[Sách dịch] Bộ Não tự thay đổi chính nó (Chương 2.1)

sach-dich-bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-2-1

Chương 2. Tạo dựng cho mình một bộ não tốt hơn Một người phụ nữ bị dán nhãn "chậm phát triển" đã khám phá ra cách tự chữa lành.

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Chương 2.

Tạo dựng cho mình một bộ não tốt hơn

Một người phụ nữ bị dán nhãn "chậm phát triển" đã khám phá ra cách tự chữa lành.

 

Các nhà khoa học thực hiện những khám phá quan trọng về bộ não thường là những người có bộ não phi thường, làm việc với những người có bộ não bị tổn thương. Rất hiếm khi người thực hiện một khám phá quan trọng lại là người bị khuyết tật trí tuệ, nhưng có một số trường hợp ngoại lệ. Barbara Arrowsmith Young là một trong số đó.

"Bất đối xứng" là từ mô tả đúng nhất trí óc của cô khi còn là một nữ sinh. Sinh ra ở Toronto vào năm 1951 và lớn lên ở Peterborough, Ontario, Barbara có những vùng não thông minh, xuất sắc khi còn nhỏ - cả trí nhớ thính giác và thị giác của cô đều được kiểm tra ở phân vị thứ chín mươi chín. Thùy trán của cô cực kỳ phát triển, mang lại cho cô phẩm tính kiên trì, bền bỉ, gan dạ. Nhưng bộ não của cô lại "không đối xứng", có nghĩa là những khả năng đặc biệt này cùng tồn tại với các khu vực chậm phát triển. 

Sự bất đối xứng này cũng để lại những hỗn loạn trên cơ thể cô. Mẹ cô đã nói đùa về nó "Bác sỹ sản khoa hẳn đã kéo con ra bằng chân phải" vì chân phải của cô dài hơn chân trái, khiến xương chậu của cô cũng thay đổi. Cánh tay phải của cô không bao giờ duỗi thẳng được, phần cơ thể bên phải của cô lớn hơn phần bên trái, mắt trái kém linh hoạt, cột sống của cô không đối xứng và bị vẹo xương sống.

Cô mắc phải một loại khuyết tật khả năng học tập nghiêm trọng.

Vùng não dành cho lời nói của cô, khu vực của Broca, không hoạt động đúng cách, vì vậy cô gặp khó khăn khi phát âm từ. Cô cũng thiếu năng lực suy luận không gian. Khi chúng ta muốn di chuyển cơ thể của mình trong không gian, chúng ta sử dụng suy luận không gian để xây dựng một con đường tưởng tượng trong đầu mình trước khi thực hiện các chuyển động. Suy luận không gian rất quan trọng để một em bé biết bò, một nha sĩ khoan được răng, một cầu thủ khúc côn cầu lên kế hoạch di chuyển. Một ngày nọ, khi Barbara lên ba, cô quyết định chơi trò đấu sỹ và con bò. Cô là con bò đực và chiếc xe chạy trên đường là áo choàng của đấu sỹ. Cô nghĩ rằng mình sẽ bình tĩnh và tránh nó, nhưng cô đánh giá sai không gian và đâm sầm vào xe khiến đầu cô bị xé toạc. Mẹ cô tuyên bố là bà sẽ rất bất ngờ nếu sang năm Barbara vẫn còn sống.

Suy luận không gian cũng cần thiết để hình thành một bản đồ tinh thần về vị trí của mọi thứ. Chúng ta sử dụng loại suy luận này để sắp xếp bàn làm việc của mình hoặc nhớ lại nơi chúng ta đã để chìa khóa. Barbara mất tất cả những khả năng này. Không có bản đồ tinh thần của mọi vật trong không gian, biến khỏi tầm mắt đồng nghĩa với biến ra khỏi tâm trí, vì vậy cô trở thành một người phải giữ mọi thứ cô đang chơi hoặc làm trước mặt mình, và tủ quần áo của cô thì luôn để mở. Khi ở ngoài trời cô luôn đi lạc.

Cô cũng gặp vấn đề về "vận động". Tri giác vận động cho phép chúng ta nhận thức được cơ thể hoặc tay chân của mình ở đâu trong không gian, cho phép chúng ta kiểm soát và phối hợp các chuyển động của mình. Nó cũng giúp chúng ta nhận ra đồ vật bằng cách chạm. Nhưng Barbara không bao giờ có thể biết tay hoặc chân của cô đã di chuyển được bao xa ở bên trái. Mặc dù mang tinh thần của tomboy, cô ấy lại vụng về. Cô không thể cầm một cốc nước trái cây trong tay trái mà không làm đổ nó. Cô thường xuyên bị vấp ngã. Cầu thang là thứ nguy hiểm đối với cô. Cô cũng bị giảm cảm giác khi chạm vào bên trái và luôn bị bầm tím ở bên đó. Cuối cùng khi cô học lái xe, cô tiếp tục lái bên trái xe. Cô ấy cũng bị khuyết tật thị giác. Tầm nhìn của cô hẹp đến mức khi cô nhìn vào một trang viết, mỗi lần cô chỉ có thể nhận ra được một vài chữ cái.

Nhưng đây không phải là vấn đề gây suy nhược nhất của cô. Vì phần não bộ giúp hiểu mối quan hệ giữa các biểu tượng không hoạt động bình thường, cô gặp khó khăn trong việc hiểu ngữ pháp, những khái niệm toán học, logic và nguyên nhân và kết quả. Cô không thể phân biệt được giữa "anh trai của cha" và "cha của anh trai." Giải mã Hai lần phủ định là gì cũng bất khả thi với cô. Cô không thể xem được đồng hồ vì cô không thể hiểu mối quan hệ giữa hai bàn tay. Cô cũng không phân biệt được tay trái với tay phải của mình, không chỉ vì cô ấy thiếu bản đồ không gian, mà bởi vì cô ấy không thể hiểu mối quan hệ giữa "trái" và "phải". Chỉ với nỗ lực tinh thần phi thường và sự lặp đi lặp lại liên tục, cô mới có thể học cách liên hệ các biểu tượng với nhau.

Cô đảo ngược b, d, q và p, đọc "was" là "saw", và đọc, viết từ phải sang trái, một khuyết tật gọi là viết chữ ngược. Cô thuận tay phải, nhưng vì cô viết từ phải sang trái, cô đã bôi bẩn những dòng chữ viết của mình. Giáo viên của cô cho rằng cô ấy đã rất cố gắng. Bởi vì cô mắc chứng khó đọc, nên cô đã mắc những lỗi đọc khiến cô ấy phải trả giá đắt. Các anh trai của cô để axit sulfuric làm thí nghiệm trong chai thuốc nhỏ mũi cũ của cô.

Một lần nọ cô quyết định tự điều trị chứng sổ mũi, Barbara đã đọc sai nhãn mới mà họ đã viết. Nằm trên giường với axit chảy vào xoang mũi, cô quá xấu hổ khi kể cho mẹ nghe vụ tai nạn lần này.

Không hiểu được mối quan hệ nguyên nhân và kết quả, cô đã làm những việc kỳ quặc về mặt xã hội vì cô ấy không thể kết nối hành vi với hậu quả của nó. Ở trường mẫu giáo, cô không thể hiểu tại sao, nếu các anh trai của cô học cùng trường, cô lại không thể ra khỏi lớp và đến chơi với họ bất cứ khi nào cô muốn. Cô có thể ghi nhớ các quy trình toán học nhưng không thể hiểu được các khái niệm toán học. Cô có thể nhớ lại rằng năm nhân năm bằng hai mươi lăm nhưng không thể hiểu tại sao. Các giáo viên của cô đã trả lời bằng cách cho cô tập luyện thêm, và cha cô đã dành hàng giờ để dạy kèm cho cô, nhưng không mang lại kết quả. Mẹ cô giơ thẻ flash với các bài toán đơn giản. Bởi vì Barbara không thể giải chúng, cô tìm một nơi để ngồi dưới ánh nắng mặt trời làm mờ giấy, vì vậy cô có thể đọc câu trả lời ở mặt sau. Nhưng những nỗ lực khắc phục đã không chạm đến gốc rễ của vấn đề; họ chỉ làm cho nó thêm đau đớn.

Khao khát học tốt, cô đã vượt qua những năm tháng tiểu học bằng cách học thuộc lòng trong giờ ăn trưa và sau giờ học. Ở trường trung học, thành tích học tập của cô vô cùng thất thường. Cô đã học cách sử dụng trí nhớ để che giấu những khiếm khuyết của mình và bằng sự luyện tập cô có thể nhớ được các trang sự kiện. Trước khi kiểm tra, cô cầu nguyện nếu bài thi dựa vào các số liệu thì cô có thể đạt 100 điểm; còn nếu chúng dựa vào việc hiểu được các mối quan hệ nhân quả thì có lẽ điểm thi của cô sẽ rất thấp.

Barbara không hiểu được thời gian thật, mà chỉ hiểu được sau khi sự kiện đã xảy ra, tức là thời gian chết. Vì cô không hiểu những gì đang xảy ra xung quanh mình trong khi nó đang diễn ra, cô ấy đã mất hàng giờ để nghĩ lại chuyện quá khứ, để làm cho những mảnh vỡ khó hiểu của nó kết hợp lại với nhau và trở nên dễ hiểu. Cô phải phát lại những đoạn hội thoại đơn giản, hội thoại trong phim, và lời bài hát hai mươi lần trong đầu vì đến khi họ nói tới câu cuối, cô lại không còn nhớ những gì họ nói lúc đầu. 

Sự phát triển cảm xúc của cô cũng gặp khó khăn. Vì cô ấy gặp rắc rối với logic nên cô không thể nhận ra sự mâu thuẫn khi lắng nghe những người ăn nói trôi chảy và vì thế cô không biết chắc được nên tin tưởng vào ai. Tình bạn cũng rất khó khăn và cô không thể có nhiều hơn một mối quan hệ tại một thời điểm.

Nhưng điều khiến cô khó chịu nhất là sự hoài nghi thường trực và sự không chắc chắn trong cảm nhận của cô về mọi thứ. Cô cảm nhận được ý nghĩa ở khắp mọi nơi nhưng không bao giờ có thể xác minh nó. Phương châm của cô là "Tôi không hiểu." Cô tự nhủ: "Tôi sống trong sương mù và thế giới này không vững chắc hơn một cây kẹo bông." Giống như nhiều đứa trẻ bị khuyết tật học tập nghiêm trọng, cô bắt đầu nghĩ mình có thể bị điên. 

Barbara lớn lên trong thời kỳ mà ít có sự hỗ trợ dành cho người bị khuyết tật học tập. 

"Vào những năm 1950, tại một thị trấn nhỏ như Peterborough, bạn không nói về những điều như vậy," cô cho hay. "Thái độ là, bạn có làm được hay không. Không có các giáo viên chuyên biệt, không thăm khám chuyên khoa hoặc nhà tâm lý. Thuật ngữ 'khuyết tật học tập' sẽ không được sử dụng rộng rãi trong hai thập kỷ nữa. Giáo viên hồi lớp một của tôi nói với cha mẹ tôi là tôi đang có ‘một trở ngại tâm thần’ và tôi sẽ không bao giờ học được theo cách của những đứa trẻ khác. Cụ thể, rõ ràng như vậy đấy. Bạn là người sáng dạ, trung bình, chậm chạp hoặc chậm phát triển trí tuệ.” 

Nếu bạn bị thiểu năng trí tuệ, bạn đã được đưa vào “các lớp cơ hội”. Nhưng đó không phải là nơi dành cho một cô gái có trí nhớ tuyệt vời có thể đạt điểm cao nhất trong các bài kiểm tra từ vựng. Người bạn thời thơ ấu của Barbara, Donald Frost, hiện là một nhà điêu khắc, nói, "Cô ấy đã chịu đựng áp lực học tập không thể tin nổi. Cả nhà Young đều là những người đạt thành tựu cao. Cha cô, Jack, là một kỹ sư điện và nhà phát minh với ba mươi bốn bằng sáng chế cho General Electric Canada. Mẹ cô, Mary, thì có thái độ: Bạn sẽ thành công; đó là điều chắc chắn,' và 'Nếu bạn đang gặp một vấn đề nào đó, hãy sửa nó.' Barbara luôn cực kỳ nhạy cảm, ấm áp và chu đáo," Frost tiếp tục "nhưng cô ấy đã che giấu những vấn đề của mình rất tốt. Cô im lặng, giữ bí mật. Trong những năm sau chiến tranh, lòng chính trực được hiểu là bạn không thu hút sự chú ý của mọi người vào những khuyết tật của bạn nhiều hơn so với những hột mụn trên mặt bạn.” 

Barbara hướng theo chuyên ngành phát triển trẻ em, hy vọng bằng cách nào nó giải quyết được vấn đề của bản thân. Là một sinh viên tại trường đại học Guelph, những cách biệt trí tuệ to lớn của cô lại bộc lộ rõ. Nhưng may mắn thay, các giáo viên của cô thấy rằng cô có một khả năng vượt trội trong việc nhận ra những tín hiệu phi ngôn ngữ trong phòng thí nghiệm quan sát trẻ em, và cô được mời dạy khóa học. Cô cảm thấy có điều gì đó sai sai. Sau đó cô được nhận vào học cao học tại Viện Nghiên cứu Giáo dục Ontario (OISE). Hầu hết các sinh viên đọc một bài nghiên cứu một hoặc hai lần, nhưng thông thường Barbara phải đọc một bài tới hai mươi lần cũng như những nguồn tham khảo của nó để hiểu sơ qua ý nghĩa của nó. Cô vẫn sống sót dù chỉ ngủ bốn tiếng mỗi đêm. Vì Barbara rất thông minh, xuất sắc trong nhiều cách, và rất giỏi trong việc quan sát trẻ em, các giảng viên ở trường cao học của cô gần như không tin nổi chuyện cô bị khuyết tật. Chỉ có Joshua Cohen là hiểu được. Anh là một học sinh tài năng nhưng bị khuyết tật học tập khác tại OISE. Anh điều hành một phòng khám nhỏ dành cho trẻ em khuyết tật học tập sử dụng phương pháp điều trị theo tiêu chuẩn, "sự bù trừ," dựa trên lý thuyết được chấp nhận thời đó; một khi các tế bào não chết hoặc không phát triển, thì chúng không thể phục hồi. Sự bù trừ tìm cách cải thiện vấn đề. Những người gặp khó khăn trong việc đọc thì được cho nghe các băng thu âm. Những người “chậm chạp” được cho nhiều thời gian hơn để làm test. Những ai gặp khó khăn trong việc đi theo một cuộc tranh luận thì được yêu cầu hãy đánh dấu những ý chính bằng màu sắc. Joshua đã thiết kế một chương trình bù trừ cho Barbara, nhưng cô thấy nó quá tốn thời gian. Thêm nữa, luận án của cô, một nghiên cứu về trẻ em bị khuyết tật học tập được điều trị bằng sự bù trừ tại phòng khám OISE, cho thấy hầu hết chúng không thực sự cải thiện. Và bản thân cô cũng có quá nhiều khiếm khuyết đến nỗi đôi lúc cô thấy khó mà tìm thấy những chức năng khỏe mạnh nào có thể bù trừ cho những khiếm khuyết của cô. Bởi vì cô đã thành công trong việc phát triển trí nhớ của mình, cô nói với Joshua rằng cô nghĩ phải có cách tốt hơn. 

Một ngày nọ, Joshua đề nghị cô tìm đọc một số cuốn sách của Alexander Luria mà anh đang đọc. Cô đã giải quyết chúng, vượt qua những đoạn khó nhằn vô số lần, đặc biệt là một phần về Những vấn đề cơ bản về ngôn ngữ thần kinh của Luria về những người bị đột quỵ hoặc bị tổn thương gặp rắc rối với ngữ pháp, logic và xem đồng hồ. Luria, sinh năm 1902, vào thời kỳ cách mạng Nga. Ông rất quan tâm đến phân tâm học, từng trao đổi thư từ với Freud, và đã viết các bài báo về kỹ thuật phân tâm học của "liên tưởng tự do," trong đó bệnh nhân nói mọi thứ xuất hiện trong tâm trí họ. Mục tiêu của ông là phát triển các phương pháp khách quan để đánh giá các ý tưởng của Freud. Khi còn ở tuổi đôi mươi, ông đã phát minh ra mô hình của máy phát hiện nói dối. Khi cuộc thanh trừng vĩ đại của thời đại Stalin bắt đầu, phân tâm học trở thành khoa học bịp bợm và Luria bị tố cáo. Ông đã công khai thừa nhận mắc phải “một số sai lầm về ý thức hệ”. Sau đó, để thoát khỏi quan điểm đó, ông đã đến trường y. 

Alexander Luria

Nhưng ông chưa hoàn toàn kết thúc với phân tâm học. Dù không gây được sự chú ý đến công việc của mình, nhưng ông đã tích hợp các khía cạnh của phương pháp phân tâm học và tâm lý học vào thần kinh học, trở thành người sáng lập khoa tâm lý học thần kinh. Ca phân tích tâm lý của ông ấy, thay vì viết ngắn gọn về các triệu chứng, thì ông mô tả rất dài về các bệnh nhân của mình. Như Oliver Sacks đã viết, " Ca phân tích tâm lý của Luria, quả thực, chỉ có thể được so sánh với Freud về độ chính xác, sức sống, sự giàu có và độ sâu của chi tiết." Một trong những cuốn sách của Luria, The Man with a Shattered World (Người đàn ông với thế giới tan vỡ), là bản tóm tắt và bình luận về cuốn nhật ký của một bệnh nhân mắc phải tình trạng rất kỳ dị. 

Vào cuối tháng 5 năm 1943, đồng chí Lyova Zazetsky, một người đàn ông trông giống như một cậu bé, đã đến văn phòng của Luria trong bệnh viện phục hồi chức năng nơi ông đang làm việc. Zazetsky là một trung úy trẻ người Nga vừa bị thương trong trận chiến Smolensk, do quân Nga trang bị yếu kém, đã bị quăng vào cỗ máy chiến tranh của Đức Quốc xã xâm lược. Anh ta bị một viên đạn bắn vào đầu, với lực sát thương lớn ở bên trái, nằm sâu trong não. Một thời gian dài anh nằm hôn mê. Khi Zazetsky tỉnh lại, các triệu chứng của anh ta rất kỳ quặc. Những mảnh đạn đã nằm trong phần não bộ có chức năng giúp anh hiểu mối quan hệ giữa các biểu tượng. Anh ta không thể hiểu được logic, nguyên nhân và kết quả, hoặc các mối quan hệ không gian. Anh ta không thể phân biệt bên trái của mình với bên phải của mình. Anh ta không thể hiểu các yếu tố của ngữ pháp xử lý các mối quan hệ. Các giới từ như "in," "out," "before," "after," "with," 'without" đã trở nên vô nghĩa đối với anh. Anh ta không thể hiểu toàn bộ một từ, hiểu toàn bộ câu hoặc nhớ lại được một ký ức hoàn chỉnh vì để làm được cần phải liên kết các biểu tượng lại với nhau. Nhưng anh ấy chỉ có thể nắm bắt được những mảnh biểu tượng thoáng qua. Tuy nhiên, thùy trán của anh ấy— cho phép anh ấy tìm ra những gì có liên quan và lên kế hoạch, lên chiến lược, hình thành ý định và theo đuổi chúng — không bị tổn thương, vì vậy anh ấy có khả năng nhận ra khuyết điểm của mình và mong muốn khắc phục chúng. Dù anh ấy không thể đọc được, phần lớn là một hoạt động nhận thức, nhưng anh có thể viết, vì đó là một hoạt động có chủ ý. Anh bắt đầu viết một cuốn nhật ký I'll Fight On (Tôi sẽ chiến đấu) dài tới ba ngàn trang. "Tôi đã bị giết vào ngày 2 tháng 3 năm 1943," anh viết, "nhưng nhờ một số sức mạnh quan trọng của cơ thể/tổ chức, tôi đã sống sót một cách kỳ diệu.” 

Hơn ba mươi năm, Luria quan sát anh ta và suy nghĩ về cách vết thương của Zazetsky ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần của anh ta. Ông chứng kiến cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của Zazetsky "để sống chứ không phải chỉ tồn tại.”

Đọc nhật ký của Zazetsky, Barbara nghĩ "Anh ấy đang mô tả cuộc sống của tôi.”

"Tôi biết từ này là gì? ‘mẹ’ và ‘con gái’ là gì nhưng không hiểu được cách diễn đạt ‘con gái của mẹ’, Zazetsky viết. "Những cách diễn đạt như ‘con gái của mẹ’ và ‘mẹ của con gái’ nghe có vẻ giống tôi. Tôi cũng từng gặp rắc rối với những cách diễn đạt kiểu như thế này ‘Con voi có to hơn con ruồi không?' Tất cả những gì tôi có thể nhận ra là một con ruồi thì nhỏ và một con voi thì to, nhưng tôi không hiểu được các từ 'lớn hơn' và 'nhỏ hơn'. 

Trong khi xem một bộ phim, Zazetsky đã viết, "trước khi tôi có cơ hội hiểu những gì các diễn viên đang nói, thì phim lại chuyển sang một cảnh mới.”

Luria bắt đầu giải thích vấn đề. Viên đạn của Zazetsky nằm ở ở bán cầu não trái, tại chỗ giao nhau của ba khu vực tri giác chính nơi thùy thái dương (thường xử lý âm thanh và ngôn ngữ), thùy chẩm (thường xử lý hình ảnh thị giác) và thùy đỉnh (thường xử lý các mối quan hệ không gian và tích hợp thông tin từ các giác quan khác nhau). Tại ngã ba này, đầu vào tri giác từ ba khu vực đó được kết hợp và liên kết. Trong khi Zazetsky có thể nhận thức đúng đắn, Luria nhận ra rằng anh ta không thể liên hệ các nhận thức khác nhau của mình, hoặc các bộ phận của sự vật với cái toàn thể. Quan trọng nhất là, anh ta đã gặp khó khăn lớn trong việc liên hệ một số biểu tượng với nhau, như cách chúng ta thường làm khi chúng ta suy nghĩ bằng các từ ngữ. Do đó, Zazetsky thường nói về malapropisms (Từ dùng sai nghĩa một cách buồn cười). Như thể anh ta không có một mạng lưới đủ lớn để nắm bắt và giữ lại các từ ngữ và ý nghĩa của chúng, và anh ta thường không thể liên hệ các từ với nghĩa hoặc định nghĩa của chúng. Anh ta sống với những mảnh vỡ và viết, "Tôi luôn ở trong sương mù ...  Tất cả những gì lóe lên trong tâm trí tôi là các hình ảnh. . . Ảo ảnh mù mịt đột nhiên xuất hiện và đột nhiên biến mất ... Tôi không thể hiểu được hay nhớ được chúng có ý nghĩa gì.” Lần đầu tiên, Barbara thấy rằng khuyết tật về não bộ của cô đã có phương hướng. Nhưng Luria không cung cấp một thứ cô cần: một cách điều trị. Khi cô nhận ra mình thực sự bị hư hỏng/suy yếu như thế nào, cô thấy kiệt sức, chán nản hơn và nghĩ rằng mình không thể đi trên con đường này. Ở ga tàu điện ngầm, cô đã tìm một vị trí để lao xuống đảm bảo chết ngay. 

Đúng vào thời điểm này trong cuộc đời cô, khi cô hai mươi tám tuổi và vẫn đang học cao học, một tờ giấy xuất hiện trên bàn của cô. Mark Roseneig của Đại học California tại Berkeley đã nghiên cứu về loài chuột trong môi trường kích thích và không kích thích, và trong khám nghiệm tử thi, ông thấy rằng não của những con chuột bị kích thích có nhiều chất dẫn truyền thần kinh hơn, nặng hơn và cung cấp máu tốt hơn so với não của những con chuột ở môi trường ít kích thích hơn. Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên chứng minh tính dẻo dai bằng cách chỉ ra hoạt động có thể tạo ra những thay đổi trong cấu trúc của não. 

Barbara như bị sét đánh. Rosenzweig đã chỉ ra rằng bộ não có thể được sửa đổi. Mặc dù nhiều người nghi ngờ điều đó, nhưng điều này có nghĩa là sự bù trừ có thể không phải là giải pháp duy nhất. Bước đột phá của riêng cô sẽ là liên kết nghiên cứu của Rosenzweig và Luria. 

Barbara Arrowsmith Young

Cô tự cô lập bản thân và bắt đầu thực hiện những bài tập trí óc do cô thiết kế đến mức kiệt sức, hết tuần này đến tuần khác — với những giờ nghỉ giải lao ngắn ngủi để ngủ, dù cô không đảm bảo rằng chúng sẽ dẫn cô đến đâu. Thay vì thực hành liệu pháp bù trừ, cô luyện tập chức năng yếu nhất của mình— liên kết một số biểu tượng lại với nhau. Một bài tập bao gồm đọc hàng trăm tầm thẻ ảnh mặt đồng hồ biểu thị những thời gian khác nhau. Cô nhờ Joshua Cohen viết thời gian đúng ở mặt sau những thẻ ảnh. Cô xáo trộn các thẻ để cô không thể ghi nhớ câu trả lời. Cô mở thẻ ảnh, cố gắng đọc thời gian rồi kiểm tra câu trả lời, sau đó chuyển sang thẻ tiếp theo nhanh nhất có thể. Khi cô không thể trả lời đúng thời gian trên thẻ, cô dành hàng tiếng đồng hồ để xem một chiếc đồng hồ thật, chầm chậm quay bàn tay, cố gắng hiểu được tại sao, vào lúc 2:45, kim giờ lại nằm ở ba phần tư hướng về số ba. 

Khi cuối cùng cô cũng hiểu được các câu trả lời, cô bổ sung thêm kim giây và sáu mươi giây cho một phút. Vào cuối nhiều tuần luyện tập đến kiệt sức, cô không chỉ có thể xem đồng hồ nhanh hơn người bình thường, mà cô còn nhận thấy những khó khăn khác liên quan đến biểu tượng của cô cũng được cải thiện, và lần đầu tiên nắm bắt được ngữ pháp, toán học và logic. Quan trọng nhất là, cô ấy có thể hiểu được những gì mọi người đang nói khi họ nói điều đó. Lần đầu tiên trong đời, cô bắt đầu sống trong thời gian thực. Được thúc đẩy bởi thành công ban đầu của mình, cô đã thiết kế các bài tập cho các khuyết tật khác của mình - khó khăn về không gian, khó khăn trong việc nhận biết chân tay ở đâu và khuyết tật thị giác - và đưa chúng lên mức trung bình. 

Barbara và Joshua Cohen kết hôn. Vào năm 1980, họ đã mở Trường Arbowmith ở Toronto. Họ đã nghiên cứu cùng nhau, và Barbara tiếp tục phát triển các bài tập dành cho não bộ và điều hành trường học hằng ngày. Cuối cùng họ chia tay, và Joshua chết vào năm 2000. 

Bởi vì rất ít người biết được và chấp nhận tính dẻo thần kinh hoặc tin rằng bộ não có thể tập luyện được như thể nó là một cơ bắp, hiếm có bối cảnh nào để hiểu được công việc của cô. Cô bị chỉ trích khi đưa ra những tuyến bố— rằng khuyết tật học tập có thể điều trị được— khi chưa được chứng minh. Nhưng thay vì cảm thấy phiền lòng bởi sự không chắc chắn, cô tiếp tục thiết kế các bài tập cho các vùng não và các chức năng thường bị suy yếu nhất ở những người khuyết tật học tập. Trong những năm trước khi ứng dụng máy quét não công nghệ cao, cô dựa vào nghiên cứu của Luria để biết được những vùng não bộ nào thường xử lý các chức năng trí tuệ gì. Luria đã thành lập bản đồ não của riêng mình bằng cách làm việc với những bệnh nhân như Zazetsky. Ông quan sát vị trí vết thương của một người lính và liên kết vị trí này với các chức năng tinh thần bị mất. 

Barbara phát hiện ra rằng các rối loạn học tập thường là phiên bản nhẹ hơn của những khiếm khuyết về tư duy được nhìn thấy ở các bệnh nhân của Luria. Những người nộp đơn vào trường Arbowmith - cả trẻ em và người lớn - trải qua tới bốn mươi giờ đánh giá, được thiết kế để xác định chính xác chức năng não nào bị suy yếu và liệu chúng có thể can thiệp được hay không. Những học sinh được nhận vào trường, nhiều em hay bị mất tập trung khi học ở những trường bình thường, ngồi yên lặng làm việc trước máy tính của mình. Một số người, được chẩn đoán mắc chứng thiếu tập trung cũng như các chứng rối loạn học tập, đã học ở Ritalin khi họ vào trường. Khi các bài tập của họ tiến triển, một số người có thể bỏ thuốc, vì những vấn đề về sự tập trung chú ý của họ là thứ yếu đối với các chứng rối loạn học tập tiềm ẩn của họ. 

Ở trường, những đứa trẻ, giống như Barbara, từng không đọc được đồng hồ hiện giờ đang làm các bài tập trên máy tính, đọc đồng hồ phức tạp chỉ trong vài giây (không chỉ có kim phút, kim giờ và kim giây mà còn những nhánh thời gian khác, chẳng hạn như ngày, tháng, năm). Chúng ngồi yên lặng, với sự tập trung cao độ, cho đến khi chúng có đủ số câu trả lời đúng để tiến lên cấp độ cao hơn, khi chúng hét lên một tiếng "Yes!" và màn hình máy tính của chúng sáng lên để chúc mừng. Khi chúng kết thúc, chúng có thể đọc đồng hồ phức tạp hơn nhiều so với những người "bình thường" có thể đọc. Ở các bàn khác, trẻ em đang học chữ Urdu và tiếng Ba Tư để tăng cường ký ức thị giác. Hình dạng của những chữ cái này không quen thuộc, và bài tập não bộ này đòi hỏi học sinh phải học cách nhận ra những hình dạng lạ lẫm này một cách nhanh chóng. 

Những đứa trẻ khác thì giống như những tên cướp biển nhỏ, đeo miếng che mắt ở mắt trái và chăm chú dõi theo các dòng phức tạp, các dòng nghuệch ngoạc, những mẫu chữ tiếng Trung bằng bút. Miếng dán mắt buộc thông tin thị giác phải đi vào mắt bên phải, sau đó đến phần não bộ có vấn đề. Những đứa trẻ này không đơn giản chỉ là học cách viết tốt hơn. Đa số chúng gặp phải ba vấn đề: khó khăn trong việc nói một cách trôi chảy, viết gọn gàng và đọc. Barbara, làm theo Luria, tin rằng cả ba khó khăn này là do một điểm yếu trong chức năng não thường giúp chúng ta phối hợp và xâu chuỗi một số chuyển động khi chúng ta thực hiện các nhiệm vụ này. 

Khi chúng ta nói, não của chúng ta chuyển đổi một chuỗi các biểu tượng - các chữ cái và từ ngữ của ý nghĩ - thành một chuỗi các chuyển động được tạo ra bởi lưỡi và cơ môi của chúng ta. Barbara tin rằng, lại làm theo Luria, phần não kết hợp các chuyển động này lại với nhau là vỏ não trước bên trái của não. Tôi đã giới thiệu một số người bị suy yếu trong chức năng não này đến trường. Một cậu bé mắc phải vấn đề này thì hay nản lòng, bởi vì những suy nghĩ của cậu đến nhanh hơn việc cậu ta có thể biến chúng thành lời nói, và cậu ta thường bỏ qua những mẩu thông tin, gặp khó khăn trong việc tìm ra từ ngữ và nói lảm nhảm. Cậu là một người rất ưa giao du nhưng không thể thể hiện được bản thân và im lặng phần lớn thời gian. Khi được hỏi một câu ở trong lớp, cậu thường biết câu trả lời nhưng lại lại mất rất nhiều thời gian đế nói câu trả lời, việc đó khiến cậu trông kém thông minh, và cậu bắt đầu nghi ngờ bản thân. 

Khi chúng ta viết một ý nghĩ, bộ não của chúng ta chuyển đổi các từ - vốn là biểu tượng - thành chuyển động của ngón tay và bàn tay. Một cậu bé có chữ viết nhát gừng vì khả năng xử lý chuyển đổi các biểu tượng thành chuyển động dễ bị quá tải, vì vậy cậu phải viết với nhiều chuyển động nhỏ, rời rạc thay vì những dòng chữ dài, trôi chảy. Mặc dù cậu từng được dạy viết chữ thảo, nhưng cậu lại thích viết chữ in hơn. (Khi trưởng thành, những người mắc phải vấn đề này thường được nhận ra vì họ thích viết chữ in hoặc đánh máy. Khi chúng ta viết chữ in, chúng ta viết các chữ cái tách biệt ra, chỉ với một vài chuyển động của bút, điều đó ít gây căng thẳng lên bộ não. Còn viết chữ thảo thì chúng ta viết nhiều chữ cùng một lúc và bộ não phải xử lý nhiều chuyển động phức tạp hơn.) Việc viết chữ gây ra nhiều khổ sở cho cậu bé này, vì cậu thường biết câu trả lời đúng trong các bài kiểm tra nhưng viết chậm đến mức cậu không thể làm hết được. Hoặc cậu sẽ nghĩ về một từ, chữ cái hoặc số nhưng viết một từ khác. Những đứa trẻ này thường bị buộc tội là bất cẩn, nhưng thực tế là vì bộ não bị quá tải của chúng phát ra những chuyển động sai. Những học sinh với khuyết tật này cũng gặp vấn đề về đọc. Thông thường khi chúng ta đọc, não đọc một phần của câu, sau đó hướng mắt di chuyển đúng khoảng cách trên trang để thực hiện phần tiếp theo của câu, đòi hỏi một chuỗi chuyển động chính xác của mắt. 

Việc đọc của cậu bé rất chậm vì cậu bỏ qua các từ, mất vị trí và sau đó mất tập trung. Đọc trở thành công việc quá sức và gây mỏi mệt. Trong các bài kiểm tra, cậu thường đọc sai câu hỏi, và khi cậu cố gắng đọc lại các câu trả lời của mình, cậu sẽ bỏ qua toàn bộ các phần.

Tại trường Arrowsmith, bài tập não của cậu bé này yêu cầu theo dấu những đường, nét phức tạp để kích thích tế bào thần kinh của cậu ta trong khu vực tiền vận động bị suy yếu. Barbara phát hiện thấy những bài tập theo dấu đã cải thiện cả ba lĩnh vực sau ở trẻ — nói, viết và đọc. Vào thời điểm cậu bé tốt nghiệp, cậu bé đã đọc trên cấp độ và lần đầu tiên cậu có thể đọc sách) để giải trí. Cậu nói những câu dài hơn, đầy đủ ý một cách tự nhiên, và kỹ năng viết cũng cải thiện.

menu
menu