Bộ não tự thay đổi chính nó - Chương 2.2

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-2-2

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Ở trường, một số học sinh nghe CD và ghi nhớ những bài thơ để cải thiện trí nhớ thính giác bị suy yếu. Những đứa trẻ này thường hay quên lời hướng dẫn và bị cho là vô trách nhiệm hoặc lười biếng, trong khi thực tế là chúng có một vấn đề về não bộ. Trong khi người bình thường có thể nhớ bảy mục không liên quan (chẳng hạn như số điện thoại bảy chữ số), những người này chỉ có thể nhớ hai hoặc ba. Một số người buộc phải ghi chú lại để không bị quên. Đối với các trường hợp nặng hơn, khi họ không thể theo lời bài hát từ đầu đến cuối và họ bị quá tải thì chỉ cần điều chỉnh lại. Một số người gặp khó khăn trong việc ghi nhớ không chỉ ngôn ngữ nói mà ngay cả suy nghĩ của chính họ, vì suy nghĩ với ngôn ngữ bị chậm. Khiếm khuyết này có thể được điều trị bằng các bài tập ghi nhớ học vẹt. 

Barbara cũng đã phát triển các bài tập não cho những đứa trẻ vụng về trong tương tác xã hội vì chúng có một điểm yếu trong chức năng não cho khả năng đọc được những tín hiệu phi ngôn ngữ. Các bài tập khác dành cho những người bị khiếm khuyết ở thùy trán và những người bốc đồng hoặc khó khăn trong việc lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, sắp xếp những gì có liên quan, hình thành mục tiêu và bám sát chúng. Họ thường tỏ ra vô tổ chức, hay thay đổi, gàn dở và không thể học hỏi từ những sai lầm của mình. Barbara tin rằng nhiều người được gắn mác "cuồng loạn hysterical " hoặc "chống đối xã hội" có những điểm yếu trong khu vực não bộ này. 

Các bài luyện tập não bộ cũng chính là bài tập để thay đổi cuộc đời. Một sinh viên đã tốt nghiệp người Mĩ nói với tôi rằng khi anh bắt đầu đi học ở độ tuổi mười ba, kỹ năng đọc và làm toán của anh vẫn ở cấp độ của học sinh lớp ba. Sau khi làm bài kiểm tra đánh giá tâm thần kinh ở trường đại học Tufts, anh được cho biết rằng anh sẽ không bao giờ tiến bộ. Mẹ anh đã thử cho anh học ở mười trường khác nhau dành cho học sinh bị khuyết tật học tập, nhưng không mang lại kết quả. Sau ba năm học ở trường Arrowsmith, anh đã đọc và làm toán ở cấp độ của học sinh lớp mười. Bây giờ anh ấy đã tốt nghiệp đại học và làm việc trong ngành đầu tư mạo hiểm. Một sinh viên khác đã đến với Arrowsmith năm mười sáu tuổi nhưng kỹ năng đọc mới ở cấp độ học sinh lớp một. Cha mẹ anh và các giáo viên đã thử mọi kỹ thuật bù trừ theo tiêu chuẩn. Sau mười bốn tháng học ở Arrowsmith anh ta đọc ở cấp độ của học sinh lớp bảy. 

Barbara Arrowsmith Young

Ai ai cũng có một số chức năng não bộ bị yếu, và những kỹ thuật dựa trên tính dẻo của thần kinh có tiềm năng rất lớn trong việc giúp đỡ hầu như tất cả mọi người. Những điểm yếu của chúng ta có thể ảnh hưởng sâu sắc đến thành công trong sự nghiệp của chúng ta, vì hầu hết các ngành nghề đều yêu cầu sử dụng nhiều chức năng của não. Barbara đã sử dụng các bài tập não để giải cứu một nghệ sĩ tài năng, người có khả năng vẽ và cảm nhận màu sắc hàng đầu nhưng khả năng nhận biết hình dạng của các vật thể lại yếu. (Khả năng nhận ra hình dạng phụ thuộc vào một chức năng não khá khác biệt so với các chức năng cần thiết để vẽ hoặc nhìn thấy màu sắc; nó cũng là kỹ năng tương tự cho phép một số người rất giỏi trong những trò chơi game như Where's Waldo? Phụ nữ thường giỏi hơn đàn ông trong khả năng nhận diện hình dạng, điều đó lý giải tại sao đàn ông dường như gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đồ ăn trong tủ lạnh.) Barbara cũng giúp cho một luật sư, một luật sư đầy triển vọng, vì khiếm khuyết ở khu vực phát âm Broca, nên anh ấy ăn nói rất kém ở tòa. Một người với một vấn đề của vùng Broca có thể thấy khó mà suy nghĩ trong khi đang nói. 

Sau khi thực hành các bài tập não tập trung vào khu vực của Broca, luật sư tiếp tục sự nghiệp tại phòng xử án thành công.

Phương pháp tiếp cận Arrowsmith và việc sử dụng các bài tập luyện não bộ nói chung, có những ý nghĩa quan trọng cho giáo dục. Rõ ràng nhiều trẻ em sẽ được hưởng lợi từ việc đánh giá các vùng não để xác định những chức năng não bộ bị suy yếu của chúng và một chương trình để tăng cường chúng — một cách tiếp cận hiệu quả hơn nhiều so với việc dạy kèm chỉ đơn giản là lặp lại một bài học và dẫn đến sự thất vọng vô tận. Khi "các liên kết yếu trong chuỗi" được tăng cường, mọi người sẽ tiếp cận được những kỹ năng trước kia bị kìm hãm phát triển, họ cảm thấy được giải phóng rất nhiều. Một bệnh nhân của tôi, trước khi anh ta thực hiện các bài tập luyện não, có cảm giác rằng anh ta rất thông minh nhưng không thể phát huy được hết trí thông minh của mình. Trong một thời gian dài, tôi đã lầm tưởng những vấn đề của anh ấy chủ yếu do những xung đột tâm lý, như sợ cạnh tranh và những mâu thuẫn bị chôn giấu về chuyện vượt qua cha mẹ và anh chị em của mình. Những xung đột như vậy đã tồn tại và kìm giữ anh ta lại. Nhưng tôi đã nhận ra xung đột của anh ấy về việc học – mong ước né tránh nó – phần lớn do sự thất vọng kéo dài nhiều năm và một nỗi sợ thất bại dựa trên những giới hạn của bộ não anh ấy. Khi anh được giải thoát khỏi những khó khăn của mình bằng các bài tập của Arrowsmith, tình yêu học tập bẩm sinh của anh đã xuất hiện trở lại. 

Điều trớ trêu của phát hiện mới này là trong hàng trăm năm, các nhà giáo dục dường như đã cảm nhận được rằng bộ não của trẻ em phải được xây dựng thông qua các bài tập làm tăng độ khó nhằm tăng cường các chức năng não. Cho đến thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, một nền giáo dục cổ điển thường bao gồm việc học thuộc lòng những bài thơ dài bằng tiếng nước ngoài, giúp tăng cường trí nhớ thính giác (do đó tư duy bằng ngôn ngữ) và một sự cuồng tín đối với chữ viết tay, có thể giúp tăng cường khả năng vận động và do đó không chỉ giúp viết chữ đẹp mà còn làm tăng tốc độ và sự trôi chảy khi đọc và nói. Người ta cũng dành nhiều sự quan tâm để luyện nói chính xác và hoàn thiện cách phát âm từ vựng. Sau đó vào những năm 1960, các nhà giáo dục đã bỏ các bài tập truyền thống như vậy khỏi chương trình giảng dạy, vì chúng quá cứng nhắc, nhàm chán và "không liên quan". Nhưng việc bỏ đi các bài tập này cũng rất tai hại; vì chúng có thể là cơ hội duy nhất cho nhiều học sinh phải luyện tập chức năng não bộ một cách hệ thống, mang đến cho chúng ta sự trôi chảy khi làm việc với các biểu tượng. Đối với phần còn lại trong chúng ta, sự biến mất của những bài luyện tập này có thể góp phần dẫn đến sự giảm sút của khả năng hùng biện nói chung, vì muốn hùng biện tốt đòi hỏi phải có trí nhớ và một mức độ năng lực trí tuệ thính giác có thể xa lạ với chúng ta hiện nay. Trong những cuộc tranh luận Lincoln-Douglas năm 1858, các nhà tranh luận có thể nói thoải mái trong một tiếng đồng hồ hoặc hơn thế mà không cần nhìn giấy; còn ngày nay, nhiều học sinh được học trong các ngôi trường ưu tú nhất của chúng ta kể từ những năm 1960 lại thích kiểu thuyết trình bằng PowerPoint—một sự bù trừ cho vỏ não trước suy yếu. 

Công việc của Barbara Arrowsmith Young thôi thúc chúng ta tưởng tượng xem trẻ sẽ đạt thành tích tốt hơn nhiều thế nào nếu mọi đứa trẻ đều có một bản đánh giá về não bộ và nếu phát hiện ra các vấn đề thì một chương trình được thiết kế riêng được tạo ra nhằm tăng cường những khu vực não thiết yếu đó trong những năm đầu đời, thời điểm mà độ dẻo dai về thần kinh là lớn nhất.  

Tốt hơn hết là cần loại bỏ những vấn đề não bộ ngay từ trong trứng hơn là để cho đứa trẻ cài cắm vào đầu nó niềm tin rằng nó là đứa “ngu đần”, bắt đầu ghét học và ghét đến trường, và ngừng cải thiện những vùng não bị suy yếu, đánh mất sức mạnh mà chúng có thể có. Trẻ nhỏ thường có tiến bộ nhanh hơn thông qua các bài tập luyện não so với thanh thiếu niên, có lẽ vì trong một bộ não chưa trưởng thành, số lượng các kết nối giữa các tế bào thần kinh, hoặc khớp thần kinh, lớn hơn 50% so với não người trưởng thành. Khi chúng ta đến tuổi thiếu niên, một hoạt động "cắt tỉa trở lại" khổng lồ bắt đầu diễn ra trong não, và các kết nối synap và tế bào thần kinh chưa được sử dụng rộng rãi đột nhiên chết đi - một trường hợp kinh điển cho câu nói "sử dụng nó hoặc mất nó". It is probably best to strengthen weakened areas while all this extra cortical real estate is available. Những bài đánh giá não bộ có thể hữu ích ở các trường học và thậm chí ở bậc cao đẳng và đại học, khi nhiều sinh viên từng học rất tốt ở trường phổ thông nhưng lại sa sút khi vào đại học vì những chức năng não bộ yếu kém của họ bị quá tải bởi những yêu cầu ngày càng tăng của chương trình đại học. Ngay cả khi không gặp phải những vấn đề về não bộ, mọi người trưởng thành đều có thể hưởng lợi lạc từ đánh giá nhận thức dựa trên não, một bài kiểm tra thể lực nhận thức, để giúp họ hiểu rõ hơn về bộ não của chính họ. 

Mark Rosenzweig

Đã nhiều năm kể từ khi Mark Rosenzweig lần đầu tiên thực hiện các thí nghiệm về chuột đã truyền cảm hứng cho Barbara và cho cô thấy rằng môi trường phong phú và sự kích thích khiến não bộ phát triển. Trong nhiều năm, các phòng thí nghiệm của ông và những người khác đã chỉ ra rằng việc kích thích não khiến nó phát triển theo hầu hết mọi cách có thể tưởng tượng được. Những con vật được nuôi trong môi trường phong phú - được bao quanh bởi các động vật khác, đồ vật để khám phá, đồ chơi để lăn, thang để leo trèo và bánh xe chạy - học tốt hơn những động vật giống hệt về mặt di truyền nhưng được nuôi trong môi trường nghèo nàn. Acetylcholine, một chất hóa học não cần thiết cho việc học, cao hơn ở những con chuột được huấn luyện về các vấn đề không gian khó nhằn so với những con chuột được huấn luyện những vấn đề đơn giản hơn. Việc huấn luyện tinh thần hoặc cuộc sống trong môi trường phong phú làm tăng trọng lượng não lên 5 phần trăm trong vỏ não của động vật và lên đến 9 phần trăm trong các khu vực não mà việc huấn luyện kích thích trực tiếp. Các tế bào thần kinh được đào tạo hoặc kích thích phát triển thêm 25% các nhánh và tăng kích thước, số lượng kết nối trên mỗi tế bào thần kinh và nguồn cung cấp máu của chúng. Những thay đổi này có thể xảy ra muộn trong cuộc sống, mặc dù chúng không phát triển nhanh ở động vật già như ở những con non. Những hiệu quả tương tự của việc huấn luyện mà môi trường phong phú lên bộ não cũng được nhìn thấy ở tất cả các loài động vật được thử nghiệm cho đến nay. 

Khám nghiệm tử thi cho thấy giáo dục làm tăng số lượng các nhánh ở các tế bào thần kinh. Số lượng nhánh tăng lên khiến các nơ-ron cách xa nhau hơn, dẫn đến sự gia tăng về thể tích và độ dày của não. Quan điểm cho rằng bộ não giống như một cơ bắp phát triển nhờ tập thể dục không chỉ là một phép ẩn dụ. 

Một số thứ không bao giờ có thể được đặt lại với nhau. Nhật ký của Lyova Zazetsky chủ yếu vẫn là một chuỗi những suy nghĩ rời rạc cho đến cuối đời. Aleksandr Luria, người đã tìm ra ý nghĩa của những suy nghĩ rời rạc đó, thực sự không thể giúp được anh ta. Nhưng câu chuyện cuộc đời của Zazetsky đã giúp Barbara Arrowsmith Young có thể tự chữa lành cho chính mình và những người khác. 

Ngày hôm nay Barbara Arrowsmith Young thông minh và hài hước, không có những trở ngại đáng kể nào trong các hoạt động trí tuệ. Cô chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, từ đứa trẻ này sang đứa trẻ khác, một bậc thầy về nhiều kỹ năng.  

Cô ấy đã chỉ ra rằng trẻ em khuyết tật học tập có thể vượt xa sự bù đắp và khắc phục vấn đề tiềm ẩn của chúng. Giống như tất cả các chương trình tập thể dục não, phương pháp của cô ấy hiệu quả nhất và nhanh nhất đối với những người chỉ gặp khó khăn ở vài chức năng. Nhưng bởi vì cô ấy đã phát triển các bài luyện tập cho nhiều chứng rối loạn chức năng não, nên cô vẫn có thể trợ giúp cho những đứa trẻ mắc nhiều chứng khuyết tật học tập khác nhau — những trẻ giống như bản thân cô ấy, trước khi cô ấy tự tạo nên cho mình một bộ não tốt hơn.  

 

(hết chương 2)

menu
menu