[Sách dịch] Bộ Não tự thay đổi chính nó (chương 7.2)

sach-dich-bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-7-2

Nghĩ xem điều này ấn tượng biết bao — đối với một cơn đau mãn tính, kinh khủng nhất, một phương pháp điều trị hoàn toàn mới sử dụng trí tưởng tượng và ảo giác để tái cấu trúc bản đồ não bằng nhựa/tính dẻo mà không cần thuốc, kim tiêm hoặc điện.

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Ramachandran cho rằng ông ta có thể chữa khỏi "cơn đau mãn tính loại 1", gặp phải trong chứng rối loạn gọi là "loạn trương lực giao cảm phản xạ". Điều này xảy ra khi một vết thương nhỏ, vết bầm tím hoặc vết côn trùng cắn trên đầu ngón tay khiến cho toàn bộ chi bị đau đớn đến mức "tự bảo vệ" ngăn bệnh nhân không di chuyển. Tình trạng này có thể kéo dài sau chấn thương ban đầu và thường trở thành mãn tính, kèm theo cảm giác đau rát và đau đớn khi chạm nhẹ hoặc vuốt ve da. Ramachandran đặt ra giả thuyết rằng khả năng tự phục hồi tính dẻo của não bộ đã dẫn đến một hình thức tự vệ bệnh lý. 

Khi chúng ta tự bảo vệ, chúng ta ngăn không cho cơ bắp của ta cử động, di chuyển và làm chấn thương của ta nặng thêm. Nếu chúng ta phải dùng ý thức để nhắc nhở bản thân không được di chuyển thì chúng ta sẽ kiệt sức và mắc lỗi, làm tổn thương bản thân và cảm thấy đau. Ramachandran nghĩ, giả sử bây giờ bộ não ngăn chặn chuyển động nhầm bằng cách kích hoạt cơn đau ngay trước khi chuyển động diễn ra, giữa thời điểm khi trung tâm vận động phát mệnh lệnh di chuyển và thời điểm khi thực hiện di chuyển. Còn cách nào tốt hơn để bộ não ngăn cản sự chuyển động hơn là đảm bảo rằng mệnh lệnh chuyển động sẽ kích hoạt đau đớn? Ramachandran tin rằng ở những bệnh nhân đau mãn tính này, lệnh vận động đã được kết nối vào hệ thống đau, do đó mặc dù chân tay đã lành, nhưng khi bộ não gửi lênh vận động để di chuyển cánh tay thì nó vẫn gây ra đau. 

Ramachandran gọi đây là "cơn đau do học được" và tự hỏi liệu chiếc hộp gương có thể giúp thoát khỏi nó. Tất cả các phương pháp chữa trị truyền thống đã được thử trên những bệnh nhân này — làm gián đoạn kết nối thần kinh đến vùng bị đau, vật lý trị liệu, thuốc giảm đau, châm cứu và nắn xương— không có kết quả. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi một nhóm bao gồm Patrick Wall, bệnh nhân được hướng dẫn đặt cả hai tay vào hộp gương, vị trí ngồi để anh ta không chỉ nhìn thấy cánh tay của mình mà còn thấy cả hình ảnh phản chiếu của nó trong gương. Sau đó, bệnh nhân di chuyển cánh tay của mình theo bất cứ cách nào anh ta chọn (và di chuyển cả cánh tay bị ảnh hưởng của anh ta nếu có thể) trong hộp khoảng 10 phút, vài lần một ngày, trong vài tuần. Có thể sự phản chiếu cánh tay vận động xảy ra mà không cần mệnh lệnh chuyển động kích hoạt nó, đã đánh lừa bộ não của bệnh nhân nghĩ rằng cánh tay bị tổn thương của anh ta có thể di chuyển tự do mà không bị đau, hoặc có lẽ bài tập này đã cho phép bộ não biết rằng việc bảo vệ không còn cần thiết nữa, vì vậy nó sẽ ngắt kết nối nơ-ron giữa lệnh vận động để di chuyển cánh tay và hệ thống đau. 

Những bệnh nhân mắc hội chứng đau đã cải thiện chỉ sau hai tháng. Ngày đầu tiên cơn đau giảm bớt và sự giảm đau kéo dài ngay cả sau khi một phiên trị liệu với hộp gương kết thúc. Sau một tháng họ không còn đau nữa. Những bệnh nhân mắc hội chứng từ năm tháng đến một năm thì không khá hơn, nhưng chân tay họ không còn bị cứng đờ nữa và có thể làm việc trở lại. Những người bị đau lâu hơn hai năm thì không đỡ hơn. 

Tại sao vậy? Một ý kiến cho rằng những bệnh nhân bị đau lâu năm nãy đã không cử động các chi được bảo vệ của họ quá lâu đến nỗi bản đồ não vận động của chi bị bảo vệ bắt đầu bị suy yếu, lụi tàn — một lần nữa lại là nguyên tắc sử dụng nó hay đánh mất nó.

Tất cả những gì còn lại là một vài liên kết hoạt động mạnh nhất khi chi được sử dụng lần cuối, và thật không may, đó là những liên kết đến hệ thống đau, giống như những bệnh nhân bị bó bột trước khi làm phẫu thuật cắt cụt chi đã xuất hiện chi ma “mắc kẹt” ở nơi mà cánh tay của họ trước khi bị cắt bỏ.

Một nhà khoa học người Úc, G. L. Moseley, nghĩ rằng ông ta có thể giúp đỡ những bệnh nhân không có tiến bộ khi sử dụng hộp gương, vì nỗi đau của họ quá lớn nên họ không thể cử động tay chân trong liệu pháp gương. Moseley cho rằng việc xây dựng bản đồ vận động của chi bị ảnh hưởng bằng những bài tập trí óc có thể kích hoạt sự thay đổi tính dẻo thần kinh. Ông yêu cầu những bệnh nhân này chỉ đơn giản là tưởng tượng đang cử động các chi đau đớn của họ, mà không cần thực hiện các động tác, để kích hoạt mạng lưới vận động của bộ não. Các bệnh nhân cũng nhìn vào hình ảnh của bàn tay, để xác định xem chúng là tay trái hay tay phải, cho đến khi họ có thể xác định chúng một cách nhanh chóng và chính xác - một bài tập nhằm kích hoạt vỏ não vận động. Họ được cho xem các bàn tay ở nhiều vị trí khác nhau và được yêu cầu tưởng tượng chúng trong mười lăm phút, ba lần một ngày. Sau khi thực hành các bài tập hình dung/tưởng tượng, họ đã làm liệu pháp gương, và với mười hai tuần trị liệu, cơn đau đã giảm dần ở một số người và đã biến mất ở một nửa số người. 

Nghĩ xem điều này ấn tượng biết bao — đối với một cơn đau mãn tính, kinh khủng nhất, một phương pháp điều trị hoàn toàn mới sử dụng trí tưởng tượng và ảo giác để tái cấu trúc bản đồ não bằng nhựa/tính dẻo mà không cần thuốc, kim tiêm hoặc điện. 

Việc phát hiện ra các bản đồ đau cũng đã dẫn đến các phương pháp mới để phẫu thuật và sử dụng thuốc giảm đau. Đau ảo sau phẫu thuật có thể được giảm thiểu nếu bệnh nhân phẫu thuật bị khối dây thần kinh cục bộ hoặc gây tê cục bộ tác động lên dây thần kinh ngoại biên trước khi thuốc gây mê đưa họ chìm vào giấc ngủ. Thuốc giảm đau, được sử dụng trước khi phẫu thuật, không chỉ dùng sau phẫu thuật, dường như ngăn chặn sự thay đổi tính dẻo trong bản đồ đau của não có thể "khóa" cơn đau.

Ramachandran và Eric Altschuler đã chỉ ra rằng hộp gương cũng có hiệu quả đối với các vấn đề không liên quan tới các chi ảo, chẳng hạn như chân bị liệt của bệnh nhân đột quỵ. Liệu pháp gương khác với liệu pháp của Taub ở chỗ nó đánh lừa não của bệnh nhân khi nghĩ rằng anh ta đang di chuyển chi bị ảnh hưởng, và do đó, nó bắt đầu kích thích các chương trình vận động của chi đó. Một nghiên cứu khác cho thấy liệu pháp gương là hữu ích trong việc chuẩn bị cho một bệnh nhân đột quỵ bị liệt nghiêm trọng, người không thể cử động được một bên cơ thể, để điều trị giống như Taub. Bệnh nhân phục hồi một số chức năng của cánh tay, lần đầu tiên hai phương pháp điều trị mới dựa trên tính dẻo thần kinh – liệu pháp gương và liệu pháp CI – được sử dụng theo trình tự. 

Ở Ấn Độ, Ramachandran lớn lên trong một thể giới nơi nhiều thứ trông thật tuyệt vời với người phương Tây. Ông biết về những người tập yoga giảm bớt khổ đau bằng thiền định và đi chân trần qua than nóng hoặc nằm trên móng tay. Ông thấy những người theo tôn giáo trong trạng thái thôi miên nhét kim khâu xuyên qua cằm họ. Quan điểm cho rằng các sinh vật sống thay đổi hình dạng của chúng được chấp nhận rộng rãi; sức mạnh của tâm trí ảnh hưởng đến cơ thể được xem là điều hiển nhiên, và ảo giác được xem như một sức mạnh cơ bản được thể hiện trong vị thần Maya, nữ thần ảo giác. Ông ấy đã chuyển cảm giác bất ngờ, kinh ngạc từ đường phố Ấn Độ vào khoa học thần kinh phương Tây, và công việc của ông đã truyền cảm hứng cho những nghiên cứu pha trộn cả hai. Tại sao chúng ta nghĩ rằng nỗi đau ảo lại ít thực hơn nỗi đau thông thường? Và ông đã nhắc nhở chúng ta rằng khoa học vĩ đại vẫn có thể được thực hiện với sự đơn giản thanh lịch.   

 

(hết chương 7)

menu
menu