[Sách dịch] Getting The Love You Want (Chương 10)

sach-dich-getting-the-love-you-want-chuong-10

Một trong những bí ẩn sâu xa nhất của đời sống là tất cả những gì thật sự xứng đáng để ta làm chính là những điều ta làm cho người khác.

Nguyên tác: Getting The Love You Want
Tác giả: Harville Hendrix, Ph.D.
Dịch giả: Phan Linh Lan và Phan Lưu Ly
nxb:   – – – – – –

 

 

Chương 10:

XÁC ĐỊNH QUY TRÌNH

Một trong những bí ẩn sâu xa nhất của đời sống

là tất cả những gì thật sự xứng đáng để ta làm

chính là những điều ta làm cho người khác.

LEWIS CARROLL

Ở những chương trước, tôi đã mô tả các bước đầu tiên trong tiến trình sáng tạo một hôn nhân ý thức. Tôi đã trao đổi với bạn về những cửa thoát chật hẹp, về nguồn năng lượng mà bạn có thể dành cho quan hệ hôn nhân. Tôi cũng đã trao đổi về những tương tác đáng khích lệ giữa các bạn để dẫn tới sự thân mật sâu đậm hơn, về những cách thức giúp bạn hiểu biết hơn về bản thân và về người bạn đời. Bây giờ là lúc chúng ta trao đổi về việc chữa trị những thương tổn sâu xa trong tuổi thơ. Trong chương này, tôi sẽ mô tả cách thức để bạn có thể đưa những nỗi thất vọng kinh niên vào đại lộ của sự trưởng thành. Ở chương sau, tôi sẽ nói về cách thức ứng xử đối với những xung đột dễ bùng nổ.

Khi một cặp vợ chồng bỏ ra vài tuần để thực hành bài tập “Tái lãng mạn hóa” được mô tả ở chương 8, họ trải nghiệm một sự phục hưng những xúc cảm tích cực, và họ trở nên nối kết với nhau hơn qua những hành vi mà họ đã từng làm cho nhau trong giai đoạn “mở màn” của tình yêu lãng mạn.

Trước khi một môi trường thân mật hơn, tình cảm hơn trở thành thói quen của họ thì họ lại gặp phải một sự kiện làm nản lòng: những xung đột liên tiếp xảy ra, đó cũng chính là điểu đã khiến họ phải chữa trị tâm lý.

Một lần nữa họ bị lầy vào những chuyện khó chịu giống như trước, những xung khắc cơ bản giống như trước. Dường như là bài tập “Tái lãng mạn hóa” làm sống lại tình yêu lãng mạn xưa kia chỉ có tác dụng đẩy họ vào cuộc tranh chấp một lần nữa.

Lý do để những cảm xúc tốt đẹp không đến với họ là mặc dù những tương tác đáng hài lòng tăng lên, người chồng và người vợ một lần nữa lại nhận dạng một cách vô thức người phối ngẫu của mình như thể “một người đáp ứng tất cả”, một người bạn đời lý tưởng sẽ giúp họ phục hồi một cách thần kỳ sự toàn vẹn của họ.

Sau những cơn bùng nổ giận dữ và sự thoái trào của cuộc tranh chấp quyền lực, một lần nữa người này lại tìm kiếm sự cứu rỗi ở người kia. Và họ cũng lại khám phá ra một điều đáng buồn là họ chẳng hề có chút kỹ năng cần thiết cũng như động cơ nào để tìm đến được những ước mong sâu thẳm của nhau. Thực tế, nhiều người đã đi đến một kết luận tỉnh táo là những điều họ mong muốn nhất ở người bạn đời lại chính là điều mà người bạn đời ít có khả năng đem đến cho họ nhất.

Chúng ta có thể làm gì để giải quyết điều nan giải trung tâm này? Câu hỏi ấy đã theo đuổi tôi suốt những năm đầu tiên làm công tác tham vấn hôn nhân. Ở đây có hai yếu tố:

1. Chúng ta mang vào mối quan hệ hôn nhân những vết sẹo cảm xúc từ thuở ấu thơ.

2. Chúng ta lựa chọn một cách vô ý thức người bạn đời có những nét trùng hợp với người nuôi dưỡng ta, người đã góp phần hình thành những vết thương lòng của ta – dường như hôn nhân là để dành cho việc nhắc lại và chữa trị những nỗi bất hạnh của chúng ta.

Nhiều năm trước khi tôi tiến hành các đợt chữa trị theo nhóm, quan điểm bi quan này khá rõ nét. Trong một cuộc tham vấn, khi tôi giải thích về cơ chế tự hủy của việc lựa chọn người phối ngẫu, một phụ nữ giơ tay lên và nói: “Phải chăng để tránh việc khơi lại những vết thương lòng xa xưa, ta nên cưới người nào không hấp dẫn ta? Và đừng có gắn kết với người nào có những lầm lỗi tương tự như cha mẹ ta?”. Có ai đó cười, nhưng quả thật lúc đó tôi cũng không thấy giải pháp nào khả dĩ hơn.

Những cuộc hôn nhân được sắp đặt nhờ người mai mối hoặc do các dịch vụ “tìm bạn” có những cơ hội tốt hơn so với những cuộc hôn nhân đặt cơ sở trên tiến trình lựa chọn vô thức. Xu hướng của chúng ta lựa chọn người bạn đời là người chia sẻ những nét ưu điểm và nhược điểm của người nuôi dưỡng chúng ta dường như ngay từ điểm xuất phát đã kết án hôn nhân quy ước. Lời khuyên duy nhất của tôi đối với các cặp vợ chồng là hãy nhận thức rõ những lý do ẩn giấu bên trong việc lựa chọn người bạn đời, bao hàm cả những yếu tố thực tại. Nhận thức, hiểu biết và chấp nhận – đó là tất cả những gì tôi có thể khuyên.

Tôi cũng đã từng phải chữa trị tâm lý cho chính mình. Người mà tôi tham vấn nói với tôi: “Anh cần chấp nhận một thực tế là mẹ anh chẳng chăm sóc anh bao nhiêu, và vợ anh cũng không mang lại những gì mà anh muốn. Cô ấy không thể giúp anh trở lại tuổi thơ. Để chữa trị, anh chỉ cần rũ bỏ những ước muốn của anh mà thôi”. Và ông ta nói: “Anh đã không làm được điều này trước đây, giờ đây anh cũng không làm được. Nhưng anh sẽ trưởng thành và với cuộc đời, anh sẽ làm được”.

Tôi cố gắng chấp nhận những gì mà ông ta nói với tôi, nhưng tôi hiểu rằng, từ trong đáy lòng, tôi không muốn theo đuổi hành trình vô tận này. Một phần con người tôi lại cảm nhận rằng tôi có quyền được hưởng một nền giáo dục an toàn và yêu thương.

Khi tôi xem xét kỹ các thân chủ của tôi, tôi nhận thấy rằng quả là họ bám rất chắc vào các ước muốn của họ. Họ có thể dồn nén chúng, có thể phủ nhận chúng, có thể chiếu rọi chúng lên những người bạn đời. Nhưng họ không thể và không bao giờ có thể rũ bỏ những ước muốn tuổi thơ của họ.

Tại sao Tình yêu bản thân không có tác dụng?

Một lần, tôi gặp một bác sĩ tâm lý có quan điểm lạc quan hơn về khả năng thỏa mãn những ước muốn tuổi thơ. Ông tin rằng con người có thể thành tựu những gì mà họ không làm được trong tuổi thơ thông qua Tình yêu bản thân: Một trong những kỹ thuật mà ông giúp tôi vượt qua nỗi khát khao được yêu thương là yêu cầu tôi tưởng tượng lại khung cảnh trong nhà bếp với mẹ tôi như tôi đã kể với ông ta trước đó. Ông hướng dẫn tôi một bài tập thư giãn sâu rồi bảo tôi: “Anh hãy tưởng tượng mình là đứa bé muốn được mẹ quan tâm. Bà đang đứng cạnh bếp lò quay lưng lại phía anh. Hãy tưởng tượng anh muốn được mẹ ôm vào lòng. Anh gọi bà. Anh thấy bà quay lại với anh và bế anh lên với một nụ cười hạnh phúc trên gương mặt. Bây giờ bà ôm chặt anh. Hai tay bà vòng quanh người anh. Bây giờ hãy nhìn đứa trẻ đó! Nó đứng ngay trước mặt anh và mong muốn được ôm ấp. Hãy nắm lấy nó, ôm nó và âu yếm nó. Hãy ghì nó vào ngực anh. Nào, hãy kéo đứa nhỏ hạnh phúc ấy vào trong tâm hồn anh.”

Ông tin rằng nếu tôi sáng tạo tiếp bức tranh rực rỡ về khung cảnh hạnh phúc ấy thì sẽ dần dần làm dịu đi nỗi khát khao tình mẫu tử của tôi. Cách tiếp cận của ông dường như có tác dụng trong chốc lát, sau buổi chữa trị, tôi cảm thấy bớt cô đơn và nhiều tình yêu hơn. Nhưng rồi cảm giác ấy dần dần biến mất, tôi lại rơi vào sự trống rỗng một lần nữa.

Lý do khiến cho cách tiếp cận này không hiệu quả là vì nó bị phá hỏng bởi tâm thức cũ. Khi chúng ta còn nhỏ, không thể thỏa mãn những khát khao cảm xúc và thân xác của mình, những nỗi đau khổ và niềm hoan lạc đến từ thế giới bên ngoài trở nên bí ẩn. Khi chai sữa hoặc bầu vú mẹ xuất hiện, cơn đói của chúng ta được giải quyết. Khi được dỗ dành, chúng ta cảm thấy an lòng. Khi bị bỏ một mình trong nôi và khóc, chúng ta lo âu, sợ hãi. Lớn lên, tâm thức cũ của chúng ta vẫn bị đóng băng trong khung cảnh quá khứ: những cảm xúc tốt và xấu là do người khác tạo ra cho chúng ta, chúng ta không thể tự săn sóc mình, việc đó cũng do người khác làm. Phần con người bị tổn thương của tôi không chấp nhận tình yêu bản thân bởi vì tôi đã làm “ngoại hiện” suối nguồn cứu rỗi của tôi.

Những giới hạn của tình bạn

Dần dần, tôi từ bỏ quan điểm cho rằng tình yêu chữa trị tổn thương đến từ bên ngoài chúng ta. Nhưng liệu nó có đến từ người bạn đời? Hoặc từ một người bạn thân? Trong thời gian suy tư về khả năng này, tôi đang hướng dẫn một nhóm trị liệu và có cơ hội quan sát về tiềm năng chữa trị tổn thương của tình bạn. Những mối quan hệ gần gũi thường phát triển giữa các thành viên của nhóm trị liệu và tôi cổ vũ những tình cảm này. Trong một đợt trị liệu điển hình, tôi phải ghép cặp Mary, người có một bà mẹ đồng bóng và vô cảm, với Susan, người có một bà mẹ nhân hậu và quả quyết. Tôi yêu cầu Susan ôm lấy Mary vào lòng và cù Mary làm cô ta phải kêu lên. Mary cảm thấy được xoa dịu vì bài tập, nhưng cô vẫn không được chữa trị. Cô nói: “Tôi thích được ôm ấp nhưng không phải bởi Susan. Tôi không muốn Susan ôm tôi mà muốn một người khác.”

Sau một vài thí nghiệm tương tự, tôi kết luận rằng, tình yêu được tìm kiếm không chỉ đến từ một người khác trong một mối quan hệ an toàn và thân mật mà còn phải đến từ một sự tương xứng hình mẫu – một người tương tự cha mẹ chúng ta mà tâm trí vô thức của chúng ta nối kết với họ. Đây là con đường duy nhất để chúng ta chữa lành những vết thương lòng của tuổi ấu thơ. Chúng ta có thể vui thích vì được ôm ấp và quan tâm săn sóc, nhưng hiệu quả của nó chỉ tạm thời. Điều đó cũng giống như sự khác biệt giữa đường và đường hóa học. Lưỡi ta cảm nhận được vị ngọt của đường hóa học nhưng cơ thể ta không nhận được chút dinh dưỡng nào. Chúng ta đói khát tình yêu từ những người nuôi dưỡng nguyên thủy của chúng ta hoặc từ những người tương tự họ mà ở mức độ vô thức, chúng ta đã hợp nhất những người ấy với họ.

Điều này đã đưa tôi trở lại vòng luẩn quẩn của tình thế tiến thoái lưỡng nan ban đầu. Người bạn đời sẽ chữa trị các vết thương lòng của chúng ta như thế nào nếu như họ lại có những nhược điểm tương tự với những người nuôi dưỡng chúng ta? Nếu như họ là những ứng cử viên ít thích hợp nhất cho việc xoa dịu những chấn thương cảm xúc của chúng ta? Nếu như con gái của một người cha ích kỷ và vô trách nhiệm lại chọn một anh chàng nghiện rượu làm chồng thì cuộc hôn nhân ấy có thỏa mãn những mong ước được gần gũi yêu thương của cô ta không? Hoặc như con trai một người mẹ đầy mặc cảm và bị ức chế tình dục lại cưới một cô vợ cũng bị dồn nén và lãnh cảm thì có ích gì cho nhu cầu tìm kiếm niềm vui và hạnh phúc của anh ta? Hay một cô gái bị mồ côi cha từ nhỏ lại chuyển nỗi khát khao của mình vào một người đàn ông không cưới cô làm vợ, cô sẽ cảm nhận ra sao về tình yêu và sự an toàn?

Một câu trả lời bắt đầu hình thành trong trí tôi. Đó là một kết luận lôgic. Nếu một người cần được chữa trị các thương tổn tuổi thơ, tôi nhấn mạnh, người bạn đời của họ phải có sự thay đổi. Người chồng mê rượu phải chủ động chuyển hướng những đam mê của mình về phía vợ. Người vợ bị dồn nén và lãnh cảm phải trở nên nhạy cảm và gần gũi chồng. Người tình né tránh hôn phải giảm thiểu những chướng ngại của mình đối với sự thỏa mãn ước mong của người phụ nữ yêu anh ta. Như thế và chỉ có như thế, họ mới có thể mang đến cho người bạn đời của họ những gì mà người ấy kiếm tìm trong suốt cuộc đời.

Chính ở điểm này, tôi bắt đầu nhìn nhận tiến trình chọn lựa vô thức dưới một ánh sáng mới: một mặt, sự thật rõ ràng là trong hôn nhân, những gì người này cần nhất cũng chính là những gì mà người kia ít có khả năng mang lại nhất, nhưng đồng thời, chính khu vực ấy lại là nơi mà người kia cũng cần để được trưởng thành!

Ví dụ, nếu Mary lớn lên bên những người nuôi dưỡng quan tâm tới cô, cô tìm đến một người chồng, ví dụ George, một anh chàng cũng tỏ ra hờ hững với những ước muốn gần gũi. Nhu cầu tuổi thơ bị gạt bỏ của Mary lại thích hợp một cách lạ lùng với sự thiếu khả năng đáp ứng của George. Tuy nhiên, nếu George vượt qua được sự đề kháng của bản thân, cố gắng đáp ứng những mong muốn của Mary thì không chỉ Mary cảm thấy thỏa mãn mà ngay cả George cũng dần dần tìm lại được sự nhạy cảm của mình. Nói cách khác, khi cố gắng chữa trị vết thương lòng của người bạn đời, chúng ta cũng phục hồi một phần bản chất của chính mình. Tiến trình chọn lựa vô thức sẽ dẫn dắt hai người bạn đời, hoặc làm tổn thương nhau hoặc hàn gắn cho nhau, tùy thuộc vào quyết tâm của họ để trưởng thành và thay đổi.

Đưa lý thuyết vào thực tiễn

Tôi bắt đầu hướng sự quan tâm của mình về tiềm năng chữa trị của hôn nhân vào thực tại sinh động. Câu hỏi không có lời đáp là: khuyến khích những đôi vợ chồng vượt qua những hạn chế của họ như thế nào để họ có thể đáp ứng những nhu cầu của nhau? Tôi quyết định phát triển một bài tập có một vài đặc điểm giống như bài tập “Tái lãng mạn hóa”.

Một người chồng hoặc người vợ được yêu cầu lập ra một danh sách các đòi hỏi của mình, với danh sách ấy, người kia có thể tùy nghi, đáp ứng hoặc không đáp ứng. Trong trường hợp này, các đòi hỏi bao gồm nhiều thay đổi khó khăn trong hành vi ứng xử, không chỉ là những tương tác đơn giản và dễ chịu. Ví dụ người lập danh sách yêu cầu người bạn đời phải trở nên quả quyết hơn, khoan dung hơn… Thực chất, các đòi hỏi này có nghĩa là người kia phải vượt bỏ những tính cách tiêu cực chính yếu của mình.

Như trong bài tập “Tái lãng mạn hóa”, những đòi hỏi chung nhất sẽ được chuyển hóa vào các hành động đặc trưng, có thể cân đo đong đếm và có thể thực hiện được. Nếu không thế, người bạn đời sẽ không đủ thông tin để thực hiện sự thay đổi, và cũng có quá nhiều không gian cho những suy diễn sai lệch và cho những thủ thuật lảng tránh.

Cũng như bài tập “Tái lãng mạn hóa”, bài tập “Giải tỏa” sẽ dựa trên nguyên tắc “Quà tặng”. Không phải là sự trao đổi có đi có lại. Nếu không như vậy, tâm trí vô thức sẽ bác bỏ sự thay đổi trong hành vi ứng xử. Điều này rất quan trọng. Nếu một người thực hiện một thay đổi nhỏ rồi chờ đợi người kia hưởng ứng những cố gắng của mình (“Anh sẽ bớt áp chế em nếu như em tỏ ra săn sóc anh hơn!”), toàn thể tiến trình sẽ lập tức thoái hóa vào một cuộc tranh chấp. Những thù hận xưa kia lại bùng cháy, và sẽ không còn khả năng chữa trị nữa. Các cặp vợ chồng phải nhận thức rằng: nếu như họ vượt bỏ được những giới hạn của mình và phát triển năng lực yêu thương, không phải vì họ đã đợi chờ tình yêu trở lại mà đơn giản chỉ là vì người bạn đời của họ xứng đáng được yêu thương.

Với những phác họa sơ bộ về bài tập mới như vậy, tôi bắt đầu đi vào chi tiết. Các ông chồng và các bà vợ sẽ làm thế nào để xác định những hành vi ứng xử mà họ đòi hỏi người bạn đời đáp ứng? Liệu rồi họ sẽ lại phàn nàn và chỉ trích nhau? Liệu họ có tìm được những từ ngữ chính xác và tích cực để diễn đạt các đòi hỏi mà họ dành cho người bạn đời? Những hiểu biết của họ có ở trên bình diện ý thức? Quá trình trị liệu sẽ kéo dài bao lâu, vài tháng hay vài năm?

Có một giải pháp dễ dàng hơn, đó là khảo sát những lời chỉ trích. Như chúng ta đã xem xét ở chương trước, chỉ cần phân tích những lời phàn nàn dai dẳng lẫn nhau của một cặp vợ chồng cũng có thể vẽ nên một bức tranh chính xác về những thiếu thốn mất mát trong tuổi thơ của họ. Không rõ ràng đến từng chi tiết – ai, lúc nào, làm gì – nhưng nó chẳng khác nào một vỉa quặng lộ thiên, sẵn sàng cho ta khai thác. Nhiều tháng và nhiều năm trôi qua, các cặp vợ chồng ở bên nhau, những điều phiền muộn như những lớp đất đá bề mặt, nông hơn và xốp hơn, đã bị bào mòn và làm lộ ra những nhu cầu nền tảng. “Anh không bao giờ…”, “Em lúc nào cũng…”, “Khi nào anh mới thôi đi…”. Ẩn sâu trong những lời buộc tội là lời biện hộ được ngụy trang cho tất cả những gì không có được trong tuổi ấu thơ – cho sự săn sóc, sự công nhận, sự che chở, sự độc lập, sự gắn bó… Bởi vậy, để có thể lập danh sách các đòi hỏi cho bài tập này, các cặp vợ chồng phải cách ly những ước muốn ẩn giấu trong những nỗi thất vọng dai dẳng của họ. Họ có thể chuyển hóa những ước muốn chung nhất vào các hành vi ứng xử đặc trưng sẽ giúp họ thỏa mãn những ước muốn ấy. Bản danh sách các đòi hỏi tích cực và rõ ràng này sẽ trở thành “quy trình công nghệ” của mối quan hệ hôn nhân.

Xác định quy trình

Sau đây là một ví dụ lấy từ một văn phòng tư vấn hôn nhân có thể dùng để minh họa cho bài tập này. Đầu tiên, tôi yêu cầu một người tình nguyện trình bày lại lời than phiền gay gắt về người bạn đời của mình. Một phụ nữ tên là Melanie, với mái tóc nâu quyến rũ và bộ váy áo óng ánh, giơ tay. Theo yêu cầu, đầu tiên cô ta thuật lại lời phàn nàn bực bội của cô về chồng mình là Stewart: “Anh ấy có một trí nhớ rất tệ, dường như ngày càng tệ hơn. Tôi luôn luôn bị khổ sở vì tật đãng trí của Stewart. Ước gì anh ấy chịu để tâm một chút”.

Stewart, một người đàn ông dáng vẻ trí thức ngồi bên cạnh vợ, bắt đầu tự vệ bằng một giọng bực dọc: “Melanie, anh là một luật sư. Anh đã nhớ cả hàng ngàn trang sách luật. Sao anh lại không có trí nhớ tốt kia chứ?”.

Trước khi Melanie có cơ hội để lặp lại lời chỉ trích của mình, tôi yêu cầu cô nói rõ điều gì đã làm cô cảm thấy bực bội nhất với tật hay quên của Stewart, và cô thấy khổ sở nhất khi nào.

Cô nghĩ một lát. “Tôi thấy bực bội khi anh ấy quên làm một việc gì đó mà tôi đã yêu cầu anh ấy làm. Tuần vừa rồi chẳng hạn, anh ấy quên phắt rằng hai vợ chồng đã hẹn nhau đi ăn trưa. Một chuyện nữa là vài ngày trước đây, chúng tôi đến dự một bữa tiệc, anh ấy quên cả việc giới thiệu tôi với bạn bè, khiến tôi cứ đứng như trời trồng một cách thật ngu ngốc”.

“Cô có cảm xúc nào sâu hơn, bên dưới những nỗi thất vọng cô vừa kể, chẳng hạn như nỗi phiền muộn, lo âu, sợ hãi…? – Tôi hướng dẫn cô theo một tiến trình tương tự những gì tôi đã nói ở đầu đợt chữa trị, giúp cô nhận dạng những ước muốn tiềm ẩn trong lời chỉ trích của mình.

“Có, khi anh ấy không làm những điều đó, tôi cảm thấy mình không được yêu thương, cảm thấy anh ấy không quan tâm đến tôi. Tôi như bị bỏ rơi, mà điều tôi mong muốn nhất là anh ấy phải chứng tỏ rằng tôi có vai trò quan trọng đối với anh ấy, ít nhất cũng ngang bằng với công việc anh ấy làm”.

Đến đây, tôi đã có thể yêu cầu Melanie thử hình dung lại những năm tháng tuổi thơ, những thương tổn mà cô đã phải chịu khiến cho tật hay quên của Stewart đã khơi dậy những xúc cảm tưởng như đã ngủ yên: Liệu cha mẹ cô có cư xử với cô theo cung cách đó không?

Nhưng với Melanie, có lẽ không cần phải nói nhiều về lợi ích của bài tập này. Tất cả những gì cô cần làm là nhận dạng ý kiến chỉ trích của mình, chuyển hóa nó vào một ước muốn và sau đó là đưa ra một hành vi ứng xử tích cực có thể thỏa mãn ước muốn ấy.

Tôi tiếp tục: “Melanie, bây giờ cô lập một danh sách những hành vi ứng xử có thể giúp cô cảm thấy mình được quan tâm săn sóc. Cô hãy làm cho Stewart hiểu: bằng cách nào anh ấy có thể trở thành một nhân tố tích cực hơn trong cuộc sống của cô?”.

Cô suy nghĩ một phút, sau đó cô đồng ý sẽ làm như vậy.

Tiếp theo, tôi hướng dẫn Stewart, Melanie và cả nhóm thực hành bài tập “Giải tỏa” rồi để họ trở về nhà. Hướng dẫn của tôi là: nhận dạng một lời phàn nàn dai dẳng, cách ly những ước mong tiềm ẩn ra khỏi lời phàn nàn, đồng thời, lập một danh sách những hành vi ứng xử cụ thể và khả thi có thể giúp thỏa mãn những ước mong đó. Các ông chồng và các bà vợ sẽ trao đổi cho nhau bản danh sách, xem xét và phân loại các đề mục theo mức độ từ dễ tới khó đối với khả năng của mình. Tôi yêu cầu họ trao đổi những thông tin này với nhau nhưng không tìm cách gò ép chúng cho thích hợp với mong muốn của người kia. Mục đích của bài tập là để những người bạn đời, khi muốn giải tỏa những ước mong của mình vào các hành vi ứng xử, phải đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng. Ép buộc hay trông đợi có nguy cơ dẫn đến những thỏa thuận có đi có lại, và có rất nhiều khả năng là nó sẽ kết thúc trong oán hận và thất bại.

Khi nhóm điểu trị tập hợp trở lại, Melanie tự nguyện đưa ra bản danh sách của cô, bao gồm những đòi hỏi như sau:

– “Em muốn chúng ta cách ly nhau mỗi tuần một đêm, ngay từ buổi tối hôm nay.

– Em muốn anh giới thiệu em với các bạn anh khi em đến cơ quan anh.

– Em muốn anh tặng em một món quà đặc biệt vào dịp sinh nhật sắp tới của em, mà phải tự tay anh mua và bao gói.

– Em muốn ngày nào anh cũng gọi điện thoại về nhà cho em chỉ để trò chuyện thân mật với nhau.

– Em muốn anh kéo ghế cho em khi chúng ta ăn bữa tối.

– Em muốn anh không mang công việc ở cơ quan về nhà làm vào ngày Chủ nhật

– Em muốn anh gọi điện thoại báo trước cho em nếu anh về nhà ăn cơm chiều muộn quá 15 phút.

– Em muốn anh…”

Theo chỉ dẫn của tôi, Stewart nhận những đòi hỏi của Melanie, phân loại mức độ khó khăn của từng đề mục, chọn ra những đề mục mà anh thấy dễ thực hiện nhất. Anh nói trước cả nhóm rằng anh sẽ thực hiện ngay lập tức yêu cầu đơn giản nhất của Melainie là sẽ kéo ghế cho cô trong các bữa ăn tối. Có một sự tương phản đáng chú ý giữa thái độ ban đầu của Stewart khi anh phản đối lời phàn nàn của Melanie về trí nhớ kém cỏi của anh, với sự chấp nhận vui vẻ các đòi hỏi của Melanie sau này. Lý do là vì anh đã hiểu và cảm thông với những thương tổn tuổi thơ của cô, anh được chủ động lựa chọn những hành vi đáp ứng của mình, anh có thể làm hoặc chưa làm nếu nó quá khó khăn đối với anh, và tìm được con đường thuận lợi nhất để đáp ứng những ý muốn của cô.

Danh mục những yêu cầu của Melanie cũng hàm chứa tiềm năng trưởng thành đối với Stewart, chính vì có một số yêu cầu, quả thực, anh rất khó thực hiện. Điều này không có gì lạ đối với tôi, bởi vì ước muốn lớn nhất của người này thường tương ứng với sự đề kháng lớn nhất của người kia. Melanie có thể làm cho Stewart hiểu tầm quan trọng của lời yêu cầu khó khăn ấy đối với cô nhưng không thể ép buộc anh phải thực hiện. Quyền lực hợp lý duy nhất mà cô có trong mối quan hệ hôn nhân là thông tin cho Stewart biết những ước muốn của cô và thay đổi những hành vi ứng xử của chính cô cho phù hợp với những ước muốn của Stewart.

Xu hướng thay đổi phức hợp trong quá trình vận động

Sau khi xem xét bản danh mục các yêu cầu của Melanie, Stewart cũng đưa ra bản của mình. Anh cũng đã nhận dạng những ý kiến than phiền thường xuyên nhất của anh, cách ly các ước muốn ra khỏi lời than phiền và lập ra một danh sách những yêu cầu mà anh muốn Melanie đáp ứng. Lời than phiền thường xuyên nhất của Stewart đối với Melanie là về tính hay chỉ trích của cô. Có vẻ như cô thường xuyên chê bai chỉ trích anh. Điều đó khiến anh khổ sở, chính vì cha mẹ anh ngày trước cũng là những người hay chê bai chỉ trích. Anh kết luận với một nụ cười và nháy mắt cho tôi: “Có lẽ đây là điều tôi thu hoạch được sau đợt chữa trị, vì chính điều đó là điều làm cô ấy trở nên hấp dẫn đối với tôi”.

Một trong những mong muốn rõ ràng nhất của Stewart là Melanie sẽ khen tặng anh mỗi ngày một lần. Melanie biết rằng có những ngày thật khó mà được điều đó. Cô nói chân thành: “Tôi nghĩ mình đâu phải là một kẻ chuyên chỉ trích người khác. Vấn đề là ở chỗ Stewart tỏ ra thiếu trách nhiệm, nghĩa là không phải ở thái độ của tôi mà là ở cư xử của anh ấy!”. Một trong những lý do khiến cô cảm thấy khó khăn khi phải khen ngợi Stewart là cô phủ nhận giá trị lời phàn nàn của Stewart. Cô chỉ thấy mình như một người có trách nhiệm phán xét tính cách của Stewart .

Một lợi ích khác của bài tập “Giải tỏa” là: Khi Melanie không đồng ý với cách Stewart nhìn nhận về cô, rồi từ đó định ra tiến trình chữa trị, cô chỉ chấp nhận thực hiện một đáp ứng đơn giản nhất: sẽ dành cho Stewart mỗi ngày một lời khen tặng.

Nhưng khi cô làm điều này, cô sẽ nhận thức rõ hơn về những phẩm chất tốt đẹp của Stewart. Và dần dần cô sẽ học được cách làm thế nào loại trừ vai trò của kẻ phán xét trong con người cô. Cuối cùng, cả Stewart lẫn Melanie đều có lợi khi thực hành bài tập. Stewart sẽ được tán thành khi bộc lộ những phẩm chất xứng đáng. Còn Melanie có thể thay đổi một nét tính cách tiêu cực của cô. Trong quá trình chữa trị, cô dần dần trở nên một con người toàn vẹn hơn và nhân hậu hơn.

Khi các cặp vợ chồng thực hiện đến nơi đến chốn bài tập này trong vài ba tháng, họ còn khám phá ra một lợi ích tiềm ẩn: Tình yêu mà họ mang đến cho người bạn đời sẽ xoa dịu và chữa trị những vết thương của chính họ – cả những vết thương mà họ không biết là họ có. Stewart và Melanie tiếp tục các đợt chữa trị ở văn phòng của tôi hơn 1 năm. Khoảng 6 tháng sau khi dứt các đợt đó, Stewart và Melanie đã đáp ứng hoàn toàn các mong ước của nhau. Họ có thể không thích một ý tưởng nào đó, nhưng họ hiểu tầm quan trọng của ý tưởng đối với người bạn đời và họ chấp nhận sẽ mang lại niềm vui cho nhau.

Hầu hết các cặp vợ chồng có những ước muốn đồng nhất nhưng những gì được thừa nhận thẳng thắn ở người này lại bị người kia phủ nhận. Khi những người bạn đời, với các ước muốn bị phủ nhận, vượt qua được sự đề kháng của chính họ và thỏa mãn ước muốn được bày tỏ thẳng thắn của người kia, phần tâm trí vô thức sẽ diễn dịch hành vi săn sóc như hành vi tự định hướng. Và tình yêu đối với bản thân sẽ được thành tựu thông qua tình yêu đối với người khác.

Để hiểu tại sao cơ chế tâm thần hoạt động như vậy, chúng ta cần nhớ lại những điều đã trao đổi trước đây về bộ não con người. Tâm thức cũ không biết về sự tồn tại của thế giới bên ngoài, tất cả những đáp ứng của nó là các biểu tượng. Thiếu một nối kết trực tiếp với thế giới bên ngoài, tâm thức cũ cho rằng, tất cả các hành vi đều hướng nội. Khi bạn trở nên khoan dung hơn, yêu thương người bạn đời của mình hơn, lúc đó, tâm thức cũ cho rằng hành động này là nhằm tới chính bản thân bạn.

Phần thưởng và sự đề kháng

Tóm lại, Melanie và Stewart thu hoạch được ba lợi ích quan trọng từ bài tập “Giải tỏa”:

1. Những ước muốn của người bạn đời về sự thay đổi ứng xử có thể giải quyết một số thương tổn tuổi thơ của chúng ta.

2. Người bạn đời có các thay đổi trong ứng xử sẽ làm phục hồi những khía cạnh của bản ngã đã bị mất của chúng ta.

3. Người bạn đời có những thay đổi trong ứng xử sẽ làm thỏa mãn những ước muốn bị đè nén của chúng ta – những ước muốn cũng đồng nhất với những ước muốn của người bạn đời.

Kết quả của quá trình tăng trưởng này là một sự phát triển ngoạn mục những cảm xúc tốt đẹp giữa hai vợ chồng. Cả Melanie lẫn Stewart đều cảm nhận tốt đẹp hơn về nhau bởi vì họ có khả năng thỏa mãn những ước muốn nền tảng của nhau. Nói cách khác, họ cảm nhận tốt đẹp hơn về nhau bởi vì người bạn đời đã giúp họ thỏa mãn những ước muốn sâu thẳm của họ. Điều đó làm họ thêm quyết tâm giải tỏa những đề kháng của họ vào các hành vi tích cực hơn. Tới khi quá trình xác định ước muốn của mỗi người và chuyển hóa chúng thành những nhu cầu tích cực và khả thi được hoàn tất, họ có thể đưa cuộc hôn nhân của mình vào vòng quay vĩnh cửu của sự trưởng thành nhân cách.

Sự đề kháng

Thay đổi hữu ích này luôn luôn bao hàm một vài sự đề kháng. Một trong những phát hiện sâu sắc của Freud là: “Bên dưới mỗi ước muốn đều tiềm ẩn một nỗi sợ hãi rằng ước muốn ấy sẽ thành hiện thực”.

Khi người bạn đời cư xử với bạn theo cung cách mà bạn vẫn hằng mong ước, bạn sẽ trải nghiệm một sự kết hợp lạ lùng giữa hài lòng và sợ hãi. Bạn thích những gì mà người bạn đời làm cho bạn, nhưng một phần con người bạn lại cho rằng mình không xứng đáng với điều đó. Thực tế là, một phần con người bạn tin rằng, khi chấp nhận những ứng xử tích cực của người bạn đời; bạn đã xâm phạm một cấm kỵ đầy quyền năng. Tôi đã đề cập đến phản ứng phổ biến này khi trao đổi về cấm kỵ đối nghịch với sự hài lòng, còn trong trường hợp bài tập “Giải tỏa” thì sự đề kháng còn mạnh mẽ hơn.

Một ví dụ sẽ làm sáng tỏ cơ chế của sự đề kháng. Giả sử là bạn lớn lên với các bậc cha mẹ là những người ưa chỉ ra những lầm lỗi của bạn. Không kể những cố gắng lạc lối nhằm giúp bạn thành công hơn, họ luôn nhấn mạnh những thất bại của bạn. Họ cho rằng, chỉ ra những lầm lỗi ấy là để bạn có thể sửa chữa chúng, và dù sao đi nữa thì mục đích của họ là tạo cho bạn lòng tự tin. Khi bạn thành công ngoài những ảnh hưởng tiêu cực của họ và hành động để tự khẳng định, họ sẽ bảo bạn: “Đừng có tự mãn thế!”. Bạn cảm thấy đau nhói vì phản ứng của họ nhưng bạn chỉ là một đứa trẻ và không có con đường nào khác là phải tuân theo những lời chỉ bảo của cha mẹ. Khi bạn lấy vợ lấy chồng, bạn lựa chọn một cách vô ý thức một người sẽ làm trường tồn hành vi hủy hoại của cha mẹ bạn và một lần nữa, bạn lại bị tấn công.

Giả sử rằng, vì một vài lý do nào đó, người bạn đời của bạn cư xử với bạn tử tế hơn. Đầu tiên, bạn tăng trưởng với dữ kiện mới mẻ này. Nhưng rồi, một tiếng nói nội tâm cất lên trong đáy sâu: “Mày không đáng được tôn trọng. Điều đó sẽ không thích hợp với mày. Nếu cứ tiếp tục như vậy, mày sẽ không tồn tại. Đời sống của mày là ở trong tay kẻ khác và họ sẽ không để mày yên!”. Thế là bạn sẽ tìm cách làm xói mòn hành vi của người bạn đời cho đến khi tiếng nói ấy câm bặt. Có thể bạn sẽ thận trọng tìm cách chống lại hoặc nghi ngờ động cơ của những ứng xử tử tế của người bạn đời. Và rồi bạn sẽ tìm cách tự phủ nhận cả tình yêu và sự khẳng định mà bạn mong muốn đến tuyệt vọng.

Phản ứng đề kháng lại sự thỏa mãn một ước muốn sâu thẳm phổ biến hơn là ta tưởng.

Hầu hết các thân chủ của tôi ngừng tiến trình chữa trị giữa chừng không phải vì họ không có khả năng tạo ra những biến đổi tích cực, mà chỉ vì họ không thể đối phó với nỗi lo âu chính những biến đổi tích cực ấy mang lại.

Để vượt qua nỗi sợ hãi này, chỉ có cách tiếp tục tiến trình. Tôi khuyến cáo các thân chủ của tôi giữ vững tiến độ thực hành bài tập “Giải tỏa” cho tới khi nỗi lo âu trở nên chấp nhận được. Thực hành bài tập này đến cùng, họ sẽ nhận ra rằng những cấm kỵ ngăn cản sự trưởng thành của họ chẳng qua chỉ là những bóng ma của quá khứ và chúng cũng chẳng có quyền lực thực sự nào trên đời sống hiện tại của họ.

Một người đàn ông đã thực hiện xuất sắc việc giải tỏa những ước muốn vào các ứng xử mới, trong đáp ứng của mình đối với đòi hỏi của bà vợ, ông đã xếp đặt lại thứ tự các mục tiêu ưu tiên. Ông thôi không mang công việc ở cơ quan về nhà làm nữa và ngày nào cũng về ăn cơm chiều lúc 6 giờ. Nhưng khi bà vợ yêu cầu ông ta trở nên một người cha có trách nhiệm hơn thì ở ông xuất hiện sự đề kháng. Ông lại đến tìm tôi và thổ lộ: “Tôi mà thay đổi thêm nữa chắc là tôi sống hết nổi. Tôi sẽ không còn là tôi nữa, điều đó sẽ tiêu diệt nhân cách của tôi!”

Nếu thay đổi hành vi ứng xử theo yêu cầu của người bạn đời, ông cảm thấy “cái tôi” thân thuộc của mình biến mất tiêu. Ở mức độ vô thức, thay đổi này tương đương với cái chết. Tôi lưu ý ông rằng, nếu ông tiếp tục quá trình thay đổi các hành vi ứng xử, ông sẽ cảm thấy nỗi lo âu mỗi lúc một lớn hơn, nhưng ông sẽ không chết. Nó sẽ không mất đi, bởi vì nó không phải là hành vi ứng xử của ông, giá trị của ông hay niềm tin của ông. Ông lớn hơn nhiều so với tất cả những thứ đó gộp lại. Thực ra, nếu ông thay đổi một vài hành vi ứng xử, một vài niềm tin của mình, ông sẽ trở thành một con người toàn vẹn hơn, nhân hậu hơn, sâu sắc hơn là con người hiện nay của ông. Ông sẽ có khả năng phát triển những khía cạnh tích cực của nhân cách, những khía cạnh đã bị gạt sang một bên khi ông nỗ lực để tiến thân trong công việc. Gia đình ông sẽ hạnh phúc, trong khi chính ông sẽ trở nên một thực thể toàn vẹn hơn.

Và khi làm như thế, ông đã vượt thoát nỗi sợ hãi cái chết. Tôi khuyên ông cứ tiếp tục những hành vi đã kích thích nỗi sợ hãi ấy. Tôi bảo ông: “Đầu tiên, ông nghĩ là ông sẽ không sống nổi. Một tiếng nói từ sâu thẳm cất lên trong ông: “Dừng lại đi! Thế là quá đủ rồi! Ta sẽ chết mất!”. Nhưng nếu cứ tiếp tục quá trình thay đổi, tâm thức cũ của ông tiếp tục vòng quay và tiếng nói ấy sẽ câm lặng: “Ta sẽ chết mất! Ta sẽ chết mất!… Ta sẽ chết mất chăng? Nhưng ta không chết!”. Và cuối cùng, nỗi sợ hãi cái chết sẽ chỉ là một yếu tố ngăn cản không hơn không kém trong quá trình vận động để tự trưởng thành của chúng ta.

Agape

Khi bài tập “Giải tỏa” (được giải thích chi tiết trong Phần Ba) đã thẩm thấu hiệu quả của nó vào mối quan hệ, sức mạnh chữa trị của hôn nhân sẽ không chỉ là một đợi chờ vô thức mà là một yếu tố sinh động hàng ngày. Hôn nhân có thể giúp bạn hoàn tất mục tiêu ẩn giấu của bạn là được chữa trị và được toàn vẹn. Nhưng nó không diễn ra theo con đường bạn mong muốn, dễ dàng, tự động, không xác định mục đích, không đòi hỏi, không đền đáp… Bạn có thể xoa dịu phản ứng của tâm thức cũ bằng một cung cách tương tác ý thức hơn và có chủ định hơn. Bạn sẽ thôi không chờ đợi thế giới bên ngoài mang sự quan tâm săn sóc đến cho bạn và bắt đầu nhận lãnh trách nhiệm chữa trị cho chính mình. Và để làm việc này, bạn sẽ tập trung năng lượng của mình để chữa trị những vết thương lòng của người bạn đời, một quá trình chữa trị tâm lý và tinh thần ở mức độ sâu xa sẽ khởi đầu.

Khi bài tập “Giải tỏa” trở thành phương pháp tiêu chuẩn để bạn ứng phó với xung đột và chỉ trích, bạn sẽ vươn tới một tầm cao mới trong quá trình sáng tạo một hôn nhân ý thức. Bạn sẽ vượt ra khỏi sự tranh chấp và tình trạng mê ngủ để thay đổi. Quan hệ hôn nhân của bạn giờ đây đặt cơ sở trên tình yêu, thứ tình yêu tuyệt vời như định nghĩa của từ Hy Lạp Agape. Agape là một thứ tình yêu tự siêu việt và tái định hướng Eros, năng lượng sống, ra khỏi bản thân và hướng tới người bạn đời. Như một phản ứng dây chuyền, nỗi đau khổ của quá khứ sẽ dần dần bị xóa bỏ, và cả hai vợ chồng sẽ chứng nghiệm thực tại của sự toàn vẹn bản thể.

menu
menu