Cái tâm ham muốn: Từ Thuốc lá đến Điện thoại thông minh tới Tình yêu (Chương 1.2)

cai-tam-ham-muon-tu-thuoc-la-den-dien-thoai-thong-minh-toi-tinh-yeu-chuong-1-2

The Craving Mind: From Cigarettes to Smartphones to Love – Why We Get Hooked and How We Can Break Bad Habits 

Cái tâm ham muốn: Từ Thuốc lá đến Điện thoại thông minh tới Tình yêu – Tại sao chúng ta bị nghiện và làm sao ta có thể bỏ các thói quen xấu

Tác giả: Judson Brewer

 

Sau RAIN

Trong phần còn lại của các buổi đào tạo, tôi đã thêm vào các bài thực hành thiền định chính thức được thực hiện đều đặn vào mỗi buổi sáng hoặc tối như một nền tảng để phát triển và hỗ trợ chánh niệm trong suốt cả ngày. Chúng tôi đã ghi nhật ký những gì mọi người đã làm và không thực hành mỗi tuần và theo dõi số lượng thuốc họ hút mỗi ngày. Đầy tham vọng, tôi đã đặt ra một ngày bỏ thuốc vào cuối tuần 2 (phiên bốn), hóa ra là hơi sớm đối với đa số mọi người. Một số người đã bỏ thuốc lá trong hai tuần và sau đó sử dụng hai tuần còn lại để củng cố các công cụ của họ, và một số người thì mất thời gian lâu hơn tí chút.

Trong khi các bệnh nhân của tôi đang học cách bỏ hút thuốc bằng chánh niệm, một nhà tâm lý học được Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ đào tạo đã đưa ra phương pháp điều trị cai thuốc lá Freedom From Smoking ở một căn phòng khác dưới sảnh. Để đảm bảo rằng chúng tôi không thiên vị bất kì khía cạnh nào của việc đào tạo, cứ mỗi tháng chúng tôi lại đổi phòng. Đến cuối giai đoạn hai năm, chúng tôi đã sàng lọc hơn 750 người và chọn ngẫu nhiên chỉ ít hơn 100 người trong số họ cho thử nghiệm của chúng tôi. Khi các đối tượng cuối cùng hoàn thành khóa huấn luyện của họ, chúng tôi đã lấy tất cả dữ liệu và xem thử huấn luyện chánh niệm chống lại cơn thèm muốn hiệu qua ra sao.  

Tôi đã hy vọng rằng phương pháp điều trị mới lạ của chúng tôi sẽ hiệu quả như phương pháp tiêu chuẩn vàng. Khi dữ liệu trở về từ các nhà thống kê của chúng tôi, những người tham gia nhóm đào tạo chánh niệm đã bỏ thuốc lá với tỷ lệ cao gấp đôi so với nhóm Freedom From Smoking. Hơn nữa, gần như tất cả những người tham gia chánh niệm đã bỏ thuốc lá, trong khi nhiều người ở nhóm khác đã chịu thua, mang lại sự khác biệt gấp năm lần giữa hai nhóm! Điều này tốt hơn nhiều so với mong đợi của tôi.

Tại sao chánh niệm lại có hiệu quả? Chúng tôi dạy mọi người chú ý đến các vòng lặp thói quen của họ để họ trở nên tỉnh ngộ với các hành vi trước đây của họ (hút thuốc) bằng cách thấy rõ những phần thưởng nào mà họ thực sự có được (ví dụ như, mùi vị của hóa chất). Chúng tôi cũng dạy họ những bài tập chánh niệm khác chẳng hạn như ý thức về hơi thở và tâm từ. Có lẽ những người tham gia chương trình đã gây sao lãng cho bản thân bằng những bài thực hành khác, hay có lẽ một điều gì đó hoàn toàn khác đã xảy ra mà chúng tôi không dự liệu được.

Tôi đã giao cho một sinh viên y khoa trường Yale nhiệm vụ tìm kiếm điều gì tạo nên những sự khác biệt. Sarah Mallik đang làm luận án trường y trong phòng thí nghiệm của tôi; cô ấy xem xét liệu thiền định chính thức và thực hành chánh niệm không chính thức (ví dụ như RAIN) có dự đoán được các kết quả ở cả hai nhóm hay không. Cô tìm thấy mối tương quan mạnh mẽ giữa thực hành chánh niệm và bỏ hút thuốc, nhưng không có mối tương quan nào trong nhóm Freedom From Smoking, mà ở đó những người tham gia được nghe một CD dạy họ cách thư giãn và những phương pháp khác làm họ sao lãng khỏi cơn thèm muốn của họ. Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng có thể việc ngồi hết qua những giai đoạn thiền định khó khăn (như tôi đã làm) có thể giúp những người hút thuốc chờ đợi cho những cơn thèm muốn qua đi. Hoặc có thể khả năng ngồi thiền đơn giản là một dấu hiệu rằng cá nhân ấy có nhiều khả năng sử dụng chánh niệm. Chúng tôi phát hiện thấy thực hành RAIN trong nhóm chánh niệm có tương quan cao với các kết quả, trong khi đó các bài thực hành song song phi chính thức trong nhóm Freedom From Smoking thì lại không. Có thể RAIN đã lèo lái kết quả. Không có câu trả lời chính xác, chúng tôi đã công bố kết quả của mình, đưa ra tất cả những lời giải thích có khả năng.4  

Một sinh viên y khoa khác, Hani Elwafi, hứng thú với việc xác định điều gì tạo ra sự khác biệt trong việc giúp đỡ những người sử dụng chánh niệm để bỏ thuốc lá. Nếu chúng ta có thể xác định chính xác cơ chế tâm lý của hiệu quả mà chánh niệm mang lại thì chúng ta sẽ có khả năng sắp xếp các phương pháp điều trị trong tương lai để tập trung vào các thành phần công hiệu. Tương tự như vậy: nếu chúng ta cho người ta ăn súp gà để chữa cảm lạnh, sẽ rất hữu ích nếu biết đó là thịt gà, nước dùng hay cà rốt mới có hiệu quả. Sau đó chúng ta có thể đảm bảo rằng người ốm sẽ nhận được thành phần đó.

 Hani lấy dữ liệu của Sarah và bắt đầu tìm xem công cụ huấn luyện chánh niệm nào (thiền, RAIN,...) có tác động mạnh nhất lên mối quan hệ giữa cơn thèm thuốc và chuyện hút thuốc. Chúng tôi xem xét cụ thể mối quan hệ giữa cơn thèm thuốc và việc hút thuốc bởi vì cơn thèm thuốc rõ ràng có liên quan như một phần của vòng lặp thói quen. Không có cảm giác thèm thuốc, người ta sẽ ít hút thuốc hơn. Hani phát hiện thấy trước khi được đào tạo chánh niệm, cơn thèm thuốc sẽ dự đoán hành vi hút thuốc. Nếu người ta thèm một điếu thuốc thì họ rất có thể sẽ hút một điếu. Tuy nhiên, vào cuối bốn tuần đào tạo, mối quan hệ này đã bị cắt đứt. Thật thú vị, những người bỏ thuốc lá báo cáo mức độ thèm thuốc lá của họ cũng bằng những người không bỏ được thuốc lá. Nhưng họ lại không hút khi họ thèm thuốc. Theo thời gian, cơn thèm thuốc của họ giảm đi khi họ bỏ hút. Điều này hợp lý, và trong báo cáo của chúng tôi, chúng tôi đã giải thích như sau:

Một phép so sánh đơn giản đó là sự thèm muốn giống như một ngọn lửa được nuôi dưỡng bằng việc hút thuốc. Khi một người dừng hút thuốc, ngọn lửa thèm muốn vẫn còn cháy và chỉ cháy trụi khi nhiên liệu của nó được tiêu thụ hết (và không được tiếp thêm nhiên liệu nữa). Dữ liệu của chúng tôi ủng hộ trực tiếp điều này:

(1) Sự giảm cơn thèm thuốc đến chậm hơn việc dừng hút thuốc hoàn toàn đối với những người đang cai thuốc, điều này cho thấy rằng, ban đầu những "nhiên liệu" còn tồn lại giữ cho cơn thèm tiếp tục trỗi dậy, sau đó nó được tiêu thụ dần dần, điều này giải thích cho giai đoạn chững lại thường thấy của quá trình giảm cơn thèm thuốc;

và (2) sự thèm muốn tiếp tục tồn tại ở những người liên tục hút thuốc, cho thấy họ đang liên tục cung cấp nhiên liệu cho nó.5

Chúng tôi rút ra được lời giải thích này trực tiếp từ một văn bản Phật giáo cổ, với rất nhiều phép so sánh cơn thèm muốn với ngọn lửa.6 Những thiền giả thời xưa này rất thông minh.

Và cuối cùng là câu hỏi lúc đầu của chúng ta: Kỹ năng chánh niệm nào là yếu tố dự báo lớn nhất của sự phá vỡ mối liên kết giữa cơn thèm thuốc và việc hút thuốc? Người chiến thắng: RAIN. Trong khi các thực hành thiền định chính thức có mối tương quan tích cực với kết quả, thì thực hành RAIN không chính thức là phương pháp duy nhất vượt qua tập hợp thống kê cho thấy mối quan hệ trực tiếp để phá vỡ mối liên kết thèm thuốc-hút thuốc.

Các nhà sư và các cơ chế

Càng xem xét lý do tại sao huấn luyện chánh niệm lại giúp con người từ bỏ và không bị tái nghiện, tôi càng hiểu được tại sao các phương pháp điều trị và cách tiếp cận khác lại thất bại. Một số nghiên cứu đã liên kết giữa sự thèm thuốc và hút thuốc. Tránh các tín hiệu (kích hoạt) có thể giúp con người không bị kích hoạt, nhưng lại không nhắm trực tiếp đến cốt lõi của vòng lặp thói quen. Ví dụ, tránh xa những người bạn hay hút thuốc có thể hữu ích. Nhưng, bị sếp la mắng có thể kích hoạt hành vi hút thuốc của một người, thì né tránh sếp có thể dẫn đến những yếu tố gây stress khác, thí dụ như thất nghiệp. Các chiến lược thay thế cổ điển chẳng hạn như ăn kẹo từng giúp con người bỏ hút thuốc. Ngoài việc bị tăng cân (thường gặp khi cai thuốc lá), kỹ thuật này huấn luyện cho người tham gia ăn uống khi họ lên cơn thèm hút thuốc. Dữ liệu của chúng tôi cho thấy chánh niệm đã tách rời mối liên kết giữa thèm thuốc và hút thuốc. Hơn nữa, việc tách rời cơn thèm muốn và hành vi có vẻ quan trọng trong việc ngăn chặn các tín hiệu trở nên mạnh mẽ hơn hoặc nổi bật hơn. Mỗi lần chúng ta ấn định một ký ức liên kết một tín hiệu với một hành vi, bộ não chúng ta bắt đầu tìm kiếm tín hiệu và bạn bè của nó—bất cứ thứ gì giống với tín hiệu gốc đó đều có thể kích hoạt một cơn thèm muốn.

Tôi rất tò mò. Trong hành trình khám phá thiền định của mình, tôi đã đọc qua nhiều giáo lý Phật giáo nhấn mạnh rằng phải làm việc với sự ham muốn.7 Nhắm vào ham muốn và bạn có thể chinh phục được một chứng nghiện ngập. Và việc nhắm vào ham muốn này không phải bằng cách dùng bạo lực mà thông qua việc hướng đến nó hoặc lại gần nó. Thông qua việc quan sát trực tiếp, chúng ta có thể trở nên, thuật ngữ asava được dịch là, ít “say mê hơn.” Tôi đã nhìn thấy hiệu ứng này với các bệnh nhân của tôi. Họ không còn bị mê hoặc bởi chất gây nghiện bằng cách quan sát trực tiếp họ nhận được phần thưởng gì từ việc hành động theo những thôi thúc của họ. Chính xác thì quá trình này hoạt động như thế nào?

Jake Davis trước đây là một tu sĩ Phật giáo nguyên thủy và là học giả về Pali (ngôn ngữ mà giáo lý Phật giáo được viết ra đầu tiên). Lần đầu tiên tôi gặp anh ấy sau khi tôi kết thúc việc học nội trú và gia nhập khoa Yale. Chúng tôi đã gặp nhau thông qua một người bạn và đồng nghiệp, Willoughby Britton, cũng là một học viên thiền và một nhà nghiên cứu tại Đại học Brown. Vào thời điểm đó, Jake đang học cao học về triết. Chúng tôi rất tâm đầu ý hợp, vì cả hai đều không có hứng thú khi nói về những thứ không liên quan đến thiền. Có lúc, tôi đã cho anh ấy thấy những mô hình tâm lý hiện tại của việc học-dựa trên-phần thưởng. Theo tôi, chúng có vẻ giống với mô hình Phật giáo của nhân duyên (dependent origination) một khái niệm mà tôi đã học được khi đọc các văn bản Phật giáo ở trường cao học. Theo Pali Canon, Đức Phật được cho là đã suy ngẫm về ý tưởng này vào đêm mà ông ấy đã giác ngộ. Có lẽ nó đáng để xem xét thêm. 

Nhân Duyên mô tả mười hai liên kết của một vòng lặp nguyên nhân-và-kết quả. Một cái gì đó xảy ra phụ thuộc vào một cái gì đó khác khiến nó xảy ra - theo nghĩa đen, “Cái này có vì cái kia có. Cái này không có vì cái kia không có.” Điều này đập vào mắt tôi vì nó dường như đang mô tả về điều kiện hoạt động, hay việc học-dựa trên-phần thưởng, 2,500 năm trước. Nó như thế này. Khi chúng ta gặp phải một trải nghiệm cảm giác, tâm trí của chúng ta diễn giải nó dựa trên kinh nghiệm trước đây của chúng ta (cách gọi cổ điển là “vô minh”). Cách diễn giải này tự động tạo ra một “giai điệu cảm giác” được cảm nhận là dễ chịu hoặc khó chịu. Giai điệu cảm giác dẫn đến một sự thèm muốn hay một thôi thúc—để tiếp tục cảm giác dễ chịu hay xua đuổi sự khó chịu. Do đó thúc đẩy, chúng ta hành động theo sự thôi thúc, tạo điều kiện cho sự ra đời của cái mà Tâm lý học Phật giáo nói đến, một bản sắc (self-identity). Thú vị là, thuật ngữ của nhiên liệu (upadana) được dịch là “dính mắc/gắn bó attachment”. Kết quả của hành động được ghi lại như một ký ức, sau đó tạo điều kiện cho “vòng tái sinh” tiếp theo hay còn gọi là luân hồi.

 

Mô hình này nghe có vẻ khó hiểu. Dần dà, Jake và tôi tháo gỡ từng thành phần này và phát hiện ra Nhân Duyên thực sự phù hợp với việc học-dựa trên-phần thưởng. Bạn thấy đấy, các bước của nhân duyên về cơ bản là giống với các bước của việc học-dựa trên-phần thưởng. Chúng chỉ có những tên gọi khác nhau mà thôi.

Bắt đầu từ đỉnh, quan điểm cổ xưa về sự vô minh rất giống với quan điểm thời hiện đại về thành kiến chủ quan (subjective bias). Chúng ta nhìn sự việc theo một cách thức nhất định dựa trên những ký ức về các kinh nghiệm trước đây của chúng ta. Những thành kiến này đã ăn sâu vào những phản ứng theo thói quen nào đó thường bị ảnh hưởng về bản chất—tức là, chúng liên quan đến cách ta cảm nhận điều gì đó về mặt cảm xúc. Những phản ứng thiếu suy xét này tương ứng với sự dễ chịu và ghét bỏ được mô tả bởi nhân duyên. Nếu socola có mùi vị thơm ngon với chúng ta trong quá khứ, thì trông thấy nó có thể đem lại một cảm giác dễ chịu. Nếu chúng ta bị ngộ độc thực phẩm vào lần cuối cùng ta ăn socola, chúng ta có thể chẳng cảm thấy thích thú gì vào lần tới khi ta nhìn thấy nó. Một cảm giác dễ chịu đưa đến một cơn thèm muốn theo cả hai kiểu. Và ở cả hai kiểu, sự thèm muốn dẫn đến hành vi hoặc hành động. Tới lúc này vẫn chưa sao. Bây giờ là nơi tôi cần đến sự trợ giúp. Trong nhân duyên, hành vi dẫn đến sự “ra đời”. Phật tử thời xưa không nói rõ ràng về sự hình thành ký ức (vị trí của tâm trí trong thời cổ đại được cho là nằm ở gan trong một số nền văn hóa, và nằm ở tim trong những nền văn hóa khác). Nếu chúng ta đang nghĩ mình là ai, thì hiểu biết về bản sắc, danh tính của chúng ta chủ yếu dựa vào ký ức. Vậy cũng tốt. Tất nhiên, vòng tái sinh hoàn toàn phù hợp. Mỗi lần chúng ta uống rượu, hút thuốc, hoặc làm những hành vi khác như một cách thức để trốn thoát khỏi một trải nghiệm khó chịu, thì tức là chúng ta đang huấn luyện cho bản thân làm nó lại một lần nữa—mà không hề giải quyết được vấn đề. Nếu chúng ta cứ tiếp tục đi theo hướng đó thì khổ đau của ta sẽ tiếp tục không ngừng.

Jake và tôi đã vẽ một sơ đồ đơn giản hóa đúng với hình thức của nhân duyên— Cái này có vì cái kia có—nhưng nói theo ngôn ngữ thời hiện đại. Chúng tôi sử dụng một cặp kính để biểu thị bước đầu tiên trong bánh xe (sự vô minh) để giúp mọi người hình dung cái nhìn thiên vị này về thế giới đã lọc các thông tin đến như thế nào và giữ cho bánh xe quay tròn, duy trì chu kỳ hình thành thói quen và củng cố thói quen. 

Phiên bản đơn giản của nhân duyên. Copyright Judson Brewer, 2014

Ngoài ra, chúng tôi đã xuất bản một bài báo sử dụng nghiện ngập làm ví dụ để cho các học giả, bác sĩ lâm sàng và nhà khoa học thấy sự tương đồng đáng chú ý giữa nhân duyên và việc học tập-dựa trên-phần thưởng.8

Sau khi được thử nghiệm trong nhiều bài thuyết trình và thảo luận trong hội thảo trong vài năm qua, các mô hình có vẻ vẫn đứng vững. Chúng giúp kết nối các ý tưởng cổ xưa và hiện đại đằng sau các cơ chế tiềm năng về cách hoạt động của các phương pháp điều trị của chúng tôi. Và theo học thuyết Darwin, quan điểm sự tồn tại chỉ dành cho kẻ mạnh, kỳ lạ thay trấn an rằng một số mô hình tâm lý chẳng hạn như nhân duyên đã đứng vững trước thử thách của thời gian, liệu chúng có được coi là phù hợp với mô hình mới hay không, được khám phá lại trong ngày nay, hoặc được xem như rượu cũ trong những chiếc bình mới.

Trong thế giới của khoa học, học tập-dựa trên-phần thưởng diễn ra như thế này: phát triển một lý thuyết hoặc khám phá một cái gì đó mới (kích hoạt), là người đầu tiên xuất bản một bài viết về nó (hành vi) và những người khác sẽ trích dẫn nghiên cứu của bạn, bạn sẽ được thăng tiến và v.v..(phần thưởng). Thậm chí còn có một thuật ngữ liên quan đến những gì xảy ra khi ai đó xuất bản trước chúng ta: “bị hớt tay trên.” Có vẻ như Đức Phật đã hớt tay trên của Skinner, từ rất lâu trước khi giấy được phát minh.

Câu hỏi xuất hiện trong đầu tôi nhiều năm nay cuối cùng đã được trả lời. Tôi có thể thấy từ chính những quá trình nghiện suy tư của tôi, làm thế nào tôi tạo lập những thói quen càng khiến tôi khao khát suy tư nhiều hơn. Từ những hiểu biết này, tôi có thể hiểu và liên hệ đến các vấn đề của các bệnh nhân của tôi và học cách làm thế nào điều trị các chứng nghiện của họ cho tốt hơn. Kiến thức này đã dẫn đến các thử nghiệm lâm sàng của chúng tôi, cho thấy các kỹ thuật này có hiệu quả với nhiều người. Hiểu biết đó giúp chúng tôi trở lại từ đầu—bằng cách học được rằng các mô hình cơ chế thời hiện đại cũng giống như các mô hình đã phát triển hàng ngàn năm trước. Liệu những mô hình này có thể hỗ trợ cho những hành vi khác ngoài sự nghiện ngập được không? Liệu trên thực tế, chúng có thể giúp mọi người sống tốt hơn không? 

---------------------

4. J. A. Brewer et al., “Mindfulness Training for Smoking Cessation: Results from a Randomized Controlled Trial,” Drug and Alcohol Dependence 119, nos. 1–2 (2011): 72–80. 

5. H. M. Elwafi et al., “Mindfulness Training for Smoking Cessation: Moderation of the Relationship between Craving and Cigarette Use,” Drug and Alcohol Dependence 130, nos. 1–3 (2013): 222–29. 

6. G. DeGraff, Mind like Fire Unbound: An Image in the Early Buddhist Discourses, 4th ed. (Valley Center, Calif.: Metta Forest Monastery, 1993). 

7. B. Thanissaro, trans., Dhammacakkappavattana Sutta: Setting the Wheel of Dhamma in Motion (1993); available from Access to Insight: Readings in Theravada Buddhism, www.accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn56/sn56.011.than.html. 

8. J. A. Brewer, H. M. Elwafi, and J. H. Davis, “Craving to Quit: Psychological Models and Neurobiological Mechanisms of Mindfulness Training as Treatment for Addictions,” Psychology of Addictive Behaviors 27, no. 2 (2013): 366–79.

 

(hết chương 1)

menu
menu