Kỹ thuật ứng phó với đau đớn và bệnh tật của trường phái Khắc kỷ (phần 2)

ky-thuat-ung-pho-voi-dau-don-va-benh-tat-cua-truong-phai-khac-ky-phan-2

Bài dịch này ad trích từ cuốn How to Think Like a Roman Emperor: The Stoic Philosophy of Marcus Aurelius (Làm thế nào để suy nghĩ như Hoàng đế La Mã: Triết lý Khắc kỷ của Marcus Aurelius)

Tác giả: Donald Robertson

 

Vậy có phải những người Khắc kỷ không quan tâm chút nào đến sức khỏe cơ thể? Họ có quan tâm chứ. Họ phân loại nó như một thái độ dửng dưng được ưa thích. Thích khỏe mạnh hơn ốm đau là điều tự nhiên và hợp lý với chúng ta. Sức khỏe thể chất mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội hơn để rèn luyện ý chí của ta và ảnh hưởng đến những sự việc bên ngoài trong cuộc sống. Tự thân sức khỏe không tốt cũng chẳng xấu. Nó giống như một cơ hội. Một người ngu ngốc có thể phung phí những lợi thế mà sức khỏe tốt mang lại bằng cách nuông chiều những thói hư tật xấu của anh ta. Một người tốt và khôn ngoan, ngược lại, có thể sử dụng sức khỏe và bệnh tật như cơ hội để rèn luyện phẩm hạnh. Có phải Epictetus “bị phương hại” khi chân ông bị gãy nếu chúng ta cho rằng đây là một trong những sự việc đưa ông đi theo con đường trở thành một triết gia vĩ đại? Ông sẽ nói rằng, rốt cuộc, điều quan trọng là tổn hại mà chúng ta gây ra cho nhân cách của chính mình. So với điều đó thì một cái chân què chỉ là chuyện vặt vãnh.

Nếu chúng ta có thể học cách thu lại đánh giá của mình rằng cơn đau là thứ khủng khiếp hoặc có hại thì khi ấy ta có thể lột bỏ cái mặt nạ kinh khủng của nó, và nó không còn trông giống như quái vật trong mắt ta nữa.22 Chúng ta chỉ còn lại sự quan sát trần trụi rằng nhục thể của ta đang bị kích thích “dữ dội,” Epictetus giải thích. Đó chỉ là một cảm giác. Thông qua đánh giá của ta, cơn đau về bản chất là xấu xa, không thể chịu nổi, hoặc là thảm họa, chúng ta khiến cảm giác cơ thể đau đớn đơn thuần trở nên nghiêm trọng, trở thành nỗi sầu khổ hỗn loạn nội tâm. Chẳng hạn, Marcus nói với cảm giác đau “Ta không giận mày: hãy đi đi”, bởi ông không xem nó là thứ xấu xa hoặc có hại. Nó xâm nhập vào tâm trí theo cách lâu đời, thông qua cảm giác, một quá trình sinh lý tự nhiên mà loài người chia sẻ với động vật. Trớ trêu thay, bạn không cần phải cố gắng kìm nén hoặc chống lại những cảm giác khó chịu chừng nào bạn từ bỏ niềm tin rằng chúng là thứ xấu xa. Nếu bạn chấp nhận chúng bằng thái độ dửng dưng thì khi ấy chúng sẽ không làm hại bạn. Khi tâm trí ý thức của bạn, khả năng điều khiển của bạn, gán cho cảm giác cơ thể tầm quan trọng quá mức thì nó sẽ “hợp nhất và hòa nhập” với chúng, và tâm trí sẽ bị cơ thể lôi kéo như một con rối bị giật dây.24

Tuy nhiên, bạn luôn luôn có tiềm năng trong bạn để vượt lên trên những cảm giác thể xác và nhìn nhận chúng bằng thái độ cố tình dửng dưng.

PHÂN TÍCH CHỨC NĂNG

Một khi bạn đã đạt được khoảng cách về nhận thức, bạn đang ở một vị thế tốt hơn để xem xét hậu quả của những phán xét giá trị của bạn (“phân tích chức năng”). Biết rằng sự khổ đau nảy sinh từ những phán xét giá trị tiêu cực của chúng ta, người Khắc kỷ cho rằng nỗi sợ đau gây hại cho chúng ta nhiều hơn là bản thân cơn đau vì nó làm tổn thương đến nhân cách của chúng ta. Trái lại, cơn đau là vô hại nếu bạn học cách chấp nhận nó bằng thái độ dửng dưng. Epictetus nói ngắn gọn về điều này như sau: “Cái chết hoặc đau đớn không hề đáng sợ, trái lại thứ đáng sợ là nỗi sợ cái chết hoặc đau đớn.”25 Để sống cuộc đời trọn vẹn, bạn phải bước ra ngoài vùng an toàn của bạn, như cách chúng ta nói ngày nay. Nỗi sợ đau khiến chúng ta hèn nhát và giới hạn phạm vi sống của ta.

Điều quan trọng là hiểu rõ về những hậu quả tiêu cực của một hành vi nếu chúng ta muốn thay đổi nó. Chẳng hạn, chứng sợ máu có thể ngăn một ai đó không làm các xét nghiệm y khoa cần thiết —đối với một số phụ nữ, điều này thậm chí là một trở ngại cho việc sinh nở. Quả thật, đa số mọi người đều sợ đau đớn và bệnh tật ở những mức độ khác nhau. Nhận ra nỗi sợ đau gây hại cho bạn nhiều hơn bản thân cơn đau, có thể thúc đẩy bạn bắt đầu thực hành đều đặn những kỹ năng tâm lý cần thiết để vượt qua sự-không thể-chịu đựng nổi cơn đau và sự khó chịu.

ĐẠI DIỆN KHÁCH QUAN

Marcus cũng học cách mô tả về những sự kiện bên ngoài và cảm giác cơ thể với bản thân như các quá trình tự nhiên, sử dụng lối ngôn ngữ đại diện khách quan. Như đã lưu ý trước đó, chúng ta có thể so sánh điều này với phong cách trung lập và khách quan vô tư mà một bác sĩ có thể ghi lại những triệu chứng bệnh ở một bệnh nhân. Epictetus và Marcus đều làm việc này khi họ mô tả về những cảm giác khó chịu và đau đớn chỉ đơn thuần là những cử động “dữ dội”, hay những kích động, đang diễn ra trong nhục thể.

Giống như thể chúng ta đang mô tả vấn đề của người khác: với sự khách quan vô tư hơn. Chẳng hạn, tôi có thể tự nói với mình là “Nha sĩ đang nhổ răng của Donald,” do đó nghĩ về nó một cách thản nhiên từ góc nhìn của ngôi thứ ba.

COI KHINH ĐIỀU GÌ ĐÓ BẰNG CÁCH PHÂN TÍCH  

Marcus cũng tự nhủ tránh làm tâm trí bị choáng ngợp bởi việc lo lắng về tương lai hoặc nghiền ngẫm về quá khứ. Khi ta tập trung chú ý vào thực tại ở đây và ngay bây giờ, ta dễ dàng để chế ngự nó hơn. Bằng việc nhìn nhận sự việc một cách khách quan, cô lập khoảnh khắc hiện tại và chia nó thành các phần nhỏ hơn, chúng ta có thể giải quyết từng vấn đề một, sử dụng phương pháp mà chúng tôi gọi là Coi khinh/đánh giá thấp điều gì đó bằng cách phân tích. Chẳng hạn, ông nói chúng ta nên tự hỏi về mỗi khó khăn đang hiện hữu, “Có điều gì trong chuyện này là không thể chịu nổi hay vượt quá khả năng chịu đựng của bạn?”27 Quả thật, Marcus lưu ý rằng sức mạnh của các sự kiện ảnh hưởng đến chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều nếu chúng ta gạt những suy nghĩ về quá khứ và tương lai sang một bên và chỉ tập trung vào khoảnh khắc hiện tại, ở đây và ngay bây giờ, một cách biệt lập.

Chiến lược chia-và-trị này vẫn được dùng trong trị liệu nhận thức-hành vi hiện đại để chống lại những cảm xúc khó chịu; các thân chủ có thể được động viên tập trung vào khoảnh khắc hiện tại và ứng phó với những trải nghiệm gây choáng ngợp từng bước một. Các nhà Khắc kỷ xê dịch giữa quan điểm này và một quan điểm mà các học giả thời hiện đại gọi là “nhìn từ trên cao” tức là hình dung hoàn cảnh hiện tại của bạn từ trên cao, như một phần của toàn bộ sự sống trên Trái đất, hay thậm chí toàn bộ thời gian và không gian. Một chiến lược chia các sự kiện thành những phần nhỏ hơn, và chiến lược khác thì tưởng tượng toàn bộ sự tồn tại và một sự tồn tại cực nhỏ đang diễn ra trong nó. Cả hai chiến lược có thể giúp chúng ta nhìn nhận các sự kiện bên ngoài, chẳng hạn như đau đớn và bệnh tật, bằng thái độ dửng dưng nhiều hơn.28

SUY NGẪM VỀ VÔ THƯỜNG VÀ TÍNH HỮU HẠN

Khi đã mô tả những cảm giác đau hoặc triệu chứng bệnh với bản thân bằng ngôn ngữ khách quan và phân tích chúng thành các bộ phận cấu thành của chúng, chúng ta cũng có thể nhìn nhận chúng là đang bị nhốt ở một vị trí cụ thể trong cơ thể. Marcus luôn nhắc nhở bản thân xem đau đớn và khoái lạc là thuộc về các bộ phận cơ thể nơi chúng đang trú ngụ—nói cách khác, nghĩ về sự nhỏ bé của cảm giác tương phản với sự rộng mở của nhận thức đang quan sát của ông. Bằng cách ấy, ông dạy cho bản thân nghĩ về cơn đau vẫn đang xa xa “ở đằng kia”.

Cứ để cho những bộ phận cơ thể đang bị đau than thở nếu nó muốn, ông nói. Tâm trí không cần phải nhất trí và hùa theo nó bằng việc đánh giá cảm giác là rất xấu và có hại.29 Hãy nghĩ về cơn đau trong cơ thể bạn như thể đó là tiếng sủa của một con chó hung dữ; đừng sủa cùng con chó bằng cách rên rỉ về cơn đau của bạn. Xem cảm giác là thuộc về cơ thể và bị giới hạn ở một vị trí cụ thể luôn nằm trong khả năng của bạn. Bạn có thể chọn bỏ nó ở đó hơn là hợp nhất với nó thông qua sự lo lắng và nghiền ngẫm.

Các nhà trị liệu ngày nay giúp các thân chủ của họ cụ thể hóa/khách quan hóa cơn đau theo cách này bằng cách gán cho nó một hình dạng hoặc màu sắc tùy ý bạn, chẳng hạn như một vòng tròn màu đen. Kỹ thuật này được gọi là “vật hóa - physicalizing” cảm giác, có thể giúp bạn hình dung về nó trong tưởng tượng của bạn, từ một góc nhìn khách quan vô tư, ở một vị trí cụ thể trong cơ thể. Bạn có thể nghĩ bản thân đang quan sát cơn đau thể xác hoặc triệu chứng bệnh khác thông qua một cửa sổ bằng kính, tách rời cơ thể khỏi tâm trí, hoặc tưởng tượng về cơn đau đang tạm thời ở bên ngoài cơ thể, ở bên kia căn phòng.

Ngoài việc xem các cảm giác đau bị giới hạn về mặt không gian trong những bộ phận cơ thể, Marcus thường xuyên tự nhắc nhở bản thân xem xét khoảng thời gian của chúng và xem chúng bị giới hạn cả về mặt thời gian và không gian. Ông dùng chiến lực này với những yếu tố bên ngoài nói chung nhưng đặc biệt là với cảm giác đau và các triệu chứng bệnh. Nó giống với lời khuyên của Epicurus, tập trung vào thực tế rằng cơn đau cấp tính chỉ là tạm thời thôi. Bạn có thể đã từng nghe câu nói của người Ba Tư “mọi chuyện rồi sẽ qua đi” được trích dẫn bởi Abraham Lincoln, đã nêu rõ quan điểm tương tự. Chúng ta cũng có thể tự nhắc nhở bản thân trong quá khứ đã có biết bao cảm giác đau đớn đến rồi đi như một cách để nêu bật bản chất chóng tàn của chúng.

Cách tiếp cận này là một trong những chiến lược yêu thích của Marcus, để khuyến khích thái độ thờ ơ theo phong cách Khắc kỷ. Xem mọi thứ có thể thay đổi, như một dòng sông đang chảy trôi, có thể giúp ta bớt ràng buộc cảm xúc vào chúng. Đôi lúc ông đi xa hơn và tự nhắc bản thân về tính tạm thời/ngắn ngủi của ông —cái chết của ông. Chúng ta rồi sẽ đạt được thái độ dửng dưng trước cảm giác đau đớn, ông cho hay, nếu chúng ta nhớ rằng những yêu sách mà chúng đòi hỏi lên sự chú ý của chúng ta chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian có hạn, vì cuộc sống này thật ngắn ngủi và ta sẽ sớm đi đến điểm cuối cuộc đời.31

SỰ CHẤP NHẬN KHẮC KỶ 

Epictetus cũng cho rằng chúng ta nên chủ động chấp nhận bệnh tật và cảm giác đau đớn nếu chúng đến với ta (“Sự chấp nhận khắc kỷ”). Ông nói rằng bàn chân của chúng ta, nếu chúng biết suy nghĩ, thì cũng sẽ sẵn sàng dẫm vào bùn với mỗi bước chân của ta, chấp nhận nó như một phần thiết yếu của chức năng tự nhiên của chúng.32 Điều này gợi lại phép ẩn dụ của người Khắc kỷ về chú chó chạy theo cỗ xe ngựa. Một con chó bị xích vào cỗ xe ngựa đang chạy có thể kéo giật dây xích của nó và bị kéo lê dọc đường hoặc chấp nhận số phận của nó và chạy theo cỗ xe. Quả thực, một trong những định nghĩa Khắc kỷ xưa nhất về mục tiêu tự nhiên của con người đó là nó bao gồm một cuộc đời “thuận theo”, thoát khỏi sự tranh đấu không cần thiết. Khái niệm chấp nhận hoàn toàn những cảm giác khó chịu trở thành trung tâm của trị liệu nhận thức-hành vi hiện đại (CBT). Cơn đau trở nên đau hơn khi chúng ta chống lại nó, nhưng trớ trêu thay, gánh nặng thường nhẹ đi nếu chúng ta có thể chấp nhận cảm giác đau và xuôi mình theo nó, hoặc thậm chí chào đón nó. Chống lại cho đến kìm nén kiểm soát hoặc xóa bỏ cảm giác khó chịu chỉ đổ thêm dầu vào lửa, khiến ta thêm khổ sở và thường phản tác dụng bằng việc làm cho vấn đề ban đầu trở nên tồi tệ hơn.

Marcus tưởng tượng về Tự nhiên giống như một vị bác sĩ, như thần y Asclepius, kê toa những khó khăn gian lao cho ông như thể chúng là những phương thuốc đau đớn.33 Để uống liều thuốc của Tự nhiên đúng cách, chúng ta phải chấp nhận số phận của mình và đáp lại bằng phẩm hạnh, với lòng can đảm và tinh thần tự kỷ luật, nhờ đó mà cải thiện tính cách của chúng ta. Do đó Marcus xem việc tự nguyện chấp nhận gian khổ như một liệu pháp tâm lý của những dục vọng. Chúng ta phải nuốt viên thuốc đắng của Số phận và chấp nhận những cảm giác đau đớn và những triệu chứng khó chịu khác của bệnh tật khi chúng rơi vào đầu ta.

Về phương diện này, những người Khắc kỷ chịu ảnh hưởng của những người theo chủ nghĩa Yếm thế, thực tập tự nguyện chịu khổ, như chúng ta đã thấy. Họ sẽ cố tình đưa bản thân vào những tình huống khó chịu, chẳng hạn như cái nóng ngột ngạt hoặc cái lạnh thấu xương, để phát triển sức chịu đựng tâm lý.

Điều nghịch lý của việc chấp nhận sự khó chịu là nó thường giúp ta vơi bớt đau khổ. Diogenes một triết gia Yếm thế dạy rằng chúng ta nên đối xử với cảm giác đau giống như với đàn chó hoang. Chúng sẽ cắn và xé toạc gót chân của ta nếu ta càng cố gắng bỏ chạy trong hoảng loạn nhưng chúng thường sẽ lùi bước nếu chúng ta can đảm quay lại và bình tĩnh đối diện với chúng.

Dio Chrysostom, một nhà Ngụy Biện theo học giáo viên Khắc kỷ vĩ đại Musonius Rufus, đã so sánh một người Yếm thế với một võ sĩ quyền Anh sẽ chịu đựng tốt hơn nếu anh ta chuẩn bị tinh thần bị ăn đấm và chấp nhận nó với thái độ dửng dưng. Trái lại, nếu anh ta lo sợ chùn bước trước đối thủ, anh ta sẽ đặt mình vào tình thế bị ăn đòn thê thảm hơn nhiều. Chrysostom cũng so sánh việc chịu đau để dập tắt ngọn lửa—nếu chúng ta làm một cách rón rén, chúng ta có khả năng cao bị bỏng lửa hơn là nếu ta tự tin đạp lên ngọn lửa. Bằng cách bình thản buộc bản thân dũng cảm đối diện với đau đớn hơn là chống chọi với nó, oán giận nó hay ca thán về nó, chúng ta có thể học cách bớt khổ đau hơn từ điều này.

Các triết gia Yếm thế và các nhà Khắc kỷ đã đi trước thời đại của họ hàng ngàn năm khi đề xuất về thái độ tự nguyện chấp nhận như một cách để đối phó với cơn đau và những cảm giác khó chịu khác. Sự chấp nhận này từ lâu đã là một phần của liệu pháp hành vi thời hiện đại để kiểm soát cơn đau, và trong những thập kỷ gần đây, nó đã trở thành trọng tâm của nhiều nhà trị liệu ứng phó với những vấn đề này. Đánh lạc hướng đôi khi có thể hữu hiệu đối với cơn đau ngắn (cấp tính), chẳng hạn như quá trình phẫu thuật hoặc nhổ răng, nhưng các chiến lược né tránh có xu hướng phản tác dụng khi được dùng để ứng phó với cơn đau mãn tính. Giống như chú chó Khắc kỷ chạy theo cỗ xe ngựa,  chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đối mặt với cơn đau của ta. Tuy nhiên, bạn có thể lựa chọn liệu ta điên cuồng chống chọi và vật lộn với nó, hay nhẹ nhàng, thông qua sự bình thản chấp nhận. Đa số mọi người thấy việc chấp nhận cơn đau giúp giảm bớt nhiều khổ đau tinh thần mà nó gây ra. Chống chọi với cơn đau, tìm cách triệt tiêu hoặc tránh né nó, ngốn thời gian và năng lượng của bạn, giới hạn hành vi của bạn, và ngăn bạn tiếp tục với những thứ khác—bởi thế chấp nhận cũng có thể cải thiện chất lượng sống của bạn về phương diện này. Hơn nữa, trong một số trường hợp, việc chấp nhận các cảm giác cơ thể của chúng ta có thể cho phép thói quen tự nhiên này diễn ra, để chúng ta bắt đầu chú ý đến tình trạng không bị đau của ta, và khi ấy những cảm giác đau có thể bắt đầu giảm đi.

Do đó, điều quan trọng là cần tránh chống cự quá mức những cảm giác cơ thể không thoải mái hoặc đau đớn vì có nhiều bằng chứng từ tâm lý học hiện đại rằng làm vậy có thể gây phản tác dụng. Các nhà nghiên cứu gọi thôi thúc kiểm soát hoặc né tránh những cảm giác khó chịu này là “né tránh trải nghiệm,” và đã được chứng minh là khá độc hại đối với sức khỏe tinh thần.

Những ai tin chắc rằng những cảm giác khó chịu là xấu và tìm cách kìm nén chúng khỏi tâm trí thường trở nên căng thẳng và bị ám ảnh nhiều hơn với chính những cảm giác mà họ đang cố né tránh, khiến họ lâm vào một vòng luẩn quẩn. Đối với người Khắc kỷ, đau đớn là “không quan trọng” và không xấu. Do đó họ chấp nhận nó như một tiến trình tự nhiên. Trong một đoạn văn sinh động, Marcus tự nhủ rằng than phiền về sự việc thì cũng vô ích và không có tác dụng gì, giống như những chú heo đang giãy giụa và kêu eng éc khi chúng cố gắng thoát khỏi một nghi thức hiến tế.35 Chống lại những thứ mà ta không thể kiểm soát có hại cho ta nhiều hơn là có lợi.

SUY NGẪM VỀ ĐỨC HẠNH

Epictetus có một bài giảng với tựa đề “Chúng ta nên chịu đựng bệnh tật theo cách nào.” Trong đó, ông cho rằng đau đớn và bệnh tật là một phần không thể tránh khỏi của cuộc sống, và cũng giống như bất kỳ phần nào khác của cuộc đời, có những đức hạnh có liên quan luôn luôn nằm trong khả năng của chúng ta để rèn luyện.

Epictetus muốn khuyên các học trò rằng khi đối mặt với tất cả những chuyện xảy đến với họ, họ nên tập thói quen tự hỏi bản thân rằng họ đang sở hữu những năng lực hay đức hạnh gì để tận dụng sự kiện. Tương tự thế, các nhà trị liệu nhận thức hỏi thân chủ của họ rằng, “Bạn có những nguồn lực nào có thể giúp bạn đương đầu tốt hơn với cơn đau?” Ví dụ, nếu chúng ta đối mặt với cơn đau trầm trọng, khi ấy chúng ta sẽ thấy Tự nhiên đã trang bị cho ta khả năng chịu đựng, và nếu chúng ta tập cho mình thói quen rèn luyện đức hạnh ấy thì khi đó cảm giác đau đớn sẽ không còn làm chủ được ta nữa.37

Một cách hữu ích khác để tiếp cận với đau đớn là tự hỏi bản thân ta làm thế nào một ai đó đang trải qua cơn đau hay căn bệnh giống như chúng ta có thể đối phó với nó theo cách đáng khâm phục (tấm gương về đức hạnh). Chúng ta sẽ dành lời khen ngợi gì cho người khác về hành động của họ trong hoàn cảnh tương tự? Hãy xem xét xem chúng ta có thể làm được điều tương tự đến mức độ nào bằng cách bắt chước theo những điểm mạnh và đức hạnh đó.

Giống như Epictetus, Marcus thường nhấn mạnh rằng nhiều người bình thường bộc lộ lòng can đảm và tự kỷ luật tuyệt vời khi theo đuổi các mục tiêu trần tục, chẳng hạn như tham lam hoặc phô trương khoe mẽ để gây ấn tượng với người khác.

Khi chúng ta có một lý do để chịu đựng một điều gì đó thì nó trở nên dễ dàng hơn. Nietzsche từng nói, “Người có một lý do để sống có thể chịu đựng bất cứ điều gì.”39 Thường thì ta dễ dàng chịu đựng đau đớn hơn nếu chúng ta tin chắc rằng nó không làm hại ta hoặc nếu chúng ta đang tập trung vào một số mục tiêu. Các võ sĩ quyền Anh chịu ăn đấm mà không phàn nàn để giành chiến thắng trong các trận đấu. Khả năng làm được việc này của họ làm các triết gia phải hổ thẹn, dù các triết gia tin rằng bản thân họ được thúc đẩy bởi một điều gì đó quan trọng hơn: tình yêu trí tuệ. Tuy nhiên, chúng ta có thể học tập từ việc quan sát những người khác rằng bất cứ ai cũng có thể chịu đựng đau đớn và gian khổ tột cùng nếu họ có đủ động lực để làm vậy.

 

menu
menu