Bộ não tự thay đổi chính nó (Chương 4.2)

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-4-2

Phải lòng một ai đó cũng đồng nghĩa với việc quên đi một tình yêu trong quá khứ; điều này cũng đòi hỏi sự quên đi ở cấp độ thần kinh.

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Eric Nestler, tại đại học University of Texas, đã chỉ ra cách sự nghiện ngập gây ra những thay đổi vĩnh viễn trong bộ não của động vật. Một liều duy nhất của nhiều loại thuốc gây nghiện sẽ tạo ra một loại protein được gọi là ΔFosB (phát âm là "delta Fos B"), tích tụ trong các tế bào thần kinh. Mỗi lần sử dụng thuốc, ΔFosB sẽ tích tụ nhiều hơn, cho đến khi nó bật công tắc điều khiển các gen, quyết định đến việc bật hoặc tắt gen nào đó. 

Việc bật công tắc này gây ra những thay đổi kéo dài sau khi ngừng thuốc, dẫn đến tổn thương không thể phục hồi đối với hệ thống dopamine của não và khiến con vật dễ bị nghiện hơn. Những chứng nghiện không liên quan đến thuốc, chẳng hạn như nghiện chạy và uống đồ ngọt, cũng dẫn đến sự tích tụ FosB và những thay đổi vĩnh viễn trong hệ thống dopamine.

Các nhà sản xuất nội dung khiêu dâm hứa hẹn mang đến niềm vui lành mạnh và giảm bớt căng thẳng tình dục, nhưng thứ họ cung cấp là sự nghiện ngập, ngưỡng chịu đựng và cuối cùng là giảm khoái cảm. Nghịch lý thay, những bệnh nhân nam mà tôi làm việc thường thèm khát phim khiêu dâm nhưng họ không thích nó.

Quan điểm thông thường là một người nghiện tìm lại chất gây nghiện để xoa dịu bản thân vì anh ta thích sự hưng phấn mà nó mang lại và không thích nỗi đau, khổ sở khi thiếu nó. Nhưng người nghiện dùng thuốc thường không trông mong đạt được khoái cảm, khi họ biết rằng họ không dùng đủ liều để khiến họ phê, và sẽ thèm khát nhiều hơn ngay cả trước khi họ bắt đầu ngưng. MUỐN và THÍCH là hai thứ khác nhau. Một người nghiện cảm thấy thèm thuốc vì bộ não ni-lông/dẻo của anh ta trở nên nhạy cảm với thuốc hoặc trải nghiệm. Độ nhạy cảm thì khác với ngưỡng chịu đựng. Khi ngưỡng chịu đựng tăng, người nghiện ngày càng cần nhiều thuốc hoặc phim porn hơn để có được khoái cảm; khi độ nhạy cảm tăng, anh ta ngày càng ít cần đến chất gây nghiện để thèm muốn nó mãnh liệt. Vì vậy, độ nhạy cảm làm tăng ham MUỐN, mặc dù không nhất thiết phải THÍCH. Chính sự tích tụ của ΔFosB, gây ra do tiếp xúc với một chất gây nghiện hoặc hoạt động gây nghiện, dẫn đến sự nhạy cảm. 

Nội dung khiêu dâm gây kích thích hơn là làm thỏa mãn vì chúng ta có hai hệ thống niềm vui riêng biệt trong não bộ, một hệ thống liên quan đến sự kích thích niềm vui/khoái cảm và một hệ thống liên quan đến thỏa mãn niềm vui. Hệ thống kích thích niềm vui liên quan đến niềm vui do “thèm muốn, khao khát” khi chúng ta tưởng tượng về điều gì đó mà mình khao khát, chẳng hạn như tình dục hay một bữa ăn ngon. Hóa chất thần kinh của nó chủ yếu liên quan đến dopamine, và nó làm tăng mức độ căng thẳng của chúng ta. 

Hệ thống niềm vui thứ hai liên quan đến sự thỏa mãn, hay niềm vui được đáp ứng, như thực sự được làm tình hay được ăn một bữa cơm, đó là một niềm vui/khoái cảm được thỏa mãn, làm dịu. Hóa chất thần kinh của nó dựa trên sự phóng thích endorphins, có liên quan đến thuốc phiện và đem lại một hạnh phúc bình an, sảng khoái. 

Nội dung khiêu dâm cung cấp các chủ đề tình dục vô tận, làm tăng cường hệ thống “thèm muốn, khao khát”. Những người xem phim khiêu dâm phát triển bản đồ mới trong bộ não của họ, dựa trên những bức ảnh và video họ đã xem. Bởi vì đây là một nguyên tắc của bộ não “sử dụng nó hoặc mất nó”, khi chúng ta đã phát triển một khu vực bản đồ, thì chúng ta mong muốn tiếp tục duy trì nó. Giống như cơ bắp của chúng ta trở nên thiếu kiên nhẫn với việc tập thể dục nếu chúng ta thường ngồi ì một chỗ suốt cả ngày, tương tự thế, các giác quan của chúng ta cũng thèm được kích thích. 

Những người đàn ông ngồi trước máy tính để xem phim porn cũng giống như những con chuột trong lồng của NIH, nhấn vào nút để nhận được một liều dopamine hoặc phần thưởng tương đương. Mặc dù họ không biết điều đó, nhưng họ đang bị lôi cuốn vào những buổi huấn luyện nội dung khiêu dâm thỏa mọi điều kiện cần thiết cho sự thay đổi tính dẻo của bản đồ não. Vì những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, những người đàn ông đó đã dành nhiều thời gian thực hành kết nối những hình ảnh porn vào các trung tâm khoái lạc của bộ não, cùng với sự chú ý chăm chú cần thiết cho sự thay đổi tính dẻo. Họ tưởng tượng về những hình ảnh này khi rời máy tính, hoặc trong lúc đang làm tình với bạn gái của họ, đã củng cố chúng. Mỗi lần họ thấy hưng phấn tình dục và đạt cực khoái khi thủ dâm, một liều dopamine, chất dẫn truyền thần kinh tưởng thưởng, đã củng cố những mối liên kết được tạo thành trong bộ não; trong các phiên. Phần thưởng không chỉ tạo thuận lợi cho hành vi; mà nó còn khiến họ không cảm thấy xấu hổ khi mua tạp chí Playboy tại cửa hàng. Đây là một hành vi không có “hình phạt”, mà chỉ có phần thưởng. Những nội dung mà họ thấy kích thích đã thay đổi khi trang web đưa vào những chủ đề và kịch bản porn mới làm thay đổi bộ não của họ mà họ không nhận ra. Bởi vì tính dẻo có sự cạnh tranh, những bản đồ não dành cho các hình ảnh porn kích thích, mới mẻ tăng lên khiến phải hy sinh những thứ trước đây từng thu hút họ—tôi tin rằng đây là lý do họ bắt đầu thấy bạn gái của mình kém hấp dẫn.  

Câu chuyện về Sean Thomas, được xuất bản lần đầu trên tờ Spectator của Anh, là một câu chuyện đáng chú ý về một người đàn ông nghiện phim khiêu dâm, và nó làm sáng tỏ cách thức phim khiêu dâm thay đổi bản đồ não và thay đổi thị hiếu tình dục, cũng như vai trò của sự dẻo dai trong giai đoạn quan trọng. Thomas đã viết: "Tôi chưa bao giờ thích xem phim khiêu dâm. Thật vậy, ở tuổi thiếu niên vào những năm bảy mươi, tôi đã từng có một phiên bản Playboy để dưới gối của mình. Nhưng nói chung, tôi thực sự không thích tạp chí khiêu dâm hay phim đen. Tôi thấy chúng tẻ nhạt, lặp đi lặp lại, vô lý và rất xấu hổ khi mua.” Sự nhạt nhẽo của những cảnh phim porn làm anh thấy khó chịu. Nhưng vào năm 2001, ngay sau khi anh ta lên mạng, anh bị tò mò về nội dung khiêu dâm mà mọi người bàn tán trên internet. Nhiều trang được xem miễn phí— những hình ảnh như trêu tức khiến người xem phải mò vào xem những nội dung ‘nóng hơn’. Có một phòng trưng bày ảnh của các cô gái khỏa thân, những kiểu tưởng tượng và hấp dẫn tình dục phổ biến, được thiết kể để nhấn một nút trong não bộ người xem, ngay cả khi anh ta không biết mình có. Có cả hình ảnh của những đồng tính nữ trong bồn mát-xa, phim hoạt hình khiêu dâm, phụ nữ đang hút thuốc trong nhà vệ sinh, tình dục tập thể, và đàn ông xuất tinh lên phụ nữ châu Á đang phục tùng. Hầu hết các bức ảnh đều kể về một câu chuyện.

Thomas đã tìm thấy vài hình ảnh và kịch bản thu hút anh ta, và chúng “lôi kéo tôi quay lại để xem thêm vào ngày tiếp theo. Và tiếp nữa. Và nữa." Chẳng mấy chốc, anh phát hiện thấy bất kì lúc nào có được một phút rảnh rỗi là anh sẽ “thèm muốn vào xem các trang porn.”

Rồi một ngày nọ, anh tình cờ thấy một trang web có hình ảnh phát vào mông. Anh ngạc nhiên khi thấy mình vô cùng kích thích. Thomas nhanh chóng tìm thấy tất cả các trang web có liên quan đến thể loại phát mông, chẳng hạn như “Trang phát mông của Bernie" và "Hội phát mông.”

"Đây là khoảnh khắc," anh viết, "mà cơn nghiện đã thực sự xuất hiện. Sở thích của tôi với thể loại porn phát mông khiến tôi tự hỏi: Trong tôi còn ẩn giấu điều gì nữa? Những ngóc ngách bí mật khác cùng những phần thưởng gì tiềm ẩn trong tính dục của tôi mà bây giờ tôi có thể khám phá trong không gian riêng tư tại nhà mình? Hóa ra là có rất nhiều. Tôi khám phá ra một sở thích đặc biệt đối với thể loại đồng tính nữ, phim porn về những người khác chủng tộc, và hình ảnh các cô gái Nhật cởi quần hotpants. Tôi cũng say mê hình những cô nàng chơi bóng rổ không mặc quần lót, những cô gái Nga say rượu khoe thân, và cảnh những nữ diễn viên Đan Mạch ở vị thế phục tùng đang quấn lấy nhau, được cạo lông bởi đối tác nữ kiểm soát khác dưới vòi hoa sen. Nói cách khác, mạng internet đã tiết lộ với tôi rằng tôi có một loạt các tưởng tượng và thói quen kì quặc về tình dục không thể chối cãi và quá trình thỏa mãn những ham muốn đó trên mạng chỉ khiến tôi có nhiều ham muốn hơn.”

Những hình ảnh mà anh thấy thú vị nhưng không hấp dẫn được anh, cho đến khi anh tình cờ nhìn thấy những bức ảnh phát mông, có lẽ vì chúng đã kết nối với một số trải nghiệm thời thơ ấu hoặc tưởng tượng về việc bị trừng phạt. Những tưởng tượng về tình dục của người khác lại làm ta chán ngấy. Trải nghiệm của Thomas giống với một số bệnh nhân của tôi: khi không ý thức được việc họ đang tìm kiếm thứ gì, họ lướt qua hàng trăm bức ảnh và kịch bản cho đến khi họ gặp một tấm ảnh hoặc kịch bản tình dục chạm vào một số chủ đề bị chôn dấu thực sự kích thích họ.

Khi Thomas phát hiện ra hình ảnh đó, anh đã thay đổi. Tấm hình phát mông đó đã thu hút được sự tập trung chú ý của anh, là điều kiện cho sự thay đổi tính dẻo diễn ra. Và không như một phụ nữ ngoài đời thực, những tấm ảnh khiêu dâm đó luôn có sẵn hằng ngày trên máy tính.

Bây giờ Thomas đã bị mắc vào cạm bẫy. Anh cố gắng kiểm soát bản thân nhưng vẫn dành ít nhất 5 tiếng mỗi ngày trên laptop. Anh lén lút lướt web đen, chỉ ngủ 3 tiếng mỗi đêm. Bạn gái anh đã nhận thấy sự mệt mỏi, kiệt quệ ở anh, cô tự hỏi có phải anh đã có người khác rồi không. Anh bị thiếu ngủ đến nỗi ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, và anh mắc phải một loạt bệnh nhiễm trùng buộc phải vào phòng cấp cứu bệnh viện và phải uống thuốc. Anh bắt đầu tìm hiểu đám chiến hữu của mình và thấy nhiều người trong số họ cũng bị cuốn hút vào porn.

Rõ ràng có một thứ gì đó về tình dục của Thomas nằm ngoài nhận thức của anh, đột ngột khởi lên. Có phải mạng internet chỉ đơn giản tiết lộ về một trạng thái tâm lý dị thường, hay là nó cũng góp phần tạo ra chúng? Tôi cho rằng nó tạo ra những tưởng tượng mới từ những khía cạnh tình dục nằm ngoài nhận thức của người lướt web, kết hợp những yếu tố đó lại với nhau để tạo nên những mạng lưới mới. Không thể có chuyện hàng ngàn người đàn ông đã chứng kiến hoặc thậm chí tưởng tượng về cảnh các nữ diễn viên người Đàn Mạch phục tùng để cho các đối tác nữ thống trị cạo lông cho họ dưới vòi hoa sen.

Freud phát hiện ra những tưởng tượng đó kiểm soát tâm trí bởi những yếu tố đặc biệt trong đó. Chẳng hạn, một số đàn ông dị tính hứng thú với những cảnh porn mà ở đó người phụ nữ lớn tuổi, có tính thống trị khơi mào việc giao hợp đồng tính với cô gái trẻ tuổi hơn. Nguyên nhân có thể vì hồi còn nhỏ, những cậu bé thường cảm thấy bị kiểm soát, chế ngự bởi mẹ họ, mẹ họ là “sếp” và được mẹ mặc quần áo, cởi quần áo và giặt chúng. Ở tuổi thơ ấu, một số cậu bé có thể đã trải qua một giai đoạn mà chúng đồng nhất mạnh mẽ với mẹ của chúng và cảm thấy mình “như một bé gái” và hứng thú với tình dục nữ đồng tính của họ về sau này có thể bộc lộ sự đồng nhất hóa với tính nữ còn sót lại trong vô thức của họ.

Nội dung khiêu dâm nặng Hardcore bóc trần một số mạng lưới thần kinh thuở bé được hình thành trong các giai đoạn quan trọng của sự phát triển tính dục và kết nối tất cả những yếu tố từng bị kìm nén, quên lãng này lại với nhau để hình thành một mạng lưới mới, mà ở đó tất cả các đặc điểm được liên kết với nhau. Các trang porn tạo ra một danh mục các thể loại phổ biến và trộn lẫn chúng với nhau thành các bức ảnh. Không sớm thì muộn, người xem web đen sẽ tìm thấy một sự kết hợp chết người chạm vào một loạt nút kích thích tính dục của anh ta ngay lập tức. Sau đó anh ta củng cố mạng lưới bằng việc liên tục xem ảnh porn, thủ dâm, phóng thích dopamine và làm tăng cường các mạng lưới đó. Anh ta đã tạo ra một kiểu "tính dục mới," một ham muốn tình dục được thiết lập lại có nguồn gốc mạnh mẽ trong những sở thích tình dục bị chôn vùi của anh ta. Vì anh ta thường xuyên phát triển “ngưỡng chịu đựng”, khoái cảm tình dục phải được bổ sung bằng khoái cảm của sự gây hấn, và những tấm ảnh gợi dục và gây hấn hung hăng đang ngày càng pha trộn với nhau— dẫn đến sự gia tăng của các chủ đề thông dâm và ác dâm trong nội dung khiêu dâm nặng.

Các giai đoạn quan trọng đặt nền tảng cho types của chúng ta, nhưng tình yêu ở tuổi thanh niên hoặc sau này mang đến một cơ hội cho một vòng thay đổi tính dẻo lớn thứ hai. Stendhal, tiểu thuyết gia và nhà tiểu luận thế kỷ XIX, hiểu rằng tình yêu có thể dẫn đến những thay đổi triệt để trong sự hấp dẫn. Tình yêu lãng mạn kích hoạt cảm xúc mạnh mẽ đến mức chúng ta có thể tái cấu trúc lại những gì chúng ta thấy hấp dẫn, thậm chí vượt qua cả vẻ đẹp "khách quan". Trong On Love, Stendhal mô tả về một chàng trai trẻ tên Alberic, người gặp một người phụ nữ xinh đẹp hơn người yêu của anh ta. Nhưng Alberic bị thu hút mạnh mẽ với người yêu của anh hơn là người phụ nữ này vì người yêu của anh hứa hẹn đem lại cho anh nhiều hạnh phúc hơn. Stendhal gọi đây là "Vẻ đẹp bị truất ngôi bởi tình yêu". Tình yêu có sức mạnh làm thay đổi sự hấp dẫn khiến Alberic bị kích thích trước một khiếm khuyết nhỏ trên gương mặt của người yêu anh, vết sẹo rỗ của cô ấy. Nó kích thích anh vì “anh đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc gắn với sự hiện diện của vết sẹo rỗ đó, những cảm xúc dành cho phần cơ thể tuyệt mỹ nhất và thu hút nhất, bất kể cảm xúc của anh ấy là gì, chúng được làm mới lại với sự sống động khó tin khi thấy dấu hiệu này, ngay cả khi quan sát nó trên khuôn mặt của người phụ nữ khác... trong trường hợp này, xấu xí trở thành xinh đẹp.” 

Sự chuyển đổi của thị hiếu có thể xảy ra vì chúng ta không chỉ yêu vì mỗi vẻ ngoài. Trong những tình huống bình thường, nhìn thấy ai đó quyến rũ có thể khiến ta sẵn lòng rơi vào lưới tình của họ, nhưng tính cách của người đó và một loạt những phẩm chất khác, bao gồm khả năng của anh ta khiến chúng ta cảm thấy tốt về bản thân, làm kết tinh quá trình phải lòng nhau. Sau đó tình yêu kích hoạt một trạng thái cảm xúc quá đỗi vui sướng đến nỗi nó có thể khiến cho những vết sẹo rỗ trở nên hấp dẫn, xây dựng lại ý thức thẩm mỹ của chúng ta. Tôi tin đây là cách nó hoạt động. 

Năm 1950, "trung tâm khoái cảm" được phát hiện trong hệ thống limbic, một phần của bộ não liên quan nhiều đến việc xử lý cảm xúc. Trong các thí nghiệm của Tiến sĩ Robert Heath trên người - một điện cực được cấy vào vách ngăn của hệ thống limbic và bật lên - những bệnh nhân này đã trải qua một cơn khoái cảm mạnh mẽ đến mức khi các nhà nghiên cứu cố gắng kết thúc thí nghiệm, một bệnh nhân đã nài nỉ họ đừng dừng lại. Vùng vách ngăn cũng bắn điện khi các đối tượng dễ chịu được thảo luận với bệnh nhân và trong khi đạt cực khoái. Những trung tâm khoái cảm này được phát hiện thấy là một phần của hệ thống tưởng thưởng của não bộ, hệ thống dopamine mesolimbic. Năm 1954, James Olds và Peter Milner đã chỉ ra rằng khi họ đưa các điện cực vào trung tâm khoái cảm của động vật trong khi đang dạy nó thực hiện một nhiệm vụ, nó học được dễ dàng hơn bởi vì việc học cảm thấy rất dễ chịu và được phần thưởng. 

Khi các trung tâm khoái cảm được bật sáng lên, mọi thứ chúng ta trải nghiệm đều mang lại cho chúng ta niềm vui. Một loại thuốc như cocaine tác động lên chúng ta bằng cách hạ thấp ngưỡng mà trung tâm khoái cảm của chúng ta sẽ sáng lên, giúp chúng dễ dàng bật sáng hơn. Không đơn giản rằng cocaine mang lại cho chúng ta niềm vui. Mà thực tế là các trung tâm khoái cảm của chúng ta bây giờ rất dễ bật lên khiến cho bất cứ điều gì chúng ta trải nghiệm đều thấy tuyệt vời. Không chỉ mỗi cocaine mới có thể hạ thấp ngưỡng mà trung tâm khoái cảm của chúng ta bật sáng. Khi những người mắc chứng rối loạn lưỡng cực (trước đây gọi là hưng trầm cảm) bắt đầu di chuyển về phía hưng cảm, trung tâm khoái cảm của họ bắt đầu bắn dễ dàng hơn. Và yêu đương cũng làm giảm ngưỡng mà các trung tâm khoái cảm sẽ sáng lên. 

Khi một người phê cần, trở nên hưng cảm hoặc rơi vào lưới tình, anh ta đi vào một trạng thái hứng khởi và lạc quan về mọi thứ, vì cả ba điều kiện trên đã hạ thấp ngưỡng bắn của hệ thống khoái cảm, hệ thống dựa trên dopamine gắn liền với sự háo hức mong đợi một thứ gì đó mà chúng ta khao khát. Người nghiện, người hưng cảm và người đang yêu đầy ắp hy vọng và nhạy cảm với bất cứ thứ gì có thể mang lại niềm vui – những bông hoa và không khí trong lành truyền cảm hứng cho họ, và một cử chỉ nhẹ nhàng nhưng chú đáo khiến họ hoan hỉ với cả nhân loại. Tôi gọi quá trình này là “toàn cầu hóa" (globalization). 

Toàn cầu hóa trở nên mãnh liệt khi người ta đang yêu và tôi tin rằng đó là một trong những lý do chính khiến tình yêu lãng mạn trở thành một chất xúc tác mạnh mẽ cho sự biến đổi tính dẻo. Vì trung tâm khoái cảm bật lên thoải mái, dễ dàng nên những người đang yêu cuồng say không chỉ yêu người tình của họ mà còn yêu cả thế giới và lãng mạn hóa góc nhìn của anh ta về nó. Bởi vì bộ não của chúng ta đang trải nghiệm sự dâng trào dopamine, giúp củng cố sự thay đổi tính dẻo, nên bất kỳ trải nghiệm và mối liên kết thú vị nào chúng ta có trong giai đoạn ban đầu của tình yêu đều được kết nối vào bộ não của chúng ta. 

Toàn cầu hóa không chỉ cho phép chúng ta nhận được nhiều niềm vui từ thế giới mà nó còn khiến chúng ta khó mà cảm nhận được đau đớn, bất mãn hay ác cảm. Heath cho thấy khi trung tâm khoái cảm của chúng ta được bật lên thì những trung tâm của nỗi đau và ác cảm gần đó khó mà sáng lên. Những điều trước kia thường làm ta khó chịu bây giờ đã biến mất. Chúng ta thích trạng thái yêu đương không chỉ vì nó khiến ta dễ hạnh phúc, vui vẻ hơn mà đồng thời cũng khiến chúng ta khó mà đau khổ nổi

Toàn cầu hóa cũng tạo ra một cơ hội để chúng ta phát triển những thị hiếu mới về những thứ hấp dẫn chúng ta, giống như vết sẹo rỗ đã mang lại khoái cảm cho Alberic. Những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, và cảm giác vui thích với sự hiện diện của vết sẹo rỗ thường bị cho là không quyến rũ này khiến nó được kết nối vào trong bộ não như một nguồn mang lại khoái cảm. Một cơ chế tương tự xảy ra khi một người nghiện cocaine “đã cai nghiện” đi qua một con hẻm nhỏ nơi lần đầu tiên anh ta dùng thuốc và sự thèm khát ngập tràn trong anh mạnh mẽ đến nỗi anh tìm lại nó. Sự hưng phấn anh ta cảm nhận trong lúc phê thuốc mãnh liệt đến nỗi khiến việc anh đi qua con hẻm xấu xỉ như sự mời gọi, do bởi sự liên kết. 

Do đó có một hóa chất tình yêu theo nghĩa đen, và các giai đoạn của sự lãng mạn phản ánh những thay đổi trong bộ não chúng ta không chỉ trong những lúc hưng phấn ngây ngất mà cả những lúc hấp hối của tình yêu. Freud, một trong những người đầu tiên mô tả tác dụng tâm thần của cocaine, và khi còn trẻ, người đầu tiên khám phá ra công dụng y học của nó, đã có cái nhìn thoáng qua về hóa chất này. Viết cho vợ sắp cưới của mình, Martha, vào ngày 2 tháng 2 năm 1886, ông mô tả về việc dùng cocaine trong khi đang viết thư. Vì cocaine tác động lên hệ thống rất nhanh, lá thư, khi mở nó ra, chỉ cho chúng ta thấy một cửa sổ tuyệt vời vào các hiệu ứng của nó. Đầu tiên ông ấy mô tả nó khiến ông trở nên nói nhiều và thú tội như thế nào. Những lời nhận xét tự ti ban đầu của ông biến mất khi tiếp tục đọc thư, và chẳng mấy chốc ông cảm thấy không sợ hãi, đồng nhất với tổ tiên dũng cảm bảo vệ Đền thờ ở Jerusalem của ông. Ông ví khả năng của cocaine trong việc chữa trị sự mệt mỏi của mình với phương thuốc kỳ diệu mà ông có được khi ở bên Martha. Trong một bức thư khác, ông viết rằng cocaine làm giảm sự nhút nhát và trầm cảm, khiến ông hưng phấn, tăng cường năng lượng, lòng tự trọng và sự nhiệt tình và có tác dụng kích thích tình dục. Ông đang mô tả về một trạng thái giống với “sự say men tình” khi người ta cảm thấy hưng phấn, nói chuyện suốt đêm và tăng năng lượng, ham muốn tình dục, lòng tự trọng và sự nhiệt tình, nhưng vì họ nghĩ mọi thứ đều tốt đẹp nên khả năng phán đoán của họ cũng có thể bị suy giảm—tất cả xảy ra nhờ một loại thuốc làm tăng dopamine như cocaine. Chụp fMRI gần đây (hình ảnh cộng hưởng từ chức năng) về những người đang yêu đang nhìn những tấm ảnh người yêu của họ cho thấy một phần não có sự tập trung nhiều dopamine đang được kích hoạt; bộ não của họ trông giống như những người dùng cocaine. 

Nhưng nỗi đau của tình yêu cũng có một đặc tính hóa học. Khi xa nhau quá lâu, những người yêu nhau sụp đổ và ‘thiếu thuốc’, khao khát người họ yêu, lo lắng, nghi ngờ bản thân, mất năng lượng và nếu không trầm cảm thì cũng cảm thấy suy sụp. Một sự sửa chữa nhỏ, một lá thư, một email, một tin nhắn điện thoại từ người yêu dấu cung cấp ngay một liều năng lượng. Nếu họ chia tay, họ sẽ bị trầm cảm— điều ngược lại với sự hưng phấn cao độ. “Những triệu chứng gây nghiện” này- hưng phấn, sụp đổ, những thèm khát, ‘thiếu thuốc’, và sửa chữa— là những dấu hiệu chủ quan của sự thay đổi tính dẻo đang diễn ra trong cấu trúc não bộ của chúng ta, khi họ thích nghi với sự hiện diện hoặc vắng mặt của người yêu. 

Một ngưỡng chịu đựng, giống với ngưỡng chịu đựng chất gây nghiện, có thể phát triển ở những cặp đôi đang hạnh phúc khi họ trở nên quen thuộc với nhau. Dopamine thích sự mới lạ. Khi một đôi vợ chồng phát triển ngưỡng chịu đựng lẫn nhau và mất đi sự lãng mạn cao độ mà họ từng có, sự thay đổi có thể là một dấu hiệu, chẳng phải vì họ tẻ nhạt hay khiếm khuyết, nhưng bộ não ni-lông của họ đã thích nghi với nhau đến mức rất khó để họ tìm lại cảm giác say mê phấn chấn từng có về nhau.  

May mắn thay, những người yêu nhau có thể kích thích dopamine của họ, giữ được sự hưng phấn, bằng cách đưa sự mới lạ vào mối quan hệ của họ. Khi một cặp vợ chồng có kỳ nghỉ lãng mạn bên nhau hoặc thử các hoạt động mới cùng nhau, hoặc mặc kiểu quần áo mới hoặc gây bất ngờ cho nhau, họ đang sử dụng sự mới lạ để bật trung tâm khoái cảm lên, để mọi thứ mà họ trải nghiệm, kể cả trải nghiệm ở bên nhau, gây phấn khích và thỏa mãn cho họ. Một khi trung tâm khoái lạc bật lên và sự toàn cầu hóa bắt đầu, hình ảnh mới của người yêu lại gắn với những niềm vui bất ngờ và được kết nối vào bộ não (bộ não được tiến hóa để đáp ứng trước sự mới lạ). Chúng ta phải học hỏi những điều mới nếu ta muốn cảm thấy mình đang tràn đầy sức sống, và khi cuộc sống, hoặc tình yêu, trở nên quá dễ đoán và dường như không còn gì để học, chúng ta trở nên bứt rứt – có thể đó là một sự phản kháng của bộ não ni-lông khi nó không còn thực hiện được những nhiệm vụ thiết yếu của nó nữa. 

Tình yêu tạo ra một trạng thái tinh thần hào phóng. Bởi vì tình yêu cho phép chúng ta trải nghiệm những tình huống hay vẻ ngoài cơ thể là thú vị mà bình thường ta không có cảm giác, nó cũng cho phép chúng ta gỡ bỏ những liên kết tiêu cực, một hiện tượng khác của tính dẻo. 

Khoa học của sự gỡ bỏ, quên đi là một thứ rất mới mẻ. Vì tính dẻo có sự cạnh tranh, khi một người phát triển một mạng lưới thần kinh thì nó trở nên hiệu quả và tự duy trì, và giống như một thói quen, rất khó để gỡ bỏ nó. Hãy nhớ lại ở chương trước Merzenich đang tìm kiếm “một cục tẩy” để giúp ông ấy tăng tốc độ thay đổi và gỡ bỏ những thói quen xấu. 

Có nhiều hóa chất khác nhau liên quan đến việc học hơn là loại bỏ (thói quen). Khi chúng ta học một điều mới mẻ, những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, và một quá trình hóa học xảy ra ở cấp độ tế bào thần kinh gọi là "tiềm năng dài hạn," hay LTP, giúp tăng cường các kết nối giữa các tế bào thần kinh. Khi bộ não gỡ bỏ những kết nối hoặc ngắt kết nối giữa các nơ-ron, một quá trình hóa học khác xảy ra được gọi là "giảm sút dài hạn," hay LTD (Quá trình này không liên quan gì đến trạng thái bệnh trầm cảm). Việc gỡ bỏ và làm suy yếu các kết nối giữa các nơ-ron cũng là một quá trình của tính dẻo, nó cũng quan trọng như việc học hỏi và tăng cường chúng. Nếu chúng ta chỉ tăng cường kết nối, mạng lưới thần kinh của chúng ta sẽ bị bão hòa/ngập tràn. Bằng chứng cho thấy việc quên đi những ký ức hiện có là cần thiết để nhường chỗ cho những ký ức mới trong mạng lưới của chúng ta. 

Sự gỡ bỏ/quên đi là điều thiết yếu khi chúng ta chuyển từ một giai đoạn phát triển này sang giai đoạn tiếp theo. Chẳng hạn, khi đến cuối tuổi thiếu niên, một cô gái rời nhà đi học đại học ở một tiểu bang khác, cả cô và cha mẹ đều trải qua sự đau buồn và thay đổi lớn về tính dẻo, khi họ thay đổi những thói quen cảm xúc, lề thói và hình ảnh bản thân cũ. 

Lần đầu tiên biết yêu cũng đồng nghĩa với bước vào một giai đoạn phát triển mới và đòi hỏi rất nhiều sự quên đi/gạt bỏ. Khi người ta cam kết với nhau, họ phải thay đổi hoàn toàn những ý định hiện tại và thường là những ý định ích kỷ, và điều chỉnh lại tất cả những mối gắn bó khác, để hợp nhất người yêu mới vào cuộc đời họ. Cuộc sống hiện tại bao gồm sự hợp tác liên tục, đòi hỏi tái tổ chức lại tính dẻo của các trung tâm não bộ xử lý cảm xúc, tính dục và bản thân. Hàng triệu mạng lưới thần kinh phải bị xóa sạch và thay thế bằng những mạng lưới mới—một lý do khiến việc yêu ai đó-đối với nhiều người-có cảm giác như đánh mất bản sắc cá nhân. Phải lòng một ai đó cũng đồng nghĩa với việc quên đi một tình yêu trong quá khứ; điều này cũng đòi hỏi sự quên đi ở cấp độ thần kinh. 

Trái tim một người đàn ông tan vỡ bởi tình yêu đầu tiên của anh ta hủy hôn ước. Anh gặp nhiều phụ nữ, nhưng họ đều lu mờ khi so với vị hôn thê của anh, người mà anh tin là tình yêu đích thực duy nhất của mình và bị ám ảnh bởi hình bóng cô ấy. Anh không thể gỡ bỏ được sự thu hút trước tình yêu đầu tiên của anh. Hay như một phụ nữ đã kết hôn cách đây 20 năm nay trở thành một góa phụ trẻ và từ chối hẹn hò lại. Cô ấy không thể tưởng tượng được rằng mình sẽ yêu đương trở lại, và cái ý nghĩ “thay thế” chồng cô là một sự xúc phạm với cô. Năm tháng trôi qua, và bạn bè đã khuyên cô đến lúc đi bước nữa, nhưng đều vô ích. 

Thường thì những người như vậy không thể đi bước nữa vì họ không thể thôi đau buồn; cái ý nghĩ sống mà không có người họ yêu đau đớn đến nỗi không chịu đựng được. Theo thuật ngữ Tính dẻo thần kinh, nếu người yêu lãng mạn hay góa phụ muốn bắt đầu một mối quan hệ tình cảm mới mà không để lại gánh nặng thì trước tiên mỗi người phải điều chỉnh lại hàng tỷ kết nối trong bộ não của họ. Freud lưu ý rằng việc đoạn tang là quá trình diễn ra dần dần; dù thực tế bảo ta rằng người mình yêu đã đi rồi, thì “mệnh lệnh của nó cũng không được tuân theo ngay tức khắc.” Chúng ta tiếc thương bằng cách mỗi lúc nhớ lại một ký ức, làm sống lại nó và sau đó buông bỏ nó. Ở cấp độ não bộ, chúng ta đang bật lên từng mạng lưới thần kinh từng liên kết với nhau để tạo nên nhận thức của chúng ta về người đó, trải nghiệm ký ức một cách sống động về họ, sau đó chào tạm biệt từng mạng lưới một. Trong quá trình thương tiếc, chúng ta học cách sống mà không có người mình yêu, nhưng lý do khiến bài học này khó học là vì đầu tiên chúng ta phải gạt bỏ được ý nghĩ rằng người đó còn sống và vẫn có thể dựa vào họ. 

Walter J. Freeman, giáo sư khoa học thần kinh tại Berkeley, là người đầu tiên tạo ra mối liên hệ giữa tình yêu và sự quên đi rất nhiều. Ông đã tập hợp một số sự kiện sinh học hấp dẫn để đi đến kết luận rằng sự tái tổ chức nơ-ron thần kinh lớn xảy ra ở hai giai đoạn cuộc sống: khi chúng ta yêu nhau và khi chúng ta bắt đầu nuôi dạy con cái. Freeman cho rằng việc tái tổ chức bộ não ni-lông—nhiều hơn hẳn trong việc học tập hay quên đi bình thường— trở nên khả thi nhờ một chất điều biến thần kinh (Neuromodulators). 

Chất điều biến thần kinh khác với chất dẫn truyền thần kinh. Trong khi các chất điều biến thần kinh được giải phóng trong các khớp thần kinh để kích thích hoặc ức chế tế bào thần kinh, thì các chất điều biến thần kinh tăng cường hoặc làm giảm hiệu quả tổng thể của các kết nối synap và mang lại sự thay đổi lâu dài. Freeman tin rằng khi chúng ta yêu nhau, chất điều biến thần kinh não oxytocin được giải phóng, cho phép các kết nối thần kinh hiện tại tiêu biến đi để những thay đổi trên quy mô lớn có thể xảy ra. 

Oxytocin đôi khi được gọi là chất điều biến thần kinh cam kết vì nó củng cố sự gắn bó ở các động vật có vú. Nó được phóng thích khi những người yêu nhau gắn kết và làm tình— ở con người oxytocin được giải phóng ở cả hai giới trong lúc đạt được cực khoái—và khi cặp vợ chồng nuôi dạy con cái. Ở phụ nữ oxytocin được giải phóng trong quá trình chuyển dạ và cho con bú. Một nghiên cứu fMRI cho thấy khi các bà mẹ nhìn vào những bức ảnh của con mình, vùng não giàu oxytocin được kích hoạt. Ở động vật có vú đực, một chất điều biến thần kinh có liên quan chặt chẽ được gọi là vasopressin được giải phóng khi chúng trở thành cha. Nhiều người trẻ nghi ngờ rằng họ sẽ có thể gánh được các trách nhiệm của việc nuôi dạy con cái không ý thức được rằng mức độ oxytocin có thể thay đổi bộ não của họ, cho phép họ vượt qua khó khăn trong việc làm cha. 

Các nghiên cứu về một loài động vật theo chế độ ‘một vợ một chồng’ được gọi là chuột đồng cỏ đã chỉ ra rằng oxytocin, thường được giải phóng trong não của chúng trong quá trình giao phối, khiến chúng kết đôi với nhau suốt đời. Nếu một con chuột cái được tiêm oxytocin vào não, nó sẽ kết đôi suốt đời với một con chuột đực gần đó. Nếu một con chuột đực được tiêm vasopressin, nó sẽ âu yếm với một con cái gần đó. Oxytocin dường như cũng gắn kết trẻ em với cha mẹ và các tế bào thần kinh kiểm soát sự bài tiết của nó có thể có một giai đoạn quan trọng của riêng chúng. Trẻ em được nuôi dưỡng trong trại trẻ mồ côi mà không có sự tiếp xúc yêu thương thường gặp vấn đề về gắn kết khi lớn tuổi. Nồng độ oxytocin của chúng vẫn ở mức thấp trong vài năm sau khi được các gia đình yêu thương nhận nuôi 

Trong khi dopamine gây hưng phấn, đưa chúng ta vào trạng thái ngất ngây và kích thích hưng phấn tình dục, thì oxytocin tạo ra một tâm trạng bình tĩnh, ấm áp làm tăng cảm giác dịu dàng và gắn bó và có thể khiến chúng ta giảm sự cảnh giác. Một nghiên cứu gần đây cho thấy oxytocin cũng kích hoạt lòng tin. Khi mọi người ngửi oxytocin và sau đó tham gia vào một trò chơi tài chính, họ có xu hướng tin tưởng người khác bằng tiền của họ. Mặc dù vẫn còn nhiều nghiên cứu phải làm đối với oxytocin ở người, nhưng bằng chứng cho thấy tác dụng của nó tương tự như ở chuột đồng cỏ: nó khiến chúng ta cam kết với bạn đời và tận tụy với con cái chúng ta.

Nhưng oxytocin hoạt động theo một cách độc đáo, liên quan đến việc gạt bỏ. Ở cừu, oxytocin được giải phóng trong khứu giác, một phần của não bộ liên quan đến nhận thức mùi, với mỗi lứa mới. Cừu và nhiều động vật khác gắn kết với nhau, hoặc "in dấu" lên con của chúng bằng mùi hương. Chúng chỉ chăm sóc con của mình và từ chối những con cừu xa lạ.

Nhưng nếu oxytocin được tiêm vào cừu mẹ khi tiếp xúc với một con cừu lạ, cừu cái ấy cũng sẽ chăm sóc, nuôi nấng con cừu lạ.

 

menu
menu