Bộ não tự thay đổi chính nó (Chương 4.3)

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-4-3

Cuộc đời của những người có hành vi biến thái tình dục thường xoay quanh những hoạt động pha trộn giữa tính dục và sự xung hấn, và họ thường tán dương và tôn sùng sự nhục nhã, thù hận, thách thức, cấm đoán, giận dữ, tội lỗi nham hiểm...

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Tuy nhiên, Oxytocin không được phóng thích với lứa đầu tiên—mà chỉ phóng thích với những lứa sau— cho thấy oxytocin đóng vai trò xóa sạch các mạch thần kinh gắn kết người mẹ với lứa đầu tiên, dể cô ấy có thể gắn kết với lứa con thứ hai của cô. (Freeman ngờ rằng người mẹ gắn kết với lứa đầu tiên của mình bằng cách sử dụng các chất hóa học thần kinh khác.) Khả năng xóa sạch hành vi đã học của oxytocin đã khiến các nhà khoa học gọi đó là hoóc môn làm quên đi/mất trí nhớ. Freeman cho rằng oxytocin làm tan biến những kết nối thần kinh đang tồn tại làm nằm bên dưới những mối gắn bó đang có, để cho những mối gắn bó mới có thể hình thành. Theo lý thuyết này, Oxytocin không dạy cho các bậc cha mẹ cách làm cha mẹ, cũng như nó không làm cho những người yêu nhau hợp tác và tử tế với nhau; đúng hơn là, nó tạo ra khả năng cho họ học những khuôn mẫu mới. 

Có một số tranh cãi về ý kiến ​​cho rằng oxytocin chỉ chịu trách nhiệm cho đợt học tập mới này. Đối với những thay đổi trong mối gắn bó hiện tại của chúng ta, hoặc cách nó tạo điều kiện cho những thay đổi này, nhà thần kinh học Zarc Pansckip lập luận rằng oxytocin và sự kết hợp với những hóa chất não bộ khác tích cực làm giảm cảm giác đau khổ do chia ly của chúng ta, khiến nỗi đau của sự đánh mất mối gắn bó trước trở nên ít sâu sắc hơn. Bớt khổ sở hơn cũng giúp chúng ta dễ dàng học được những điều mới mẻ, và hình thành những mối quan hệ mới, đồng thời điều chỉnh lại phần nào mối quan hệ hiện tại của chúng ta. 

Lý thuyết của Freeman giúp giải thích tình yêu và tính dẻo ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào. Tính dẻo cho phép chúng ta phát triển bộ não rất độc đáo - để đáp ứng trước những trải nghiệm cuộc sống cá nhân của chúng ta - rằng thường khó nhìn thế giới như cách của người khác, muốn những gì họ muốn, hoặc hợp tác. Nhưng sự sinh sản thành công của loài người đòi hỏi sự hợp tác với nhau. Những gì tự nhiên mang lại, trong một chất điều biến thần kinh như oxytocin, là khả năng để hai bộ não đang yêu trải qua một giai đoạn tính dẻo tăng cao, cho phép họ thay đổi để hòa hợp với nhau và định hình những ý định và nhận thức của nhau. Theo Freeman bộ não về cơ bản là một cơ quan xã hội hóa và do đó phải có một cơ chế, theo thời gian sẽ xóa bỏ xu hướng quá cá nhân, quá chú trọng bản thân và quá ích kỷ của chúng ta. 

Như Freeman nói, "Ý nghĩa sâu sắc nhất của trải nghiệm tình dục không nằm ở khoái cảm, hay thậm chí chuyện sinh sản, mà nằm ở cơ hội nó mang đến để vượt sự duy ngã (đề cao bản thân). Chính lúc sau khi làm tình xong, chứ không phải khúc dạo đầu, có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng lòng tin.”

Khái niệm của Freeman nhắc nhở chúng ta về nhiều biến thể của tình yêu: người đàn ông bất an nhanh chóng rời bỏ người phụ nữ sau khi làm tình suốt đêm, vì anh ta sợ bị tác động quá mức bởi cô ấy nếu anh ở lại đến sáng; phụ nữ có xu hướng yêu người mà cô ấy đã có quan hệ tình dục. Hoặc sự thay đổi bất ngờ ở người đàn ông hầu như ít chú ý đến trẻ con bỗng trở thành một người cha tận tụy; chúng ta cho rằng “anh ấy đã trưởng thành” và “những đứa trẻ được đặt lên hàng đầu,” nhưng anh ta có thể đã nhận được sự trợ giúp từ oxytocin, cho phép anh ta vượt qua những mối bận tâm ích kỷ sâu sắc của mình.

Sự quên đi trong tình yêu cho phép chúng ta thay đổi hình ảnh bản thân mình—trở nên tốt hơn, nếu chúng ta có một đối tác đáng yêu. Nhưng nó cũng giúp giải thích cho tính dễ bị tổn thương của chúng ta khi yêu và giải thích tại sao có rất nhiều đàn ông và phụ nữ trẻ tự tin, khi yêu một người có tính cách thao túng, khinh miệt, thường đánh mất hết cảm giác về bản thân và trở nên hoài nghi bản thân mình, từ đó có thể mất nhiều năm để phục hồi. 

Hiểu được sự quên/gỡ bỏ, và một số điểm tốt về tính dẻo não bộ, hóa ra lại quan trọng trong việc điều trị bệnh nhân của tôi, anh A. Vào khoảng thời gian A. học đại học, anh thấy bản thân lặp lại trải nghiệm của giai đoạn-quan trọng của anh và bị thu hút trước những phụ nữ bất ổn về cảm xúc, đã có bạn trai, rất giống với mẹ anh, cảm thấy mình có trách nhiệm yêu thương và giải cứu họ. A. bị mắc kẹt vào hai cái bẫy của tính dẻo. 

Cái bẫy đầu tiên là một mối quan hệ với một người phụ nữ ổn định, chu đáo có thể giúp anh gỡ bỏ tình cảm đối với những phụ nữ có vấn đề, và dạy anh một con đường mới để yêu thương, đơn giản lại không làm anh có cảm xúc, dù anh rất muốn. Vì vậy anh bị mắc kẹt với kiểu thu hút tiêu cực, hủy hoại được hình thành trong giai đoạn-quan trọng của anh. 

Cãi bẫy thứ hai của anh có thể hiểu được về mặt tính dẻo. Một trong những triệu chứng dằn vặt anh nhất đó là sự hợp nhất giữa tình dục với sự xung hấn trong tâm trí anh. Anh cảm thấy yêu một người tức là tàn phá, ăn tươi nuốt sống cô ấy, và được yêu tức là bị ăn tươi nuốt sống. Và cảm giác quan hệ tình dục của anh là một hành động bạo lực khiến anh rất khó chịu những cũng rất kích thích. Những ý nghĩ về tình dục ngay lập tức dẫn đến những ý nghĩ về bạo lực, và ngược lại, ý nghĩ về bạo lực đưa đến ý nghĩ về tình dục. 

Khi anh làm tình giỏi, anh cảm thấy mình là một người nguy hiểm. Như thể anh ta thiếu bản đồ não riêng biệt cho cảm giác tình dục và bạo lực. 

Merzenich đã mô tả một số “cạm bẫy của bộ não” xảy ra khi hai bản đồ não đáng lẽ nên tách biệt thì lại hợp nhất với nhau. Như chúng ta đã thấy, ông phát hiện ra nếu các ngón tay của một con khỉ được khâu lại với nhau và buộc phải di chuyển cùng một lúc, các bản đồ não cho chúng sẽ hợp nhất, bởi vì những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau. Nhưng ông cũng phát hiện ra các bản đồ hợp nhất trong cuộc sống hàng ngày. Khi một nhạc sĩ thường xuyên sử dụng hai ngón tay với nhau đủ nhiều trong khi chơi một nhạc cụ, thì bản đồ não cho hai ngón tay đôi khi hợp nhất lại và khi nhạc sĩ cố gắng di chuyển chỉ một ngón tay thì ngón kia cũng di chuyển theo. Các bản đồ não cho hai ngón tay khác nhau bây giờ không còn được phân hó nữa. Nhạc sĩ càng cố gắng tạo ra một chuyển động đơn lẻ, anh ta sẽ càng di chuyển cả hai ngón tay, củng cố bản đồ não đã hợp nhất hai ngón tay đó. Một người càng cố gắng thoát khỏi cái bẫy của bộ não thì anh ta càng lún sâu vào, phát triển một tình trạng được gọi là “loạn trương lực cơ khu trú". Một cái bẫy não bộ tương tự xảy ra ở những người Nhật Bản, khi nói tiếng Anh, không thể nghe được sự khác biệt giữa r và l vì hai âm thanh không được phân biệt trong bản đồ não của họ. Mỗi lần họ cố gắng nói đúng âm thanh, họ sẽ nói sai, củng cố thêm vấn đề. 

Đây là những gì tôi tin rằng A. đang trải nghiệm. Mỗi lần anh ta nghĩ về tình dục, anh sẽ nghĩ đến bạo lực. Mỗi lần anh ta nghĩ về bạo lực, anh ta sẽ nghĩ đến tình dục, tăng cường mối liên kết trong bản đồ não đã hợp nhất. 

Đồng nghiệp của Merzenich, bà Nancy Byl, người làm việc trong ngành y học vật lý, dạy cho những người không thể điều khiển ngón tay để phân định lại bản đồ các ngón tay của họ. Bí quyết không phải là cố gắng cử động các ngón tay một cách riêng biệt, mà là học lại cách sử dụng tay theo cách họ đã làm khi còn bé. Ví dụ, khi điều trị cho các nghệ sĩ guitar mắc chứng loạn trương lực cơ khu trú, đã mất kiểm soát ngón tay, trước tiên, bà hướng dẫn họ ngừng chơi guitar một thời gian để làm suy yếu bản đồ não đã hợp nhất. Sau đó, họ chỉ giữ một cây ghita đã tháo dây trong vài ngày. Sau đó một dây đàn tạo ra cảm giác khác biệt so với dây đàn ghita bình thường được gắn vào cây ghita, và họ cảm nhận nó thật cẩn thận, nhưng chỉ với một ngón tay. Cuối cùng họ sử dụng một ngón tay thứ hai cho một dây đàn riêng biệt. Cuối cùng, bản đồ não hợp nhất cho các ngón tay của họ tách thành hai bản đồ riêng biệt và họ có thể chơi lại. 

A. bắt đầu làm phân tâm học. Chúng tôi đã sớm phát hiện ra lý do tại sao ở anh tình yêu và sự xung hấn lại hợp nhất, lần theo dấu vết của cạm bẫy não bộ đến trải nghiệm của anh với bà mẹ say xỉn. Mẹ anh thường xuyên bộc lộ những cảm xúc tính dục và bạo lực cùng một lúc. Nhưng khi anh ấy vẫn không thể thay đổi được điều thu hút anh, tôi đã làm một việc tương tự như Merzenich và Byl đã làm để phân định lại bản đồ não. Trong khoảng thời gian trị liệu kéo dài, bất cứ khi nào A. bộc lộ sự dịu dàng về thể lý nào ngoài tình dục không bạo lực, tôi chỉ ra và yêu cầu anh quan sát kỹ, nhắc nhở rằng anh có khả năng cảm nhận tích cực và khả năng thân mật.

Khi những ý nghĩ bạo lực xuất hiện, tôi yêu cầu anh ấy tìm kiếm trong bộ kinh nghiệm của mình để tìm kiếm dù chỉ một ví dụ cho thấy sự hung hang gây hấn hay bạo lực không dính tới chuyện tình dục là đáng khen, ví dụ như sự tự vệ chính đáng. Bất cứ khi nào những khu vực này xuất hiện— một hành động dịu dàng, hay sự gây hấn không mang tính tiêu cực, hủy hoại— tôi yêu cầu anh chú ý đến chúng. Thời gian trôi qua, anh ấy có thể hình thành hai bản đồ não riêng biệt, một cho sự dịu dàng thể lý, không liên quan đến sự quyến rũ mà anh cảm nhận với mẹ, và bản đồ khác cho sự xung hấn-bao gồm cảm sự quyết đoán lành mạnh— khác hẳn với sự bạo lực điên rồ mà anh cảm nhận khi mẹ mình say xỉn.  

Tách biệt tình dục và bạo lực trong bản đồ não bộ cho phép anh ấy cảm thấy tốt hơn về các mối quan hệ và tình dục, và sự tiến bộ theo các giai đoạn. Dù anh ấy không thể ngay lập tức yêu hoặc hứng thú với một phụ nữ lành mạnh, anh đã yêu một phụ nữ lành mạnh hơn một chút so với những cô bạn gái cũ của anh và anh được hưởng lợi từ việc học hỏi mẫu tình yêu mới và gỡ bỏ mẫu tình yêu quá khứ. Trải nghiệm này cho phép anh dần dần bước vào những mối quan hệ lành mạnh hơn, và gạt bỏ những mối quan hệ độc hại. Đến khi kết thúc trị liệu, anh đang có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, lành mạnh và thỏa mãn; tính cách của anh, kiểu tình dục của anh đã biến đổi hoàn toàn. 

Việc điều chỉnh lại hệ thống khoái lạc của chúng ta, và mức độ thị hiếu tình dục của chúng ta có thể học được, có thể thấy rõ nhất ở những chứng biến thái tình dục như chứng khổ dâm, biến đau đớn thể xác thành khoái cảm tình dục. Để làm điều này, bộ não phải biến những thứ vốn dĩ khó chịu trở nên dễ chịu, và các xung điện thường kích hoạt hệ thống đau đớn của chúng ta được kết nối lại vào hệ thống khoái cảm của chúng ta. 

Cuộc đời của những người có hành vi biến thái tình dục thường xoay quanh những hoạt động pha trộn giữa tính dục và sự xung hấn, và họ thường tán dương và tôn sùng sự nhục nhã, thù hận, thách thức, cấm đoán, giận dữ, tội lỗi nham hiểm và phá vỡ những điều cấm kị; họ cảm thấy mình đặc biệt chỉ đơn giản vì họ không sống “bình thường.” Những thái độ "ngang ngược" hoặc thách thức này rất cần thiết cho việc hưởng thụ sự đồi trụy. Việc lý tưởng hóa sự đồi trụy và đánh giá thấp sự “bình thường” được viết một cách xuất sắc trong tiểu thuyết Lolita của Vladimir Nabokov, trong đó một người đàn ông trung niên thần tượng và quan hệ tình dục với một cô gái chưa dậy thì mới 12 tuổi, đồng thời tỏ ra khinh miệt tất cả những người phụ nữ lớn tuổi. 

Chủ nghĩa bạo dâm mô tả về tính dẻo ở chỗ nó hợp nhất hai xu hướng quen thuộc là tình dục và sự xung hấn, mỗi yếu tố có thể mang lại khoái cảm riêng biệt và kết hợp chúng lại với nhau để khi chúng được giải phóng thì khoái cảm sẽ nhân đôi. Nhưng khổ dâm (masochism) còn đi xa hơn bởi vì nó mang một thứ gì đó vốn đã khó chịu, đau đớn và biến nó thành một niềm vui, làm thay đổi ham muốn tình dục một cách cơ bản và chứng minh một cách sống động về tính dẻo của hệ thống khoái cảm và đau đớn của chúng ta. 

Trong nhiều năm, cảnh sát, thông qua các cuộc tấn công vào các cơ sở S&M, đã biết nhiều hơn về những sai lầm nghiêm trọng hơn hầu hết các bác sĩ lâm sàng. Mặc dù những bệnh nhân mắc chứng biến thái tình dục nhẹ thường tìm kiếm sự điều trị cho các vấn đề như lo lắng hoặc trầm cảm, nhưng những người mắc biến thái tình dục nghiêm trọng hiếm khi tìm kiếm liệu pháp điều trị bởi vì, nói chung, họ thích chúng.

Robert Stoller

Robert Stoller, M.D., một nhà phân tâm học ở California, đã thực hiện những khám phá quan trọng thông qua các chuyến thăm đến các cơ sở S&M và B&D (sự ràng buộc và kỷ luật) ở Los Angeles. Ông đã phỏng vấn những người mắc chứng loạn dâm gây đau nghiêm trọng (sadomasochism), gây đau đớn cho thể xác, và phát hiện ra tất cả những người mắc loạn dâm gây đau đều mắc bệnh nghiêm trọng khi còn nhỏ và phải trải qua việc điều trị y tế đau đớn, thường xuyên. "Kết quả là," Stoller viết, "họ bị nhốt trong bệnh viện một thời gian dài mà không có cơ hội để trút bỏ sự thất vọng, tuyệt vọng và giận dữ một cách công khai và thích hợp. Dẫn đến những biến thái tình dục.” Khi còn nhỏ, họ làm sống lại những cơn đau, cơn thịnh nộ không thể biểu đạt trong các giấc mơ, trong những trạng thái tâm lý được thay đổi hoặc trong tưởng tượng thủ dâm, để họ có thể kể lại câu chuyện về tổn thương tâm lý với một cái kết hạnh phúc và nói với bản thân, Lần này, tôi sẽ chiến thắng. Và cách họ giành chiến thắng là dâm dục hóa nỗi thống khổ của họ. Quan điểm cho rằng một cảm xúc vốn đau đớn có thể trở nên vui sướng thoạt đầu khiến chúng ta thấy khó tin, vì chúng ta có xu hướng cho rằng mỗi cảm giác và cảm xúc của chúng ta về bản chất hoặc là vui sướng (niềm vui, chiến thắng và khoái cảm tình dục) hoặc đau đớn (nỗi buồn, sợ hãi và thương tiếc). Nhưng trên thực tế, giả định này là không đúng. Chúng ta có thể khóc những giọt nước mắt hạnh phúc và có những chiến thắng cay đắng; và ở những người bị loạn thần, họ có thể cảm thấy tội lỗi về khoái cảm tình dục hoặc hoàn toàn không có khoái cảm, trong khi những người bình thường khác sẽ cảm thấy thích thú. Một cảm xúc mà chúng ta cho là vốn khó ưa, chẳng hạn sự buồn bã, có thể được thể hiện một cách tinh tế và đẹp đẽ trong âm nhạc, văn chương hoặc nghệ thuật, nỗi buồn không chỉ có cảm giác sâu sắc mà còn cao quý. Nỗi sợ hãi có thể thú vị trong những bộ phim kinh dị hoặc trên tàu lượn siêu tốc. Bộ não con người dường như có thể gắn kết nhiều cảm xúc và cảm giác của chúng ta với hệ thống khoái cảm hoặc hệ thống đau đớn, và mỗi gắn kết hoặc liên kết tinh thần này đòi hỏi một sự kết nối tính dẻo mới trong não. 

Những người khổ dâm nặng mà Stoller phỏng vấn chắc chắn đã tạo nên một con đường mòn thần kinh liên kết những cảm giác đau đớn họ từng chịu đựng với hệ thống khoái cảm tình dục của họ, kết quả là tạo thành một trải nghiệm tổng hợp mới, nỗi đau gây khoái lạc. Những khổ đau mà bọn họ trải qua thời thơ ấu cho thấy sự điều chỉnh này xảy ra trong giai đoạn quan trọng của tính dẻo dai về tính dục. 

Năm 1997, một bộ phim tài liệu đã làm sáng tỏ về tính dẻo và chứng khổ dâm: Sick:The Life and Death của Bob Flanagan, một người siêu khổ dâm. Bob Flanagan đã thực hiện các hành vi bạo dâm của mình trước công chúng như một nghệ sĩ biểu diễn và người phô bày thân thể đã được thể hiện một cách rõ ràng, thi vị và đôi lúc rất khôi hài. Trong những cảnh mở đầu của Flanagan, chúng ta thấy anh ta trần truồng, nhục nhã, bị ném bánh vào mặt, được cho ăn bằng một cái phễu. Nhưng những hình ảnh cho thấy anh bị tổn thương về thể xác và khó thở, ám chỉ những hình thức gây đau đớn đáng lo ngại hơn nhiều. 

Bob Flanagan

Bob sinh năm 1952 bị xơ nang, một căn bệnh của phổi và tuyến tụy do di truyền, trong đó cơ thể sản xuất quá nhiều chất nhầy dày bất thường làm tắc nghẽn đường dẫn khí, khiến anh ta không thể thở một cách bình thường và dẫn đến các vấn đề tiêu hóa mãn tính. Anh phải chiến đấu trong từng hơi thở và người thường chuyển thành màu xanh do thiếu oxy. Đa số bệnh nhân sinh ra với căn bệnh này đều chết khi còn nhỏ hoặc ở tuổi đôi mươi.

Cha mẹ của Bob nhận thấy anh vẫn đau đớn từ lúc xuất viện về nhà. Khi anh mười tám tháng tuổi, các bác sĩ đã phát hiện ra mủ giữa phổi và bắt đầu điều trị cho anh bằng cách nhét kim vào sâu trong ngực anh. Anh bắt đầu sợ quá trình chữa trị này và hét lên tuyệt vọng. Trong suốt thời thơ ấu, anh phải thường xuyên nhập viện và bị giam cầm gần như trần truồng trong một cái lều bong bóng để các bác sĩ có thể theo dõi mồ hôi của anh - một trong những cách chẩn đoán bệnh xơ nang - trong khi anh cảm thấy cơ thể mình bị người lạ nhìn thấy. Để giúp anh ta thở và chống lại nhiễm trùng, các bác sĩ đã chèn tất cả các loại ống vào người anh. Anh cũng nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề của mình: hai trong số các em gái của anh cũng bị xơ nang; một người chết lúc sáu tháng, người kia lúc hai mươi mốt tuổi. 

Dù trên thực tế anh đã trở thành cậu bé được đăng trên poster của Hiệp hội Xơ nang quận Cam, anh đã bắt đầu sống cuộc đời bí mật. Khi còn nhỏ, khi dạ dày đau không ngừng, anh sẽ kích thích dương vật của mình để đánh lạc hướng bản thân. Khi còn học cấp ba, anh sẽ nằm trần truồng vào ban đêm và che phủ mình bằng keo dày, anh không biết tại sao. Anh ta treo mình ở cửa bằng thắt lưng ở vị trí gây đau đớn. Sau đó, anh ta bắt đầu nhét kim vào thắt lưng để đâm vào da thịt mình. 

Khi anh ba mươi mốt tuổi, anh yêu Sheree Rose, xuất thân từ một gia đình rất phức tạp. Trong phim, chúng ta thấy mẹ của Sheree khinh chồng mình ra mặt, cha của Sheree, người mà Sheree chê là người thụ động và không bao giờ bày tỏ tình cảm của mình. Sheree tự nhận mình là hống hách từ nhỏ. Cô ta là kẻ bạo dâm của Bob.

Trong phim Sheree đối xử với Bob (với sự cho phép của anh) như nô lệ của cô ta. Cô làm nhục anh ta, cắt vào da gần núm vú của anh ta bằng con dao X-Acto, ép anh ăn, bóp cổ anh bằng sợi dây cho đến khi mặt anh chuyển thành màu xanh, nhét một quả bóng bằng thép to như quả bóng bida vào hậu môn anh, đặt cây kim khâu vào vùng kích dục của anh. Môi và miệng anh bị khâu kín. Anh còn kể lại chuyện uống nước tiểu của Sheree từ một cái chai nhỏ. Chúng tôi còn thấy phân dính trên dương vật của anh.  

Mọi lỗ hổng trên người anh đều bị xâm chiếm và làm ô uế. Những hành vi đó khiến anh cương cứng và đạt được cực khoái trong tình dục. Bob sống qua tuổi 20 và 30, đến đầu tuổi 40 anh trở thành người sống sót lớn tuổi nhất của hội xơ nang. Anh mang theo chứng khổ dâm trên đường, đến các câu lạc bộ S&M và bảo tàng nghệ thuật, nơi anh thực hiện các nghi thức khổ dâm của mình nơi công cộng, luôn luôn đeo mặt nạ oxy để thở. 

Ở một trong những cảnh phim cuối cùng Bob Flanagan đang khỏa thân và lấy búa đóng đinh vào dương vật mình, xuyên vào chính giữa, lên một tấm ván. Rồi sau đó anh ta tháo móng tay để máu chảy khắp ống kính máy quay phim… 

Điều quan trọng là chúng ta phải mô tả chính xác những gì mà hệ thần kinh của Flanagan có thể chịu đựng, để hiểu mức độ mà các mạch não hoàn toàn mới có thể phát triển, liên kết hệ thống đau với hệ thống khoái cảm.

Ý tưởng của Flanagan rằng nỗi đau của anh phải được biến thành niềm vui đã tô màu cho những tưởng tượng của anh từ thời thơ ấu. Quá khứ đáng chú ý của anh xác nhận rằng sự biến thái tình dục của anh phát triển từ trải nghiệm cuộc đời độc nhất và được liên kết với những ký ức đau thương của anh. Khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, anh ta bị trói vào cũi trong bệnh viện để anh ta không thể trốn thoát và làm tổn thương chính mình. Đến năm bảy tuổi, sự giam cầm của anh đã biến thành tình yêu đối với sự co thắt. Khi trưởng thành, anh ta yêu thích sự trói buộc và bị còng tay hoặc trói và treo trong khoảng thời gian kéo dài ở những vị trí mà những kẻ tra tấn có thể sử dụng để hủy hoại nạn nhân của mình. Khi còn nhỏ, anh được yêu cầu phải cam chịu trước các y tá và bác sĩ quyền lực đã làm tổn thương anh; khi trưởng thành, anh ta tự nguyện trao quyền lực này cho Sheree, trở thành nô lệ của cô, người mà cô có thể lạm dụng. Ngay cả những khía cạnh tinh tế trong mối quan hệ thời thơ ấu của anh ấy với các bác sĩ của anh ấy cũng được lặp lại ở tuổi trưởng thành. Việc Bob cho phép Sheree lặp lại một khía cạnh của chấn thương bởi vì, sau một độ tuổi nhất định, khi các bác sĩ lấy máu, đâm vào da thịt và làm tổn thương anh ta, anh ta đã cho phép họ làm điều đó, vì biết rằng cuộc sống của anh ta phụ thuộc vào nó.

Sự phản chiếu của những sang chấn thời thơ ấu thông qua việc lặp đi lặp lại những chi tiết tinh tế như vậy là điển hình của những biến thái tình dục. Những người sùng bái đồ vật (Fetishists) – tức bị thu hút bởi đồ vật – có cùng đặc điểm. Một Fetist, theo Robert Stoller, là một đồ vật kể một câu chuyện, ghi lại những cảnh tượng từ sang chấn tâm lý thời thơ ấu và gợi dục. (Một người đàn ông trở thành tôn sùng đồ lót bằng cao su và áo mưa là một người thời thơ ấu hay đái dầm, buộc phải ngủ trên tấm đệm bằng cao su, khiến anh ta thấy nhục nhã và khó chịu. Flanagan thì tôn sùng một số đồ vật, là dụng cụ y tế và kim loại cùn từ các cửa hàng bán đồ kim khí – như ốc vít, móng tay, kẹp và búa - tất cả những thứ mà anh ta đã sử dụng, vào những thời điểm khác nhau, để kích thích tình dục-khổ dâm, để thâm nhập, véo hoặc đập vào da thịt anh ta.)  

Trung tâm khoái lạc của Flanagan chắc chắn đã được điều chỉnh theo hai cách. Đầu tiên là, những cảm xúc như lo âu chẳng hạn, thường bị xem là khó chịu, đã trở nên thú vị. Anh ta giải thích răng anh đang liên tục đùa giỡn với thần chết vì anh được dự báo là sẽ chết sớm và đang cố gắng làm chủ nỗi sợ của mình. Trong bài thơ "Why" năm 1985, anh nói rõ rằng chứng siêu khổ dâm của anh mang lại cho anh cảm giác chiến thắng, dũng cảm và bất khả xâm phạm trước một cuộc đời dễ bị tổn thương. Nhưng anh còn đi xa hơn cả việc chỉ đơn thuần làm chủ nỗi sợ. Anh từng bị các bác sỹ làm bẽ mặt khi lột anh trần truồng và đặt vào trong chiếc lều nhựa để đo mồ hôi của anh. Bây giờ anh lại tự hào khi thoát y trong các viện bảo tàng. Để làm chủ cảm giác bị phơi bày và làm nhục khi còn bé, anh trở thành một người phô bày cơ thể đắc thắng. Nỗi xấu hổ chuyển thành lạc thú, chuyển thành sự trơ trẽn. 

Khía cạnh thứ hai của sự điều chỉnh của anh đó là nỗi đau về mặt thể xác đã trở thành khoái lạc. Những đồ kim loại trong da thịt anh làm anh thấy vui, làm anh cương cứng và đạt cực khoái. Một số người khi gặp sự căng thẳng cực độ về thể xác đã giải phóng endorphins, thuốc giảm đau giống như thuốc phiện mà cơ thể chúng ta tạo ra để xoa dịu cơn đau và có thể khiến chúng ta thấy hưng phấn. Nhưng Flanagan nói rằng anh không muốn giảm đau, mà anh đang bị cuốn hút vào nó. Anh ta càng gây tổn thương cho bản thân, anh càng trở nên nhạy cảm hơn với cơn đau, và anh càng cảm thấy đau. Vì các hệ thống đau đớn và khoái lạc của anh đã liên kết với nhau, Flanagan vừa cảm nhận được cơn đau dữ dội, vừa cảm thấy sướng. 

Trẻ em sinh ra đã bất lực, và trong giai đoạn quan trọng của tính dẻo về tính dục, chúng sẽ làm bất cứ điều gì để không bị bỏ rơi và gắn bó với người lớn, ngay cả nếu chúng phải học cách yêu lấy nỗi thống khổ và tổn thương do người lớn gây ra. Những người lớn trong thế giới nhỏ bé của Bob đã gây ra đau đớn cho anh “vì muốn tốt cho anh.” Bây giờ khi đã trở thành một người siêu khổ dâm, thật trớ trêu làm sao khi anh xem nỗi đau đớn như thể nó là bạn tốt của anh. Anh hoàn toàn ý thức được rằng mình đang bị mắc kẹt vào quá khứ, làm sống lại thời thơ ấu và tự nói với mình “vì tôi là một đứa trẻ to xác và tôi muốn sống theo lối đó.” Có lẽ tưởng tượng sống mãi với hình ảnh đứa bé bị hành hạ là một phương cách tưởng tượng giúp anh tránh được cái chết đang đợi anh nếu anh cho phép mình trưởng thành. Nếu anh có thể sống mãi như Peter Pan (mãi mãi không chịu trưởng thành), mãi mãi bị Sheree “tra tấn”, thì ít nhất anh cũng sẽ chẳng bao giờ lớn lên và chết sớm. 

Cuối phim chúng ta thấy cảnh Flanagan đang hấp hối. Anh ta ngừng đùa bỡn và bắt đầu giống một con thú bị dồn vào đường cùng, ngập tràn nỗi sợ. Khán giả nhìn thấy anh ấy từng khiếp sợ biết chừng nào khi còn là một cậu bé, trước khi anh khám phá ra giải pháp khổ dâm để chế ngự cơn đau và nỗi sợ của anh. Vào lúc này, chúng ta học được từ Bob rằng Sheree đã nói về việc chia tay—đánh thức nỗi sợ lớn nhất của đứa trẻ, đó là sợ bị bỏ rơi. Sheree nói rằng vấn đề nằm ở chỗ Bob không còn phục tùng cô nữa. Trông anh đau khổ tột cùng— và cuối cùng cô ở lại chăm sóc anh một cách dịu dàng. 

Trong những giây phút cuối cùng, anh gần như bị sốc, hỏi rằng, "Tôi có chết không? Tôi không hiểu điều đó ... Chuyện gì đang xảy ra? ... Tôi không bao giờ tin điều này." Những tưởng tượng, trò chơi và nghi thức khổ dâm của anh mạnh mẽ đến nỗi tưởng chừng anh đã chấp nhận cái chết đau đớn, rằng dường như anh thực sự đã đánh bại được nó. 

Đối với các bệnh nhân liên quan đến porn, đa số có thể sẽ run như cầy sấy một khi họ hiểu được vấn đề và cách họ củng cố nó về mặt tính dẻo thần kinh. Cuối cùng họ cũng phát hiện thấy mình lại bị thu hút bởi bạn tình của họ. Không ai trong số những người đàn ông này có tính cách nghiện ngập hoặc từng bị sang chấn tâm lý nghiêm trọng thời thơ ấu, và khi họ hiểu được điều gì đang xảy ra với họ, họ đã ngưng dùng máy tính một thời gian để làm suy yếu những mạng lưới thần kinh có vấn đề của họ, và sở thích xem porn của họ mất dần. Việc điều trị sở thích tình dục do học được trong giai đoạn sau này của họ thì đơn giản hơn so với việc điều trị cho những bệnh nhân học được những sở thích tình dục có vấn đề trong giai đoạn-quan trọng. Một số đàn ông có thể giống như A., thay đổi được kiểu tình dục của họ vì quy luật của tính dẻo thần từng cho phép chúng ta học được những thị hiếu có vấn đề, cũng cho phép ta học được những thị hiếu mới lành mạnh hơn. Và trong một số trường hợp, bỏ được những thị hiếu tình dục không lành mạnh. Đó chính là bộ não sử dụng-nó-hay-đánh mất-nó, áp dụng cho cả ham muốn tình dục và tình yêu. 

  

(hết chương 4)        

   

 

menu
menu