[Sách dịch] Getting The Love You Want (Chương 11a)

sach-dich-getting-the-love-you-want-chuong-11a

Thiên Đường không có cơn giận dữ nào giống như cơn giận dữ của tình yêu biến thành thù hận.

Nguyên tác: Getting The Love You Want
Tác giả: Harville Hendrix, Ph.D.
Dịch giả: Phan Linh Lan và Phan Lưu Ly
nxb:   – – – – – –

 

Chương 11:

KIỀM CHẾ CƠN GIẬN

Thiên Đường không có cơn giận dữ nào giống như cơn giận dữ của tình yêu biến thành thù hận.

Địa Ngục không có cơn cuồng nộ nào giống như cơn cuồng nộ của người đàn bà bị khinh rẻ.

WILLIAM CONGREVE

Có một số cặp vợ chồng không khi nào “gấu ó” nhau. “Ngôi nhà của chúng tôi thật đáng ao ước!” – Marla nói. Cô khoảng gần 30 tuổi, nét mặt cân đối và đầy vẻ mãn nguyện. Cô trang điểm sơ sài, mái tóc hung chải hất ra phía sau và cột thành một cái đuôi ngựa rũ xuống. Đây là đợt tham vấn thứ hai của Marla và chồng cô, Peter, một người đàn ông ưa nhìn. Marla tiếp tục: “Chúng tôi chẳng bao giờ la hét hay chỉ trích nhau”. Cô ngừng một lát, nhìn Peter rồi nói thêm với một nụ cười buồn… “ít nhất thì cũng không công khai”.

Trong thời gian ngắn ngủi tôi biết họ, quả là Marla nói đúng. Giữa cô và Peter dường như mọi sự đều tốt lành. Họ luôn luôn âu yếm nhau, cười đùa, nắm tay nhau, chăm chú lắng nghe nhau, dành thời gian cho nhau trong suốt đợt chữa trị, tranh luận sôi nổi về quan điểm của nhau. Nhưng bên dưới sự êm ả hời hợt và những ứng xử đầy cảm thông ấy là một biển cả thất vọng.

Họ phải tìm sự trợ giúp vì quan hệ của họ đã đi vào chỗ bế tắc. Peter chỉ còn đóng vai trò một đứa trẻ hư, kẻ chẳng làm được việc gì tử tế, còn Marla là vị thánh nhân từ và toàn năng. Peter nói: “Khi tôi làm điều gì sai, cô ấy tha thứ cho tôi. Tôi trốn tránh một trách nhiệm nào đó thì cô ấy lại gánh lấy. Chúng tôi bây giờ thành ra là: tôi vô tích sự còn cô ấy kỳ diệu. Tôi ghét điều đó”.

Từ ghét được anh ta nói với giọng hờ hững, vô cảm như bất kỳ từ nào khác, đã xác nhận tình trạng đáng buồn của họ.

Nếu tất cả các cặp vợ chồng được đưa vào một biểu đồ thể hiện mức độ giận dữ của họ thì Marla và Peter nằm ở ngoài cùng bên trái. Di chuyển dần vào phía trong là các cặp vợ chồng chỉ trích nhau, quát tháo nhau và gây gổ. Xa hơn một chút về bên phải là những cặp thỉnh thoảng “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”. Xa hơn nữa là những cặp trục trặc vô phương cứu chữa, rồi là những cặp hành hạ sỉ nhục nhau thậm tệ.

Hầu hết các thân chủ của tôi chiếm vị trí đâu đó ở giữa biểu đồ. Họ có những thời điểm thù địch nhưng họ biểu hiện cơn giận của mình bằng ngôn từ và những hành vi gây hấn thụ động chứ không phải là bạo lực.

Từ câu chuyện của Marla với Peter và của nhiều cặp vợ chồng khác, trước hết, tôi muốn đi sâu vào chi tiết những cung cách khác nhau mà các cặp vợ chồng biểu lộ cơn giận dữ của họ.

Hành hạ thể xác rất hiếm gặp trong quá trình tham vấn nhưng có số trường hợp còn lưu lại trong trí nhớ của tôi. Khoảng 9 giờ sáng hôm đó, Stephen và Olivia bước vào văn phòng của tôi theo lịch hẹn. Họ khoảng 40 tuổi, Stephen có vẻ cố kìm nén một cách không bình thường còn Olivia thì tái nhợt và hoảng loạn. Tôi nhận thấy một vết bầm trên gò má cô.

Họ ngồi xuống ghế, không nói với nhau và cả với tôi một lời nào. Khi tôi hỏi họ điều gì đã xảy ra, Stephen bắt đầu thuật lại vụ xô xát tai hại đêm hôm trước. Theo lời anh ta, Olivia đã khiêu khích anh ta. Stephen nói:

“Chúng tôi nói về chuyện tiền nong. Tôi cố gắng giải thích cho Olivia hiểu những áp lực tiền bạc đang đè nặng lên tôi. Tôi muốn cô ấy thấy là tôi đang oằn lưng dưới gánh nặng. Tôi cảm thấy mình nguy đến nơi và muốn được trợ giúp”.

Anh ta ngước mắt lên trần nhà, hít một hơi thở sâu và tiếp tục: “Trong khi tôi nói, cô ấy khoanh tay và cười chế nhạo. Cô ấy có cái lối nhìn tôi bằng nửa con mắt, như muốn đóng đinh tôi vào tường. Rồi cô ấy nói rằng, nếu tôi cảm thấy buồn bực, sao không tìm quách một nghề khác lương lậu cao hơn, rằng cô ấy muốn phát ốm vì phải nghe tôi phàn nàn về chuyện tiền nong. Trước khi tôi kịp hiểu điều gì xảy ra, tôi đã tát vào mặt cô ấy. Cô ấy đánh lại tôi và chúng tôi lao vào nhau. Chúng tôi cùng ngã xuống sàn rồi cô ấy túm tóc tôi mà sỉ vả thậm tệ. Tôi lại đánh cô ấy và cả hai chúng tôi như những kẻ mất trí”.

Stephen và Olivia cũng đã từng có nhiều trận cãi vã, lời qua tiếng lại trong suốt 13 năm chung sống, nhưng đây là lần đầu tiên họ “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”. Cả hai đều bị sốc do cuộc đối đầu đầy bạo lực không dự kiến này.

Đối với hầu hết các cặp vợ chồng, một vụ bùng nổ như thế là khá hiếm. Thông thường hơn cả là họ bóp nghẹt cơn giận dữ của mình và để nó thoát ra thành những lời chì chiết đay nghiến.

Đó là trường hợp của Elizabeth và Frank, một cặp vợ chồng mà tôi đã gặp trong cùng một ngày, muộn hơn một chút so với Stephen và Olivia. Như trùng hợp ngẫu nhiên, họ cũng mới cãi nhau hôm trước, nhưng họ chỉ giới hạn cuộc đối đầu trong những lời lẽ cục cằn. Cuộc tranh cãi của họ là về ngôi nhà mới mà họ sắp xây dựng. Elizabeth đã thuê một họa sĩ trang trí nội thất vẽ kiểu cho căn bếp của ngôi nhà và nghĩ rằng đây là lãnh địa của cô. Chồng cô nổi giận vì cô đã không tham khảo ý kiến anh về việc đó. Tiền không thành vấn đề vì họ tương đối khá giả. Điều làm anh ta nổi giận chỉ là cô đã hành động không có sự bằng lòng của anh.

Một điều đáng chú ý ở trường hợp này là sức mạnh tàn phá của sự chỉ trích. Kể lại với tôi về mức độ nặng nề của cơn giận dữ của chồng cô, Elizabeth nói: “Những lời giận dữ của anh ấy đổ như mưa lên đầu tôi. Tôi cảm thấy đau đớn rã rời cho đến khi anh ấy thôi nhiếc móc tôi”. Chồng cô đã không đánh đập cô, nhưng tâm hồn cô cảm thấy chẳng khác gì như vậy khi bị anh sỉ vả. Không có một cái tát nào nhưng cô như bị bắn nát bởi sự thù địch và những lời chỉ trích. Ở mức độ vô thức, Elizabeth cũng cảm nhận nỗi đau đớn và sợ hãi chẳng khác gì Olivia, người bị đánh thâm tím mặt mày.

Cơn giận có thể khó phát hiện hơn nếu nó mang bộ mặt kiềm chế. Một năm trước đây, tôi có dịp làm việc với một cặp vợ chồng, Barbara và Allen.

Allen là một giáo viên trường cao đẳng còn Babara làm nội trợ. Họ đến tìm tôi vì họ lo lắng về nỗi phiền muộn lặp đi lặp lại của Barbara. Mấy năm gần đây, Barbara tỏ ra uể oải, mệt mỏi, thờ ơ cả với chuyện gối chăn. Ngay từ đợt chữa trị đầu tiên, Allen đã thổ lộ rằng sự ủ rũ của vợ làm anh cảm thấy chán cô. Mấy tuần sau nữa, anh mới thú thật rằng anh cảm thấy nguy hiểm vì có quan hệ với một nữ giáo viên khá hấp dẫn và đã ly dị chồng. Anh thú nhận. “Mọi chuyện dường như tạo cơ hội tốt cho chuyện đó”.

Một ngày gần cuối một đợt chữa trị, Allen và Barbara đã chọc thủng lớp băng. Khi chỉ còn vài phút nữa là kết thúc, cô nhìn đồng hồ đeo tay và nói rằng có một vài điều làm cô lo âu và cô muốn nói về chúng. Cô ngưng một lát rồi thu hết can đảm nhìn tôi và Allen: “Tuần vừa rồi, tôi có một giấc mơ đáng sợ, tôi muốn kể lại với ông. Tôi mơ rằng tôi đến đây để chữa trị một mình. Trong mơ, ông hỏi tôi rằng phải chăng có điều gì đó mà tôi không muốn biết và cũng không thể nói về nó. Và tôi đã nói với ông một điều nằm sâu trong đáy lòng tôi… tôi muốn giết Allen”. Cô lấy một hơi thở ngắn như thể có cái gì chẹn trong dạ dày. “Ngay khi mơ đến chỗ đó thì tôi tỉnh dậy. Tôi cảm thấy hốt hoảng và bối rối. Tôi đâu có muốn giết Allen? Tôi yêu anh ấy. Anh ấy đâu có làm hại gì tôi? Ông hãy giúp tôi xác định xem giấc mơ ấy là như thế nào?

Barbara đã nhận ra một điều mà tôi đã đôi lúc cảm thấy: cô giận dữ một cách bí mật. Cô kiềm giữ cơn giận trong lòng và che giấu nó đối với Allen và với cả cô, biến cơn giận thành sự phiền muộn ủ rũ nhưng để trấn áp cơn giận, cô cũng mất luôn cả cảm giác ngon miệng khi ăn, cả ham muốn ái ân, cả niềm vui khi chơi đàn piano, cả những kích thích mới mẻ – nó rút hết năng lượng sống của cô và bóp nghẹt cô.

Lý do cô sợ hãi cơn giận của mình, như sau này tôi có dịp khám phá là cô đã liên hệ một cách vô thức cơn giận với sự ruồng bỏ. Khi còn là một đứa trẻ, cô đã đóng vai trò “đứa con gái ngoan” tương phản với bà chị của cô, người luôn luôn có thái độ thù địch và nổi loạn. Bà chị cô thường trừng phạt nghiêm khắc những hành vi của cô và cô rất sợ để lộ cơn giận của mình, vì ngay cả điều đó cũng khiến cô bị trừng phạt ngay lập tức. Cô phải giấu diếm cơn giận đối với cha mẹ cô, chị cô và sau đó là với chính cô. Kết quả là cô sống một nửa con người mình trong bóng mờ. Cũng như lúc còn thơ, cô đi tìm lối thoát cho mình và giờ đây lối thoát ấy là cuộc hôn nhân của cô với Allen.

Sức mạnh phá hủy của Cơn giận

Câu chuyện trên minh họa một điểm quan trọng. Cơn giận phá hủy mối quan hệ, bất kể nó diễn ra dưới hình thức nào. Khi cơi giận bộc lộ, người tiếp nhận cơn giận cảm thấy bị tấn công thô bạo, dù có hay không có các hành vi bạo lực – tâm thức cũ của chúng ta không phân biệt ngôn ngữ và vũ khí. Sau đó, do cơ cấu lạ lùng của vô thức, người nổi giận cũng cảm thấy bị tấn công, vì ở mức độ sâu xa, tâm thức cũ chuyển tất cả các hành động trở thành hướng nội. Khi chúng ta làm người bạn đời đau đớn, chúng ta cũng đau đớn như thế.

Trong những lời tiên tri của Kinh Thánh, ta đọc thấy: “Những gì ngươi đổ xuống cho kẻ khác cũng sẽ đổ xuống trên ngươi”. Khi cả hai phía cảm thấy bị tấn công, sẽ xuất hiện sự thụt lùi trong mối quan hệ. Chẳng có con đường nào để hai cá nhân bị tổn thương ấy sống trong hòa bình như trước, ngoại trừ sự xã giao bề ngoài. Sự thân mật không thể có vì không có sự an toàn. Tâm thức cũ sẽ không cho phép bức tường phòng thủ của nó bị xuyên thủng.

Như ta đã thấy, cơn giận bị kìm nén sẽ có tiếng dội tiêu cực tương đương. Cơn giận bộc lộ tạo ra một hiểm nguy tức thời còn cơn giận kìm nén sẽ tạo ra một cuộc hôn nhân trống rỗng. Sự uể oải ủ rũ của Barbara đã xô đẩy chồng cô tìm con đường thỏa mãn những ước muốn của mình ở bên ngoài quan hệ hôn nhân.

Tôi có kinh nghiệm đầu tiên về sức mạnh phá hủy của cơn giận bị kìm nén vì tôi đã phải trải qua 33 năm đầu tiên của đời tôi đầy phiền muộn, và sự chán nản, ngã lòng cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi đến chỗ đổ vỡ. Lý do cho nỗi phiền muộn ở tuổi thanh xuân là tôi không được sống thực với những đau khổ và giận dữ của mình. Tôi vẫn còn kinh ngạc vì mình có thể bị mất cả cha lẫn mẹ lúc lên 6 tuổi mà không cảm thấy tuyệt vọng, hay quá đau đớn. Khi mẹ tôi đột ngột qua đời vì một tai nạn, thậm chí tôi cũng không khóc. Các anh chị tôi khen tôi là “thằng bé can đảm”. Với lôgic trẻ con, tôi đã chuyển nội dung lời khen đó theo hướng: “Mày sẽ là người có giá trị nếu như mày tỏ ra xa lạ với những nỗi đau khổ của mày”.

Sau này, tôi đã nhận thức được bài học ấy theo góc độ khác: Ở tuổi thanh niên, tôi đã có dịp nhìn lại những năm đầu đời và cảm thấy may mắn khi cha mẹ tôi mất sớm, vì như vậy tôi có cơ hội rời bỏ nông thôn ra thành phố sống với chị tôi, nơi tôi có được một sự giáo dục tốt hơn.

Điều huyền hoặc này có những chức năng của nó, mà chức năng đầu tiên là nó giúp tôi đi qua tuổi thơ như bị gây mê – tê cóng và vô cảm với nỗi đau khổ vì bị bỏ rơi. Tôi tự vẽ ra những “may mắn”, rằng mình không phải là một đứa trẻ mồ côi khổ sở, và kết quả là tôi chẳng có lúc nào cảm thấy phải than khóc cho số mệnh. Nhưng những cảm xúc bị kìm nén ấy đã trỗi dậy tàn phá cuộc hôn nhân của tôi. Bởi vì một phần căn bản thực thể của tôi đã bị cắt lìa, tôi đã không sống đầy đủ con người mình. Tôi chẳng có bao nhiêu cảm giác tha thiết nội tâm đối với sự dịu dàng săn sóc – hướng đến bản thân tôi cùng như đến người khác. Một cách vô thức, tôi tìm kiếm ở người vợ của tôi những gì mà tôi thiếu. Tôi khao khát sự gần gũi cả về xúc cảm lẫn thể xác ở mức độ cao, nhưng vợ tôi không mang lại cho tôi đầy đủ như tôi mong muốn – một phần bởi vì cô ấy bị ấn tượng rằng tôi là một kẻ lạnh lùng, đòi hỏi, xa cách, không bao giờ thỏa mãn. Đó là một vòng luẩn quẩn. Tôi càng mong muốn, vợ tôi càng lảng tránh.

Một trong những thời điểm đáng kể nhất trong mối quan hệ của chúng tôi là ngay sau khi bố vợ tôi qua đời. Chúng tôi ở trong phòng ngủ. Vợ tôi khóc vùi vì đau khổ trước tang tóc. Tôi phải khó khăn lắm mới có thể bày tỏ sự chia sẻ. Tôi vòng tay quanh vai cô an ủi nhưng cả người tôi cứ cứng đơ và hờ hững. Lý do khiến tôi không thể đáp ứng cho vợ tôi là vì tôi đang trải qua cuộc đấu tranh nội tâm. Một phần con người tôi biết rằng cô đau khổ vì cái chết của bố là đúng, nhưng phần kia của con người tôi lại cho rằng: “Chuyện ấy đâu đến nỗi như vậy?”. Tôi đã mất cả cha lẫn mẹ cùng lúc và chẳng cảm thấy đau khổ bao nhiêu. Vậy tại sao cô ấy lại dễ xúc động đến thế?

Vài năm sau đó, lần đầu tiên tôi đến gặp một bác sĩ tâm lý không phải vì tôi cần điều trị tâm lý, mà vì phân tích tâm lý là một phần trong tiến trình tự đào tạo của tôi. Trong buổi gặp đầu tiên, vị bác sĩ tâm lý đó hỏi tôi về cha mẹ tôi. Tôi kể rằng họ đã qua đời khi tôi còn rất nhỏ, nhưng kết quả là tôi gặp may mắn lớn. Vì cha mẹ mất, tôi được sống với chị tôi, được ra thành phô, được học hành, vân vân…

Ông ta đột ngột cắt ngang lời tự thuật dài dòng của tôi: “Hãy kể về cái chết của mẹ anh”.

Tôi bắt đầu kể mẹ tôi chết như thế nào, nhưng không hiểu tại sao cổ họng tôi khô rang và nghẹn lại.

“Kể về đám ma của bà ấy vậy”. Bác sĩ bảo tôi:

Tôi lại cố gắng mở miệng một lần nữa. Rồi, chính tôi hết sức ngạc nhiên thấy mình òa lên khóc không sao cầm lại được. Tôi, một gã đàn ông 33 tuổi, òa khóc như một đứa trẻ sáu tuổi. Một lúc sau, bác sĩ tâm lý của tô dịu dàng bảo: “Bây giờ anh mới bắt đầu than khóc cho cái chết của mẹ anh đấy!”

Một khi đã được trải nghiệm nỗi đau của chính mình và cơn giận dữ không thể tránh khỏi đi kèm với nó, tôi bắt đầu thay đổi. Tôi ít lo lắng cho bản thân hơn. Tôi quan tâm hơn đến nỗi đau của người khác. Và lần đầu tiên, theo ký ức có ý thức của tôi, tôi cảm thấy được sống đầy đủ. Tôi biết mình là ai và ở vị trí nào, tôi cảm nhận được những nhịp đập cảm xúc của trái tim mình. Khi mọi xúc cảm của tôi được mở, tôi bắt đầu giàn hòa với thế giới.

Ý tưởng rằng mỗi người cần được tiếp xúc với nỗi đau và cơn giận dữ của chính mình đi ngược lại những giáo huấn nghiêm khắc. Khi trẻ con khóc vì mệt mỏi hay thất vọng, thông thường các bậc cha mẹ làm ngơ hoặc đánh chúng, trêu chọc chúng, hoặc la hét bắt chúng im lặng. Một thiếu niên đóng sầm cửa phòng riêng trong cơn giận dữ thường bị quở mắng, bắt phải xin lỗi, hoặc bị từ chối một số điều mong muốn. Hình phạt dành cho cơn giận dữ ở mỗi gia đình khác nhau – trong một số gia đình, ngay cả một ánh mắt giận dữ cũng bị cấm đoán – nhưng có thể nói, đa số chúng ta lớn lên với ý tưởng rằng giận dữ là cảm xúc xấu, gây đổ vỡ, hoặc không được phép. Lựa chọn của chúng ta là hoặc biểu lộ cơn giận dữ và đương đầu với hậu quả của nó, hoặc nhấn chìm nó sâu hơn trong tâm hồn ta với hy vọng rằng như thế nó sẽ không gây hại gì cho ta hay bất cứ ai khác.

Nhưng nếu ta chọn cách nhấm chìm cơn giận dữ, chúng ta cũng sẽ nhấn chìm cả khả năng yêu thương của mình, vì tình yêu và cơn giận chỉ là hai mặt của một đồng xu. Chúng không phải là hai thực thể tách biệt, một cái tốt và một cái xấu. Thực tế, chúng là cùng một nguồn sinh lực được thể hiện dưới hai lớp vỏ. Cảm giác bay bổng sung sướng ngập tràn thời ấu thơ và thoáng xuất hiện trở lại khi chúng ta “phải lòng” ai đó cũng chính là cảm giác cuồng nộ khi chúng ta lao vào người bạn đời của mình trong một cuộc cãi cọ chiều cuối tuần. Khi chúng ta cảm thấy vui sướng, đó là vì sức sống của chúng ta được nổ bùng. Khi chúng ta cảm thấy giận dữ, đó là vì sức sống của chúng ta bị ngăn chặn. Chúng ta giận dữ vì những triển vọng của cuộc sống bị chối bỏ.

Ý tưởng của sự kiềm chế

Cơn giận dữ là một biểu hiện sinh động của năng lượng sống là điều hiển nhiên. Khi kìm nén sự giận dữ, chúng ta trở nên mệt mỏi, thất vọng, hay lặng lẽ âm thầm. Mặt khác, nếu thả lỏng cơn giận dữ, chúng ta sẽ gây tổn thương cảm xúc hay thể xác cho những người khác. Làm sao chúng ta có thể giải thoát cơn giận dữ mà không làm tổn thương những người ta yêu? Câu trả lời là: một quá trình kiềm chế.

Để hiểu được ý nghĩa của từ “kiềm chế” chúng ta hãy lấy ví dụ về sức công phá mạnh mẽ của xăng. Hãy đổ một ít xăng lên sàn và ném một que diêm cháy dở lên đó. Ngay lập tức, một ngọn lửa điên cuồng bùng lên. Bây giờ cùng một thứ xăng ấy được đổ vào một động cơ đốt trong với liều lượng vừa đủ. Một tia lửa điện lóe lên đúng lúc, và động cơ bừng sống. Năng lượng đó có thể dùng để chạy xe hơi, hay máy bay. Qua “quá trình kiềm chế”, một chất đốt có sức phá hủy tiềm tàng đã được biến thành một dạng năng lượng sử dụng được. Bạn cần có một quá trình tương tự với những cơn cuồng nộ trước đây. Sự giận dữ của chúng ta cần được giải tỏa với từng liều lượng vừa phải, đốt cháy trong một môi trường an toàn, và biến đổi trở lại thành eros, dạng năng lượng nguyên thủy của đời sống.

Các bài tập được tạo ra để làm nhẹ bớt cơn giận dữ là tương đối mới mẻ trong lĩnh vực điều trị tâm lý. Trước đây, một nhà phân tích tâm lý thường xoa dịu cơn giận dữ và sợ hãi bằng cách làm cho thân chủ nhận thức được chúng. Thân chủ được khuyến khích liên tưởng tự do và nói ra bất cứ điều gì chợt đến trong đầu. Nhà phân tích tâm lý dùng những lời bình luận dẫn giải được sắp xếp sẵn để trả lời trong lúc thân chủ đang thai nghén các ý tưởng, để nối kết những ý tưởng có vẻ rời rạc. Kết quả lý tưởng sẽ là khi những nhận xét được chọn thời điểm cẩn thận này đem lại cho thân chủ sự nhận thức nội tâm. Nếu thân chủ cảm thấy khổ sở trong khi diễn tả lại cơn giận dữ, hoặc sống lại một sự kiện đau lòng nào đó, bác sĩ tâm lý cũng vẫn đáp ứng theo cùng một cách thức được kiểm soát kỹ như vậy. Không có một cố gắng nào về phía nhà phân tích tâm lý để gợi mở một đáp ứng cảm xúc lớn hơn hay nhẹ hơn.

Một bác sĩ tâm lý trường phái Gestalt sẽ đáp ứng trực tiếp hơn. Ông ta sẽ lợi dụng ngay cơ hội thể hiện sự giận dữ của thân chủ để áp dụng phương pháp gọi là “Đối thoại hai chiếc ghế”. Thân chủ được yêu cầu ngồi đối diện một chiếc ghế trống và tưởng tượng ra người gây ra cơn giận dữ hay sự đau buồn của mình đang ngồi trên chiếc ghế đó. Thân chủ được khuyến khích cường điệu cơn giận dữ hoặc phá vỡ cảm giác bị tổn thương để thể hiện sự giận dữ bằng cách ném một chiếc gối hoặc vung một cây gậy về phía kẻ vô hình kia. Bằng phương pháp gợi ý này, những ý tưởng giận dữ hay buồn phiền của thân chủ được biến đổi thành một tâm trạng phấn chấn về cảm xúc và thể chất, và hướng về một mục tiêu chủ yếu. Về lý thuyết, phải có sự giảm sút rõ rệt, “những mối bận tâm chưa được giải quyết” của thân chủ.

Một bác sĩ tâm lý theo trường phái “Kịch tâm lý” sử dụng một đường lối hơi khác. Người điều trị tâm lý giống như đạo diễn của một vở kịch, chỉ dẫn cho thân chủ phân vai cho một dàn diễn viên. Thân chủ đóng vai nhân vật chính, rồi lại đóng vai cha mẹ, anh chị em, bạn bè hoặc thủ trưởng cơ quan của nhân vật chính, rồi trở lại vai nhân vật chính của mình để đối đáp với những nhân vật tưởng tượng kia. Kỹ thuật này cũng đem lại sự giải tỏa cảm xúc và nhận thức nội tâm như phương pháp trên.

Dây chuyền kiềm chế

“Dây chuyền ứng xử kiềm chế” là một bài tập giúp kiềm chế sự giận dữ mà tôi đã sửa đổi để phù hợp với một cặp vợ chồng. Mục đích của nó là cho phép bạn thể hiện cảm giác giận dữ mà người bạn đời của bạn không chống đối lại nó, vô hiệu hóa nó hay chối bỏ nó. Thay vì cãi cọ về nguyên nhân của sự giận dữ, người bạn đời của bạn sẽ được rèn luyện để nhận thức sự tồn tại của nó: “Đúng, em thấy rằng anh đang rất giận dữ”. Khi người bạn đời của bạn chăm chú lắng nghe, giải thích rõ các nhận xét của bạn, và nhận thức sự tồn tại những cảm xúc mạnh mẽ đó, nhu cầu được quan tâm của bạn sẽ được thỏa mãn và cơn giận dữ sẽ tan biến. Bài tập này không phải nhằm loại trừ nguyên nhân của cơn giận dữ – điều này sẽ được thực hiện sau đó bằng cách đề nghị một thay đổi đặc biệt trong hành vi ứng xử. Bài tập này chỉ nhằm khẳng định thực tế tồn tại của các cảm xúc của bạn.

Khi người bạn đời của bạn trở nên giận dữ và đến lượt bạn là người phải kiềm chế, bạn cũng có lợi trong việc thực hiện bài tập này, vì bạn sẽ học được cách ngăn chặn phản ứng phòng thủ của mình. Nhận thức sự giận dữ của người bạn đời không có nghĩa là bạn đồng tình hay chấp nhận những lời buộc tội của người ấy. Bạn chỉ hiểu rằng người đó đang giận dữ, khẳng định tâm trạng xúc cảm của người đó.

Điều thiết yếu là bài tập này ở trình độ hoàn chỉnh của bài tập “Soi gương” (mô tả ở chương 9), do đó bạn không nên thử nếu các bài tập trước chưa nhuần nhuyễn. Sự khác biệt chủ yếu giữa hai bài tập là trong bài tập Dây chuyền kiềm chế, người đưa ra thông tin có những cảm xúc mạnh hơn. Cường độ cao này đòi hỏi ba nguyên tắc cơ bản:

1. Không bên nào được rời khỏi phòng cho đến khi bài tập hoàn tất.

2. Không bên nào được phá hủy đồ đạc hay đụng chạm vào người kia với tính cách thù địch.

3. Người đang giận dữ chỉ được giới hạn những nhận xét của mình trong sự mô tả các hành vi ứng xử, chứ không mô tả tính cách của người kia. Nói cách khác, người đang giận dữ chỉ được nói: “Em rất giận vì anh không về nhà đêm hôm qua”, chứ không được nói: “Một con người đê tiện như anh mới đi suốt đêm không về nhà” (Xem chỉ dẫn chi tiết ở Phần Ba).

Một biến thể của bài tập này mà tôi áp dụng cho một số thân chủ của tôi là bài tập “Thực hành kiềm chế”. Điều cơ bản là: Bài tập “Thực hành kiềm chế” chính là bài tập Dây chuyền ứng xử kiềm chế được kéo dài trong 24 tiếng đồng hồ. Trong một ngày, một người đóng vai người kiềm chế và người kia được quyền phát biểu bất kỳ hoặc tất cả những thất vọng của mình. Người kiềm chế phải lắng nghe, diễn giải, duy trì và ủng hộ sự phát biểu đó, mà không chỉ trích, ngăn cản, thủ thế với những nỗi thất vọng của riêng mình. Khi đến lượt bạn bày tỏ sự thất vọng, bạn sẽ có cơ hội làm quen tốt hơn với chiều sâu của những cảm xúc của mình. Một số cảm xúc trỗi lên mặc dù chúng chưa bao giờ xuất hiện trước đấy vì chưa có đủ độ an toàn. Nói theo một nghĩa nào đó, bài tập này cho phép chúng ta trở lại làm một đứa trẻ, nhưng lần này là với một bậc phụ huynh biết tôn trọng và hỗ trợ… Sự thoái lui về thời thơ ấu trong môi trường an toàn và đầy yêu thương này có tác dụng chữa trị rất hiệu quả.

Khi bạn lại đóng vai người kiềm chế, bạn sẽ học trở nên thành thạo hơn trong ứng xử không-phản-ứng. Bạn sẽ học được rằng cơn giận dữ của người bạn đời sẽ không làm hại bạn. Bạn sẽ bắt đầu diễn đạt cảm xúc của mình đầy đủ hơn, vì mỗi người đều đã bớt nhạy cảm trước sự giận dữ. Cuối cùng bạn sẽ phát triển một cảm nhận rõ ràng hơn về những giới hạn không được vượt qua, hiểu rằng bạn không cần bị lôi cuốn vào tâm trạng cảm xúc của người bạn đời.

Xét lại Xung đột lõi

Một kỹ thuật mà tôi thường áp dụng với những cặp trải qua nhiều lần cùng một sự thất vọng được gọi là “Xét lại xung đột lõi”. Bài tập này nhằm làm giảm cường độ và mật độ của những xung đột, đối đầu, những trận ẩu đả và cãi cọ đau đớn như tôi đã kể trong trường hợp của Stephen và Olivia, hay Frank và Elizabeth ở đầu chương, những va chạm có tính chất tàn phá đối với khí hậu của cuộc hôn nhân. Những xung đột “lõi” – xảy ra khi sự thích ứng tuổi thơ của người này đối chọi với sự thích ứng tuổi thơ người kia, khiến cho cuộc va chạm gây đau đớn gấp bội. Một xung đột điển hình kết thúc không lối thoát với cả hai người trong cảm giác đau đớn sâu sắc, ta gọi là xung đột “lõi”.

Deborah và Jack thường có những cuộc cãi cọ đến ba giờ sáng. Nó không hung hăng, bùng nổ, mà gây mỏi mệt, kiệt quệ và lặp đi lặp lại, không có giải pháp nào, kéo theo nhiều ngày buồn phiền sau đó.

Khi đã qua 4 hoặc 5 bản sao của cùng một cuộc xung đột “lõi”, Jack và Deborah đã thấy rằng mọi cuộc va chạm của họ đều có nhiều điểm chung. Ban đầu họ còn thấy ngộ nghĩnh khi rút ra một mẫu số chung cho những cuộc cãi cọ của mình, nhưng rồi cảm giác buồn rầu bắt đầu len vào. Jack nói: “Tôi chẳng thấy hay ho chút nào. Tại sao chúng tôi cứ lặp đi lặp lại cái vòng luẩn quẩn đó?”.

Xung đột “lõi” của họ như thế này: Jack đi làm về lúc 5 giờ chiều, gặp ngay Deborah đang chờ để yêu cầu anh làm một số việc nhà. Jack đồng ý, nhưng anh khất lần mãi suốt buổi tối. Và anh càng lần lữa, Deborah càng cằn nhằn đòi hỏi. Jack tiếp tục làm ngơ để chăm chú vào những trò giải trí riêng cho đến khi Deborah nổi cơn điên và la hét đầy kích động. Khi không thể bình yên được nữa, anh đứng lên bỏ đi khỏi nhà. Cảnh cuối cùng là khi Jack say xỉn về nhà rất muộn, và Deborah lại vào tấn công với những lời chỉ trích nặng nề trong khi Jack cố gắng xoa dịu hoặc tảng lờ. Cuối cùng, đã mệt rũ với vở bi kịch đó, họ quay lưng lại với nhau trong nỗi thất vọng.

Nếu tìm kiếm mẫu người như Deborah và Jack trong bất cứ cuốn giáo khoa tâm lý học nào, bạn sẽ thấy Jack được mô tả là “gây hấn-thụ động”. Anh ta tức giận vì Deborah xâm phạm quá nhiều vào cõi riêng tư của anh ta, nhưng lại sợ thể hiện trực tiếp cơn giận đó. Thay vì như vậy, anh ta trốn tránh, lợi dụng vô số lối thoát. Deborah lại được gọi là mẫu người “gây hấn-hiếu chiến”. Cô xông thẳng tới phía trước bằng những đòi hỏi và sự giận dữ. Yếu tố cơ bản nhất trong xung đột của họ là Deborah càng tấn công, Jack càng rút lui, Deborah càng cảm thấy bị bỏ rơi. Cơn giận của cô trước tính thụ động của Jack thực ra là nỗi hoảng hốt trá hình. Cô kinh sợ trước viễn cảnh bị bỏ rơi ở nhà một mình, và sự trơ lì của Jack khiến cô cảm thấy như thể đang giao tiếp với một người không tồn tại, một bóng ma ảo mờ không có thật.

Tôi giải thích cho Jack và Deborah rằng, để giải thoát khỏi ngõ cụt, họ phải viết lại vở kịch xung đột của họ, từng lời một, trên giấy trắng mực đen, để khi màn hạ, họ sẽ ôm hôn nhau thay vì ẩu đả nhau. Họ sẽ phải đọc đi đọc lại kịch bản tưởng tượng đó đến khi cảm thấy quen thuộc với nó y như kịch bản thực tế đáng buồn kia.

Chỉ cần nhận ra khi nào họ bắt đầu đi vào cái vòng luẩn quẩn xung đột cũng đã là một tiến bộ đáng kể. Khi đó, bất cứ thay đổi nào cũng có ích, để họ không tái diễn vai tuồng cũ một lần nữa. Deborah có thể bớt hung hăng hơn, tôn trọng yêu cầu “được yên thân” của Jack, không đòi hỏi thêm sau một vài lần nhắc nhở. Phản ứng rút lui của Jack cũng không cần thiết nữa. Anh có thể uống ít rượu hơn, hoặc không bỏ nhà đi, và cuối cùng sẽ hợp tác.

Mặt khác, Jack có thể thay đổi thành một con người mạnh mẽ hơn. Nếu không muốn làm, anh có thể nói: “Không. Anh bận những công việc khác”. Deborah có thể bị bất ngờ lúc đầu, nhưng nếu Jack khăng khăng như vậy, cuối cùng cô sẽ thấy nhẹ nhõm. Thực ra cô không cần sự phục tùng của anh, cô chỉ cần một người chồng mạnh mẽ, có nghị lực.

Việc xác định một xung đột “lõi”, sau đó là những dị bản, là một phương thức hiệu quả. Khi một cặp vợ chồng có thể khách quan hóa những xung đột giữa họ, định dạng các yếu tố “lõi” và sáng tạo những lựa chọn mềm dẻo, họ có thể nắm được khả năng kiểm soát một trong những sức mạnh tàn phá tiềm tàng nhất cuộc hôn nhân của họ. Mặc dù không phải bài tập này cũng như bài tập “Dây chuyền kiềm chế” được tạo ra để lần đến cội rễ những vấn đề rắc rối của một cặp vợ chồng – có lẽ bài tập “Giải tỏa” ở chương trước có tác dụng hơn – nhưng cả hai bài tập này đều có thể làm giảm bớt tác động tàn phá của cơn giận dữ.

Kiềm chế hoàn toàn

Bài tập cuối cùng mà tôi muốn mô tả, bài tập “Kiềm chế hoàn toàn” này sẽ giúp bạn tiếp xúc với cơn giận của mình và nối kết nó với những nguồn gốc thời thơ ấu của nó. Bài tập này có tác dụng tốt với những người kìm nén cơn giận cũng như với những người biểu lộ cơn giận công khai.

Tôi phải lưu ý rằng, bài tập này, không như những bài tập khác, yêu cầu sự theo dõi trực tiếp của bác sĩ tâm lý. Bạn cũng không thấy nó ở Phần Ba của cuốn sách. Tôi sẽ mô tả nó bằng một ngôn ngữ phổ thông vì dù sao, điều đó cũng giúp bạn hiểu biết rõ ràng hơn về vai trò của cơn giận dữ trong cuộc hôn nhân .

Bài tập “Kiềm chế hoàn toàn” đặt cơ sở trên bài tập “Hai chiếc ghế” của trường phái Gelstalt mà tôi đã mô tả ở trên. Một khác biệt quan trọng là bài tập “Kiềm chế hoàn toàn” có hai diễn viên, chứ không phải một người và một chiếc ghế trống.

Tôi hướng dẫn người chồng hoặc người vợ vừa trải qua một cơn giận dữ hoặc một cảm xúc đau khổ do tác dụng tàn phá của cơn giận, bắt đầu bài tập bằng cách tìm kiếm sự kiện “khởi động” cơn giận, sự kiện đã kích động bất ngờ những cảm xúc mạnh mẽ. Tôi giúp người đó “leo thang” cảm xúc và nối kết chúng với những kinh nghiệm tuổi thơ – những kinh nghiệm đã mang lại tiềm năng cho chúng. Việc tạo ra “kênh” tiếp xúc với những xúc động nguyên thủy đó sẽ giúp thân chủ của tôi trở nên toàn vẹn hơn, thống nhất và nối kết hơn với nguồn năng lượng cốt tủy của đời sống.

Người chống đỡ cơn giận, mặt khác, có vai trò quan trọng trong vở kịch, sẽ khuyến khích người kia đào sâu hơn nữa vào nỗi đau khổ và sự giận dữ. Thay vì “chào thua” tâm thức cũ để rồi trả đũa hoặc chạy trốn, người chống đỡ được khuyến khích để níu giữ những xúc cảm mạnh mẽ của người bạn đời. Thay vì nói: “Thôi đủ rồi, tôi không muốn nghe thêm một lời khó chịu nào nữa!”, người chống đỡ sẽ nói: “Em cứ nói tiếp đi. Anh muốn biết tất cả những cảm xúc của em”, và như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơn giận “leo thang”. Để làm điều này, người chống đỡ phải có một số lá chắn bảo vệ. Tôi yêu cầu người chống đỡ thư giãn, hít vài hơi thở sâu, vào vai một bậc cha mẹ hùng mạnh và khoan dung. Tiếp tục bài tập, khi người bộc lộ cơn giận đã chuyển hóa thành công cơn giận vào những cảm xúc đau khổ, tôi yêu cầu người chống đỡ hỗ trợ và an ủi người bộc lộ như thể an ủi một đứa trẻ nhỏ bị thương tổn tình cảm.

Bằng sự hỗ trợ nhằm gọi tên cơn giận dữ, dung chứa nó và sau đó là hồi sinh nỗi đau khổ ẩn chứa trong nó, người chống đỡ đã góp phần quan trọng chữa trị tâm lý người bạn đời.

Có một số bước thực hành để bài tập này phức tạp hơn, nhưng dù là để giảm thiểu hết mức các cơ hội “khởi động” cơn giận từ một hành vi nào đó hay là để loại trừ các xung đột tương lai, bài tập này cuối cùng cũng kết thúc trong một cảm xúc khoan dung và yêu thương. Việc “kiềm chế hoàn toàn” cơn giận sẽ tăng cường mối ràng buộc cảm xúc giữa hai cá thể trong quan hệ hôn nhân.

Những trang tiếp theo sẽ thuật lại quá trình thực hành bài tập “Kiềm chế hoàn toàn” của Marla và Peter, cặp vợ chồng mà tôi đã có dịp kể đầu chương này, cặp vợ chồng sống trong một thế giới êm đềm giả tạo. Nếu bạn nhớ lại, khi Peter và Marla có xung đột, họ đã thỏa thuận cắt đứt nhanh chóng cuộc khủng hoảng để gìn giữ sự yên tĩnh trong mối quan hệ hôn nhân. Sự cố bất ngờ mà Marla đưa ra trong đợt chữa trị đã đặt cơ sở cho bài tập “Kiềm chế hoàn toàn” được thực hành như một ví dụ điển hình. Không có những lời lẽ giận dữ. Không có những cái tát. Nhưng hố sâu ngăn cách giữa họ cũng tương tự. Để bắt đầu bài tập, tôi yêu cầu Marla thuật lại tóm tắt nhưng chính xác điều gì đã xảy ra.

menu
menu