BÓNG MA: Câu Truyện Kỳ Diệu Về Một Chàng Trai Tự Giải Cứu Mình Khỏi Căn Bệnh Lạ (Chương 3-4-5)

bong-ma-cau-truyen-ky-dieu-ve-mot-chang-trai-tu-giai-cuu-minh-khoi-can-benh-la-chuong-3-4-5

CHƯƠNG 3: CỐ GẮNG HÍT THỞ

Tôi là một sinh vật biển di nằm đáy đại dương. Ở nơi đây tối quá. Và lạnh lẽo. Không có gì ngoài bóng tôi bao trùm bên trên, phía dưới, và xung quanh mình.

Nhưng rồi tôi bắt đầu nhìn thấy những tia sáng le lói chớp nhoáng từ phía trên đỉnh đầu. Tôi không hiểu được chúng có nghĩa là gì.

Có thứ gì đó cho tôi biết rằng tôi cần phải cố gắng chạm tới chúng. Nó đẩy người tôi lên trên khi tôi đạp chân về phía những dải sáng, và chạy mau trên bề mặt nước phía đằng xa. Chúng nhảy múa trong lúc chúng đan những dải sắc màu vàng vào với bóng tối.

.

Mắt tôi nheo lại. Tôi nhìn chằm chằm vào tấm ván bọc chân tường. Tôi biết chắc nó có vẻ khang khác so với bình thường nhưng tôi không biết làm thế nào tôi lại biết được điều đó.

.

Một lời thì thầm vương trên mặt tôi — là gió.

.

Tôi có thể ngửi thấy mùi của nắng.

.

Âm nhạc, vút cao và dìu dịu. Tụi trẻ con đang hát. Tiếng hát của chúng nhỏ dần từng lúc, ồn ã rồi nghẹn lại sau đó, cho đến khi hoàn toàn yên lặng.

.

Một tấm thảm trôi vào trong tầm nhìn. Đó là một vòng xoáy của những sắc màu đen, trắng, và nâu. Tôi nhìn vào nơi đó, cố gắng khiến cho mắt mình tập trung, nhưng rồi bóng tối lại đổ ập xuống bên tôi.

.

Một miếng vải thấm nước lạnh lẽo được đặt trên mặt tôi và tôi cảm thấy nơi gò má bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bất tuân như thể có một bàn tay rắn chắc đang xiết quanh cổ mình.

“Chỉ một giây thôi,” một giọng nói cất lên. “Chúng ta phải đảm bảo rằng cậu sẽ thật sạch sẽ, nhé?”

Tia sáng mỏng manh trở nên sáng chói hơn. Tôi đã đến rất gần với mặt nước. Tôi muốn nghỉ một chút để lấy lại sức nhưng không thể. Mọi thứ diễn ra nhanh quá, trong khi tôi vẫn ở nguyên một chỗ.

.

Tôi ngửi thấy được một mùi: mùi của phân.

Tôi cố gắng di chuyển con ngươi lên phía trên. Nhưng chúng nặng quá.

Một bé gái đang đứng ngay trước mặt tôi. Thân dưới của cô bé trần trụi. Đôi tay nhỏ nhoe nhoét những vệt bẩn màu nâu. Cô bé cười khúc khích khi cố mở cánh cửa ra.

“Con đi đâu thế, bé Mary?” một giọng nói vang lên khi một đôi chân hiện ra trong tầm nhìn của tôi.

Tôi nghe thấy tiếng cửa đóng lại và rồi sau đó là tiếng càu nhàu.

“Lại thế nữa rồi, Mary!” tiếng nói thốt lên. “Con nhìn tay tôi này!”

Bé gái cất tiếng cười vang. Sự vui thích của bé như tiếng gió rì rào đang điêu khắc những đường rãnh nhỏ trên nền cát mịn màng của bãi biển hoang vu. Tôi nghe thấy được những rung động trong lòng mình.

.

Một giọng nói. Một ai đó đang nói. Hai từ: mười sáu và chết. Tôi không hiểu họ có ý gì.

.

Buổi đêm. Tôi nằm trên giường. Ở nhà. Tôi nhìn quanh trong bóng tối lờ mờ. Những chú gấu bông xếp hàng dọc bên cạnh tôi, và có thứ gì đó đang nằm dưới chân tôi. Chú chó Pookie.

Nhưng khi sự nặng nề quen thuộc biến mất, tôi có thể cảm thấy bản thân mình vươn lên. Tôi bối rối. Tôi không còn chìm dưới đáy biển nữa. Tôi đang ở trong đời sống thực. Nhưng tôi vẫn cảm thấy như thể mình đang nổi trôi, rời bỏ thân xác và bay lên trần nhà.

Rồi bỗng nhiên tôi nhận ra mình không chỉ có một mình. Đoan chắc về những sự hiện diện bao quanh cơ thể tôi. Chúng xoa dịu tôi. Chúng muốn tôi đi theo chúng. Giờ thì tôi hiểu ra rằng không còn lý do gì để ở lại đây nữa. Tôi mệt mỏi vì cứ cố phải vươn tới bề mặt con nước. Tôi muốn buông xuôi, từ bỏ bản thân mình nơi đáy đại dương sâu thẳm hay là những thứ hiện diện bên tôi lúc này — bất cứ thứ gì có được tôi trước.

Nhưng rồi một ý nghĩ khác tràn vào trong tâm trí tôi: tôi không thể từ bỏ gia đình mình.

Họ đau buồn chỉ bởi vì tôi. Sự đau khổ của họ như tấm vải liệm quấn lấy tôi bất cứ khi nào tôi vươn được tới bề mặt của những con sóng. Họ sẽ không còn gì để bám víu nếu tôi ra đi. Vì thế tôi không thể rời xa.

Không khí tràn vào cuống phổi. Tôi mở mắt. Tôi lại chỉ có một mình. Bất cứ thứ gì ở bên tôi đã đi mất.

Các thiên thần.

Tôi quyết định ở lại.

 

CHƯƠNG 4: CHIẾC HỘP

Ngay cả khi tôi bắt đầu nhận thức lại, tôi cũng không thể thực sự hiểu rõ được những gì xảy ra với mình. Giống như một đứa bé không được sinh ra mà biết rằng nó không thể kiểm soát các cử động và nói chuyện, tôi không hề suy nghĩ về những việc tôi có thể hay không thể làm được. Những ý nghĩ cứ vụt qua đầu óc tôi mà tôi không bao giờ cân nhắc tới việc nói chúng ra, và tôi cũng chẳng thể nhận ra được cái cơ thể đang co giật hay bất động mà tôi nhìn thấy đây thuộc về tôi. Tôi phải mất rất nhiều thời gian mới có thể nhận ra rằng mình hoàn toàn cô độc giữa biển người.

Nhưng khi mà nhận thức và những hồi ức của tôi rồi cũng chậm chạp khớp lại với nhau, và dần dần trí óc tôi tôi cũng kết nối được với cơ thể, tôi bắt đầu hiểu ra rằng tôi đã không còn như trước nữa. Khi nằm trên ghế sofa xem chương trình tập thể dục nhịp điệu trên TV cùng ba, tôi bị thu hút bởi những cơ thể chuyển động thật nhịp nhàng, bởi sự dẻo dai và mạnh mẽ trong cú vặn mình hay xoay người của họ. Rồi tôi nhìn xuống đôi chân mà tôi vẫn thường trông thấy và tôi nhận ra chúng là của mình. Cùng một tình trạng với đôi bàn tay luôn run rẩy mà tôi vẫn hằng trông thấy. Nó cũng là một phần thuộc về tôi đấy, nhưng tôi không thể nào kiểm soát được chúng.

Tôi không bị bại liệt: cơ thể tôi vẫn có thể chuyển động nhưng nó hoàn toàn không phụ thuộc vào tôi. Chân tay tôi co cứng. Chúng có cảm giác xa lạ, như thể chúng bị chôn chặt trong khối bê tông, và hoàn toàn trơ trơ trước những mệnh lệnh của tôi. Mọi người luôn cố gắng giúp tôi sử dụng đôi chân mình — các chuyên gia vật lý trị liệu uốn cong đôi chân khiến tôi đau đớn khi họ cố gắng khiến cho các khớp cơ hoạt động — nhưng tôi không thể cử động nếu không có người giúp đỡ.

Nếu như tôi có bước đi, tôi cũng chỉ có thể lê được một vài bước nếu có người đỡ, nếu không, thì tôi sẽ ngã đập mặt xuống sàn nhà. Nếu tôi có muốn tự ăn, thì tay tôi cũng sẽ bôi đầy thức ăn lên mặt mình. Đôi tay cũng không thể giơ ra đằng trước theo bản năng để tự bảo vệ nếu tôi có ngã, vì vậy phần va chạm trước tiên của cơ thể tôi với mặt đất luôn là khuôn mặt. Tôi không thể xoay người nếu như đã nằm trên giường, do đó tôi sẽ nằm ở một tư thế trong nhiều giờ đồng hồ nếu không có người tới lật người cho tôi. Chân tay tôi không muốn mở rộng và duỗi ra; thay vì thế chúng cứ tự co lại như những con ốc sên cuộn mình trong vỏ.

Cũng giống như một nhiếp ảnh gia cần phải cẩn thận điều chỉnh tiêu cự ống kính máy ảnh cho tới khi mọi thứ trở nên rõ nét trong khung hình, tôi cũng cần thời gian để buộc trí óc mình tập trung. Cho dù cơ thể tôi và tôi bị trói chặt trong một cuộc chiến bất tận, tâm trí tôi trở nên mạnh mẽ hơn khi từng mảnh ý thức đan vào nhau.

Dần dà tôi bắt đầu nhận biết được ngày tháng và từng giờ phút bên trong nó. Hầu hết đều dễ quên, ngoại trừ những khi tôi theo dõi các sự kiện mang tính lịch sử. Ký ức về việc Nelson Mandela[1] tuyên thệ nhận chức tổng thống vào năm 1994 rất mờ nhạt trong khi cái chết của công nương Diana[2] vào năm 1997 lại rất rõ ràng.

Tôi nghĩ trí óc tôi bắt đầu thức tỉnh vào khoảng năm tôi mười sáu tuổi, và khi tôi tròn mười chín thì mọi thứ trở nên hoàn toàn rõ ràng: tôi biết tôi là ai và tôi đang ở đâu, và tôi hiểu rõ rằng cả một cuộc đời của tôi đã bị đánh cắp. Chuyện này xảy ra vào sáu năm trước. Ban đầu tôi muốn đấu tranh với số phận bằng cách đưa ra những dấu hiệu nhỏ nhặt nhất, một cử động hay một ánh mắt, như là những mẩu bánh mỳ mà Hansel và Gretel lưu lại nhằm giúp họ tìm được đường thoát ra khỏi khu rừng cấm, sẽ dẫn mọi người đến được với tôi. Nhưng dần dần tôi hiểu ra những nỗ lực của tôi chẳng thấm vào đâu hết cả: bởi vì khi tôi thực sự quay lại với cuộc đời, không một ai hoàn toàn hiểu những gì đã xảy ra.

Tôi đã hoàn toàn bị chôn vùi. Người duy nhất biết được rằng có một cậu bé đang tồn tại trong một thân xác vô dụng là Thượng đế, và tôi không giải thích được vì sao tôi lại cảm nhận được rõ ràng về sự hiện diện của Người đến thế. Tôi đã không được tiếp xúc với các nghi thức và truyền thống thờ phụng Người tại nhà thờ và tôi cũng biết mình chưa từng có cơ hội đó kể cả trong giai đoạn trước khi tôi lâm bệnh bởi vì gia đình tôi, dù cho có tin vào Chúa, cũng không tham dự lễ nhà thờ. Nhưng theo bản năng tôi biết rằng Người có ở đó với tôi khi tâm trí tôi dần trở nên lành lặn. Có những thời điểm tôi cảm thấy thật bối rối khi được vây quanh bởi mọi người, hoàn toàn cô đơn và nhận thấy chỉ có Chúa là bạn đồng hành. Và vì thế mà niềm tin trong tôi mới không hề dao động. Sự hiện diện của Người cũng giống như là không khí vậy, liên tục như những nhịp thở ra hít vào của cơ thể. Khi tôi dần lấy lại sức mạnh để cử động cổ và bắt đầu cúi đầu hay xoay mặt sang phải, thỉnh thoảng ngẩng lên hoặc mỉm cười, người khác vẫn không nhận ra được ý nghĩa của những cử chỉ mới mẻ nơi tôi. Họ không thể tin rằng phép lạ lại có thể xảy ra những hai lần: tôi đã sống sót trước lời dự đoán của các bác sĩ về cái chết của mình, nên chẳng một ai nghĩ tới việc tìm kiếm sự can thiệp của Thượng đế lần thứ hai. Rồi khi tôi bắt đầu “trả lời” là có hoặc không trước những câu hỏi đơn giản bằng một cái quay đầu hay một nụ cười, người ta vẫn cứ cho rằng nó chỉ đơn giản là một sự tiến triển cơ bản. Không một ai cho rằng sự tiến bộ trong những phản ứng của tôi có thể tương đồng với việc trí tuệ nơi tôi một lần nữa đã quay trở lại. Từ lâu lắm rồi họ được thông báo rằng não bộ tôi bị tổn thương nghiêm trọng, nên khi một chàng trai trẻ với chân tay cứng ngắc như cây củi, với đôi mắt trống rỗng, với nước bọt chảy dọc cằm đôi khi ngẩng đầu lên thì tất cả cũng chỉ là như thế.

Và vì vậy mà tôi luôn được chăm sóc – cho ăn và cho uống, lau người và tắm rửa – nhưng chưa bao giờ được quan tâm thật sự. Hết lần này tới lần khác tôi đòi hỏi đống chân tay không biết vâng lời thực hiện một cử chỉ và cho một ai đó thấy được tôi vẫn đang ở đây, nhưng chúng nào có chịu lắng nghe lời tôi nói.

Tôi ngồi trên giường mình. Tim tôi đập như trống bổi khi ba thay quần áo cho tôi. Tôi muốn ông biết, tôi muốn ông hiểu rằng tôi đã trở về với ông. Ông phải nhìn thấy tôi!

Tôi nhìn chằm chằm vào cánh tay mình, tôi muốn nó hoạt động. Từng tế bào trong cơ thể tôi đều ngưng tụ vào trong một giây phút này. Tôi nhìn vào cánh tay mình – năn nỉ, dụ dỗ, khuyên răn, và cầu xin nó. Tim tôi đập thình thịch khi tôi cảm giác được nó phản ứng trước những lời nài nỉ của mình. Tay tôi đang vẫy cao trên đầu mình. Cuối cùng tôi cũng quay trở về với một dấu hiệu mà tôi phải mất thật nhiều thời gian mới thực hiện được.

Nhưng khi tôi nhìn ba, khuôn mặt ông không có biểu hiện của sự kinh ngạc hay bất ngờ nào hết cả. Ông chỉ đang tập trung vào việc cởi giày cho tôi.

Ba ơi! Con ở đây! Ba có nhìn thấy không?

Nhưng ba tôi không để ý. Ông tiếp tục cởi quần áo cho tôi, và tôi hướng ánh nhìn bất mãn lên đôi tay mình. Chỉ khi đó tôi mới nhận thấy nó không hề chuyển động. Dù cho niềm hy vọng trong tôi có mạnh mẽ nhường nào, nó chỉ biểu hiện ra ngoài là sự co giật của khối cơ bắp nơi khuỷu tay tôi. Một chuyển động yếu ớt mà tôi biết ba sẽ không bao giờ nhận ra.

Cơn giận dâng trào trong tôi. Tôi cảm thấy chắc chắn tôi sẽ nổ tung mất. Tôi thở hổn hển.

“Này nhóc, con không sao chứ?” ba hỏi tôi khi ông nghe thấy tiếng tôi thở và ngước nhìn.

Tôi chẳng thể làm gì trừ việc nhìn lại ông, cầu nguyện rằng sự im lặng đầy tuyệt vọng của tôi tự nó sẽ cất lên tiếng nói.

“Chúng ta đi ngủ thôi, con nhé?”

Chiếc áo ngủ được chùm qua đầu tôi, và tôi nằm xuống. Cơn giận gặm cắn dạ dày tôi. Tôi biết rằng tôi phải thoát khỏi nó; nếu không tôi sẽ vô cùng đau đớn. Tôi phải đánh mất mình trong hư vô, không thì tôi sẽ phát điên mất.

Vào những lúc khác tôi cố gắng rên rỉ, hy vọng rằng nếu một tiếng động thoát ra từ trong lồng ngực mình sẽ khiến người khác tự hỏi nó có nghĩa là gì, nhưng tôi chẳng bao giờ có thể tạo ra một tiếng động như thế. Trong những năm tháng sau này tôi cũng cố gắng để nói, nhưng tôi vẫn chỉ im lặng. Tôi không thể cầm nổi một cây bút để nguệch ngoạc một tin nhắn hay thốt ra một lời kêu gọi giúp đỡ. Tôi là kẻ bị bỏ lại trên hòn đảo hoang vu của chính mình, và giấc mơ được giải cứu của tôi tan biến ngay khi hy vọng mới nhen nhóm trong lòng.

Đầu tiên là nỗi khiếp sợ, rồi sau đó là sự thất vọng và cay đắng, rồi tôi lại quay về bên trong bản thể của mình để sống sót. Như một con rùa chui vào trong cái mai của nó, tôi học được cách trốn tránh khỏi thực tại bằng trí tưởng tượng. Tôi biết rõ tôi rồi sẽ phải dành phần còn lại của đời mình cũng bất lực như mỗi một ngày hiện hữu, và rồi tôi cũng chẳng còn cố nữa cái việc phản ứng lại với cuộc đời mà chỉ nhìn chằm chằm vào thế gian này với một biểu cảm vô hồn.

Đối với những người khác, tôi chỉ như một thứ cây cảnh: một vật được tưới nước và đặt trong góc nhà. Mọi người đều quá quen thuộc với việc tôi không ở đó nên họ cũng chẳng thể nhận thấy khi tôi có mặt một lần nữa.

Rốt cục, từ rất lâu trước đó tôi đã được đặt vào trong một chiếc hộp. Mỗi chúng ta đều vậy. Có phải bạn là một đứa trẻ “ngỗ ngược” hay là một người tình “gian dối”, một cậu em trai hay “cãi bướng” hay là một người bạn đời chỉ biết “nhịn nhục”? Những chiếc hộp ấy khiến chúng ta trở nên dễ hiểu hơn, nhưng chúng cũng cầm tù chúng ta bởi con người ta không thể nhìn xuyên qua chúng.

Tất cả chúng ta đều có những nhận định cố chấp về mỗi một con người dù cho sự thực có thể khác xa so với những gì mà ta nghĩ rằng mình thấy rõ. Đó là lý do vì sao không một ai hoài nghi về việc tôi bắt đầu đủ tiến bộ để trả lời những câu hỏi đơn giản như “Cậu có thích trà không” bằng một cái quay đầu hay với một nụ cười.

Đối với hầu hết những người từng gặp gỡ tôi, tôi chỉ đơn giản là một phần công việc của họ. Đới với những người nhân viên tại trung tâm chăm sóc của tôi, tôi chỉ là một vật quen thuộc mà họ không còn quan tâm nữa sau nhiều năm trời; đối với các nhân viên chăm sóc ở những trung tâm khác mà tôi được gửi tới mỗi khi ba mẹ mình đi xa, tôi chẳng qua chỉ là một bệnh nhân vãng lai; và đối với những vị bác sĩ, tôi chỉ là “anh chàng không làm được gì nhiều,” như lời một người từng nói với đồng nghiệp của mình khi tôi nằm đó như một con sao biển trên bàn chụp X quang.

Ba mẹ tôi có công việc toàn thời gian và hai đứa con khác cần chăm sóc ngoài tôi ra, nhưng họ đã làm tất cả những điều có thể từ việc thay bỉm tới cắt móng chân cho tôi. Tham dự vào việc chăm sóc tôi đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực, vì thế chẳng có gì phải ngạc nhiên khi mẹ và ba không ngừng nghĩ tới việc liệu tôi có mắc phải một chứng bệnh lạ và khả năng phục hồi là một phép màu

Vì vậy, đó là lý do tại sao tôi ở lại bên trong chiếc hộp mà tôi đã được đặt vào từ rất lâu trước đây. Chiếc hộp ấy được đánh dấu bởi một từ duy nhất: “đần.”


[1] Nelson Rolihlahla Mandela (18/7/1918 – 5/12/2013),Tổng thống Nam Phi từ năm 1994 đến 1999, và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu. Trước khi trở thành tổng thống, Mandela là nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc), và là người đứng đầu Umkhonto we Sizwe, phái vũ trang của Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC). Vào năm 1962 ông bị bắt giữ và bị buộc tội phá hoại chính trị cùng các tội danh khác, và bị tuyên án tù chung thân. Mandela đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben. Sau khi được trả tự do vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, Mandela đã lãnh đạo đảng của ông trong cuộc thương nghị để tiến tới một nền dân chủ đa sắc tộc vào năm 1994. Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình từ năm 1994 đến 1999, Mandela thường ưu tiên cho vấn đề hòa giải dân tộc. Tại Nam Phi, Mandela còn được biết tới với tên gọi Madiba, một tước hiệu danh dự mà bộ lạc của ông thường trao cho những già làng. Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn bốn thập niên, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993.

[2] Diana, Vương phi xứ Wales (Diana Frances Mountbatten-Windsor; nhũ danh Spencer; 1/7/1961 – 31/8/1997), báo chí Việt Nam thường gọi là Công nương thay vì Vương phi, là vợ thứ nhất của Charles, Thân vương xứ Wales, con trai trưởng của Nữ hoàng Elizabeth II. Hai con trai của bà là Hoàng tử William và Hoàng tử Harry, xếp thứ hai và thứ ba trong thứ tự kế vị ngôi vua của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và 15 vùng đất khác thuộc Khối thịnh vượng chung trong thời gian bà còn sống.

Diana trở thành người nổi tiếng sau khi bà đính hôn với Thái tử Charles. Cuộc sống của bà đã trở thành đề tài chú ý của công chúng do địa vị hoàng gia và các hoạt động xã hội của bà. Sau nhiều năm dư luận bàn tán về các vấn đề trong cuộc sống hôn nhân của họ, khiến cho Thái tử Charles và Diana phải ly dị vào ngày 28/8/1996, kết thúc 15 năm cuộc hôn nhân của họ. Một năm sau khi Diana ly dị với Thái tử Charles, bà đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi xảy ra dưới đường hầm cầu Alma ở Paris, Pháp vào ngày 31/8/1997.

 

CHƯƠNG 5: VIRNA

Mùi tinh dầu quýt thật hắc nhưng cũng thật ngọt ngào khi Virna xoa bóp tay cho tôi. Đôi bàn tay cô dịch chuyển liên tục khi cô làm việc với những khối cơ co cứng của tôi. Khi tôi nhìn cô, cô ngẩng đầu và mỉm cười với tôi, và tôi lại tự hỏi tại sao tôi không nhận ra niềm hy vọng khi nó lần đầu tiên đến với cuộc đời mình.

Ban đầu tất cả những gì tôi biết là Virna không bao giờ lộ răng mỗi khi cười và cô thường đong đưa chân mỗi khi ngồi bắt chéo chân trên ghế. Cô bắt đầu làm việc tại trung tâm chăm sóc như một chuyên gia điều trị bằng phương pháp xoa dịu, và tôi để tâm tới những chi tiết về cô bởi vì đó là những gì mà bạn vẫn làm khi người khác không nói chuyện cùng bạn. Nhưng rồi Virna bắt đầu nói chuyện với tôi, và tôi nhận ra cô là người mà tôi sẽ không bao giờ quên được. Mọi người đều nói về tôi, hay về thế giới xung quanh tôi, vì vậy bất cứ ai đối xử với tôi như một vết cắt phía trên phần rễ của các loại rau củ đều trở nên đặc biệt.

Vào một buổi chiều Virna bảo với tôi rằng cô bị đau bụng. Đó tựa như một lời thú nhận thường ngày mà tôi vẫn nghe được từ những người xung quanh trong nhiều năm khi họ tán chuyện bâng quơ, cho rằng tôi không giống với họ. Những điều tôi biết về tình trạng sức khỏe của các điều dưỡng viên đều không đáng bận tâm: một người có chồng bị bệnh Alzheimer[1], một người khác có vấn đề về thận, và một người phụ nữ không thể có con vì bị u xơ cổ tử cung.

Nhưng khi Virna nói chuyện thì lại hoàn toàn khác. Cô không tự nói chuyện với chính mình, với một ai khác, hay là với căn phòng trống không như những người khác vẫn thường làm. Cô nói chuyện cùng tôi, những câu chuyển phiếm mà cô sẽ cùng chia sẻ với bất kỳ ai ở cùng độ tuổi của mình về những suy nghĩ hiện ra trong đầu cô như những hạt bụi bay trong nắng. Đó là câu chuyện mà những người bạn ở độ tuổi hai mươi vẫn thường trao đổi với nhau mà tôi chưa từng được trải nghiệm trước đó. Rất nhanh Virna bắt đầu kể cho tôi nghe mọi điều về nỗi buồn khi bà cô bị ốm cho tới chú chó nhỏ mà cô mới nhận nuôi rồi cả về chàng trai mà cô sắp sửa hẹn hò. Tôi có cảm giác như thể tôi đã có được người bạn đầu tiên.

Đó là lý do cho việc tôi bắt đầu quan sát Virna, một việc mà tôi không thường thực hiện. Đầu tôi thường có cảm giác nặng nề mỗi khi tôi gắng ngẩng đầu lên, và tôi hiếm khi cùng ngang tầm mắt với những người khác bởi tôi thường ngồi trên ghế hoặc nằm xuống. Vì quá vất vả nên đã từ lâu tôi từ bỏ nỗ lực giao tiếp bằng ánh mắt với những người chỉ nhìn mà không thấy. Nhiều giờ trong ngày tôi ngồi nhìn chằm chằm vào không khí. Nhưng điều đó đã thay đổi khi Virna bắt đầu tiến hành mát xa bằng hương liệu cho tôi cùng các học viên tại trung tâm nhằm giúp cho chân tay của chúng tôi được thư giãn. Tôi nằm ngửa trong khi cô xoa bóp những cơ bắp nhức mỏi cho tôi, tôi có thể dõi mắt theo cô trong lúc cô nói chuyện, và từng chút một tôi bắt đầu ló ra khỏi chiếc vỏ mà tôi vẫn chui rúc vào.

Virna nhìn nhận tôi một cách thích đáng, điều mà không một ai từng thực hiện với tôi trong suốt một thời gian dài. Cô ấy nhìn thấy đôi mắt tôi thực sự là cửa sổ của tâm hồn tôi và ngày càng bị thuyết phục rằng tôi hiểu hết những điều cô nói. Nhưng làm sao để cô có thể thuyết phục được những người khác rằng cậu bé ma không biết phản ứng còn có nhiều khả năng khác?

Nhiều tháng trở thành một năm và sau đó là hai. Khoảng sáu tháng trước, Virna có xem một chương trình TV nói về một người phụ nữ được trợ giúp để giao tiếp sau khi bị câm do tai biến của một cơn đột quỵ. Ngay sau khi Virna tới một viện điều dưỡng gần trung tâm của chúng tôi và lắng nghe một vị chuyên gia giảng giải về cách thức hỗ trợ những người không có khả năng nói, và cô ấy quay trở về trung tâm chăm sóc và hào hứng kể cho tôi nghe.

“Họ sử dụng nút bấm hoặc công tắc và các thiết bị điện tử để giúp con người giao tiếp,” cô kể. “Anh có nghĩ là anh cũng có thể làm được như thế không, Martin? Em tin là anh có thể đấy.”

Những nhân viên chăm sóc khác cũng tới tham dự buổi nói chuyện ngày hôm đó nhưng không một ai bị thuyết phục giống như Virna về việc tôi có thể là một ứng cử viên thích hợp.

“Cô có nghĩ là cậu ấy thực sự có khả năng không?” một người hỏi sau khi nghe cô bày tỏ hy vọng về tôi.

Người phụ nữ ấy cúi xuống nhìn tôi với bóng dáng mơ hồ của một nụ cười trên gương mặt, và tôi mỉm cười để cố gắng chỉ cho bà ấy thấy rằng tôi có hiểu những điều bà nói. Nhưng hai cử chỉ duy nhất của tôi — giật đầu xuống bên phải và mỉm cười — được thông dịch thành một phản ứng co giật của một trí tuệ kém phát triển, thứ phản ứng mà bất kỳ một đứa trẻ sáu tháng tuổi nào cũng có thể thực hiện, và vì thế mà bà ấy không nhận ra bất cứ điều gì.

Nữ nhân viên chăm sóc kia nhìn vào tôi và thở dài khi nụ cười trên gương mặt bà ta biến mất. Tôi tự hỏi liệu bà ấy có biết rằng hơi thở của mình mang đầy vị đắng chát của tách cà phê mà bà vừa uống hay không.

 

“Chị có tưởng tượng được chuyện lố bịch vừa rồi không?” bà ta nói với một người bạn sau khi Virna rời đi. “Những người như bọn họ sẽ không có cách nào để giao tiếp đâu.”

Hai người phụ nữ ấy nhìn quanh căn phòng.

“Gertje thì sao?”

Họ nhìn về phía một cậu bé đang chơi với chiếc ô tô gần đó.

“Thằng bé này khá hơn những đứa khác một chút, nhỉ?”

Những người phụ nữ yên lặng trong một lúc trước khi ánh mắt họ dừng lại trên người tôi. Họ không nói gì khi nhìn thấy tôi ngồi trên chiếc xe lăn. Họ không cần phải nói. Tôi biết rằng tôi vẫn được xem như là một trong những đối tượng thấp kém nhất ở cái nơi mà yêu cầu đầu vào chỉ là một chỉ số IQ ở mức ba mươi hay ít hơn.

Mặc cho tất cả những nghi ngờ ấy, Virna không hề dao động. Một ngọn lửa của niềm tin đã được nhóm lên trong cô. Sau khi lặp đi lặp lại với người khác rằng cô cho là tôi có thể hiểu rõ lời người khác nói, cô bắt đầu nói chuyện với ba mẹ tôi, và họ đồng ý sẽ đưa tôi đi kiểm tra. Ngày mai ba mẹ sẽ đưa tôi tới chỗ mà tôi cuối cùng cũng có thể được trao cho chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa nhà tù.

“Anh sẽ cố gắng hết sức mình, nhé?” Virna nói với tôi những lời ấy vào lúc này khi cô nhìn tôi.

Tôi có thể thấy được là cô đang lo lắng. Nghi ngại thấp thoáng hiện liên trên gương mặt cô như một bóng mây chạy ngang đường chân trời trong một ngày nắng. Tôi nhìn lại, ước gì tôi có thể nói với cô rằng tôi sẽ vận dụng hết mọi tế bào trên cơ thể này để tận dụng tối đa một cơ hội mà tôi không bao giờ dám nghĩ tới. Đây là lần đầu tiên tôi được đánh giá như thế này, và tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để đưa ra một số dấu hiệu nhỏ rằng tôi xứng đáng với sự chú ý ấy.

“Anh hãy cố gắng hết mình, Martin nhé,” Virna nói. “Điều quan trọng là anh cần chỉ cho họ thấy những gì anh có thể thực hiện bởi vì em biết là anh có thể.”

Tôi nhìn cô ấy. Nước mắt long lanh những tia màu bạc nơi khóe mắt cô. Niềm tin của cô dành cho tôi thật mạnh mẽ và tôi cần phải đền đáp lại điều đó.


[1] Bệnh Alzheimer (AD, SDAT) hay đơn giản là Alzheimer là một chứng mất trí phổ biến nhất. Vào năm 1906, lần đầu tiên bác sĩ tâm thần và thần kinh học người Đức Alois Alzheimer đã chỉ ra căn bệnh này không thể chữa được, mang tính thoái hóa và gây tử vong. Căn bệnh này được đặt theo tên ông. Bệnh này thường xuất hiện ở người trên 65 tuổi, tuy nhiên dạng Alzheimer sớm dù không phổ biến nhưng có thể xảy ra sớm hơn rất nhiều. Năm 2006 có 26,6 triệu người mắc bệnh Alzheimer trên toàn thế giới. Dự đoán tỉ lệ mắc Alzheimer trên thế giới sẽ là 1 trên 85 vào năm 2050.

Mặc dù các ca bệnh Alzheimer có đặc điểm riêng biệt đối với mỗi cá nhân, tuy nhiên có nhiều triệu chứng tương đồng xuất hiện sớm nhưng khi quan sát thường nhầm lẫn với các bệnh ‘liên quan đến tuổi già’, hoặc biểu hiện của stress. Trong giai đoạn đầu, triệu chứng phổ biến nhất được công nhận là không có khả năng để nhớ được việc vừa xảy ra. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bao gồm sự nhầm lẫn, khó chịu, thay đổi tâm trạng, mất khả năng phân tích ngôn ngữ, mất trí nhớ dài hạn, suy giảm các giác quan. Dần dần, cơ thể sẽ mất đi một số chức năng, cuối cùng dẫn đến cái chết. Thông thường khi các triệu chứng này bộc lộ, thì người bệnh chỉ có thể sống được khoảng 7 năm, dưới 3% bệnh nhân sống thọ thêm 14 năm sau khi phát hiện bệnh.

 

 Người dịch: December Child

menu
menu