Kỹ thuật ứng phó với đau đớn và bệnh tật của trường phái Khắc kỷ (phần 1)

ky-thuat-ung-pho-voi-dau-don-va-benh-tat-cua-truong-phai-khac-ky-phan-1

Đau đớn, khó chịu, mệt mỏi -- tất cả chỉ là những cảm giác không thoải mái mà thôi.

Bài dịch này ad trích từ cuốn How to Think Like a Roman Emperor: The Stoic Philosophy of Marcus Aurelius (Làm thế nào để suy nghĩ như Hoàng đế La Mã: Triết lý Khắc kỷ của Marcus Aurelius)

Tác giả: Donald Robertson

Lời người dịch: Trong bài viết này, các bạn sẽ học được các chiến lược và kỹ thuật ứng phó với bệnh tật và đau đớn của triết gia Khắc kỷ, nhờ thế mà họ vẫn luôn giữ được thái độ sống bình thản trước nghịch cảnh, trước những việc ngoại thân. Kỹ thuật của phái Khắc kỷ đã trở thành trọng tâm của trị liệu nhận thức-hành vi (CBT)ngày nay trong tâm lý học.

 

Marcus Aurelius được biết đến là người có thể chất yếu đuối, do bệnh mãn tính, nhưng ông cũng nổi tiếng bởi khả năng phục hồi phi thường. Chẳng hạn, nhà sử học Cassius Dio đã viết:

Hẳn nhiên, ông không thể phô trương nhiều chiến tích về sức mạnh thể chất; nhưng ông đã rèn luyện cơ thể mình từ một người rất yếu đuối thành người có sức dẻo dai bền bỉ nhất.1

Làm sao ta giải thích được điều tưởng chừng như nghịch lý này? Làm sao một người đàn ông vốn yếu đuối và hay ốm đau lại trở nên nổi tiếng về sức chịu đựng và sự dẻo dai cứng cỏi? Có lẽ câu trả lời nằm ở thái độ của ông ấy đối với đau đớn và bệnh tật, và các kỹ thuật của người Khắc kỷ mà ông dùng để ứng phó với chúng. 

Khi chiến tranh Marcomannic đầu tiên bùng nổ, Marcus đã gần 50 tuổi, là một ông già theo chuẩn của người La Mã. Tuy nhiên, ông đã mặc áo choàng và giày quân đội, cưỡi ngựa từ Rome, và đóng quân ở tiền tuyến. Ông dành nhiều thời gian của mình tại pháo đài Carnuntum của lính Lê dương La Mã, ở phía bên kia dãy núi Alps, bên bờ sông Danube ở nước Áo ngày nay. Cassius Dio nói với chúng ta rằng ban đầu Marcus quá yếu đuối để có thể chịu đựng được thời tiết lạnh giá ở phương Bắc. Đó là một môi trường nguy hiểm và đày ải thân xác, ngay cả đối với một hoàng đế. Mọi chuyện còn tệ hơn khi nhiều quân lính sống gần nhau, các doanh trại quân đội đặc biệt dễ hứng chịu những đợt bùng phát dịch bệnh. Tuy nhiên, Marcus thường nhún vai phớt lờ những gian nan của cuộc sống ở biên giới phía Bắc.

Bất chấp tình trạng sức khỏe và điều kiện môi trường khắc nghiệt, Marcus vẫn dành hơn một thập kỷ để chỉ huy các đạo quân dọc theo bờ sông Danube. Trong cuốn Suy tưởng, ông tạ ơn các vị thần vì cơ thể ông vẫn chịu đựng được trong một thời gian dài như vậy dưới sự dồn nén thể chất.2 Ông đã sống sót qua hai cuộc chiến tranh Marcomannic và đại dịch Antonine, thọ gần sáu mươi tuổi vào cái thời mà tỷ lệ người đạt được tuổi thọ ấy rất thấp Quả thực, mặc dù ông mắc phải những vấn đề sức khỏe tái phát, ông tìm ra cách để sống lâu hơn phần lớn những người cùng thời với ông. Nhưng, việc đột ngột chuyển sang đời sống quân ngũ hẳn là một thách thức to lớn về sức khỏe đối với ông. Do đó chúng ta không ngạc nhiên khi những bài viết của ông thường tiết lộ bằng chứng của cuộc đấu tranh tâm lý của ông để ứng phó với những vấn đề về bệnh tật.

Dẫu vậy, ông ấy đã tự chuẩn bị để đối mặt với trận chiến nội tâm này gần như suốt cuộc đời ông. Sau nhiều năm, Marcus đã dần học được cách chịu đựng nỗi đau và bệnh tật bằng cách sử dụng các chiến lược tâm lý của Chủ nghĩa Khắc kỷ cổ đại. Suốt thời kỳ chiến tranh, trong khi viết cuốn Suy tưởng, ông đã suy ngẫm về những kỹ thuật đó như một phần của việc thực hành liên tục của ông. Những bản ghi chép đó phản ánh một trạng thái tâm trí đạt được từ hơn ba thập kỷ rèn luyện Chủ nghĩa Khắc kỷ nghiêm khắc. Nói cách khác, thái độ của ông đối với nỗi đau và bệnh tật trong suốt chiến dịch phía bắc không tự nhiên mà đến với ông; ông phải học nó.

Tuy vậy, Suy tưởng không phải là hiểu biết duy nhất của chúng tôi về tư tưởng của Marcus. Vào đầu thế kỷ XIX, học giả người Ý Angelo Mai đã phát hiện ra một kho tàng những lá thư cổ giữa nhà hùng biện người Latin Marcus Cornelius Fronto và nhiều nhân vật trứ danh khác, bao gồm học trò của ông Marcus Aurelius. Chúng tôi không thể xác định được ngày tháng chính xác của những lá thư cá nhân này, nhưng có vẻ chúng xuất hiện trong khoảng thời gian tình bạn của Marcus và Fronto, cho đến khi Fronto qua đời vào khoảng năm 167 sau công nguyên vào thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch Antonine.

Mối quan hệ của họ là đáng chú ý vì nhiều lý do. Lần đầu tiên, các học giả có thể nhìn vào đời tư của Marcus và chứng kiến nhân cách thực sự của ông. Khác xa với bức tranh biếm họa nổi tiếng về một người Khắc kỷ bị coi là kẻ lạnh lùng khắc khổ, Marcus bảy tỏ tình cảm nồng ấm và yêu thương đối với Fronto và gia đình ông ấy. Lối viết của ông tự nhiên và có khiếu hài hước. 

Nhưng có một điều gì đó về những lá thư đó tương phản rõ rệt với cuốn Suy tưởng: những câu chuyện phiếm, và đôi khi ca thán về đủ thứ bệnh. Fronto lớn hơn Marcus chừng hai mươi tuổi và rất thích than thở với Marcus về những cơn đau nhức của ông ta. Trong một ví dụ, Fronto liệt kê các vùng trên cơ thể ông ta bị ảnh hưởng nhiều nhất vào ban đêm bởi cơn đau đang lan ra—“vai, khuỷu tay, đầu gối và mắt cá chân của tôi”—mà ông cho rằng đã ngăn cản ông tự tay viết thư cho Marcus.3

Trong một bức thư khác, ông viết, sau khi anh đi rồi, tôi bị kẹp chặt bởi một cơn đau ở đầu gối, không quá nặng, đủ nhẹ để tôi có thể đi bộ một cách thận trọng và dùng xe ngựa. Tối nay cơn đau đã bùng phát dữ dội hơn, nhưng không quá đau đến mức khiến tôi không dễ chịu đựng nó khi nằm trên giường, nếu nó không trầm trọng hơn.4

Thỉnh thoảng Marcus bị cuốn vào cuộc chuyện phiếm cùng Fronto về các vấn đề sức khỏe của ông. Về tình trạng sức khỏe hiện tại của tôi, anh có thể đánh giá điều đó đủ dễ dàng từ chữ viết tay run rẩy của tôi. Quả thật là sức lực của tôi đang bắt đầu quay lại, và không còn lại gì, ngoài cơn đau trong ngực tôi; nhưng vết loét đang gặm nhấm khí quản của tôi.5 Bức thư đặc biệt này được viết trước khi Marcus được tôn lên làm hoàng đế. Nó cho thấy trước độ tuổi bốn mươi, có lẽ sớm hơn thế, ông đã chịu đựng các loại triệu chứng bệnh sẽ làm ông đau đớn suốt thời gian trị vì của ông. Dù trong những lá thư đó, không có bằng chứng về các kỹ thuật Khắc kỷ để đương đầu với điều đó, chúng tôi tìm thấy hơn một thập kỷ trong cuốn Suy Tưởng.

Khi còn trẻ, Marcus khỏe mạnh và yêu thích hoạt động thể chất, như chúng ta thấy. Khi ở Rome, ông được huấn luyện để mặc áo giáp chiến đấu, có lẽ bởi các đấu sĩ, sử dụng vũ khí dạng dùi cui để luyện tập. Ông cũng thích săn bắn và đặc biệt thích đâm lợn lòi trên lưng ngựa. Ông cũng đi săn mồi, săn chim bằng lưới và giáo.

Vì vậy cái nhìn tổng thể của chúng ta về Marcus thời trẻ là một trong những người đàn ông mạnh mẽ, lực lưỡng. Tuy nhiên khi ông bước vào độ tuổi bốn mươi và năm mươi, ông trở nên yếu ớt về thể chất và điều đó dường như là đặc điểm mà đời sau nhớ đến ông. Chẳng hạn, viết ở thế kỷ thứ tư, Hoàng đế Julian tưởng tượng làn da của Marcus trông có vẻ mờ mờ và trong suốt. Marcus thậm chí còn tự gọi mình trong một bài diễn thuyết là một ông già yếu ớt, không thể nuốt thức ăn mà không cảm thấy đau hay ngủ mà không bị rối loạn. Cuốn Suy tưởng cũng nói đến chuyện ông uống thuốc để chữa bệnh ho ra máu.6 Ông đặc biệt phải chịu đựng những cơn đau ngực và đau dạ dày mãn tính. Ông chỉ có thể ăn được chút thức ăn, ăn vào đêm khuya. Các học giả đưa ra nhiều chẩn đoán khác nhau, phổ biến nhất là bệnh loét dạ dày mãn tính, dù có thể ông còn mắc nhiều chứng bệnh khác.

Sau khi bệnh dịch hạch lần đầu bùng phát ở Rome, ngự y của Marcus, Galen, đã kê đơn cho ông một hợp chất cổ được gọi là chất giải độc, một loại thuốc pha chế thần bí làm từ hàng tá thành phần kỳ lạ và một lượng nhỏ thuốc phiện. Marcus tin rằng thường xuyên uống thuốc giải độc giúp ông chịu đựng được cơn đau dạ dày và đau ngực cũng như những triệu chứng bệnh khác của ông. Ông đã ngừng sử dụng nó một thời gian vì nó làm ông thấy buồn ngủ, nhưng ông tiếp tục uống thuốc nhưng giảm liều lượng thuốc phiện đi. Do đó có vẻ như ông đã dùng thuốc giải độc một cách sáng suốt và ở dạng nhẹ.

Dù thế nào đi chăng nữa, thuốc men rõ ràng là không xóa bỏ được cơn đau và sự khó chịu của Marcus. Cũng giống như nhiều người đang phải chịu đựng cơn đau mãn tính, ông đã phát triển nhiều cách thức khác để đương đầu. Vì vậy qua nhiều năm trời, Marcus dần phụ thuộc vào các kỹ thuật tâm lý của Chủ nghĩa Khắc kỷ như một cách chung sống với bệnh tật, đặc biệt là khi mọi chuyện trở nên khắc nghiệt hơn với ông sau khi gia nhập quân đội bên bờ sông Danube. Trong suốt thời kỳ khốn khổ của đại dịch Antonine và sự giết chóc của chiến tranh Marcomannic, ông đã phải chứng kiến vô số người ứng phó với nỗi đau khổ của họ, một số người đối phó tốt hơn người khác. Trong suốt cuộc đời, ông rút ra được nhiều bài học bằng cách nghiên cứu xem những cá nhân mẫu mực chịu đựng bệnh tật và đau đớn nghiêm trọng như thế nào. Ông giải thích sự khôn ngoan đó thông qua lăng kính của Chủ nghĩa Khắc kỷ và sau đó chắt lọc nó vào cuốn Suy tưởng.

Trái ngược hoàn toàn với những lá thư của Fronto gửi cho Marcus, ông nói thẳng trong cuốn Suy tưởng rằng người đàn ông khôn ngoan không nên có thái độ bi thảm cũng như ca thán về những chuyện xảy ra với anh ta. Ông chắc chắn không đề cập đến những người thầy dạy hùng biện cho ông, Fronto và Herodes Atticus. Tuy nhiên, khi ông viết những lời này, ông có lẽ nhớ đến những người thầy dạy triết của ông, người đào tạo ông về chủ nghĩa Khắc kỷ và mang đến cho ông một tấm gương sống về sự tinh thần kiên cường. Chẳng hạn, cách Apollonius của xứ Chalcedon chịu đựng đau đớn trầm trọng và nhiều căn bệnh dai dẳng đã để lại ấn tượng suốt đời cho Marcus. Apollonius vẫn giữ được sự bình thản của ông vượt qua tất cả những chuyện đó, không bao giờ cho phép bất kỳ trở ngại nào hạ gục ông, luôn luôn giữ cam kết với mục tiêu trong cuộc đời ông là tìm kiếm trí tuệ/thông thái và chia sẻ nó với người khác.7

Tuy nhiên, Claudius Maximus, một trong những gia sư dạy triết lý Khắc kỷ khác của Marcus, dường như đã để lại ấn tượng còn mạnh mẽ hơn với ông. Marcus nhắc đến căn bệnh và cái chết của Maximus ba lần trong cuốn Suy tưởng. GIống như Apollonius, Maximus hoàn toàn   kiên quyết với cam kết theo đuổi sự thông thái dẫu cho có lâm bệnh nặng. Ông không phải là giáo viên Khắc kỷ, như Apollonius, mà là một chính khách La Mã cấp cao và viên tướng chỉ huy tài năng. Ông cũng là một người cứng cỏi và tự lực cánh sinh, nổi tiếng vì sự cam kết với chủ nghĩa khắc kỷ—kiểu người đứng thẳng trên đôi chân của mình. Ông vẫn giữ lòng quyết tâm không nao núng và vui vẻ khi đối mặt với bất cứ khó khăn nào.8 Rất có thể Maximus đã đổ bệnh và qua đời không bao lâu sau khi Viện nguyên lão bổ nhiệm ông làm thống đốc châu Phi vào năm 158 sau công nguyên, và sự ra đi của ông dường như đã ảnh hưởng sâu sắc đến Marcus.

Quả thật, Marcus có vẻ so sánh Maximus với Hoàng đế Antoninus. Cả hai người đàn ông này đều có nghị lực, tự kỷ luật và sức chịu đựng không chê vào đâu được khi đối mặt với đau đớn và bệnh tật. Antoninus biết chăm sóc tốt cho sức khỏe nên gần như suốt cuộc đời ông hiếm khi cần đến sự trợ giúp của bác sĩ. Tuy nhiên, ông đã phải chịu đựng những cơn đau đầu dữ dội, và khi càng lớn tuổi, người ông gập xuống đến nỗi cần một cái nẹp gỗ để giữ cho thân mình đứng thẳng. Marcus nhận thấy trong lúc đang phục hồi khỏi một cơn đau đầu khủng khiếp, cha nuôi của ông sẽ quay lại ngay với các bổn phận của một hoàng đế của ông với quyết tâm đổi mới. Ông không lãng phí thời gian lo lắng về những triệu chứng bệnh tật của mình hay để cho cơn đau cản bước ông quá lâu. Khi Marcus đang viết cuốn Suy tưởng, ông thấy mình nhìn lại phong thái bình thản mà Antoninus đã qua đời hơn một thập kỷ trước, ở tuổi bảy mươi bốn.9 Giống như Maximus, Antoninus luôn hài lòng, luôn vui vẻ. Người ta nói rằng ngay cả khi ông đang nằm hấp hối trên giường, trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông thì thào từ equanimity (bình thản) với người lính gác của ông, tượng trưng cho tính cách và triều đại của ông. Chúng ta có thể thấy rõ thái độ của Marcus đối với đau đớn và bệnh tật được hình thành bằng việc tìm hiểu về nhân cách của những người đàn ông đó. Có lẽ ông cũng muốn mình không trở thành bản sao của Fronto và các nhà Ngụy biện khác, những kẻ yêu thích lời hùng biện khoa trương, bóng bẩy có nguy cơ khuếch đại những than vãn của họ bằng cách biến những bất hạnh chung thành bi kịch cá nhân.

Dù Marcus là một người Khắc kỷ, ông cũng lấy cảm hứng từ những người khác, gây bất ngờ khi bàn đến việc ứng phó với đau đớn và bệnh tật: trường phái triết học đối thủ của Epicurus. Phái Khoái lạc tin rằng mục tiêu của cuộc sống là khoái lạc. Nhưng họ mô tả về khoái lạc theo một lối nghịch lý, chủ yếu bao gồm trạng thái tự do vượt thoát khỏi đau đớn và đau khổ. Do đó, giảm bớt đau khổ do đau đớn và bệnh tật gây ra là vô cùng quan trọng với họ.

Marcus trích dẫn từ một lá thư được viết bởi Epicurus gần 500 năm trước. Chúng tôi biết qua một nguồn khác rằng Epicurus từng khổ sở vì bệnh sỏi thận và kiết lỵ nặng, cuối cùng đã khiến ông qua đời:

Khi bị bệnh, tôi không dành cuộc trò chuyện của mình để nói về những khổ sở trên thân thể tôi, hay lảm nhảm về những vấn đề đó với những người đến thăm tôi mà tôi tiếp tục thảo luận về những yếu tố chính của triết học tự nhiên như trước đây, và đặc biệt là điểm này, làm sao tâm trí mặc dù nhận thức được những kích động trong nhục thể yếu đuối của chúng ta, mà không bị xáo trộn và giữ gìn được cái tâm lành mạnh.10

Marcus hẳn là bị ấn tượng bởi sự tương phản giữa lá thư này và kiểu thư từ ông nhận được hàng thập kỷ trước từ Fronto. Giống như phần lớn chúng ta, Marcus chính xác đã từng luôn mồm kêu than về “những khổ sở của cơ thể” mà Epicurus khuyên chúng ta không nên làm thế.

Dù ông có sức khỏe kém, Epicurus cũng không than thở hay chìm đắm vào những triệu chứng bệnh tật của ông. Trên thực tế, ông dùng bệnh tật của mình như một cơ hội để đàm đạo một cách bình thản về chuyện làm thế nào tâm trí vẫn có thể hài lòng trong khi cơ thể đang chịu đựng đau đớn và khó chịu kinh khủng. Ông đơn giản là tiếp tục làm những việc ông thích: thảo luận triết học với bạn bè ông.

Marcus trích dẫn lá thư và sau đó tự răn mình luôn hành động như Epicurus: vẫn tập trung vào việc theo đuổi trí tuệ ngay cả khi đang đối mặt với bệnh tật, đau đớn hay bất kỳ khó khăn nào khác. Ông nói, lời khuyên này không chỉ phổ biến với chủ nghĩa Khắc kỷ và chủ nghĩa hưởng lạc Epicureanism mà còn với tất cả các trường phái triết học khác.  

Marcus trở lại với những lời dạy của Epicurus về nỗi đau và bệnh tật nhiều lần trong cuốn Suy tưởng. Ông đặc biệt quan tâm đến một trong những câu châm ngôn nổi tiếng của Epicurus, trong đó chứa đựng lời khuyên để ứng phó với đau đớn. Chúng ta nên nhắc nhở bản thân, Epicurus nói, rằng ta luôn luôn có thể chịu đựng được đau đớn vì nó là cơn đau cấp tính hoặc mãn tính, nhưng không bao giờ là cả hai. Giáo Phụ Tertullian đã tóm gọn quan điểm tương tự bằng cách nói rằng Epicurus đặt ra câu châm ngôn “một chút đau đớn thì thật đáng khinh, còn một cơn đau dữ dội thì chẳng bao giờ kéo dài.” Do đó bạn có thể học cách đối phó bằng cách tự nhủ cơn đau sẽ không kéo dài nếu nó trầm trọng hoặc bạn có thể chịu đựng được nhiều cơn đau tồi tệ hơn thế nếu đó là cơn đau mãn tính. Mọi người thường phản đối điều này khi nói rằng cơn đau của họ vừa trầm trọng và dai dẳng. Tuy nhiên, trước đó trong Suy tưởng, Marcus giải thích câu trích dẫn tương tự từ Epicurus như sau: “Bàn về đau đớn: Nếu đó là cơn đau không thể chịu được, nó sẽ giết chết ta, nhưng nếu cơn đau vẫn cứ dai dẳng thì ta có thể chịu đựng được nó.”12 Vấn đề là cơn đau mãn tính vượt quá sức chịu đựng của chúng ta sẽ giết chết ta, bởi thế sự thật là ta vẫn đang đứng đây chứng tỏ rằng chúng ta có khả năng chịu đựng nhiều đau đớn hơn thế. Mặc dầu điều này có thể khó chấp nhận đối với một số người, những người tham gia trong các khóa học trực tuyến của tôi đang phải chịu đựng cơn đau mãn tính suốt nhiều năm trời đã thông báo rằng câu châm ngôn này của phái hưởng lạc đã giúp họ rất nhiều, cũng như nó đã giúp nhiều người suốt nhiều thế kỷ trước. Chúng ta phải tập nhìn nhận sự việc theo cách này, cũng như ta phải rèn luyện để vượt qua những thói quen và ham muốn không lành mạnh.

Chính xác thì tại sao người xưa lại thấy chiến lược này lại hữu ích để đối phó với đau đớn? Khi con người đang vật lộn, họ tập trung vào sự thiếu khả năng ứng phó của bản thân và cảm giác vấn đề đang vượt khỏi tầm kiểm soát: “Tôi không thể chịu đựng được điều này nữa!” Đây là một dạng bi thảm hóa: tập trung quá nhiều vào kịch bản xấu nhất và cảm thấy quá nặng nề. 

Tuy nhiên, hàm ý của Epicurus là bằng cách tập trung vào những giới hạn của cơn đau của bạn, dù là trên phương diện thời gian hay mức độ trầm trọng, bạn có thể phát triển một thái độ hướng tới việc ứng phó nhiều hơn và vơi đi phần nào áp lực bởi sự lo lắng hoặc những cảm xúc tiêu cực về tình trạng của bạn.

Marcus cũng thấy hữu ích khi nghĩ về cơn đau của ông như bị nhốt trong một bộ phần nào đó của cơ thể hơn là cho phép bản thân ông mải miết với việc tưởng tượng nó đang lan tỏa. Đau đớn muốn thống trị tâm trí bạn và trở thành toàn bộ câu chuyện. Tuy nhiên, những người ứng phó tốt với cơn đau thường nhìn nhận nó một cách khách quan, như một thứ gì đó có giới hạn về bản chất, khiến họ dễ dàng thấy mình đối phó với nó theo nhiều cách khác nhau. Quả thật, đâu đó trong cuốn Suy tưởng, Marcus chỉnh sửa một câu nói của Epicurus. “Đau đớn không phải là khó chịu đựng cũng như không kéo dài mãi mãi, nếu bạn nhớ những giới hạn của nó và đừng thêm dầu vào lửa thông qua trí tưởng tượng của bạn.”13 Các nhà Khắc kỷ thường thích đồng hóa các khía cạnh của Chủ nghĩa hưởng lạc và các bài giảng triết học khác, nhưng họ chỉnh sửa chúng để trở nên phù hợp hơn với các học thuyết cốt lõi của họ. Hàm ý của Marcus là cơn đau có thể chịu đựng được nếu chúng ta nhớ rằng thái độ của chúng ta đối với nó là cái thực sự quyết định việc ta sẽ trở nên bực bội ra sao. Không phải cơn đau hay căn bệnh của chúng ta làm ta tức giận, mà chính là những đánh giá của chúng ta về chúng, như cách mà các nhà Khắc kỷ sẽ lý giải. Đây là một trong những công cụ trị liệu chính trong vũ khí quản lý cơn đau của phái Khắc kỷ

Marcus cũng lưu ý rằng hầu hết các dạng thức khó chịu về thể chất khác cũng có thể được ứng phó về cơ bản theo cách tương tự. Ông so sánh việc ứng phó với cơn đau với ứng phó với chuyện ăn uống khó khăn và tình trạng uể oải buồn ngủ, hai vấn đề mà chúng ta biết ông đang phải chịu đựng về mặt cá nhân. Ông cũng đề cập đến cái nóng ngột ngạt, nhớ đến quan điểm của phái Yếm thế về việc học cách chịu đựng cái nóng gay gắt và cái lạnh buốt xương. Khi đối diện với bất cứ sự khó chịu nào, Marcus sẽ đơn giản là cảnh báo bản thân ông rằng, “Mày đang nhường chỗ cho cơn đau.”14 Sau đó ông sẽ áp dụng các kỹ năng đối phó tương tự, dù ông đang chống chọi trong một trận bão tuyết dọc sông Danube hay chịu đựng mệt mỏi do cưỡi ngựa suốt nhiều ngày từ căn cứ của ông ở Aquileia thuộc miền bắc nước Ý đến pháo đài lính lê dương La Mã Carnuntum. Đau đớn, khó chịu, mệt mỏi -- tất cả chỉ là những cảm giác không thoải mái mà thôi.

Ông đã đúng. Những kỹ năng mà con người sử dụng để đối phó với cơn đau—thậm chí cơn đau rất dữ dội —giống với những kỹ năng mà họ có thể dùng để ứng phó với những cảm giác không thoải mái khác. Chẳng hạn, trong các hình thức tập thể dục thông thường, như chạy bộ hay yoga, ta có nhiều cơ hội để thực tập các kỹ năng ứng phó tương tự. Chúng ta có thể học cách chịu đựng những cảm giác vô hại của sự mệt mỏi và khó chịu trong khi thực hiện các hoạt động đó. Tắm nước lạnh cũng cho phép chúng ta thực hành các kỹ thuật tương tự. Nếu chúng ta học được những chiến lược này đủ tốt, thì chúng ta có thể triệu hồi chúng để ứng phó với cơn đau trầm trọng hay những chấn thương cơ thể nghiêm trọng, ngay cả khi chúng ta bị chấn thương bất ngờ.

Nói cách khác, chịu đựng những khó chịu thể xác nhỏ hằng ngày có thể giúp chúng ta xây dựng được tính kiên cường về lâu dài. Bạn có thể gọi đây là một dạng của việc phòng ngừa stress: bạn học cách củng cố tính kiên cường trước một vấn đề lớn hơn bằng cách tự nguyện để bản thân liên tục tiếp xúc với một thứ gì đó tương tự, dù với liều lượng nhỏ hơn hoặc ở dạng nhẹ hơn.

Theo thời gian, Marcus quan sát nhiều người xung quanh ông khốn khổ bởi bệnh tật và đối mặt với cái chết theo nhiều cách khác nhau. Ông cũng học được chiến lược và kỹ thuật ứng phó cụ thể từ những người thầy dạy chủ nghĩa Khắc kỷ của ông. Quả thật, Marcus mô tả nhiều chiến lược Khắc kỷ khác nhau để ứng phó với đau đớn và bệnh tật trong cuốn Suy tưởng. Điều quan trọng nhất mà ông quan sát được ở những cá nhân ứng phó tốt đó là khả năng “tháo lui” hoặc “tách biệt” tâm trí của họ khỏi những cảm giác cơ thể. Chúng tôi đã giới thiệu kỹ thuật Khắc kỷ này, cái mà tôi gọi là tạo khoảng cách về nhận thức. Nó đòi hỏi bạn học cách từ chối phán xét giá trị đối với những cảm giác không thoải mái, nhìn nhận chúng bằng thái độ bàng quan về đạo đức, bản thân chúng không tốt cũng chẳng xấu, và rốt cuộc là vô hại. Tất nhiên, điều này đòi hỏi luyện tập và hiểu được những khái niệm cơ bản.

Chủ yếu thông qua các bài giảng Khắc kỷ của Epictetus mà Marcus tìm ra một cách để khái niệm hóa kỹ thuật siêu phàm này. Một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất về sức chịu đựng của người Khắc kỷ là câu chuyện về Epictetus. Ông ban đầu là một nô lệ và được sở hữu bởi Epaphroditus, một thư ký của Hoàng đế Nero. 

Theo Giáo Phụ Origen, một ngày nọ Epaphroditus giận giữ túm lấy Epictetus và nhẫn tâm vặn chân ông. Epictetus không phản ứng mà vẫn giữ vẻ điềm tĩnh. Ông chỉ đơn giản cảnh báo chủ nhân của ông rằng xương chân sắp sửa bị gãy. Epaphroditus cứ tiếp tục vặn nó, và đó chính xác là điều đã xảy ra. Thay vì ca thán, Epictetus điềm nhiên đáp: “Đấy, chẳng phải tôi đã nói với ông là nó sẽ gãy sao?”

Epictetus ám chỉ việc ông bị què trong Discourses nhưng không bao giờ đề cập đến nguyên nhân. Thay vào đó, ông dùng khuyết tật của mình như một ví dụ để dạy cho các học trò về cách ứng phó với bệnh tật. Bệnh tật là một chướng ngại vật với cơ thể ta, ông nói với họ, nhưng không phải là chướng ngại đối với sự tự do ý chí của chúng ta trừ phi ta cho phép. Què quặt, ông nói, là một chướng ngại vật đối với cái chân, chứ không phải ý chí.15 Epictetus không bị xáo trộn với cái chân tật nguyền của ông hơn là (ông bị lo lắng bởi) sự thiếu khả năng phát triển—ông đơn giản là chấp nhận nó như chấp nhận nhiều điều khác trong cuộc đời vượt khỏi tầm kiểm soát của ông. Ông xem tình trạng què quặt của mình như một cơ hội để thể hiện trí tuệ và nghị lực. Sau này, ông giành được tự do và bắt đầu giảng triết học. Có thể chủ nhân của ông cảm thấy ăn năn. Dù thế nào đi nữa, câu chuyện này minh họa một cách hùng hồn cho thái độ dửng dưng đến nổi tiếng của những nhà Khắc kỷ trước đau đớn thể xác. Nếu câu chuyện này là sự thật, Marcus chắc chắn đã biết về nó.

LÀM SAO ĐỂ CHỊU ĐỰNG ĐAU ĐỚN  

Giả định rằng đau đớn về bản chất là xấu có vẻ là điều bình thường, nhưng người Khắc kỷ sử dụng một loạt các lý lẽ để thuyết phục những người theo họ rằng đau đớn và khoái lạc không tốt cũng chẳng xấu. Chẳng hạn, một cách để minh họa cho sự thờ ơ với đau đớn muốn chỉ ra rằng, cũng giống như những thứ bề ngoài khác, nỗi đau có thể được sử dụng một cách khôn ngoan hoặc ngu ngốc, mang lại lợi ích hoặc gây hại cho ta. Một vận động viên có thể học cách chịu đựng đau đớn và khó chịu khi tập luyện gắng sức. Trong trường hợp đó, chủ tâm dấn thân (đặt bản thân vào tình trạng đau đớn) thông qua những bài tập luyện từ nặng nhọc cho đến gây đau đớn, hoặc ít nhất khó chịu, thì những cảm giác ấy có thể là điều hữu ích vì nó giúp họ tăng cường khả năng chịu đựng. Tất nhiên, một người tránh né sự khó chịu có lẽ cũng sẽ tránh né hoạt động thể chất nặng nhọc. Đau đớn và khó chịu có thể trở thành những lợi thế trong cuộc đời nếu chúng đem đến cho ta cơ hội phát triển sức mạnh của mình. Đúng là nhiều người bình thường, có những lúc, tỏ ra thờ ơ trước cơn đau—chẳng hạn khi họ đang bị thương khi tìm cách cứu mạng sống của mình. Tất nhiên, một số người chẳng hạn như người khổ dâm, thậm chí còn thích thú trước cảm giác đau đớn. Nói cách khác, đau đớn chỉ là một cảm giác; điều quan trọng là cách ta lựa chọn để đối phó với nó.

Epictetus nhiều lần nói với các môn đồ về cách ứng phó với đau đớn và bệnh tật trong Discourses. Giống như Epicurus trước ông, ông tin rằng than vãn và lảm nhảm quá nhiều về các vấn đề của ta chỉ khiến chúng ngày càng tồi tệ hơn, và quan trọng hơn là nó gây hại cho tính cách/nhân phẩm của chúng ta. Marcus đồng ý rằng rên rỉ tập thể là có hại cho tâm hồn: “Đừng hùa theo tiếng kêu gào, than khóc của họ.”16 Các nhà trị liệu nhận thức thời hiện đại cũng phát hiện thấy khổ đau leo thang khi con người tự nhủ rằng “Tôi không thể đương đầu!” Nỗi đau khổ của họ giảm bớt khi họ bắt đầu nhìn nhận mọi thứ một cách lý trí và khách quan hơn và nhìn nhận nhiều cách khác nhau mà họ có thể đang ứng phó hoặc đã từng đương đầu với một tình huống tương tự trong quá khứ. Chúng ta nên thận trọng khi nói với bản thân “Thật không thể nào chịu nổi!” v.v.., vì đó thường chỉ là lời nói cường điệu làm tăng thêm cảm giác tuyệt vọng của ta.    

Epictetus nói với các môn đồ rằng có một cơn đau trong đầu hay trong tai là một chuyện, nhưng họ không nên đi xa hơn và nói, “Tôi đang bị đau đầu—hỡi ôi!” Họ không nên ám chỉ rằng nỗi đau là một loại thảm họa. Ông giải thích rằng ông không phủ nhận quyền rên rỉ của họ, chỉ là họ không nên làm vậy trong thâm tâm bằng việc thực sự tin rằng họ đang bị làm hại. Chỉ vì một nô lệ chậm chạp mang đến cho họ một miếng băng vết thương, họ không nên kêu la và giày vò bản thân “Mọi người đều ghét tôi!” (Ai mà chẳng ghét một người đàn ông như vậy?” ông mỉa mai.) Ông đã tóm tắt lời khuyên thực tế của mình bằng cách khuyên học trò của ông đáp lại trước những sự kiện phiền hà hoặc những cảm giác khó chịu bằng cách đơn giản nói là Việc này chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. Điều này có lẽ nói quá. Những người Khắc kỷ có thể vẫn “thích” tránh đau đớn và bệnh tật khi có thể.

Tuy vậy, khi chuyện đó đã xảy ra, họ cố gắng chấp nhận sự thật bằng thái độ dửng dưng.

Bên cạnh câu châm ngôn của Epicurus, Marcus bàn đến nhiều chiến lược Khắc kỷ để chịu được đau đớn và bệnh tật bằng cách nhìn nhận chúng bằng thái độ cố tình thờ ơ. Phần lớn các chiến lược này đều chịu ảnh hưởng của tác phẩm Discourses của Epictetus.

1. Tách biệt tâm trí khỏi cảm giác, cái mà tôi gọi là “tạo khoảng cách về nhận thức,” bằng cách nhắc nhở bản thân rằng không phải sự việc hay cảm giác làm ta khó chịu, mà chính những đánh giá của ta về chúng mới gây nên chuyện.

2. Hãy nhớ rằng sợ đau có hại cho bạn hơn cả bản thân cơn đau, hoặc sử dụng những hình thức phân tích chức năng khác để cân nhắc những hậu quả cho bạn giữa việc sợ đau so với chấp nhận nỗi đau.

3. Nhìn nhận khách quan về cảm giác cơ thể (đại diện khách quan, hoặc phantasia kataleptike) thay vì mô tả chúng bằng những thuật ngữ cảm xúc. (“Có một cảm giác sức ép quanh tôi” đối lập với “Tôi có cảm giác như mình đang sắp chết—một con voi có thể đang giẫm đạp không ngừng lên đầu tôi!”)

4. Phân tích các cảm giác thành những yếu tố của chúng và khoanh vùng càng chính xác càng tốt vị trí cụ thể chúng trên cơ thể, bằng cách ấy sử dụng kỹ thuật coi khinh điều gì đó bằng cách phân tích mà chúng ta đã dùng ở chương trước để vô hiệu hóa những ham muốn và thèm khát không lành mạnh. (“Có một cảm giác đau nhói trong tai tôi và nó đến rồi đi,” chứ đừng “Tôi đang đau đớn cùng cực.”)

5. Xem cảm giác bị giới hạn về thời gian, dễ thay đổi, và thoáng qua, hoặc “chiêm nghiệm về sự vô thường.” (“Cảm giác này chỉ đạt cực đại trong vài giây rồi sau đó sẽ biến mất; nó có thể sẽ biến mất sau vài ngày nữa.”) Nếu bạn có một vấn đề nhức nhối như đau răng, bạn sẽ quên mất cảm giác đó như thế nào sau nhiều năm nữa. Nếu bạn có một vấn đề dài hạn ví dụ như đau thần kinh tọa mãn tính, bạn sẽ biết rằng thỉnh thoảng cơn đau sẽ trở nên tồi tệ hơn và những lần khác thì nó lại nhẹ nhàng hơn. Bạn sẽ tạo nên sự khác biệt nếu có thể tập trung vào quan điểm rằng chuyện này sẽ trôi qua.

6. Hãy buông bỏ cuộc vật lộn chống lại cảm giác của bạn và chấp nhận nó như một điều tự nhiên và hờ hững, cái được gọi là “Sự chấp nhận Khắc kỷ.” Điều này không có nghĩa là bạn không nên tiến hành những bước thực tế để giải quyết nó, như dùng thuốc để giảm đau, mà bạn cần học cách chung sống với cơn đau mà không tức giận hay xung đột nội tâm.

7. Nhắc nhở bản thân rằng Tự Nhiên đã ban cho bạn cả hai khả năng thể hiện lòng dũng cảm và khả năng chịu đựng để vượt lên trên đau đớn và chúng ta ngưỡng mộ những phẩm chất ấy ở người khác, điều mà chúng tôi đã thảo luận liên quan đến việc suy ngẫm và tấm gương về phẩm hạnh.

Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng chiến lược này.  

TẠO KHOẢNG CÁCH NHẬN THỨC  

Chiến lược quản lý cơn đau quan trọng nhất được đề cập bởi Epictetus và Marcus là chiến lược mà chúng tôi gọi là “tạo khoảng cách nhận thức.” Nó được tóm tắt trong một câu mà có lẽ bạn đã quen thuộc: “Sự tức giận của ta không phải do bản thân sự việc, mà chính là do những đánh giá của ta về sự việc đó.”17 Nếu chúng ta áp dụng điều đó vào khái niệm đau đớn, nó có nghĩa là cơn đau không phải là thứ khiến ta khó chịu, tức giận, mà đúng hơn là do những đánh giá của ta về nó. Khi chúng ta ngừng quy gán phán xét giá trị cho cơn đau, nỗi khổ đau của chúng ta được vơi bớt. Chúng ta luôn luôn có khả năng làm điều này trong bất kì tình huống nào—chúng ta lựa chọn đặt bao nhiêu tầm quan trọng vào các cảm giác cơ thể là tùy thuộc nơi ta.

Marcus mô tả việc đình chỉ những phán xét về giá trị giống như “rút lại,” “tách rời,” hay “thanh tẩy” của tâm trí, trong trường hợp này, khỏi cảm giác cơ thể về cơn đau và bệnh tật. Ông cũng muốn giải thích về việc đình chỉ phán xét bằng cách nêu lên quan điểm rằng cơn đau và khoái lạc nên được trả về đúng vị trí của chúng, trong các bộ phận cơ thể mà chúng thuộc về. Ngay cả khi cơ thể, người bạn đồng hành thân thiết nhất của tâm trí bị “cắt đứt hay bỏng rát, mưng mủ hay thối rữa,” chúng ta có thể giữ cho khả năng điều khiển của ta trong trạng thái bình lặng chừng nào ta không đánh giá những cảm giác cơ thể ấy là tốt hay xấu.18

Marcus cũng gọi đây là “dửng dưng trước những thứ không quan trọng.”19 Có một đoạn đặc biệt quan trọng mà ông giải thích những điểm tinh tế của tâm lý học Khắc kỷ về phương diện này.20 Chúng ta nên giữ cho khả năng điều khiến của chúng ta không bị xáo trộn bởi những thứ bên ngoài, kể cả những cảm giác cơ thể của đau đớn và khoái lạc. Ông nói điều này có nghĩa là không cho phép nó hợp nhất với chúng mà ta phải vẽ một đường quanh tâm trí, đánh dấu ranh giới của nó, với cảm giác cơ thể ở phía bên kia, như thể ta nhìn nó từ một khoảng cách—ở đằng kia. Mặt khác, khi chúng ta cho phép bản thân đưa ra những đánh giá mạnh mẽ về giá trị đối với những cảm giác bên ngoài chẳng hạn như đau đớn, thì chúng ta đang hợp nhất tâm trí mình với chúng và đánh mất bản thân khi đang trải qua đau khổ.

Điều quan trọng cần lưu ý rằng Marcus không phải khuyên chúng ta chối bỏ cơn đau đó (hay khoái lạc cũng vậy) là một phần của cuộc sống, ngay cả với người đàn ông Khắc kỷ thông thái. Ông lưu ý rằng những cảm giác đau đớn và khoái lạc sớm muộn gì cũng sẽ tìm đường vào ý thức của chúng ta vì sự đồng cảm tự nhiên tồn tại giữa tâm trí và cơ thể. Ông nhấn mạnh rằng bạn không nên kìm nén cảm giác, vì chúng là điều bình thường, và bạn không nên phán xét chúng là tốt hay xấu, có ích hay có hại. Sự cân bằng tinh tế này là trọng tâm của chánh niệm hiện đại và trị liệu nhận thức dựa trên nền tảng chấp nhận, dạy cho thân chủ không nên kìm nén cảm xúc khó chịu cũng như đừng bận tâm về chúng. Thay vào đó, bạn nên học cách chấp nhận chúng trong khi vẫn giữ được khoảng cách với chúng.

Đối với Marcus, điều quan trọng là chúng ta cần dừng nhìn nhận về đau đớn và bệnh tật thông qua lăng kính có hại. Những đánh giá đó phát sinh từ trong ta. Chúng được phóng chiếu ra ngoài qua cảm giác cơ thể và những sự kiện bên ngoài khác. Điều quan trọng cần nhớ là liệu ta xem một điều gì đấy là có lợi hay có hại phụ thuộc hoàn toàn vào mục tiêu của chúng ta. Phần lớn mọi người xem thường những giả định của họ về những mục tiêu của họ trong cuộc sống, nhiều đến nỗi họ hiếm khi nhận ra chúng. Nếu mục tiêu của tôi là trông thật điển trai, thì khi ấy nếu tôi bị gãy mũi, tôi chắc chắn sẽ xem nó là có hại hơn là có lợi. Nhưng nếu mục tiêu quý giá nhất của tôi là giữ được cái mạng này và tôi gãy mũi trong lúc thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong gang tấc, tôi có lẽ sẽ tương đối thờ ơ trước chuyện bị gãy mũi. Các nhà Khắc kỷ muốn chúng ta trải qua một biến động triệt để trong các giá trị căn bản của mình để mục tiêu tối cao của chúng ta là sống với sự thông thái và phẩm hạnh đi cùng với nó. Họ muốn chúng ta xem đau đớn và chấn thương thể xác bằng sự dửng dưng. Trên thực tế, những bất hạnh ấy thậm chí có thể mang lại một cơ hội cho chúng ta thể hiện sự thông thái và nghị lực lớn lao. Marcus tự nhủ với mình:

Hãy từ bỏ sự phán xét, và tư tưởng “Tôi bị làm hại” cũng bị xóa bỏ; xóa bỏ tư tưởng ấy, và bản thân tổn hại cũng mất đi.21

Đọc tiếp phần 2 ở đây

menu
menu