[Sách dịch] Bộ Não tự thay đổi chính nó (chương 7.1)

sach-dich-bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-7-1

Chương 7. Cơn đau Mặt tối của Tính dẻo thần kinh (Plasticity)

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Chương 7. Cơn đau

Mặt tối của Tính dẻo thần kinh (Plasticity)

Khi chúng ta muốn hoàn thiện các giác quan của mình thì tính dẻo thần kinh là một phước lành; nhưng khi áp dụng nó vào địa hạt của cơn đau, tính dẻo thần kinh có thể là một lời nguyền. Người thầy hướng dẫn chúng ta tìm hiểu về cơn đau là một trong những nhà khoa học thần kinh truyền cảm hứng nhất, V. S. Ramachandran. Vilayanur Subramanian Ramachandran sinh ra ở Madras, Ấn Độ. Ông là một nhà thần kinh học, gốc Ấn Độ, và là một di sản đáng tự hào của khoa học thế kỷ 19, người đã giải quyết được những nan đề của thế kỷ 21. 

Ramachandran là một bác sỹ, một chuyên gia về thần kinh học, với bằng tiến sỹ về tâm lý học tại Trinity College, Cambridge. Chúng tôi gặp nhau ở San Diego, nơi ông làm giám đốc Trung tâm Nhận thức và não bộ tại đại học California. "Rama" có mái tóc đen lượn sóng và mặc áo khoác da màu đen. Giọng nói của ông vang vang. Ông nói giọng Anh nhưng khi vui mừng phấn khích, âm r's của ông giống như một hồi trống dài.

Trong khi nhiều nhà khoa học thần kinh nghiên cứu để giúp mọi người phát triển hoặc phục hồi các kỹ năng như – đọc, di chuyển hoặc khắc phục những khuyết tật về học tập— thì Ramachandran sử dụng tính dẻo để tổ chức lại nội dung trong tâm trí của chúng ta. Ông chỉ ra chúng ta có thể điều chỉnh lại bộ não của mình thông qua các phương pháp điều trị tương đối ngắn, không gây đau, bằng cách sử dụng trí tưởng tượng và nhận thức

Văn phòng của ông không có những thiết bị công nghệ cao mà thay vào đó là những chiếc máy đơn giản của thế kỷ 19, những phát minh nhỏ thu hút trẻ em đến với khoa học. Có một ống kính lập thể, một dụng cụ quang học làm cho hai hình ảnh của cùng một cảnh nhìn được ba chiều. Có một thiết bị từ tính đã được sử dụng để điều trị chứng hysteria, một vài kiểu gương nhà cười, kính lúp cổ điển, hóa thạch và bộ não được bảo tồn của một thanh niên. Ngoài ra còn có một bức tượng bán thân của Freud, một bức tranh của Darwin và một số tác phẩm nghệ thuật Ấn Độ khêu gợi. 

Đây chỉ có thể là văn phòng của một người đàn ông, Sherlock Holmes của ngành thần kinh học hiện đại, V. S. Ramachandran. Ông là một trinh thám, giải được những bí ẩn từng trường hợp một, như thể hoàn toàn không biết rằng khoa học hiện đại đang chiếm lĩnh các nghiên cứu thống kê lớn. Ông tin rằng các trường hợp cá nhân có thể đóng góp mọi thứ cho khoa học. Như ông đã nói "Hãy tưởng tượng tôi tặng cho một nhà khoa học đa nghi một con lợn và quả quyết rằng nó nói được tiếng Anh, rồi tôi vẫy tay và con lợn nói tiếng Anh. Làm sao nhà khoa học đa nghi ấy cãi nổi, 'Nhưng nó chỉ là một con lợn, Ramachandran. Hãy cho tôi xem con khác, và tôi có thể tin anh!  

Ông đã liên tục chỉ ra bằng cách giải thích về “những trường hợp kỳ lạ” của khoa học thần kinh, ông có thể làm sáng tỏ hoạt động của bộ não bình thường. "Tôi ghét đám đông trong khoa học," ông nói với tôi. 

Ông cũng không hứng thú với những hội thảo khoa học lớn. "Tôi nói với các sinh viên của mình rằng, khi các anh chị tham gia những buổi hội thảo đó, hãy nhìn xem hướng đi của mọi người ở đó để các anh các chị có thể đi theo hướng ngược lại. Đừng đánh bóng đồng thau trên băng chuyền.”  

Từ năm tám tuổi, Ramachandran nói với tôi, ông đã xa lánh thể thao và các buổi tiệc tùng để theo đuổi hết đam mê này sang đam mê khác: cổ sinh vật học (ông thu thập những hóa thạch hiếm trong lĩnh vực này), khoa vỏ ốc sò (nghiên cứu về vỏ sò biển), côn trùng học (ông rất thích bọ cánh cứng), và thực vật học (ông thích trồng hoa lan). Tiểu sử của ông nằm rải rác trong văn phòng của ông, dưới dạng các vật thể tự nhiên tuyệt đẹp - hóa thạch, vỏ sò, côn trùng và hoa. Nếu ông không phải là một nhà thần kinh học, ông nói với tôi, thì ông sẽ là một nhà khảo cổ học nghiên cứu về Sumer cổ đại, Mesopotamia hoặc Thung lũng Indus. 

Tìm hiểu về thời Victorian cho thấy sự yêu thích của ông đối với khoa học thời kỳ đó, thời kỳ hoàng kim của phân loại học (taxonomy), sử dụng mắt thường và công việc thám tử theo học thuyết Darwin để phân loại các biến thể và biến dị của thiên nhiên và đưa chúng vào các lý thuyết rộng lớn để giải thích các chủ đề tuyệt vời của thế giới sống. 

Ramachandran tiếp cận thần kinh học theo cách tương tự. Trong nghiên cứu ban đầu của mình, ông đã kiểm tra những bệnh nhân bị ảo giác. Ông nghiên cứu những người sau khi bị chấn thương não, đã bắt đầu tin rằng họ là những nhà tiên tri, hoặc những người mắc hội chứng Capgras, tin rằng cha mẹ và người bạn đời của họ là kẻ mạo danh, là bản sao của những người thân của họ. Ông đã nghiên cứu ảo ảnh quang học và các điểm mù của mắt. Khi ông đang tìm kiếm điều gì đang xảy ra trong từng căn bệnh này— nói chung ông không sử dụng công nghệ hiện đại - ông đã làm sáng tỏ cách thức hoạt động của bộ não bình thường. 

“Tôi khinh bỉ” ông nói “thiết bị phức tạp vì mất nhiều thời gian để học cách sử dụng và tôi nghi ngờ khi khoảng cách giữa dữ liệu thô và kết luận cuối cùng là quá xa. Bạn có rất nhiều cơ hội để nắn bóp dữ liệu đó, và con người rất dễ tự lừa dối mình, dù bạn có là nhà khoa học hay không.” 

Ramachandran lấy ra một cái hộp vuông lớn có gương đứng bên trong hộp trông giống như trò ảo thuật của trẻ con. Sử dụng chiếc hộp này và những hiểu biết của mình về tính dẻo thần kinh, ông đã giải quyết được bí ẩn tồn tại hàng thế kỷ của chi ảo (phantom limbs) và nỗi đau dai dẳng mà chúng gây ra.

Có một loạt những nỗi đau ám ảnh hành hạ chúng ta vì những lý do mà ta không hiểu và chúng đến từ đâu ta cũng chẳng biết—những cơn đau không có địa chỉ gửi trả lại. Lord Nelson, đô đốc người Anh, bị mất cánh tay phải trong một cuộc tấn công vào Santa Cruz de Tenerife năm 1797. Ngay sau đó, Ramachandran chỉ ra, anh ta bắt đầu trải nghiệm sự hiện diện của cánh tay, một chi ảo mà anh ta có thể cảm thấy nhưng không nhìn thấy. Nelson kết luận rằng sự hiện diện của nó là "bằng chứng trực tiếp cho thấy sự tồn tại của linh hồn", lý do rằng nếu một cánh tay có thể tồn tại sau khi bị loại bỏ, thì toàn bộ con người có thể tồn tại sau khi cơ thể bị hủy diệt. 

Chi ảo gây rắc rối vì chúng làm phát sinh một “cơn đau ảo” kinh niên ở 95 phần trăm những người bị cụt chi và thường kéo dài suốt đời. Nhưng làm thế nào bạn loại bỏ được cơn đau trong một cơ quan mà không có trên cơ thể? 

Những cơn đau ảo hành hạ những người lính bị cắt cụt chi và những người mất chi vì tai nạn, nhưng chúng cũng là một phần của một nhóm cơn đau kì lạ lớn hơn từng gây bối rối cho các bác sỹ trong nhiều thiên niên kỷ, vì ta không biết nguồn gốc của chúng trong cơ thể. Ngay cả sau khi phẫu thuật bình thường, một số người vẫn còn chịu cơn đau sau phẫu thuật bí ẩn kéo dài suốt đời. Các tài liệu khoa học về cơn đau bao gồm những câu chuyện về những phụ nữ bị đau bụng kinh và đau đẻ ngay cả khi tử cung đã được cắt bỏ, hay nhũng người đàn ông vẫn cảm thấy cơn đau viêm loét sau khi khối u và dây thần kinh của nó bị cắt bỏ, và những người đau trực tràng và trĩ mãn tính sau khi đã cắt bỏ trực tràng. Có những câu chuyện về những người bị cắt bỏ bàng quang vẫn cảm thấy tức tức khó chịu cần đi tiểu. Những tình tiết này có thể hiểu được nếu chúng ta nhớ lại rằng chúng cũng là những cơn đau ảo, kết quả của các bộ phận bên trong bị “cắt bỏ”. 

Cơn đau bình thường, "cơn đau cấp tính", cảnh báo chúng ta về chấn thương hoặc bệnh tật bằng cách gửi tín hiệu đến não, nói rằng "Đây là nơi bạn bị tổn thương – hãy chú ý đến nó.” Nhưng đôi khi một chấn thương có thể phá hủy cả các mô cơ thể và dây thần kinh trong hệ thống đau của chúng ta, gây ra “cơn đau thần kinh” mà không có nguyên nhân bên ngoài. Bản đồ cơn đau của chúng ta bị hư hỏng và liên tục báo động sai, khiến chúng ta tin rằng vấn đề nằm ở cơ thể trong khi nó nằm trong bộ não của chúng ta. Rất lâu sau khi cơ thể đã được chữa lành, hệ thống đau vẫn còn bắn điện và cơn đau cấp tính đã phát triển một cuộc sống sau khi đã chết.

Chi ảo lần đầu tiên được đề cập đến bởi Silas Weir Mitchell, một bác sĩ người Mỹ chăm sóc những người bị thương tại Gettysburg và hứng thú với dịch bệnh đau ảo. Chân và tay bị thương của những người lính trong Nội Chiến thường bị hoại tử, và trong thời kỳ trước khi biết đến thuốc kháng sinh, cách duy nhất để cứu mạng người lính là cắt cụt chân tay trước khi hoại tử lan rộng. Nhưng chẳng mấy chốc, những người bị cắt bỏ chi báo cáo rằng những chi của họ đã quay lại ám ảnh họ. Lúc đầu Mitchell gọi những trải nghiệm này là "bóng ma ảo giác," sau đó chuyển sang gọi chúng là "những chi ảo.” 

Chúng thường là những thực thể rất sống động. Bệnh nhân bị mất cánh tay đôi khi có thể cảm thấy họ khoa chân múa tay khi họ nói chuyện, vẫy tay chào bạn bè hoặc với tay một cách tự phát để nghe điện thoại.

Một số bác sỹ cho rằng chi ảo là sản phẩm của lối suy nghĩ ước ao— một sự phủ nhận của sự mất chi đau đớn. Nhưng hầu hết đều cho rằng các đầu dây thần kinh ở đầu gốc của chi bị mất đang bị kích thích hoặc bị kích thích bởi chuyển động. Một số bác sĩ đã cố gắng xử lý chi ảo bằng cách cắt cụt tiếp, cắt đứt chân tay - và dây thần kinh - ngày càng xa hơn, hy vọng chi ảo có thể biến mất. Nhưng sau mỗi ca phẫu thuật nó lại xuất hiện. 

Ramachandran đã tò mò về chi ảo khi còn học trường y. Sau đó vào năm 1991, ông đã đọc bài báo của Tim Pons và Edward Taub về những cuộc giải phẫu cuối cùng trên những con khỉ Silver Spring. Bạn hãy nhớ lại, Pons đã lập bản đồ não bộ của những con khỉ có đầu vào cảm giác từ cánh tay đến não của chúng bị loại bỏ do sự chặn xung động thần kinh tới và phát hiện thấy bản đồ não cho cánh tay, thay vì suy yếu, đã trở nên năng động và xử lý cả thông tin đầu vào từ khuôn mặt— đúng như kỳ vọng vì, như Wilder Penfield đã chỉ ra, các bản đồ tay và mặt nằm cạnh nhau. 

Ramachandran ngay lập tức nghĩ rằng tính dẻo thần kinh có thể giải thích cho các chi ảo vì những con khỉ của Taub và các bệnh nhân với cánh tay ảo đều giống nhau. Bản đồ não bộ của khỉ và các bệnh nhân đều bị mất đi các kích thích đến từ các chi của họ. Có khả năng là bản đồ khuôn mặt của những người bị cắt bỏ chi đã xâm chiếm bản đồ não của cánh tay đã mất của họ, cho nên khi người cụt chi chạm vào khuôn mặt, anh ta cảm nhận được cánh tay ảo của mình chăng? Ramachandran tự hỏi, những con khỉ của Taub cảm nhận được chi ảo của chúng ở đâu khi mặt chúng bị đột quỵ— trên khuôn mặt của chúng, hay trong cánh tay “bị chặn xung động thần kinh tới” của chúng? 

Tom Sorenson — một bút danh — bị mất cánh tay trong một vụ tai nạn ô tô khi chỉ mới mười bảy tuổi. Khi bị hất lên không trung, anh ngoái nhìn lại và thấy tay mình, bị cắt đứt khỏi cơ thể, vẫn bám chặt lấy đệm ghế. Những gì còn lại của cánh tay anh phải cắt bỏ ngay trên khuỷu tay. 

Khoảng bốn tuần sau, anh nhận thấy một cái chi ảo đã làm nhiều việc mà cánh tay của anh trước đây từng làm. Nó vươn ra theo phản xạ khi bị té ngã hoặc vỗ về cậu em trai. Tom còn có ​​các triệu chứng khác, bao gồm một triệu chứng khiến anh thực sự khó chịu. Anh bị ngứa ở bàn tay ảo mà anh ta không thể gãi. 

Ramachandran được cho biết về việc cắt chi của Tom từ các đồng nghiệp và yêu cầu được làm việc với anh ta. Để kiểm tra lý thuyết của mình rằng chi ảo bị gây ra bởi những bản đồ não được thiết lập lại, ông đã bịt mắt Tom. Rồi ông vuốt ve phần thân trên của Tom bằng một Q-tip, hỏi Tom có cảm giác gì. Khi ông vuốt bên má của Tom, anh nói là cảm nhận được cái vuốt trên má nhưng cũng cảm nhận được nó ở trong chi ảo của anh. Khi Ramachandran vuốt môi trên của Tom, anh cũng cảm nhận được nó ở đó nhưng cũng cảm nhận được nó ở ngón trỏ của bàn tay ảo của anh. Ramachandran phát hiện thấy khi ông chạm vào những phần khác của khuôn mặt Tom, Tom cũng cảm nhận được ở những phần khác của bàn tay ảo của anh. Khi Ramachandran nhỏ một giọt nước âm lên má của Tom, anh cảm nhận một tia nước ấm chảy xuống mà và cũng chảy xuống cả chi ảo của anh. Rồi sau một vài thử nghiệm, Tom phát hiện ra cuối cùng anh ta có thể gãi được cơn ngứa không thể gãi đã làm anh ta đau đớn quá lâu bằng cách gãi má. 

Sau thành công của Ramachandran với Q-tip, ông đã thực hiện một công nghệ cao với một máy chụp não gọi là MEG, hay từ não đồ. Khi ông vẽ bản đồ não của cánh tay và bàn tay của Tom, bản chụp não xác nhận rằng bản đồ bàn tay của Tom hiện giờ được dùng để xử lý các cảm giác trên khuôn mặt. Bản đồ tay và mặt của anh đã nhập vào nhau. 

Phát hiện của Ramachandran trong trường hợp Tom Sorenson, lúc đầu gây tranh cãi giữa các nhà thần kinh học lâm sàng, những người nghi ngờ bản đồ não có tính dẻo, hiện đã được chấp nhận rộng rãi. Các nghiên cứu chụp não bộ của nhóm nghiên cứu Đức mà Taub hợp tác cũng đã xác nhận mối tương quan giữa mức độ thay đổi tính dẻo và mức độ của cơn đau ảo mà con người trải nghiệm.

Ramachandran ngờ rằng một lý do sự xâm lấn bản đồ xảy ra là vì bộ não “mọc ra” những liên kết mới. Khi một phần cơ thể bị mất, ông tin rằng, bản đồ não vẫn còn sống của phần cơ thể ấy “đói” kích thích và phóng thích yếu tố tăng trưởng thần kinh để mời gọi các nơ-ron từ các bản đồ não gần đó gửi chút mầm nhỏ vào chúng. 

Thông thường những mầm nhỏ này liên kết với các dây thần kinh tương tự; những dây thần kinh xúc giác liên kết với những dây thần kinh xúc giác khác. Nhưng da của chúng ta truyền tải nhiều thứ hơn chứ không chỉ mỗi xúc giác; nó có các thụ thể riêng biệt để phát hiện nhiệt độ, sự rung động và đau đớn, mỗi loại có các sợi thần kinh riêng đi lên não, nơi chúng có bản đồ riêng, một số nằm rất gần nhau. Đôi khi sau một chấn thương, vì các dây thần kinh xúc giác, nhiệt độ và đau đớn nằm rất gần nhau, nên chúng có thể mắc phải lỗi nối dây/các dây đan chéo nhau. Điều đó khiến Ramachandran tự hỏi, liệu trong trường hợp mắc lỗi nối dây, khi một người bị chạm vào thì có cảm giác đau hoặc ấm áp không? Liệu một người được chạm nhẹ vào mặt có thể cảm thấy đau ở một cánh tay ảo?

Một lý do khác khiến chi ảo rất khó đoán và gây ra nhiều rắc rối là bản đồ não rất năng động và luôn thay đổi: ngay cả trong hoàn cảnh bình thường, như Merzenich chỉ ra, bản đồ khuôn mặt có xu hướng di chuyển một chút trong não. Bản đồ chi ảo di chuyển vì đầu vào của chúng đã bị thay đổi hoàn toàn. Ramachandran và những người khác - Taub và các đồng nghiệp của ông ta— đã cho thấy với nhiều hình ảnh chụp bản đồ não các đường nét của chi ảo và các bản đồ của chúng liên tục thay đổi. Ông ấy nghĩ rằng một lý do khiến mọi người bị đau ảo là khi một chi bị cắt, bản đồ não của nó không chỉ co lại mà còn trở nên vô tổ chức và không còn hoạt động hiệu quả. 

Không phải mọi cơn đau ảo đều gây đau đớn. Sau khi Ramachandran công bố những khám phá của mình, những người bị cụt chi đã tìm kiếm ông ta. Nhiều người bị cụt chân đã thông báo, với nhiều xấu hổ, rằng khi họ quan hệ tình dục, họ thường trải nghiệm cực khoái ở chân và bàn chân ảo của họ. Một người đàn ông thú nhận rằng vì chân và bàn chân của anh ta lớn hơn nhiều so với bộ phận sinh dục của anh ta, nên cực khoái "lớn hơn nhiều" so với trước đây.

Mặc dù những bệnh nhân như vậy có thể đã từng bị bác bỏ vì có trí tưởng tượng quá phong phú, Ramachandran lại cho rằng tuyên bố này vô cùng hợp lý về mặt khoa học thần kinh. Bản đồ não Penfield cho thấy bộ phận sinh dục nằm bên cạnh bàn chân, và vì bàn chân không còn nhận được thông tin đầu vào, nên bản đồ bộ phận sinh dục có khả năng xâm chiếm bản đồ bàn chân, vì vậy khi bộ phận sinh dục trải nghiệm khoái cảm, thì chân ảo cũng vậy. Ramachandran bắt đầu tự hỏi liệu ám ảnh khiêu dâm của một số người với bàn chân, hay sự tôn sùng bàn chân, có thể một phần do bàn chân nằm gần bộ phận sinh dục trên bản đồ não. 

Những bí ẩn khiêu dâm khác bắt đầu rõ ràng. Một bác sĩ người Ý, Tiến sĩ Salvatore Aglioti, đã thông báo rằng một số phụ nữ bị cắt bỏ vú có trải nghiệm hưng phấn tình dục khi tai, xương đòn và xương ức của họ được kích thích. Cả ba đều gần núm vú trên bản đồ não. Một số đàn ông bị ung thư biểu mô dương vật đã làm phẫu thuật cắt bỏ dương vật không chỉ có trải nghiệm dương vật ảo mà cả sự cương cứng ảo. 

Khi Ramachandran kiểm tra nhiều người bị cụt chi, ông phát hiện thấy khoảng một nửa trong số họ có cảm giác khó chịu vì chi ảo của họ bị tê liệt, treo ở vị trí liệt cố định, hoặc bị bó bột. Những người khác thì có cảm giác đang đeo bên mình một gánh nặng vô tích sự. Và hình ảnh của các chi bị tê liệt không chỉ co cứng theo thời gian, mà trong một số trường hợp khủng khiếp, nỗi đau đớn của việc mất chi lúc đầu đã bị khóa chặt. Khi lựu đạn nổ tung trong tay những người lính, chúng có thể gây ra một cơn đau ảo lặp đi lặp lại dai dẳng của vụ nổ. Ramachandran gặp một phụ nữ có ngón tay cái tê cứng bị cắt cụt và ngón tay ảo tê liệt gây đau tại chỗ đó. Những người bị tra tấn bởi những ký ức ảo của chứng hoại tử, móng chân mọc vào, mụn nước và những vết cắt ở chân, tay trước khi chúng bị cắt cụt, đặc biệt nếu cơn đau tồn vào thời điểm làm phẫu thuật cắt cụt. Những bệnh nhân trải nghiệm những cơn đau như vậy không phải là “các ký ức” mờ nhạt về cơn đau mà chúng đang xảy ra trong hiện tại. Đôi khi một bệnh nhân có thể không bị đau trong nhiều thập kỷ, và sau đó một sự kiện xảy ra, có thể là kim đâm vào điểm kích hoạt, kích hoạt lại cơn đau kéo dài hàng tháng hoặc nhiều năm sau đó. 

Khi Ramachandran xem lại tiền sử của những người có cánh tay bị tê liệt gây đau, ông phát hiện ra tất cả họ đều có cánh tay trong những chiếc đai hoặc bó bột trong vài tháng trước khi bị cắt cụt chi. Bản đồ não của họ bây giờ dường như ghi lại, trong mọi thời điểm, vị trí cố định của cánh tay ngay trước khi bị cắt cụt. Ông bắt đầu nghi ngờ rằng chính chi không còn tồn tại đã kéo dài cảm giác tê liệt. Thông thường, khi trung tâm điều khiển vận động trong não gửi một lệnh di chuyển cánh tay, bộ não sẽ nhận được phản hồi từ nhiều giác quan khác nhau, xác nhận rằng mệnh lệnh đã được thực hiện. Nhưng bộ não của một người không có chân/ tay không bao giờ nhận được phản hồi xác nhận rằng cánh tay đã di chuyển, vì không có cánh tay cũng như các cảm biến chuyển động trong cánh tay để cung cấp phản hồi đó. Do đó, não để lại ấn tượng rằng cánh tay bị đóng băng. Bởi vì cánh tay đã bị mắc kẹt trong một cái khuôn hoặc dây đeo hàng tháng trời, bản đồ não đã phát triển một biểu tượng của cánh tay bị bất động. Khi cánh tay bị cắt bỏ, không có thông tin đầu vào mới nào để làm thay đổi bản đồ não, do đó biểu tượng tinh thần của chi/cánh tay theo thời gian đã bị ấn định— một tình huống giống với sự tê liệt do học được mà Taub phát hiện ở những bệnh nhân đột quỵ. 

Ramachandran đã tin rằng sự vắng mặt của thông tin phản hồi không chỉ gây ra các chi ảo co cứng mà cả nỗi đau ảo. Trung tâm vận động của bộ não có thể gửi mệnh lệnh cho các cơ bàn tay co lại, nhưng không nhận được phản hồi xác nhận bàn tay đã cử động, bèn tiếp tục gửi nhiều mệnh lệnh, giả dụ như hét lên rằng: "Nắm chặt lại đi! Bạn vẫn nắm chưa đủ chặt! Bạn vẫn chưa chạm vào lòng bàn tay! Hãy nắm chặt hết mức có thể!" Những bệnh nhân này có cảm giác móng tay đang đâm sâu vào lòng bàn tay của họ. Mặc dù nắm chặt tay thực sự gây đau đớn khi cánh tay hiện diện, thì việc tưởng tượng đang nắm chặt tay cũng kích hoạt đau đớn vì sự co thắt cực độ và đau đớn được liên kết với nhau trong trí nhớ.

Ramachandran hỏi tiếp một câu hỏi táo bạo; liệu sự tê liệt ảo và đau đớn ảo có thể “loại bỏ được” hay không. Đây là loại câu hỏi mà các bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học và nhà phân tâm học có thể hỏi: làm sao một người có thể thay đổi được một tình huống thiên về tinh thần chứ không phải thực tại vật chất? Nghiên cứu của Ramachandran bắt đầu xóa nhòa ranh giới giữa thần kinh học và tâm thần học, giữa thực tế và ảo tưởng.

 Ramachandran sau đó đã nảy ra một ý tưởng giống thầy phù thủy, là chống lại một ảo tưởng bằng một ảo tưởng khác. Điều gì sẽ xảy ra nếu ông ta có thể gửi các tín hiệu sai đến não bộ để khiến bệnh nhân tưởng rằng chân tay không tồn tại đang cử động? 

Câu hỏi đó đã khiến ông phát minh ra một hộp gương, được thiết kế để đánh lừa bộ não của bệnh nhân. Nó sẽ cho anh ta nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của bàn tay tuyệt vời của anh ta để khiến anh ta tin rằng bàn tay bị cắt cụt của anh ta đã được "hồi sinh.”

Hộp gương có kích thước của một hộp bánh lớn, không có đỉnh và được chia thành hai ngăn, một ngăn bên trái và một bên phải. Có hai lỗ ở phía trước của hộp. Nếu tay bên trái của bệnh nhân bị cắt cụt thì anh ta đặt bàn tay phải của mình qua lỗ và vào khoang bên phải. Sau đó anh ta được yêu cầu tưởng tượng đang đặt bàn tay ảo của anh vào ngăn bên trái. Dải phân cách ngăn cách hai ngăn là một tấm gương thẳng đứng đối diện với bàn tay. Vì không có đỉnh trên hộp, bệnh nhân có thể, bằng cách nghiêng một chút sang phải, nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của bàn tay phải của anh ta, dường như sẽ là bàn tay trái của anh ta trước khi bị cắt cụt. Khi anh ta di chuyển bàn tay phải qua lại, bàn tay trái "hồi sinh" của anh ta cũng sẽ xuất hiện để di chuyển qua lại, chồng lên tay ảo của anh. Ramachandran hy vọng bộ não của bệnh nhân có thể có ấn tượng rằng cánh tay ảo đang di chuyển. 

Để tìm đối tượng để kiểm tra chiếc hộp gương của mình, Ramachandran đã chạy mẩu quảng cáo khó hiểu trên các tờ báo địa phương với nội dung: "Cần người bị khuyết tật chân/tay." "Philip Martinez" đáp lại. Cách đây một thập kỷ, Philip bị quăng mạnh từ xe mô tô trong khi đang chạy với tốc độ bốn mươi lăm dặm một giờ. Các dây thần kinh dẫn từ tay trái và cánh tay đến cột sống của anh ta bị xé toạc do tai nạn. Cánh tay của anh ta vẫn được gắn vào cơ thể anh ta, nhưng không có dây thần kinh nào hoạt động để gửi tín hiệu từ cột sống đến cánh tay của anh ta, và không có dây thần kinh nào đi vào cột sống để truyền cảm giác đến não của anh ta. Cánh tay của Philip trở thành thứ gây khó chịu vì vô dụng, một gánh nặng bất động mà anh phải giữ trong một chiếc địu, và cuối cùng anh đã chọn cách cắt bỏ cánh tay. Nhưng anh vẫn còn cơn đau ảo khủng khiếp ở khuỷu tay ảo. Cánh tay ảo cũng có cảm giác tê liệt, và anh ta cảm thấy nếu bằng cách nào đó mà anh cử động được nó thì anh có thể làm giảm cơn đau. Tình thế khó xử này khiến anh trầm uất đến độ đã nghĩ tới chuyện tự tử. 

Khi Philip đặt cánh tay vào hộp gương, anh ta không chỉ “nhìn thấy” “cánh tay ảo” của mình cử động mà lần đầu tiên anh còn cảm nhận được sự cử động của nó. Kinh ngạc và tràn đầy niềm vui, Philip cho biết anh có cảm giác cánh tay ảo của mình "như được nối lại.” 

Nhưng khi anh không nhìn vào hình ảnh phản chiếu hay nhắm mắt lại, chi ảo tê cứng. Ramachandran đưa hộp gương cho Philip mang về nhà, để luyện tập với nó, hy vọng rằng Philip có thể loại bỏ được sự tê liệt của anh ấy bằng cách kích thích một sự thay đổi tính dẻo sẽ thiết lập lại bản đồ não bộ của anh. Philip sử dụng chiếc hộp mười phút mỗi ngày, nhưng dường như nó chỉ hoạt động khi anh mở mắt, nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của bàn tay anh. 

Sau bốn tuần Ramachandran nhận được một cuộc gọi hào hứng từ Philip. Cánh tay ảo của anh không những hết tê cứng, mà nó đã biến mất — ngay cả khi anh không sử dụng cái hộp. Khuỷu tay ma quái và cơn đau nhức nhối của nó đã thành dĩ vãng. Giờ chỉ còn lại những ngón tay ảo không gây đau, treo lủng lắng trên vai anh. 

V. S. Ramachandran, nhà ảo thuật thần kinh, đã trở thành bác sĩ đầu tiên thực hiện một ca phẫu thuật tưởng chừng bất khả thi: cắt cụt thành công một chi ảo. Ramachandran đã sử dụng chiếc hộp của mình với một số bệnh nhân, khoảng một nửa trong số họ đã mất cơn đau ảo, loại bỏ sự tê cứng những chi ảo của họ, và bắt đầu có cảm giác kiểm soát được chúng. Các nhà khoa học khác cũng đã phát hiện ra những bệnh nhân luyện tập với hộp gương trở nên tốt hơn. Quét não fMRI cho thấy khi những bệnh nhân này cải thiện, những bản đồ não vận động cho "các chi ảo của họ lớn thêm, bản đồ co rút sau phẫu thuật cắt cụt bị đảo ngược, và bản đồ cảm giác và vận động bình thường hóa trở lại. 

Chiếc hộp gương tỏ ra chữa được cơn đau bằng cách thay đổi nhận thức về hình ảnh cơ thể của bệnh nhân. Đây là một khám phá đáng chú ý vì nó làm sáng tỏ cả về cách thức hoạt động của tâm trí và cách chúng ta trải nghiệm nỗi đau. 

Cơn đau và hình ảnh cơ thể có liên quan chặt chẽ với nhau. Chúng ta luôn luôn có cảm giác đau khi phóng chiếu lên cơ thể. Khi bạn vứt bỏ cái lưng của bạn, bạn nói, "Cái lưng của tôi đang giết chết tôi!" chứ không nói, "Hệ thống đau đang giết chết tôi." Nhưng như các chi ảo cho thấy, chúng ta không cần một bộ phận cơ thể hoặc thậm chí các thụ thể đau để cảm thấy đau. Chúng ta chỉ cần một hình ảnh cơ thể, được tạo ra bởi bản đồ não của chúng ta. Những người có chân tay thường không nhận ra điều này, bởi vì hình ảnh cơ thể của các chi của chúng ta được chiếu hoàn hảo lên các chi thật của chúng ta, khiến chúng ta không thể phân biệt hình ảnh cơ thể của chúng ta với cơ thể của chúng ta. “Cơ thể của bạn chính là một bóng ma," Ramachandran nói, "một ảo ảnh mà bộ não của bạn đã dựng nên hoàn toàn vì sự tiện lợi.” 

Những hình ảnh cơ thể bị bóp méo là phổ biến và cho thấy có sự khác biệt giữa hình ảnh cơ thể và bản thân cơ thể. Người mắc chứng biếng ăn (Anorexics) cảm nhận cơ thể họ là béo phì trong khi họ đang có nguy cơ chết đói; hay những người có hình ảnh cơ thể bị bóp méo, một tình trạng được gọi là “mặc cảm ngoại hình” (body dysmorphic disorder) có thể xem một bộ phận cơ thể nào đó dù hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn là xấu/khiếm khuyết. Họ nghĩ rằng tai, mũi, môi, vú, dương vật, âm đạo hoặc đùi của họ quá lớn hoặc quá nhỏ hoặc “xấu” và họ cảm thấy vô cùng xấu hổ. Marilyn Monroe xem bản thân cô là mắc nhiều khiếm khuyết về cơ thể. Những người như vậy thường tìm đến phẫu thuật thẩm mỹ nhưng vẫn cảm thấy cơ thể méo mó sau những ca phẫu thuật của họ. Thứ họ cần làm là “phẫu thuật thần kinh” để thay đổi hình ảnh cơ thể của họ. Thành công của Ramachandran với việc điều chỉnh lại chi ảo gợi ý cho ông rằng có thể tìm được những cách thức nhằm điều chỉnh lại hình ảnh cơ thể bị bóp méo. Để hiểu rõ hơn ý ông là gì khi đề cập đến hình ảnh cơ thể, tôi đề nghị ông thử chứng minh sự khác nhau giữa chúng, một cấu trúc tinh thần và một cơ thể vật lý. 

Lấy ra loại bàn tay cao su giả được bán trong các cửa hàng bán đồ độc lạ, ông để tôi ngồi trước một cái bàn và đặt bàn tay giả lên đó, các ngón tay của nó song song với cạnh bàn trước mặt tôi, cách mép một inch. Ông ấy bảo tôi đặt tay lên bàn, song song với bàn tay giả, nhưng cách mép bàn khoảng tám inch. Tay tôi và bàn tay giả được căn chỉnh hoàn hảo, chỉ cùng một hướng. Sau đó, ông ta đặt một tấm màn hình giữa bàn tay giả và bàn tay của tôi, để tôi chỉ có thể nhìn thấy bàn tay giả.

 Tôi chăm chú quan sát ông vuốt ve bàn tay giả. Đồng thời ông vuốt ve bàn tay của tôi, khuất sau màn hình. Khi ông ấy vuốt ngón tay cái giả, ông cũng vuốt ve ngón tay cái của tôi. Khi ông ấy gõ nhẹ vào ngón tay cái giả ba lần, ông cũng gõ nhẹ vào ngón tay cái của tôi ba lần, theo cùng một nhịp. Khi ông vuốt ve ngón giữa giả, ông vuốt ve ngón giữa của tôi.

Trong phút chốc, cảm giác bàn tay của tôi được vuốt ve đột nhiên biến mất, và tôi bắt đầu có cảm giác tôi được vuốt ve như thể đến từ bàn tay giả. Bàn tay giả đã trở thành một phần của hình ảnh cơ thể tôi! Ảo giác này vận hành theo nguyên tắc tương tự từng đánh lừa chúng ta tưởng rằng những con búp bê nói bằng bụng hoặc phim hoạt hình hoặc các diễn viên trong phim thực sự đang nói chuyện vì đôi môi cử động đồng bộ với âm thanh. 

Sau đó Ramachandran thực hiện một thủ thuật thậm chí còn đơn giản hơn. Ông ấy bảo tôi đặt tay phải dưới gầm bàn, để tay tôi bị giấu đi. Sau đó ông gõ lên mặt bàn bằng một tay, còn tay kia ông gõ lên tay của tôi để ở dưới bàn mà tôi không thể nhìn thấy nó, theo cùng một nhịp giống nhau. Khi ông ta di chuyển vị trí gõ trên mặt bàn, sang trái hoặc phải một chút, ông cũng di chuyển bàn tay ông ở dưới bàn giống hệt như vậy. Sau vài phút, tôi không còn cảm giác ông đang gõ lên tay tôi dưới gầm bàn, mà thay vào đó— thật tuyệt vời— bắt đầu cảm thấy rằng hình ảnh cơ thể của bàn tay tôi đã hợp nhất với mặt bàn, do đó cảm giác bị gõ dường như đến từ mặt bàn. Ông ta đã tạo ra một ảo ảnh trong đó hình ảnh cơ thể cảm giác của tôi giờ đã được mở rộng bao gồm cả một mảnh đồ nội thất! 

Ramachandran kết nối các đối tượng với một máy đo phản ứng ngoài da để đo phản ứng căng thẳng trong thí nghiệm bàn này. 

Sau khi vuốt ve mặt bàn và bàn tay của một bệnh nhân đặt dưới bàn cho đến khi hình ảnh cơ thể của anh ta hợp nhất với cái bàn, ông ta sẽ lấy búa ra và đập vào mặt bàn. Phản ứng căng thẳng của đối tượng tăng vọt, cứ như thể Ramachandran đã đập nát bàn tay thật của đối tượng. 

Theo Ramachandran, sự đau đớn, cũng giống như hình ảnh cơ thể, được tạo ra bởi bộ não và phóng chiếu lên cơ thể. Khẳng định này trái với lẽ thường và quan điểm thần kinh truyền thống về nỗi đau cho rằng khi chúng ta bị tổn thương, các thụ thể đau của chúng ta gửi tín hiệu một chiều đến trung tâm (cảm nhận) đau của não và cường độ đau được cảm nhận tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của chấn thương. Chúng ta cho rằng nỗi đau luôn luôn báo cáo tổn hại chính xác. Quan điểm truyền thống này bắt nguồn từ triết gia Descartes, người đã xem bộ não là một người nhận thụ động của nỗi đau. Nhưng quan điểm đó đã bị lật đổ vào năm 1965, khi các nhà thần kinh học Ronald Melzack (một người Canada nghiên cứu về chi ma và nỗi đau) và Patrick Wall (một người Anh nghiên cứu về nỗi đau và tính dẻo thần kinh) đã viết bài báo quan trọng nhất trong lịch sử về nỗi đau. Lý thuyết của Wall và Melzack đã khẳng định rằng hệ thống (cảm nhận) đau lan truyền khắp não và tủy sống, và không phải là một người (cảm nhận) thụ động cơn đau, mà bộ não luôn luôn kiểm soát các tín hiệu đau mà chúng ta cảm nhận

“Lý thuyết về cổng kiểm soát cơn đau” của họ đề xuất một loạt biện phảo để kiểm soát, hoặc “cổng” giữa vị trí bị chấn thương và bộ não. Khi các thông điệp đau được gửi từ mô bị tổn thương qua hệ thống thần kinh, chúng sẽ đi qua một số "cổng", bắt đầu từ tủy sống, trước khi chúng đến bộ não. Nhưng những thông điệp này chỉ truyền đi nếu bộ não “cho phép” sau khi xác định chúng đủ quan trọng để được thông qua. Nếu được phép, một cánh cổng sẽ mở ra và làm tăng cảm giác đau đớn bằng cách cho phép một số tế bào thần kinh nhất định bật lên và truyền tín hiệu của chúng. Bộ não cũng có thể đóng một cánh cổng và chặn tín hiệu đau bằng cách giải phóng endorphin, chất ma túy do cơ thể tạo ra để dập tắt cơn đau. 

Lý thuyết cổng làm sáng tỏ mọi kiểu trải nghiệm đau. Chẳng hạn, khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Ý trong Thế chiến II, 70 phần trăm những người bị thương nặng đã báo cáo rằng họ không bị đau và không cần thuốc giảm đau. Những người đàn ông bị thương trên chiến trường thường không cảm thấy đau đớn và họ vẫn tiếp tục chiến đấu; cứ như thể bộ não đã đóng lại "cánh cổng" để họ tập trung chú ý tìm cách thoát thân khỏi chốn nguy hiểm. Chỉ khi anh ta an toàn thì các tín hiệu đau mới được phép truyền đến não. 

Các bác sĩ từ lâu đã biết rằng một bệnh nhân mong đợi được giảm đau từ một viên thuốc thường là một giả dược, không chứa thuốc. Quét não fMRI cho thấy trong hiệu ứng giả dược, bộ não sẽ giảm các vùng phản ứng đau của chính nó. Khi một bà mẹ xoa dịu đứa con bị tổn thương của mình, bằng cách vuốt ve và nói chuyện ngọt ngào với cô ấy, bà ấy đang giúp bộ não đứa trẻ giảm âm lượng nỗi đau của nó. Nỗi đau chúng ta cảm nhận được quyết định một phần đáng kể bởi bộ não và tâm trí của chúng ta - tâm trạng hiện tại của chúng ta, trải nghiệm đau đớn trong quá khứ, tâm lý của chúng ta và chúng ta nghĩ rằng chấn thương của mình nghiêm trọng như thế nào.

Wall và Melzack chỉ ra các tế bào thần kinh trong hệ thống đau của chúng ta dẻo hơn nhiều so với chúng ta tưởng tượng, rằng các bản đồ đau quan trọng trong tủy sống có thể thay đổi sau chấn thương, và một chấn thương mãn tính có thể khiến các tế bào trong hệ thống đau dễ cháy hơn - một sự thay đổi tính dẻo – khiến cho một người quá nhạy cảm với nỗi đau. Bản đồ cũng có thể phóng to lĩnh vực tiếp nhận của chúng, đại diện nhiều hơn bề mặt của cơ thể, làm tăng độ nhạy cảm đau. Khi các bản đồ thay đổi, tín hiệu đau trong một bản đồ có thể "tràn" vào các bản đồ đau liền kề và chúng ta có thể phát triển "cơn đau lan", khi chúng ta bị chấn thương ở một bộ phận cơ thể nhưng lại cảm thấy đau ở một bộ phận khác. Đôi khi một tín hiệu đau duy nhất dội lại trong não, do đó cơn đau vẫn kéo dài ngay cả sau khi kích thích ban đầu của nó đã dừng lại.

Lý thuyết cổng đưa đến các phương pháp điều trị mới để ngăn chặn cơn đau. Wall đồng phát minh ra "Kích ứng thần kinh dưới da bằng xung điện," hay TENS, sử dụng dòng điện để kích thích tế bào thần kinh ức chế cơn đau, tác dụng đóng cổng. Lý thuyết cổng cũng khiến các nhà khoa học phương Tây bớt hoài nghi về châm cứu, giúp giảm đau bằng cách kích thích các điểm của cơ thể thường cách xa vị trí đau. Có vẻ như châm cứu đã bật các tế bào thần kinh ức chế cơn đau, đóng cổng và ngăn chặn cảm nhận đau. 

Melzack và Wall có một cái nhìn sâu sắc mang tính cách mạng khác: hệ thống đau bao gồm các thành phần vận động. Khi chúng ta cắt một ngón tay, chúng tôi theo phản xạ siết chặt nó, một hành động vận động. Chúng tôi theo bản năng bảo vệ mắt cá chân bị thương bằng cách tìm một vị trí an toàn. Các mệnh lệnh bảo vệ, "Đừng di chuyển một cơ bắp cho đến khi mắt cá chân đó tốt hơn.

 Mở rộng lý thuyết cổng, Ramachandran đã phát triển ý tưởng tiếp theo của mình: rằng nỗi đau là một hệ thống phức tạp dưới sự kiểm soát của bộ não ni-lông. Ông tóm tắt điều này như sau: "Đau là một quan điểm ​​về tình trạng sức khỏe của sinh vật chứ không phải là một phản ứng đơn thuần đối với chấn thương.” Bộ não thu thập bằng chứng từ nhiều nguồn trước khi kích hoạt cơn đau. Ông cũng nói rằng "nỗi đau là một ảo giác" và "tâm trí của chúng ta là một cỗ máy thực tế ảo", trải nghiệm thế giới một cách gián tiếp và xử lý nó ngay lập tức, xây dựng một mô hình trong đầu chúng ta. Vì vậy, nỗi đau, giống như hình ảnh cơ thể, là một cấu trúc của bộ não của chúng ta. Khi Ramachandran có thể sử dụng hộp gương của ông để sửa đổi hình ảnh cơ thể và loại bỏ một bóng ma và nỗi đau của nó, liệu ông ta cũng có thể sử dụng hộp gương để khiến cơn đau mãn tính ở một chi thật biến mất?     

menu
menu