu nỗi lo lắng này xuất phát từ việc uống quá nhiều cà phê hay là bởi quá nhiều thuốc chống trầm cảm? Cái quá trình tự vấn này khiến tôi bật khóc. Điều làm cho mọi người khó chịu là họ không thể LÀM được gì để giúp cho người khác ngoại trừ việc có mặt ở đó. Tôi tin rằng email là thứ giúp cho tôi được tỉnh táo! Dấu chấm than là một sự phóng đại nho nhỏ.”

Cuối tuần đó: “Lúc này đang là mười giờ sáng và tôi đã bị choáng ngợp bởi ý tưởng về ngày hôm nay. Tôi cứ cố gắng, và cố gắng. Tôi cứ đi vòng quanh khi những giọt nước mắt rơi đều như lời tụng kinh vậy, ‘Không sao. Không sao đâu,’ và hít vào thật sâu. Mục tiêu của tôi là giữ cho mình được an toàn giữa sự phân tích bản thân và hủy hoại bản thân. Tôi chỉ cảm thấy như thể lúc này mình đang khiến những người khác cũng phải kiệt sức, trong đấy có cả anh nữa. Tôi đòi hỏi quá nhiều trong khi chẳng thể đáp lại bất cứ điều gì. Dù vậy, tôi nghĩ là nếu như tôi mặc vào bộ đồ mà mình yêu thích, búi tóc lên và dẫn chó đi dạo, thì có lẽ tôi sẽ cảm thấy đủ tự tin để đi tới cửa hàng và mua một hộp nước cam.”

Ngay trước lễ Tạ ơn cô viết, “Ngày hôm nay tôi xem lại những tấm ảnh cũ, và chúng có vẻ như được chụp lại từ cuộc đời của một ai đó khác. Đúng là một sự đánh đổi của thuốc men.” Nhưng ngay sau đó, ít nhất là cô đã có được sự tiến triển. “Hôm nay tôi có được một vài thời điểm tốt đẹp,” cô viết cho tôi vào cuối tháng. “Xin hãy cho tôi có thêm được những khoảnh khắc như vậy nữa, từ bất kỳ ai sẵn lòng bố thí chúng. Tôi đã có thể đi giữa đám đông và không cảm thấy tự ti.” Ngày hôm sau cô lại bị tái phát nhẹ. “Tôi đã cảm thấy khá hơn và hi vọng rằng đó là sự khởi đầu của một điều gì đó tuyệt vời, nhưng hôm nay tôi có nhiều lo lắng, về sự thụt lùi, chiếc túi dây rút của vô số những điều hỗn loạn. Nhưng tôi vẫn còn hi vọng, là điều sẽ hữu ích vào lúc này.” Ngày tiếp theo, mọi việc trở tệ hơn. “Tâm trạng tôi tiếp tục ảm đạm. Hoảng loạn vào buổi sáng và khốn khổ bất lực lúc chiều muộn.” Cô tả lại việc đi dạo công viên cùng bạn trai của mình. “Anh ấy mua một cuốn bách khoa thư nhỏ về các loại cây. Trong miêu tả về một loại cây, có ghi, ‘MỌI BỘ PHẬN ĐỀU CÓ CHẤT ĐỘC GÂY CHẾT NGƯỜI’ Tôi nghĩ rằng có lẽ tôi sẽ tìm được cái cây ấy, ăn một hoặc hai chiếc lá, và nằm co ro dưới hàng rào đá bao quanh nó và cứ thế chết đi. Ngày hôm nay tôi thấy nhớ cái con người Laura thích được mặc vào bộ đồ bơi và nằm sưởi nắng và nhìn về phía bầu trời xanh, xanh ngắt! Con người ấy đã bị lôi ra khỏi tôi bởi một tên phù thủy độc ác và bị thay thế vào đó bằng một kẻ khủng khiếp! Trầm cảm đã lấy đi bất cứ điều gì mà tôi thật sự, thật sự thích về bản thân mình (mà ngay từ đầu cũng chẳng nhiều nhặn gì cho lắm). Cảm thấy vô vọng và đầy tuyệt vọng chỉ là một cách thức chậm chạp hơn để đi đến cái chết. Tôi cố gắng vượt qua những tảng đá sợ hãi ấy. Tôi có thể thấy được vì sao người ta lại gọi như thế là ‘tang thương’ ”

Nhưng một tuần sau đó cô ấy cảm thấy khá hơn rõ rệt. Rồi đột nhiên, ở cửa hàng 7-Eleven, cô mất tự chủ khi một người đàn ông đứng sau quầy thanh toán gọi tên người khác tiến lên thanh toán trước cô. Với một cơn thịnh nộ hoàn toàn không phải là tính cách của cô, cô hét lên, “CHÚA ƠI! Đây là cửa hàng tiện dụng hay chỗ bán xúc xích chó chết đây?” và bỏ lại lon soda mà lao ra ngoài. “Đó chỉ là một cuộc leo núi. Tôi thấy quá mệt khi nói về nó, nghĩ về nó.” Khi bạn trai cô nói rằng anh yêu cô, cô bật khóc nức nở. Ngày hôm sau cô cảm thấy khá hơn và ăn hai bữa và mua cho mình một đôi tất. Cô vào công viên đi dạo và bỗng nhiên muốn được ngồi xích đu. “Trong khi tôi trải qua tuần vừa rồi với cảm giác bị tụt lùi trở lại, cảm giác được ngồi xích đu thật là tuyệt vời. Anh sẽ có cái cảm giác trái ngược: một cảm giác nhẹ bỗng dâng lên trong lồng ngực, và gió thổi bên tai, như khi anh lái xe lên một ngọn đồi vừa đủ nhanh. Thật là tuyệt khi thực hiện một việc đơn giản đến thế; tôi bắt đầu cảm thấy về bản thân mình nhiều hơn một chút, và một cảm giác về việc trở nên nhẹ nhõm và cảm giác về sự thông minh và sáng sủa quay trở lại. Tôi sẽ không hi vọng quá nhiều nữa, mà chỉ là cảm giác rằng không có những lo lắng khó hiểu, không có cái gánh nặng hay sự buồn bã không thể giải nghĩa được, cảm thấy thật giàu có và thật và tốt đẹp trong cùng một lúc, tôi không cảm thấy muốn khóc. Tôi biết những cảm giác khác rồi sẽ quay trở lại, nhưng tôi nghĩ rằng tôi sẽ có được sự nhẹ nhõm vào đêm nay, từ Chúa và từ chiếc xích đu, như một lời nhắc nhở rằng cần phải biết hi vọng và nhẫn nại, những điềm may rồi sẽ tới.” Vào tháng Mười hai, cô có phản ứng xấu với lithium; nó khiến cho da cô khô nẻ. Cô giảm liều lượng thuốc và chuyển sang dùng Neurontin. Có vẻ như là hiệu quả. “Cảm giác được quay trở lại trung tâm, một trung tâm, được biết đến với tên gọi TÔI thật là tốt đẹp và chân thật,” cô viết.

Tháng Mười tiếp theo, chúng tôi cuối cùng cũng gặp nhau. Cô đang ở cùng với mẹ mình ở Waterford, Virginia, một thị trấn cổ xinh đẹp ở bên ngoài Washington, nơi mà cô từng lớn lên. Khi ấy tôi quý cô đến mức tôi chẳng thể tin rằng chúng tôi chưa từng gặp gỡ. Tôi bắt tàu đến đó và cô tới gặp tôi tại nhà ga, mang theo người bạn Walt của cô, người mà tôi cũng mới gặp lần đầu tiên. Cô có mái tóc vàng, vóc người thon thả, và xinh đẹp. Nhưng thời gian ở bên gia đình đã gợi lại quá nhiều ký ức và cô không ổn cho lắm. Cô vô cùng lo lắng, lo lắng đến mức cô gặp khó khăn trong việc nói chuyện. Trong tiếng thì thầm khàn khàn, cô xin lỗi vì điều kiện sức khỏe của mình. Mỗi cử động của cô rõ ràng là một nỗ lực khổng lồ. Cô nói rằng tâm trạng cô rất xấu suốt cả tuần nay. Tôi hỏi rằng liệu có phải tôi đã góp phần gây thêm căng thẳng, cô khăng khăng với tôi rằng không phải vậy. Chúng tôi đi ăn trưa, và cô gọi món sò. Cô có vẻ như không thể ăn nổi chúng; tay cô run rẩy dữ dội, và trong lúc cô cố gắng cậy mở lớp vỏ của một vài con sò, cô làm cho nước sốt văng tung tóe. Cô có vẻ như chẳng thể vừa ăn và vừa nói chuyện trong cùng lúc, vì vậy nên Walt và tôi nói chuyện với nhau. Anh ấy tả lại sự xuống dốc từ từ của Laura trong tuần này, và cô tạo nên một ít âm thanh của sự đồng ý. Giờ thì cô đã từ bỏ hẳn món sò và tập trung toàn bộ sự chú ý vào ly rượu vang trắng. Tôi khá là sốc; cô ấy đã cảnh báo tôi rằng sự việc khá nặng nề, nhưng tôi chưa kịp chuẩn bị trước tình cảnh này.

Chúng tôi đưa Walt về và rồi tôi lái xe thay Laura bởi vì cô quá run rẩy để có thể lái xe. Khi chúng tôi về đến nhà, mẹ cô tỏ ra lo lắng. Laura và tôi nói chuyện một cách rời rạc; cô ấy dường như đang nói chuyện từ một chốn xa xôi nào đó. Và rồi khi chúng tôi cùng xem một vài bức hình, cô bỗng nhiên bị ‘mắc kẹt’. Nó không hề giống với bất kỳ điều gì mà tôi từng chứng kiến hay tưởng tượng đến. Cô kể cho tôi về người ở trong những bức hình và cô cứ tự nhắc đi nhắc lại. “Đấy là Geraldine,” cô nói, và rồi cô nhăn nhó và bắt đầu lại, chỉ vào bức hình, “Đấy là Geraldine,” và rồi lặp lại, “Đấy là Geraldine,” mỗi lần lại mất nhiều thời gian hơn để phát âm những âm tiết ấy. Mặt cô cứng lại và cô có vẻ gặp vấn đề với đôi môi của mình. Tôi gọi mẹ cô và anh trai của cô, Michael. Michael đặt tay lên vai Laura và nói, “Ổn rồi, Laura. Ổn rồi.” Cuối cùng chúng tôi cũng đưa được cô lên gác; cô vẫn cứ nói đi nói lại, “Đấy là Geraldine.” Mẹ cô thay quần áo cho cô và đỡ cô nằm xuống giường và ngồi bên cạnh và vuốt ve tay cô. Buổi hẹn hầu như không giống với những gì mà tôi dự đoán.

Hóa ra, một số loại thuốc mà cô sử dụng có ảnh hưởng xấu nên đã gây ra sự co giật này; thực ra chúng là nguyên nhân gây nên sự co cứng kỳ lạ lúc chiều, việc mất giọng nói, sự lo lắng thái quá. Vào cuối ngày, cô trải qua thời điểm tệ nhất, “tất cả màu sắc đều đã rút hết khỏi tâm hồn tôi, tất cả những phần tôi của tôi mà tôi từng yêu; tôi trở thành cái xác búp bê của những gì tôi đã từng là.” Cô nhanh chóng chuyển sang chế độ sinh dưỡng mới. Cho tới tận Giáng sinh cô mới có thể bắt đầu cảm thấy là chính mình một lần nữa; và rồi vào tháng Ba năm 2000, khi mà mọi việc đang tiến triển tốt đẹp, cô lại lên cơn co giật. “Tôi rất sợ,” cô viết cho tôi’. “Và rất nhục nhã. Thật thảm hại khi cái tin tức tốt nhất mà anh có thể chia sẻ chính là anh không bị co giật.” Sáu tháng sau đó, chúng lại diễn ra. “Tôi không thể tiếp tục đón nhận cuộc sống của mình nữa,” cô nói với tôi. “Tôi sợ những cơn co giật đến nỗi tôi bắt đầu lo lắng – hôm nay tôi rời khỏi nhà để đi làm và tôi bị nôn trong lúc lái xe. Tôi đã phải về nhà và thay quần áo để có thể tới được chỗ làm, và vì vậy mà tôi đã đi trễ, và tôi bảo với họ rằng tôi bị co giật nhưng họ lại gửi thư cảnh cáo tôi. Bác sĩ của tôi muốn tôi dùng Valium, nhưng thứ thuốc ấy khiến tôi bị mê man. Đây là cuộc sống của tôi vào lúc này. Nó sẽ luôn là cuộc sống của tôi, những chuyến lao dốc kinh khủng xuống đi ngục. Những kí ức kinh hoàng. Liệu tôi còn có thể chịu được cuộc sống kiểu này bao lâu nữa?”

Liệu tôi còn có thể tiếp tục sống theo cái cách mà tôi đang sống? Ôi, liệu có ai trong chúng ta có thể chịu đựng được cái cuộc sống với những khó khăn của chính mình hay không? Rốt cuộc, hầu hết chúng ta đều làm được. Chúng ta vẫn tiến về phía trước. Những tiếng nói trong quá khứ quay trở lại như những tiếng vọng của người chết để thương cảm về sự thay đổi và trôi qua của năm tháng. Khi tôi buồn, tôi nhớ được quá nhiều, quá rõ: vẫn luôn là mẹ và tôi khi chúng tôi ngồi trong gian bếp và nói chuyện, từ lúc tôi năm tuổi cho tới khi bà mất năm tôi hai mươi bảy tuổi; về cái cây xương rồng của bà tôi luôn nở hoa vào dịp Giáng sinh cho tới khi bà mất năm tôi hai nhăm tuổi; khoảng thời gian ở Paris giữa những năm tám mươi cùng với người bạn Sandy của mẹ, người muốn tặng chiếc mũ màu xanh của bà cho Joan of Arc, cô Sandy mất vào hai năm sau đó; ông bác Don và bà dì Betty và những viên kẹo sô-cô-la trong ngăn ngăn tủ; những người anh em họ Helen và Alan của cha tôi, dì tôi Dorothy, và tất cả những người đã mất. Tôi nghe thấy giọng người đã khuất vào mọi lúc. Ban đêm là khi mà những con người ấy và cái bản thể xưa cũ của tôi viếng thăm mình, và khi tôi thức dậy và nhận ra rằng họ không ở trong cùng một thế giới với tôi, tôi cảm thấy tuyệt vọng đến lạ, có gì đó vượt xa cả nỗi buồn thông thường và gần giống như vậy, trong một khoảnh khắc, trước nỗi thống khổ của sự tuyệt vọng. Và mặc dù nếu như tôi nhớ họ và cái quá khứ mà họ đã tạo nên và với tôi, cái cách mà tình yêu vắng mặt của họ ngự trị, tôi biết, trong sự sống, trong việc tiếp tục ở lại. Liệu có phải bởi vì trầm cảm mà tôi mới muốn được đến nơi họ đang ở đến thế, và để dừng lại cái cuộc đấu tranh điên cuồng nhằm duy trì sự sống này? Hay đó chỉ đơn giản là một phần của cuộc sống, để tiếp tục sống theo tất cả những cách mà ta không tài nào chịu đựng nổi?

Tôi nhận thấy sự thật về quá khứ, về thực tế rằng sự trôi đi của thời gian, thật vô cùng khó khăn. Ngôi nhà của tôi chứa đầy những quyển sách mà tôi không thể đọc và những bản ghi âm mà tôi không thể nghe và những bức ảnh mà tôi chẳng thể nhìn vào bởi vì chúng liên kết quá mạnh mẽ với quá khứ. Khi tôi gặp các bạn đại học của mình, tôi cố gắng không đả động nhiều về thời đại học bởi vì hồi ấy tôi hạnh phúc quá – không nhất thiết là hạnh phúc hơn tôi vào lúc này, nhưng là với một niềm hạnh phúc thật đặc biệt và cụ thể trong những tâm trạng đó và rằng nó sẽ chẳng bao giờ trở lại nữa. Những ngày tháng tuổi trẻ huy hoàng ấy nuốt trọn tôi. Tôi lao vào bức tường của niềm mãn nguyện về quá khứ trong mọi thời điểm, và đối với tôi sự mãn nguyện về quá khứ khó vượt qua hơn nhiều so với những đớn đau trong quá khứ. Để nghĩ về một quãng thời gian khủng khiếp đã trôi qua: ôi, tôi biết rằng sự căng thẳng sau chấn thương là một nỗi ưu phiền sâu sắc, nhưng với tôi những tổn thương trong quá khứ thật may mắn làm sao đều đã qua rồi. Tuy nhiên, niềm mãn nguyện của quá khứ lại thật khó quên. Ký ức về những khoảng thời gian tươi đẹp cùng với những người không còn tại thế, hay với những người không còn là con người họ trước kia nữa: đó là khi tôi cảm thấy đau đớn tồi tệ nhất trong hiện tại.  Đừng bắt tôi phải nhớ lại, tôi nói vậy với những mảnh vụn của những niềm vui trong quá khứ. Trầm cảm có thể dễ dàng là hệ quả của quá nhiều điều vui vẻ cũng như của quá nhiều điều khủng khiếp. Trên đời này cũng có cả thứ gọi là sự căng thẳng hậu-vui vẻ nữa. Sự trầm cảm tệ hại nhất nằm ở trong giây phút hiện tại khi mà ta không thể thoát khỏi cái quá khứ được lý tưởng hóa hoặc nỗi ân hận khôn nguôi.

(Hết chương 2)

[1] dexamphetamine: (tên thường gọi: dexamfetamine sulfate; tên thương mại: Aspen Dexamfetamine) loại thuốc dùng để chữa chứng bệnh rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) ở trẻ em và chứng ngủ rũ (narcolepsy).

menu
menu