Nỗi sầu công việc (Chương 3-4)

noi-sau-cong-viec-chuong-3-4

Thứ ta tiêu thụ quyết định thứ ta sản xuất - và kéo theo chất lượng công việc được bày ra trước mắt. Vì ta chỉ có đủ tài nguyên cảm xúc để tiêu thụ sản phẩm thuộc phân lớp nhàm chán và đại trà, ta sẽ chỉ sản sinh ra những việc làm thiếu ý nghĩa ...

Thương mại hoá

Có một lời than phiền thường thấy ở rất nhiều ngành nghề đó là, ngày nay để thành công, không còn cách nào khác ngoài việc “bán ra”. Có vẻ như sẽ đến lúc ta đối mặt với sự lựa chọn - giữa một bên là tính nguyên bản và sự bần cùng, một bên là tính ngu ngốc và sự giàu sang. Ta tất nhiên đã quen với những lời than thở như thế trong nghệ thuật. Nhưng tình thế tiến thoái lưỡng nan ấy cũng hiện diện khi một nhà hàng độc lạ không thể kiếm lời, khi một công ty chuyên làm bánh mì bị thanh lý tài sản, khi một cửa hàng vật dụng làm vườn chuyên các giống cây quý hiếm tự nhiên không thể đứng vững trên thị trường, khi một trang tin tức chính thống không thể sinh lợi nhuận và khi một văn phòng đầu tư có tâm buộc phải hoạt động với quy mô nhỏ hơn so với những đối thủ khác thiếu đạo đức hơn.

Đằng sau lời phàn nàn ấy là một ham muốn rất dễ hiểu nhưng đồng thời cũng rất tham vọng: rằng niềm tin và lòng nhiệt thành của chúng ta sẽ trở thành ưu tiên của người khác mà không gặp nhiều khó khăn, như cách chúng đang được hưởng. Bản năng khiến ta tin rằng mình có thể dễ dàng thuyết phục được người lạ. Trẻ nhỏ càng có xu hướng tin vào nhận định này. Khi gặp người lớn, trẻ có thể sẽ hào hứng rủ họ cùng chơi trò chơi mà chúng thích, có thể là nấu gì đó trên chiếc bếp mini hay bắt chước búp bê, những hành động ấy cho thấy trẻ rất khó mà hiểu được những niềm vui của mình lại lạ lẫm với người khác như thế nào. Trẻ em không ngốc nghếch, chỉ là trẻ em sống thuần khiết với bản chất và tin rằng người khác cũng như thế. Chúng minh họa một cách ngây thơ và tiêu biểu cho bản năng sẽ theo ta suốt đời: đó là giả định rằng người khác cũng sẽ và bắt buộc phải bị tác động bởi điều đã tác động đến chúng ta, rằng những hệ chuẩn mực của họ cũng giống của ta, hoặc nên như thế, rằng những điều ta yêu thích tự động cũng sẽ được thế giới yêu thích.

Nhưng thực tế thì khác đến mức khiến người ta cảm thấy nhục nhã và tức giận. Một tiểu thuyết phân tích nhân vật tinh tế và có cấu trúc cốt truyện sáng tạo nhưng mạo hiểm sẽ chỉ bán được một lượng khiêm tốn, trong khi tiểu thuyết cuộc chiến giữa thiện và ác dễ đoán, dựa vào những thủ thuật dẫn chuyện bài bản và đi đến một cái kết có hậu không tưởng sẽ thống trị các bảng xếp hạng sách bán chạy. Một chuỗi cửa hàng cao cấp có thể buôn may bán đắt với những đôi vớ polyester-cotton giảm giá, trong khi một thương hiệu chính gốc chuyên pha trộn màu với nguyên liệu nhập từ Peru sẽ thất bại toàn tập vì không tìm kiếm được thị trường tiêu thụ.

Khó mà không đưa ra kết luận đau lòng: rằng nền kinh tế này vốn là để sỉ nhục những khía cạnh tốt hơn của bản chất con người. Sự thật thì không lắm mưu toan đến thế, nhưng thị trường thì đích thực có khuynh hướng bỏ qua hoặc vô cảm trước những công sức chân thành và tận tâm của chúng ta - và điều này hiện diện trong những bè phái thế lực bướng bỉnh có thể nhận dạng được trong cuộc sống kinh tế và tâm lý.

Một trong những thế lực cơ bản nhất là sự lựa chọn. Bản chất của nền kinh tế phát triển, thành công là mở rộng phạm vi sự lựa chọn cho người tiêu dùng và giảm thiểu những nhận định tiên nghiệm về bất kỳ một sản phẩm hay dịch vụ nào. Ta có thể liên hệ những tính chất đặc trưng của sự phát triển này với truyền thông. Năm 1952, một chương trình radio của BBC phát sóng Bản giao hưởng số năm của Beethoven thu hút năm triệu người nghe: xấp xỉ 16% dân số trưởng thành ở Anh. Ngày nay, một chương trình như thế chỉ đạt lượng người nghe bằng một phần rất nhỏ của con số đó. Lý do của sự khác biệt này không phải là vì dân số nước Anh qua nhiều thế hệ đã bớt nhạy cảm đối với lực xúc động của âm nhạc lãng mạn của Đức như một vài người bi quan văn hóa nhận định, điều khác biệt cơ bản là khán giả ngày nay có rất nhiều sự lựa chọn. Năm 1952, có rất ít nguồn giải trí cạnh tranh nhau. Người người nhà nhà nghe nhạc cổ điển trên đài BBC vì không còn thứ gì khác để làm cả. Nhà sản xuất làm việc trong tập đoàn ngày ấy có nhiều quyền thế hơn rất nhiều so với người đồng cấp ngày nay không phải vì họ tài giỏi vượt trội, mà là vì khán giả của họ rất khó để tìm thấy một sự lựa chọn khác. Điều này khiến những sự việc sự kiện cao quý nhất định được chú ý nhiều hơn, nhưng nó cũng có nghĩa là rất nhiều dịch vụ và sản phẩm không đạt tiêu chuẩn hưởng lợi nhiều hơn so với những gì chúng xứng đáng nhận được.

Ta đã biết qua nghiên cứu về những môi trường sống tự nhiên rằng trong tình huống dư thừa sự lựa chọn (vùng biển nóng ở Seychelles chẳng hạn), sự chú ý tự nhiên sẽ hướng về các cá thể của giống loài có vẻ ngoài sặc sỡ, đa dạng và độc đáo.

Điều ấy cũng đúng với những công ty giữa huyên náo và lùm xùm của xã hội loài người. Thứ mà ta gọi là “bán ra” thường ám chỉ một chuỗi hoạt động không hơn không kém những tín hiệu mà tất cả sinh vật sống gắng sức tạo ra để được chú ý. Giữa thị trường bạt ngàn, các sản phẩm và dịch vụ phải giảm chất lượng đáng kể, không màng đạo đức, tỏ ra tự tin hơn bản chất thực và khăng khăng len lỏi vào tâm trí của những vị khách hàng luôn bị phân tâm. Cũng dễ hiểu khi những người có chuẩn mực cao kiên quyết cự tuyệt nhu cầu này, oán giận lên án sự tàn nhẫn của một hệ thống tầm thường.

Một lý do khác cho việc vì sao người tiêu dùng hiện đại né tránh những lựa chọn tiêu dùng cao thượng hơn: vì ta quá mệt mỏi. Công việc hiện đại đòi hỏi rất nhiều từ những người tham gia vào đó. Ta thường trở về từ nơi làm việc khi ngày đã sắp hết, trong trạng thái cạn kiệt, bào mòn, mệt mỏi, chán nản, yếu ớt, buồn bã. Trong trạng thái như vậy, những sản phẩm và dịch vụ có thể khiến ta quan tâm phải rất cụ thể. Có thể ta đã bị bóc lột đến mức không còn quan tâm gì đến nỗi khổ của người khác hay đồng cảm với số phận trên những đồi trà hoặc ruộng bông nơi xa xôi kia. Ta có thể đã chịu đựng quá nhiều sự nhàm chán để có thể kiên nhẫn trong những cuộc tranh luận uyên thâm và tinh tế. Những lo âu khiến ta không còn sức lực khám phá những góc khuất chân thành hơn trong tâm trí mình. Có lẽ ta hơi ghét bản thân đến mức không muốn ăn uống những thứ tốt cho cơ thể. Cuộc sống của chúng ta có lẽ đang quá thiếu ý nghĩa để có thể chỉ tập trung vào ý nghĩa cuộc sống. Để cân bằng những chuyện đã xảy ra ở nơi làm việc, theo bản năng ta bị thu hút bởi những thứ rất ngọt, rất mặn, rất phân tâm, rất dễ, rất sặc sỡ, rất bùng nổ, rất gợi dục và rất tình cảm.

Điều ấy đã tạo nên một vòng tròn luẩn quẩn. Thứ ta tiêu thụ quyết định thứ ta sản xuất - và kéo theo chất lượng công việc được bày ra trước mắt. Vì ta chỉ có đủ tài nguyên cảm xúc để tiêu thụ sản phẩm thuộc phân lớp nhàm chán và đại trà, ta sẽ chỉ sản sinh ra những việc làm thiếu ý nghĩa và phẩm giá - điều này lại càng làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ bậc thấp. Ta như bị những điều kiện việc làm hiện có cản trở sự phát triển những tính cách củng cố cho sự chân thành và nghiêm túc của những khao khát trong ta và mở rộng phạm vi những công việc có ý nghĩa và không vắt kiệt sức lao động mà ta có thể tiếp cận.

Cái giá phải trả cho một thị trường từ chối hỗ trợ những công sức cao cả không chỉ có sự thiết thực và kinh tế, mà đôi lúc còn là cảm xúc. Một trong những khát khao lớn nhất trong chúng ta là được công nhận và chấp nhận với chính con người thật của mình. Ta mong muốn có được sự trân trọng kỹ lưỡng, sâu sắc đối với tính cách và các mối quan tâm của mình. Điều này cũng hơi giống với giai đoạn đầu thời thơ ấu của chúng ta, nếu bạn có một tuổi thơ suôn sẻ, khi ta có thể gây ấn tượng, hay có thể gọi là quảng bá bản thân, với người lớn mà họ không đưa ra bất kỳ đòi hỏi nào vì họ yêu thương ta. Trong những năm đầu đời ấy, ta không cần phải cần mẫn “rao bán” bản thân: ta không cần phải cười một cách cường điệu, nói chuyện với giọng điệu vui vẻ hơn cảm xúc thật sự, dùng một giọng nói quyến rũ hay gói gọn những điều cần nói trong nhũng câu khẩu hiệu dễ nhớ. Ta có thể từ tốn, ngập ngừng, thì thầm, mơ hồ và phức tạp một tí và muốn nghiêm túc thế nào cũng được - chắc chắn sẽ có người tìm kiếm, giải mã và chấp nhận ta. Tất cả những gì ta học được về tình yêu đều đi ngược lại với cơ chế Thương mại hóa.

Không có gì lạ nếu gieo trồng trong bản thân một sự tức giận đối với những hạn chế thương mại. Nhu cầu để không phải cấp thiết rao bán bản thân không chỉ là một phần của giai đoạn sớm hơn, đơn giản hơn của lịch sử thế giới (như các học giả đã nhìn nhận đúng đắn), mà chua xót hơn, nó còn là một khoảnh khắc trong lịch sử của mỗi chúng ta, điều mà trong thâm ta luôn mong muốn tìm lại.

Quy mô

 Một trong những khía cạnh kỳ lạ nhất của công việc rằng ta không làm chỉ vì tiền, hay làm chủ yếu vì tiền - điều này khiến ta không chỉ dễ trở nên nghèo khổ, mà còn dễ dẫn đến những khủng hoảng về tâm lý. Ta giữ khư khư trong đầu một tham vọng xa vời là phải tìm công việc có thể cung cấp một thứ nguyên liệu phù hợp nhất với từ “ý nghĩa”. Ta thèm khát thứ ý nghĩa này cũng nhiều như ta thèm khát địa vị và giàu sang. Công việc có ý nghĩa bao gồm bất kỳ hoạt động nào ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của người khác, giảm bớt đau khổ hoặc tăng thêm niềm vui của họ - một định nghĩa có thể mở rộng ra bao hàm mọi thứ từ can thiệp cứu sinh của bác sĩ giải phẫu tim mạch đến những nỗ lực quyến rũ của một đầu bếp làm bánh hay người thợ dệt thảm vùng Tiểu Á.

Trên thực tế, đại đa số các ngành nghề đều đóng góp ít nhiều đến lợi ích của ngành nghề khác. Chỉ rất ít công việc thực sự không có ý nghĩa gì cả, ví dụ, nghề làm giả thuốc trị rụng tóc hoặc trị ung thư chẳng hạn, hoặc kẻ chèo kéo người có thu nhập thấp đánh bạc nhiều hơn. Tuy nhiên, điều quan trọng là, có rất rất nhiều người có tâm thế rất kỳ lạ, bản thân họ là người có ý nghĩa nhưng lại không cảm thấy có ý nghĩa một chút nào cả.

Vấn đề này rất phổ biến trong thời hiện đại vì một lý do rất cụ thể: do sự thay đổi về quy mô và nhịp độ công việc sau công nghiệp hóa. Đa số công việc ngày nay đều là phần tử của một hệ cơ quan khổng lồ thực hiện một loạt những dự án lớn, chậm và phức tạp - một nơi rất khó để ta có được bất kỳ cảm nhận hữu hình nào ràng mình đang cải thiện cuộc sống của người khác. Trong hệ cấu trúc hiện đại khổng lồ, khách hàng và sản phẩm quá cách biệt về mặt không gian và quá xa vời về mặt thời gian. Một người khó có thể trấn an bản thân về giá trị và mục đích sống của mình khi họ chỉ là một đơn vị nhỏ nhoi trong số hai mươi nghìn tổ đội tài giỏi ở khắp bốn châu lục cùng thực hiện một dự án sẽ sẵn sàng trong ít nhất năm năm tới.

Có những lý do để giải thích tại sao những tập quán công việc ở những tập đoàn lớn diễn ra với tiến độ rùa bò. Phát triển sản phẩm ở ngành hàng không và ngân hàng, dầu mỏ và dược phẩm không thể diễn ra chỉ trong một đêm. Các khung thời gian đều rất hợp lý, nhưng xét trên trải nghiệm của một cá nhân, chúng hoàn toàn đi ngược lại với niềm vui thích bẩm sinh sâu trong ta với những câu chuyện liên tục nối tiếp nối tiếp nhau.

Nhà triết học người Hy Lạp cổ đại Aristotle nhận thấy yêu cầu chủ chốt cho một tác phẩm sân khấu khiến khán giả hài lòng chính là diễn biến nhanh. Có thể có những căng thẳng và phức tạp và đổi hướng bất ngờ, nhưng trong vài giờ ngắn ngủi và ba hồi, nó phải tạo được cảm giác hoàn thiện. Tốc độ không chỉ thu hút trong phạm vi rạp hát. Trong chín mươi phút, một trận bóng đá có thể đưa ta từ một khởi đầu hoàn hảo, trung lập đến một kết quả sát sao.

Tuy nhiên, nếu bóng đá cũng giống như công việc hiện đại trên phương diện quy mô và nhịp độ, một người có thể tưởng tượng trận đấu ấy diễn ra trên 18 sân bóng với 22 quả bóng và 1800 cầu thủ đá tới đá lui suốt hàng nghìn ngày mà không có cái nhìn tổng quan về tiến độ trận đấu. Theo tiêu chuẩn của những khao khát bản năng trong chúng ta, công việc diễn ra một cách rất lộn xộn, mơ hồ kéo dài quá mức.

Ta cảm nhận được lao động của mình có ý nghĩa không chỉ khi nó diễn ra nhanh, mà còn khi ta được chứng kiến cách ta đang giúp đỡ người khác; khi ta có thể rời khỏi văn phòng, nhà máy hay cửa hàng với ấn tượng rằng mình đã giải quyết được một vấn đề trong cuộc sống của người khác. Niềm vui này cũng bị đe dọa bởi quy mô. Trong bộ máy to lớn của xã hội hiện đại, ta thường cách quá xa người sử sụng sản phẩm và dịch vụ của mình, do đó không thể sinh ra được lợi ích từ vai trò đóng góp của mình đối với cuộc sống của họ. Dành nhiều ngày để cải thiện các điều khoản hợp động trong ngành công nghiệp hậu cần thực sự sẽ dẫn đến khoảnh khắc khi một đôi tình nhân cùng hài lòng thưởng thức bánh quy gừng trước màn hình TV, tối đa hóa quản lý dữ liệu xuyên suốt các phòng ban của cơ quan không gian vũ trụ, cùng với hàng nghìn công sức nỗ lực khác phôi hợp, thực sự sẽ có ngày một gia đình trẻ có thể gắn bó với nhau trong chuyện đi chơi biển. Thực sự có mối liên két, nhưng chúng quá xa vời và phức tạp đến mức nhạt nhẽo và thiếu chân thực trong tâm trí chúng ta.

Có một nghịch lý, và cũng từa tựa như một bi kịch, rằng vì cái quy mô không thể tránh khỏi của công việc hiện đại, ta có thể dành cả cuộc sống để giúp đỡ người khác - thế nhưng, ngày qua ngày lại nặng nề với cảm giác không tạo được bất kỳ khác biệt nào.

Một phần lý giải cho sự thiếu két nối và mất phương hướng nằm ở khuôn phép trung tâm của nền văn hóa này: nghệ thuật dẫn truyện. Khi độ phức tạp và quy mô của các tổ chức ngày càng tăng, ta cần phải học cách sắp xếp tập hợp các sự việc tách biệt thành một câu chuyện liền mạch nhắc cho ta nhớ làm thế nào để thích nghi với một tập thể có ý nghĩa. “Câu chuyện” của một công ty có rất nhiều điểm tương đồng với một tiểu thuyết lớn, nhiều phần. Ta có thể tưởng tượng một tiểu thuyết công ty bắt đầu từ lời mô tả một người truy cập vào tài khoản ngân hàng ở Salzburg. Một lát sau, ta đang ở trong một nhà hàng ở quận Loan Tể, Hongkong chứng kiến thương vụ vận chuyển những thùng hàng đến Dubai. Sau đó trọng tâm chuyển đến một cuộc họp diễn ra dưới một tầng hầm ở Whitehall, nơi các bộ trưởng và cán bộ công chức thảo luận về các quy định đối với hàng tiêu dùng. Tiếp đến là tại một tổng đài ở Phoenix, ngay sau đó là một cảnh tượng trong lớp học mẫu giáo ở Seattle. Nhưng thay vì là một mớ hỗn độn gây hoang mang, mục đích ở đây là để thể hiện những sự việc tưởng chừng ngẫu nhiên thực chất lại có mối liên hệ mật thiết - nhắm đến một kết quả tổng thể: có thể là việc dựng nên một hệ thống IT mới cho một văn phòng ở Munich hay một dự án gia tăng lưu lượng của một quy trình sản xuất máy bơm ở miền nam Tây Ban Nha. Lý tưởng thì công ty lớn nào cũng có thuê cho mình những người kể chuyện.

Jan Vermeer vẽ bức tranh cô gái bán sữa nổi tiếng vào năm 1657. Ngày nay, đó là một trong những bức tranh có giá trị nhất thế giới. Khoảng năm triệu lượt khách đến thưởng thức nó tại Rijksmuseum ở Amsterdam mỗi năm. Tuy nhiên, uy danh lẫy lừng là thế, khung cảnh được thể hiện lại không thể nào bình thường hơn.

Điều đó chỉ là do tài năng và lòng nhân văn của người nghệ sĩ khiến cho hoạt động ấy trở nên có ý nghĩa như thế. Vermeer quan sát vào thẳm sâu trong công việc của người bán sữa va tìm thấy một nghề nghiệp nâng cao sự khiêm tốn, kiên trị và tôn trọng quy trình. Vermeer hiểu rằng một cuộc sống tốt cần rất nhiều thứ, và sữa (và kem và phô mai và sữa chua) chiếm một vị trí vững chắc trong danh sách rất dài những thành phần - một khi ta đã học được cách trân trọng nó - liên kết chắc chẽ với nhau trong một chuỗi ý nghĩa liên tục. Hơn bao giờ hết, ta cần lòng quảng đại của con mắt nghệ sĩ để mục đích công việc trở nên hữu hình hơn đối với nhân viên chúng ta và đối với thế giới, để những logic trong tháng ngày của chúng ta sẽ dễ nắm bắt hơn và những phút giây chán nản sẽ bớt đau lòng và nghiêm trọng.

(Còn tiếp)

 

Đọc các chương trước ở đây:

Nỗi sầu công việc (Chương 1)

Nỗi sầu công việc (Chương 2)

Người dịch: Thợ săn tiền thưởng

Nguồn: http://www.thebookoflife.org/sorrows-of-work/

menu
menu