[Sách dịch] Getting The Love You Want (Chương 6)

sach-dich-getting-the-love-you-want-chuong-6

Hiếm khi hoặc không khi nào một cuộc hôn nhân phát triển êm thấm thành một quan hệ cá nhân mà không trải qua khủng hoảng. Ý thức ra đời cùng với nỗi đau khổ.

Nguyên tác: Getting The Love You Want
Tác giả: Harville Hendrix, Ph.D.
Dịch giả: Phan Linh Lan và Phan Lưu Ly
nxb:   – – – – – –

Các giai đoạn của cuộc xung đột

Khi bạn bị mắc kẹt trong cuộc xung đột gia đình, cuộc sống đối với bạn xem ra thật lộn xộn. Bạn không biết đầu đuôi thế nào nữa. Bạn không có khái niệm gì về chuyện nó đã bắt đầu như thế nào và sẽ kết thúc như thế nào. Nhưng nếu đứng từ xa nhìn thì xung đột gia đình xảy ra theo một quá trình có thể đoán trước được, cùng lúc với những giai đoạn đau buồn vì một người bị chết hay mất đi. Nhưng người này không phải là người bằng xương bằng thịt, mà là một ảo ảnh của tình yêu lãng mạn.

Tới đầu tiên là cú sốc, một khoảnh khắc kinh sợ của sự thật khi cánh cửa bỗng mở và những ý nghĩ méo mó xâm nhập vùng ý thức của bạn: “Đây không phải là người tôi đã lấy”. Vào lúc đó, bạn nghĩ rằng cuộc hôn nhân này sẽ lặp lại nỗi cô đơn và đau đớn của tuổi thơ, chứ không phải là sự hàn gắn như bạn đã hình dung trước đây.

Sau cú sốc là sự chối bỏ. Sự thất vọng lớn lao đến nỗi bạn không cho phép mình thừa nhận sự thật. Bạn cố hết sức để rọi những tia sáng tích cục lên những tính cách tiêu cực của người bạn đời. Nhưng cuối cùng bạn cũng không duy trì được thái độ đó, và bạn cảm thấy mình bị phản bội. Hoặc người bạn đời của bạn đã thay đổi mạnh mẽ so với ngày hai người mới yêu nhau, hoặc từ hồi đó tới giờ, bạn luôn bị lừa dối về bản chất thật của người bạn đời. Bạn đau đớn, và mức độ đau đớn của bạn là mức độ khác biệt giữa ảo ảnh đẹp đẽ ban đầu và hình ảnh thực của người bạn đời.

Nếu bạn chịu đựng được giai đoạn giận dữ của cuộc xung đột, một số nọc độc tiêu đi và bạn bước sang giai đoạn thứ tư, giai đoạn mặc cả. Trong giai đoạn này người ta thường có những hành động mặc cả như: “Nếu anh bỏ rượu thì tôi sẽ ở nhà nhiều hơn” hoặc “Nếu cô để cho tôi nhiều thời gian đi bơi thuyền hơn, tôi sẽ chăm sóc các con nhiều hơn”. Các bác sĩ tâm lý hôn nhân có thể kéo dài không cố ý giai đoạn này của cuộc xung đột nếu họ giúp đôi vợ chồng đạt được những thỏa thuận ứng xử mà vẫn chưa đi tới cốt lõi của vấn đề.

Giai đoạn cuối cùng của cuộc xung đột là sự tuyệt vọng. Khi đôi lứa đã tới giai đoạn cuối cùng này, họ không còn hy vọng nào để tìm được hạnh phúc hay tình yêu trong mối quan hệ nữa; sự đau đớn đã đi quá xa. Ở thời điểm này, một nửa số các cặp vợ chồng đã từ bỏ tia hy vọng cuối cùng và đưa đơn ly dị. Những cặp vợ chồng nào vẫn không ly dị thì tạo nên cái gọi là hôn nhân “song song” và mỗi người cố tìm hạnh phúc cho riêng mình ngoài hôn nhân. Một số rất ít, có lẽ khoảng năm phần trăm con số các cặp vợ chồng tìm được lối thoát ra khỏi cuộc xung đột và tiếp tục xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Để dễ hiểu hơn, tôi trình bày vấn đề dưới hình thức đơn giản nhất. Đầu tiên, chúng ta chọn bạn đời vì hai nguyên nhân cơ bản:
1. Họ có cả những phẩm chất tích cực và tiêu cực của những người nuôi dưỡng ta.
2. Họ bù đắp những bản ngã tích cực của ta đã bị mất từ thời thơ ấu. Chúng ta bắt đầu một mối quan hệ mới với giả định của vô thức rằng người bạn đời của ta sẽ thay thế cha hoặc mẹ ta và bù đắp cho mọi mất mát trong thời thơ ấu của ta. Tất cả những gì ta phải làm để được hàn gắn vết thương là hình thành một mối quan hệ gần gũi và kéo dài.

Sau một thời gian, ta nhận thấy chiến lược của ta không có hiệu quả. Ta “yêu” nhưng vẫn không đạt được trạng thái toàn vẹn. Ta cho rằng lý do khiến kế hoạch của ta không thực hiện được là vì người bạn đời của ta không thèm biết đến những nhu cầu của ta. Điều này khiến chúng ta nổi giận và lần đầu tiên, ta nhận thấy những tính cách tiêu cực của người bạn đời. Chúng ta bèn dàn xếp rắc rối bằng cách chiếu rọi những nét tiêu cực bị chối bỏ của chính chúng ta lên người bạn đời. Khi tình hình trở nên tồi tệ, chúng ta cho rằng cách tốt nhất để bắt người bạn đời thỏa mãn nhu cầu của ta là tỏ ra khó chịu và bực bội, như khi chúng ta còn là đứa trẻ nằm trong nôi. Nếu ta hét lên thật to và thật lâu, ta tin rằng người bạn đời sẽ tới cứu giúp ta. Và cuối cùng, điều đã khiến cho cuộc xung đột gia đình trở nên độc hại là niềm tin vô thức rằng nếu ta không thể dụ dỗ hay ép buộc người bạn đời chăm sóc đến ta, ta sẽ phải đối mặt với nỗi sợ lớn nhất trong tất cả các nỗi sợ – nỗi sợ cái chết.

Điều có thể không rõ ràng ngay lập tức trong đoạn tóm tắt ngắn gọn này là: thực sự có rất ít khác biệt giữa tình yêu lãng mạn và xung đột gia đình. Ngoài bề mặt, hai giai đoạn đầu tiên này của một cuộc hôn nhân có vẻ khác nhau một trời một vực. Niềm vui sướng của người này đối với người kia đã trở thành thù hận và thiện chí của họ đã thoái hóa thành một cuộc chiến giữa những ước muốn, nhu cầu của hai bên. Nhưng điều quan trọng đáng lưu ý là dưới vẻ bề ngoài này, thực chất tình yêu và xung đột đều như nhau. Cả hai cá nhân đều đang tìm kiếm con đường đạt được sự toàn vẹn nguyên thủy, và họ vẫn giữ niềm tin rằng người bạn đời của họ có quyền lực làm họ trở nên khỏe mạnh và bạn đời của họ có quyền lực làm họ trở nên khỏe mạnh và toàn vẹn. Khác biệt chính là giờ đây người bạn đời được xem như người từ chối không trao tặng tình yêu. Điều này đòi hỏi phải thay đổi chiến thuật. Và thế là các ông chồng bà vợ bắt đầu làm tổn thương nhau, hoặc từ chối không tỏ ra vui vẻ và thân mật, với hy vọng người kia sẽ đáp lại bằng sự ân cần và tình yêu.

Đâu là con đường để thoát ra khỏi cái mê cung rối ren này? Điều gì ẩn giấu phía bên kia xung đột gia đình? Trong chương tiếp theo, “Trở nên ý thức”, chúng ta sẽ bàn về một hình thức quan hệ mới: “Hôn nhân ý thức” và xem nó có tác dụng giúp người vợ và người chồng thỏa mãn những khao khát tuổi thơ của nhau như thế nào.

 

Phần Hai:

 

HÔN NHÂN Ý THỨC

 

Chương 6:

TRỞ NÊN Ý THỨC

Hiếm khi hoặc không khi nào một cuộc hôn nhân phát triển êm thấm thành một quan hệ cá nhân mà không trải qua khủng hoảng. Ý thức ra đời cùng với nỗi đau khổ.
CG. JUNG

 

Lướt qua 5 chương đầu, bạn dễ có ấn tượng rằng: Tâm thức cũ là nguyên  nhân hầu hết các trục trặc trong hôn nhân. Tâm thức cũ khiến chúng ta lựa chọn người bạn đời như thể chọn người nuôi dưỡng mình. Tâm thức cũ là nguồn gốc của tất cả những phòng bị phức tạp của chúng ta – những sắp đặt, thay đổi, dàn xếp – làm mờ tối thực tại của chính chúng ta và của người bạn đời. Tâm thức cũ cũng chịu trách nhiệm về phản ứng ấu trĩ của chúng ta cho nỗi thất vọng, phản ứng “khóc – hoặc – chỉ – trích” sẽ chỉ dẫn đến mối bất hoà sâu xa hơn.

Nhưng đồng thời, tâm thức cũ cũng đóng một vai trò tích cực trong hôn nhân. Mặc dù một vài chiến thuật của tâm thức cũ có thể khiến nó tự huỷ hoại nhưng những nỗ lực chủ yếu của nó lại là thiết yếu cho hạnh phúc. Cố gắng vô thức nhằm chữa trị chấn thương cảm xúc của tuổi thơ cho phép chúng ta hiện thực hoá tiềm năng tinh thần của chúng ta như một con người, trở nên hoàn thiện và nhân ái, có khả năng giáo dưỡng kẻ khác. Và ngay cả những mưu toan, sắp đặt, dàn xếp có thể tạm thời làm chúng ta mù loà về người bạn đời, chúng cũng ràng buộc chúng ta, tạo ra những nền móng cho sự trưởng thành tương lai.

Vấn đề với tâm thức cũ là nó không được hướng dẫn, giống như một con thú mù loà cố gắng kiếm tìm con đường đến nguồn nước. Để thực hiện những mục tiêu có giá trị và quan trọng của tâm thức cũ, chúng ta cần tranh thủ sự trợ giúp của tâm thức mới – phần con người trong chúng ta đang lựa chọn, sử dụng ý chí, hiểu rõ rằng người bạn đời không phải là các bậc cha mẹ, hôm nay không phải là mãi mãi và dĩ vãng không phải là hiện tại. Chúng ta cần đến những kỹ năng duy lý mà chúng ta sử dụng trong những khu vực khác của đời sống, đem chúng vào mối quan hệ yêu đương. Một khi chúng ta theo đuổi việc liên kết những dẫn dắt bản năng và đầy uy lực của tâm thức cũ với sực mạnh sáng suốt và hiểu biết của tâm thức mới, chúng ta có thể bắt đầu hiện thực hoá những mục tiêu vô thức. Qua cuộc kết hợp giữa bản năng thuộc tâm thức cũ và sự hiểu biết của tâm thức mới, chúng ta có thể dần dần từ bỏ nỗi thất vọng của cuộc tranh chấp quyền lực ở phía sau lưng.

Kết hợp giữa tâm thức mới và tâm thức cũ

Đời sống hôn nhân sẽ biến đổi ra sao khi tâm thức mới đóng vai trò tích cực hơn? Sau đây là một ví dụ điển hình về tác động qua lại giữ những người chồng và người vợ trong một cuộc hôn nhân không ý thức, một quan hệ yêu đương điển hình bị thống trị bởi tâm thức cũ và trong một cuộc hôn nhân có ý thức, một quan hệ mà tâm thức cũ bị kiềm chế bởi lý trí.

Hãy tưởng tượng rằng bạn đang ăn bữa sáng ngon lành, đột nhiên chồng bạn chỉ trích bạn về món bánh bị cháy. Tâm thức cũ của bạn, người vệ sĩ thường trực cho bạn sự an toàn, tức khắc đẩy bạn vào cuộc cãi vã hay kéo bạn bỏ đi. Nó không để tâm rằng người vừa chỉ trích bạn chính là chồng bạn, tất cả mọi điều nó hướng tới chỉ là bạn đang bị tấn công. Trừ phi bạn can thiệp vào quá trình phản ứng của tâm thức cũ, thường thì bạn trả miếng tức khắc lời chỉ trích của chồng bạn: “Vâng, em làm cháy bánh, còn anh thì đổ nước ra bàn!”. Hoặc là bạn tìm cách tránh né cuộc đối đầu như bỏ ra ngoài hoặc cắm cúi đọc báo. Tuỳ thuộc vào cung cách của bạn, chồng bạn sẽ cảm thấy bị tấn công hay bị bỏ rơi và sẽ trả đũa. Một cỗ máy cảm xúc không dừng được đã vào số, và thế là bạn đi toi bữa ăn sáng lẽ ra thân mật, ngon lành và hạnh phúc.

Đó là một ca khá chính xác mà tâm thức mới có thể can thiệp vào diễn tiến và tạo ra một phản ứng ít kích động hơn. Một cung cách (cung cách này chúng tôi sẽ đi vào chi tiết ở chương sau) là diễn đạt ý kiến của chồng bạn bằng một giọng “trung tính”, thừa nhận nỗi bực bội của chồng bạn, nhưng không dẫn đến thái độ tự vệ của chính bạn. Ví dụ bạn có thể nói: “anh thấy món bánh này em làm dở quá phải không?” Chồng bạn có thể trả lời: “Phải, anh nghĩ thế. Anh thấy mệt mỏi vì những bữa ăn chẳng ra sao. Lần sau em nên cẩn thận hơn.” Và, vẫn dựa và sự khôn khéo của tâm thức mới, bạn có thể trả lời với cung cách không đề kháng tương tự như sau: “Anh nói đúng. Món bánh này bị hỏng. Em sẽ sửa lại vỉ nướng và sẽ làm lại vào bữa chiều và anh sẽ thấy nó ngon hơn nhiều”. Chồng bạn bị tước vũ khí bởi giọng nói dịu dàng cũng như sáng kiến giải quyết sự việc của bạn, sẽ bình tĩnh trở lại và trở nên mềm mỏng hơn: “Hay đấy! Cảm ơn ý kiến của em. Anh cảm thấy sáng nay anh như có điều gì bực bội trong lòng. Anh bị công việc thúc bách mà không biết nên giải quyết ra sao”. Vậy là bạn đã nhanh chóng trở thành người trợ thủ tin cậy, không còn là một đối tượng cãi cọ nữa, chính vì bạn đã cố gắng đưa ra một đáp ứng sáng tạo đối với sự bực bội của người bạn đời.

Một khi bạn đã có được kỹ năng trong cung cách không đề kháng đối với sự phê bình chỉ trích, bạn sẽ thấy một khám phá quan trọng: Trong hầu hết mỗi quan hệ tương hỗ giữa hai vợ chồng, bạn thực sự an toàn hơn khi giảm thiểu những phản ứng đề kháng của mình hơn là để chúng bùng nổ, bởi vì lúc ấy người bạn đời của bạn sẽ trở thành một đồng minh chứ không phải là một kẻ đối địch. Trong tâm thức mới của bạn, khác với tâm thức cũ, bạn hiểu rằng lời phê bình về món bánh bị cháy không phải là một cuộc tấn công thù hận và bạn sẽ học được cách kiểm soát phản ứng đối đầu có tính bản năng của mình. Điều nghịch lý là cung cách này tốt hơn ngay cả khi bạn định làm một điều gì đó để thoả mãn mục tiêu tiềm ẩn của sự đề kháng tự động.

Trên đây chỉ là ví dụ về mức độ tin cậy của sự linh hoạt mềm dẻo và sức mạnh sáng suốt của một tư duy ý thức, cái có thể giúp bạn thực hiện những mục tiêu vô thức. Chúng ta nhìn toàn cảnh điều mà chúng ta định nghĩa là “một cuộc hôn nhân ý thức”, bắt đầu với sự xác định: một cuộc hôn nhân ý thức là một cuộc hôn nhân hàm dưỡng sự tăng trưởng tâm lý và tinh thần tối đa, là một cuộc hôn nhân được tác tạo bởi quả trình ý thức và kết hợp những dẫn dắt nền tảng của mong muốn vô thức: mong muốn được bình an, được chữa trị tổn thương và được toàn vẹn.

10 đặc trưng của một cuộc hôn nhân ý thức

1. Bạn nhận thức rằng quan hệ yêu đương của bạn có mục đích tiềm ẩn: Chữa trị những vết thương thơ ấu: Thay vì tập trung toàn diện cho các nhu cầu và ước muốn bề mặt, bạn học cách nhận thức những vấn đề của tuổi ấu thơ không được giải quyết, những gì tiềm ẩn dưới các nhu cầu và ước muốn ấy. Khi bạn nhìn thấu suốt cuộc hôn nhân như rọi X-quang, các mối quan hệ tương giao hàng ngày của bạn trở nên có ý nghĩa hơn. Những khía cạnh làm bối rối trong mối quan hệ bắt đầu sáng tỏ hơn và bạn có cảm giác kiểm soát được chúng.

2. Bạn tạo ra hình ảnh xác đáng hơn về người bạn đời: Ở những thời điểm say mê, bạn hợp nhất người bạn đời với người nuôi dưỡng nguyên thuỷ. Sau đó, bạn chiếu những nét “âm bản” của bạn lên người bạn đời.  Sau nữa, bạn làm mờ đi những nét hiện thực căn bản của người bạn đời. Khi tiến đến hôn nhân ý thức, bạn loại trừ dần những ảo ảnh đó và bắt đầu nhìn người bạn đời chân thực hơn. Bạn không còn nhìn nhận người bạn đời như là một “cứu tinh” cho bạn nữa mà như một con người cũng bị tổn thương như bạn, cũng đang đấu tranh để được chữa trị những tổn thương ấy.

3. Bạn có trách nhiệm trong việc truyền đạt những nhu cầu và ước muốn của mình đến người bạn đời: Trong hôn nhân vô thức, bạn bám víu vào những niềm tin tuổi thơ, những điều mà người bạn đời trực cảm qua nhu cầu của bạn. Trong hôn nhân ý thức, bạn phải chấp nhận sự kiển là để hiểu người khác, bạn phải phát triển khả năng lắng nghe.

4. Bạn trở nên có chủ định hơn trong mối quan hệ tương giao: Trong hôn nhân vô thức, bạn có khuynh hướng phản ứng thiếu suy nghĩ. Bạn để cho những đáp ứng nguyên thuỷ của tâm thức cũ kiểm soát hành vi của bạn. Trong hôn nhân ý thức, bạn tự rèn luyện để ứng xử trong một cung cách khôn ngoan hơn.

5. Bạn học cách đánh giá những nhu cầu và ước muốn của người bạn đời cũng cao như khi đánh giá  những điều đó ở chính mình: Trong hôn nhân vô thức, bạn coi vai trò của người bạn đời chỉ để săn sóc những nhu cầu “thần thánh” của bạn. Trong hôn nhân ý thức, bạn từ bỏ kiểu tự chiêm ngưỡng ấy và ngày càng hướng nỗ lực của mình đến điểm gặp gỡ với những nhu cầu của người bạn đời.

6. Bạn gìn giữ phần “bóng tối” trong nhân cách của mình: Trong hôn nhân ý thức, bạn dễ dàng thừa nhận một thực tế là, như bất kỳ ai, bạn có những nét “âm bản”. Khi bạn chấp nhận trách nhiệm với phần “bóng tối” tự nhiên này, bạn giảm thiểu khuynh hướng phóng rọi những nét “âm bản” của mình vào người bạn đời, điều đó sẽ tạo ra một môi trường bớt thù địch hơn.

7. Bạn học những kỹ thuật mới để thoả mãn các nhu cầu và ước muốn của mình: Khi tranh chấp, bạn ngọt ngào, thuyết phục và chỉ trích, trong một cố gắng để ép người bạn đời đáp ứng những nhu cầu của bạn. Khi bạn ra khỏi sân khấu nhà và nhìn lại, bạn mới hiểu rằng người bạn đời của mình có thể thực sự là một tài nguyên quý giá nếu như bạn từ bỏ những chiến thuật tự huỷ hoại kia.

8. Bạn tìm hiểu trong chính bản thân mình những sức mạnh và khả năng mà bạn thiếu: Một lý do khiến người bạn đời trở nên hấp dẫn đối với bạn là người ấy có sức mạnh và khả năng mà bạn thiếu. Bởi vậy, sống với người ấy, bạn có ảo tưởng rằng mình sẽ trở nên hoàn chỉnh. Trong hôn nhân ý thức, bạn học được rằng con đường duy nhất để bạn có thể thực sự giành lại sự toàn vẹn bản thân là phát triển những gì còn tiềm ẩn trong chính mình.

9. Bạn trở nên sáng suốt hơn trong nỗ lực yêu thương, nối kết và hợp nhất với thế gian: Ở phần con người tự nhiên của mình, bạn có khả năng yêu thương vô điều kiện và hợp nhất một cách hiểu biết với thế giới xung quanh. Điều kiện xã hội và nguồn gốc bất toàn làm bạn mất đi điểm nối kết với những phẩm chất đó. Trong hôn nhân ý thức, bạn bắt đầu khám phá lại con người tự nhiên nguyên thuỷ của mình.

10. Bạn chấp nhận khó khăn để sáng tạo một cuộc hôn nhân tốt đẹp: Trong hôn nhân vô thức, bạn tin tưởng rằng con đường dẫn đến một cuộc hôn nhân tốt đẹp chỉ là việc tìm kiếm một người phối ngẫu “trúng phóc”. Trong hôn nhân ý thức, bạn phải hiện thực hoá người phối ngẫu đó. Khi tìm được một quan điểm hiện thực hơn về quan hệ yêu đương, bạn hiểu rõ rằng một cuộc hôn nhân tốt đẹp đòi hỏi sự cam kết, sự tuân thủ và cả dũng khí để trưởng thành và thay đổi – Hôn nhân là một việc khó khăn!

Chúng ta hãy xem lại 10 đặc trưng này và hãy chấp nhận những khó khăn trong việc sáng tạo một cuộc hôn nhân tốt đẹp, bởi vì không một ý tưởng nào trong số 9 ý tưởng trước đó có thể khai hoa kết quả nếu như đầu tiên, bạn không gieo trồng thiện ý của bạn để trưởng thành và thay đổi.

Trở thành một người tình

Tất cả chúng ta đều có một mong muốn là được sống một đời sống trẻ con. Chúng ta không muốn phải vất vả khó nhọc để nuôi một con bò cái rồi vắt sữa nó mà chỉ muốn thoải mái ngồi trước bàn, trong tay có sẵn một ly sữa lạnh. Chúng ta không muốn trồng nho rồi hái nho mà chỉ muốn tức khắc có đầy một vốc trong tay những trái nho chín mọng. Những ý tưởng đầy khao khát ấy tìm áp lực tối hậu của chúng trong hôn nhân. Chúng ta không muốn nhận trách nhiệm tìm điểm gặp gỡ cho những nhu cầu của mình mà chỉ muốn “rơi vào tình yêu” với một người bạn đời thật “siêu” và sau đó hưởng hạnh phúc. Thuật ngữ tâm lý học dành cho khuynh hướng này, khuynh hướng đặt nguồn gốc của những thất bại cũng như giải pháp cho những rắc rối của chúng ta ra bên ngoài chúng ta, là “sự ngoại diện” (externalization) và chính nó là nguyên nhân của rất nhiều nỗi bất hạnh trên thế gian.

Một hôm, có một người khách (mà tôi sẽ gọi là Walter) bước vào văn phòng của tôi với một cái nhún vai và một vẻ mặt buồn bã.
– Có chuyện gì vậy? – Tôi hỏi Walter – Hôm nay trông anh rầu rĩ quá.
– Đúng vậy – Anh ta nói sau khi đã lún sâu vào chiếc ghế nệm – Tôi cảm thấy hết sức cô đơn.
Tôi tỏ vẻ thông cảm:
– Hẳn là anh rất buồn. Không có bạn bè quả là đáng sợ.
– Phải. Dường như tôi không thể…Tôi không biết nữa. Đúng là trong đời tôi không có một người bạn nào. Tôi tìm kiếm hoài mà chẳng tìm được ai cả.

Anh ta tiếp tục than phiền như vậy một lúc lâu và tôi phải chặn nỗi phiền muộn đang trào dâng với tình trạng thảm hại như con nít của anh ta lại. Anh ta tự giam mình vào một cảnh ngộ như thế này: đâu đó trên thế gian có những người mang trên trán dấu ấn “Bạn của Walter” và công việc của anh đơn giản chỉ là tìm cho bằng thấy những người đó.

– Walter, – tôi nói, cố nén tiếng thở dài – anh có hiểu tại sao anh không có bạn bè không?
Anh ta ngẩng đầu lên:
– Không. anh hãy nói cho tôi hay.
– Lý do anh không có bạn là chẳng có người bạn nào để anh tìm cả.
Anh nhún vai. Tôi nói thẳng thừng:
– Đúng như vậy. Chẳng có người bạn nào để anh tìm kiếm. Điều mà anh mong muốn không tồn tại.
Tôi để anh ta chìm sâu và nỗi phiền muộn một lúc. Rồi tôi vươn mình khỏi ghế và  nói:
– Walter, hãy nghe tôi! Tất cả mọi người trên thế gian này đều là những kẻ xa lạ. Nếu anh muốn có một người bạn, anh phải ra khỏi tâm trạng của anh và chính anh phải trở thành một người bạn!

Walter không chấp nhận ý tưởng: Để tạo ra một tình bạn bền vững, cần có thời gian và công sức. Ngay cả khi anh ta có trách nhiệm và khả năng để làm việc đó, anh ta vẫn duy trì ý tưởng con nít là tất cả những gì anh ta cần làm để tạo nên sự thân thuộc chỉ là tìm cho được đối tượng cần thiết. Bởi vì anh ta không hiểu rằng một tình bạn không chỉ thành tựu sau một thời gian dài mà còn đòi hỏi sự sáng suốt, nhạy cảm và kiên nhẫn. Rút cục là anh ta đành phải sống cô đơn.

Cung cách ấy chẳng những được Walter áp dụng trong quan hệ bạn bè mà cả trong quan hệ yêu đương: dường như anh ta không thể tìm được người đàn bà lý tưởng cho mình. Hồi phục sau một lần ly dị đau khổ (trong vụ kiện cay đắng, vợ anh ta giành được quyền nuôi dưỡng đứa con trai của họ), anh ta đã cố gắng một cách tuyệt vọng tìm người tình mới. Điều đặc biệt tệ hại trong hôn nhân đối với Walter là anh ta bị mắc như gà mắc tóc trong một mớ những khái niệm và ý tưởng chứ không phải là những cảm xúc. Anh ta che giấu bản chất dễ bị tổn thương của mình sau vẻ trí thức cực kỳ, chính là điều ngăn trở bất kỳ sự thân thiết thành thực nào.

Anh ta đến với những đợt điều trị tâm lý theo nhóm khoảng 6 tháng. Và ở mỗi đợt, anh ta lại được nghe từ nhóm điều trị những điều tương tự anh ta đã  nghe từ vợ mình, rằng anh ta không biết chia sẻ cảm xúc, rằng anh ta là kẻ lãnh đạm, xa cách. Một buổi chiều, một thành viên nữ trong nhóm, cuối cùng cũng nói chuyện với anh ta: “Khi anh kể về những đau buồn của mình, tôi không cảm nhận được nỗi khổ nào cả. Khi anh tỏ ra thân mật với tôi, tôi cũng không cảm nhận được sự thân mật ấy”. Và Walter hiểu ra rằng những lời trách cứ của người vợ cũ của anh ta là có cơ sở. “Tôi đã cho rằng cô ấy chỉ là kẻ nanh nọc và lắm điều” – anh ta tâm sự – “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng cô ấy có thể nói đúng, hoặc là tôi có thể tỉnh ngộ ra đôi chút nếu chịu khó lắng nghe cô ấy”.

Khi Walter đủ thời gian để tiếp thu bài học này, anh ta đã tỏ ra nhiệt tình hơn đối với tiến trình chữa trị tâm lý và cố gắng gỡ bỏ những chướng ngại cảm xúc của mình. Khi đã trở nên sinh động hơn, anh ta cũng có được một quan hệ thân mật với một người bạn gái mới. Trong đợt chữa trị cuối cùng ở chỗ tôi, anh ta thổ lộ tâm trạng:
– Anh biết không, tôi đã phải mất 2 năm để học được một điều đơn giản: Để có được một mối quan hệ tốt đẹp, người ta phải nỗ lực để trưởng thành và thay đổi. Giá như tôi biết điều này 10 năm về trước, có lẽ tôi vẫn sống hạnh phúc với vợ và con trai tôi.

Walter không đáng trách khi anh tin rằng: Hôn nhân là một chuyện dễ dàng và “tự nhiên”. Con người tự nhiên của chúng ta ưa thích một đời sống không cần phải cố gắng. Khi chúng ta còn là con trẻ, nếu thế giới từ chối, chúng ta thất bại, còn nếu thế giới chấp nhận thì chúng ta thoả mãn. Sau hàng ngàn những tương tác ban đầu như vậy, chúng ta tạo dựng một mô hình cho thế giới xung quanh và chúng ta bám víu lấy mô hình lỗi thời ấy ngay cả khi phải trả giá bằng cuộc hôn nhân của chính mình. Chúng ta lĩnh hội một cách chậm chạp rằng, để được yêu, trước tiên chúng ta phải trở thành một người yêu. Tôi không định nghĩa điều này trong những ngôn ngữ tình cảm. Tôi không định nghĩa những đoá hoa được trao tặng, những lá thư tình được viết hoặc những kỹ thuật ái ân mới mẻ được học hỏi…mặc dù bất kỳ điều gì trong số đó cũng đáng kể trong quan hệ yêu đương. Để trở thành một người tình, trước tiên chúng ta phải vứt bỏ những cung cách tai hại như tôi đã trao đổi với bạn trong 5 chương trước, và tái lập một ứng xử sáng suốt. Chúng ta phải thay đổi những ý tưởng về hôn nhân, về người bạn đời và cuối cùng, về chính chúng ta.

Sợ hãi sự thay đổi

Thay đổi – đó là điều chúng ta cần làm để có được mối quan hệ thoả mãn hơn, đừng sợ hãi sự thay đổi. Sợ hãi sự thay đổi cũng là nền tảng của con người tự nhiên. Chúng ta cảm thấy lo âu ngay cả khi có những thay đổi tích cực, như khi được thăng chức, dọn đến ngôi nhà mới hay bước vào kỳ nghỉ. Một điều gì đó làm rạn vỡ sự ấm cúng tiện nghi hoặc ngay cả những thói – quen – không – tiện – nghi của chúng ta cũng rung chuông báo động trong tâm thức cũ. Tâm thức cũ cảnh cáo cho chúng ta một thực tế là chúng ta đã bước vào một vùng đất không có bản đồ, không được trắc đạc và nỗi hiểm nguy rình rập chúng ta ở mỗi góc đường.

Tôi đã chứng kiến ước muốn được bám víu vào những thói quen yên ổn ngay cả ở những đứa trẻ khi Leah, con gái tôi, được hai tuổi rưỡi và Hunter, em trai nó, đã thôi nôi. Helen và tôi quyết định cho nằm giường mới. Đó là một cái giường cho trẻ con có những gióng ngang để ngăn nó khỏi ngã ra ngoài vào ban đêm. Buổi sáng đầu tiên Leah thức dậy trên chiếc giường mới, tôi nghe thấy tiếng khóc quen thuộc của nó: “Bố! Bố!”. Tôi đã đi vào phòng nó và thấy nó quỳ trên giường, hai tay nắm lấy chấn song giường, gọi tôi: “Bố! Bế con!” cho đến khi tôi đặt nó vào cái giường cũi chật chội trước đây. Tôi phải ngạc nhiên vì vẻ hoảng hốt của nó. Thực ra nó có thể leo ra khỏi giường hoặc xuống đất qua phần cuối giường không có gióng ngang. “Leah” – tôi khuyến khích nó – “con có thể tự mình ra khỏi giường mới được mà!”, “Con không làm được” – nó cắn môi dưới – “con bị kẹt”. “Leah, con nhìn đây”, tôi chỉ phần giường không có gióng ngang, “con có thể trèo xuống chỗ này”. Nó cứ quỳ nguyên một chỗ. Cuối cùng, tôi phải leo lên giường nó và trình diễn cho nó xem phải làm như thế nào. Với sự khuyến khích của tôi,nó bám sát ngay sau lưng tôi cố vượt khỏi nỗi sợ hãi sự thay đổi và ra khỏi giường.

Tôi chứng kiến một biểu hiện bi kịch hơn của tình trạng tê liệt trước sự thay đổi vào một buổi chiều khác, khi tôi đang đọc báo. Một đài truyền hình địa phương phát câu chuyện về một đứa trẻ sinh năm 1982 bị chứng khiếm khuyết miễn dịch trầm trọng và ngay từ phút chào đời, nó đã phải sống trong lồng kính, cách ly khỏi mọi mầm bệnh nguy hại. Cha mẹ nó túc trực bên nó ngày đêm nhưng cũng chỉ là bên ngoài lồng kính và chỉ được tiếp xúc với đứa con qua chiếc găng tay vô trùng gắn chặt vào lồng kính.

Chỉ ít lâu sau lần sinh nhật thứ 5 của đứa bé, nó được ghép tuỷ thành công. Với những xét nghiệm phức tạp, các bác sĩ xác định rằng hệ thống miễn dịch của nó đã phát triển đầy đủ và cho phép nó được rời khỏi các thế giới vô trùng ấy. Vào ngày ấn định cho nó ra ngoài, chiếc lồng đã được mở, người cha và mẹ tràn trề hạnh phúc giơ tay về phía đứa con. Lần dầu tiên trong đời, họ có thể hôn và ôm con trai mình. Nhưng, mọi người đều sửng sốt, đứa bé co rúm lại bên góc lồng kính. Cha mẹ nó gọi nó, nhưng nó không nhúc nhích. Cuối cùng, cha nó phải bò vào trong lồng và ôm nó ra. Khi đứa bé nhìn quanh phòng, nó bật khóc. Căn phòng quá lớn nếu so với vụ trụ khép kín của chiếc lồng kính mà nó vừa sống qua. Cha mẹ nó ôm hôn nó để trấn an nó, nhưng nó không muốn có bất kỳ một tiếp xúc nào mà chỉ oằn người để tránh vòng tay của họ. Đoạn kết câu chuyện, bộ phim quay cảnh ít lâu sau đó, đứa bé đã trở nên quen thuộc hơn với đời sống bên ngoài lồng kính. Nhưng sự kiện trong ngày nó được “xổ lồng” dã chứng tỏ rằng nỗi sợ hãi khi đối diện với những gì không quen thuộc còn lớn hơn cả ước muốn được mở rộng thế giới của đứa trẻ.

Đứa trẻ ấy sống 5 năm trong chiếc lồng kính. Những cặp vợ chồng đến chỗ tôi đã sống 2, 10, 20 … thậm chí 40 năm trong một mối quan hệ hạn hẹp, ức chế sự trưởng thành. Nhiều năm sống trong một ứng xử quen thuộc, lẽ tự nhiên là họ có một sự miễn cưỡng rất lớn khi phải thay đổi. Sau hết, tôi đang đòi hỏi ở họ không chỉ là mạo hiểm nỗi lo âu khi học một cung cách quan hệ mới, mà còn đối mặt với nỗi đau khổ và sợ hãi, những thứ đã “đóng chai” họ hàng thập niên – lý do cho những ứng xử sai chức năng trước đó.

Đất Hứa

Mang đến cho bạn cái nhìn thấu suốt về những khó khăn của sự sáng tạo một cuộc hôn nhân ý thức, tôi muốn thuật lại một cách cô đọng câu chuyện Moses và Đất Hứa, câu chuyện mà tôi coi là ngụ ngôn về tâm linh con người. Câu chuyện như sau:

Nhiều thế kỷ trước đây, dân Israel là một bộ tộc lớn cư ngụ ở gần Địa Trung Hải. Xảy ra một trận hạn hán trên miền đất của họ, và để sống còn, dân Israel đã di cư về phía nam đến Ai Cập là một vựa lúa. Nhưng rồi họ bị cưỡng bức trở thành nô lệ của người Ai Cập, chịu sự đối xử hà khắc và phải lao động nặng nhọc. Sau hơn 400 năm sống cơ cực như vậy, xuất hiện một người là Moses, người đã nói với dân Israel: “Hỡi những người đáng thương, các người đang sống trong nỗi thống khổ mà sự cam chịu đã khiến các người ra nông nỗi này. Các người đã quên đi dĩ vãng của mình. Các người không phải là nô lệ của Ai Cập mà các người là con của Yahweh vĩ đại! Thượng đế chỉ tôn đã tạo ra các người và các người là một dân tộc đặc biệt”. Những lời của Moses đã khuấy động ý thức của người Israel và họ bỗng nhận ra tâm trí họ đã bị giam cầm. Điều đó làm họ bồn chồn khổ sở – chẳng khác nào nhiều cặp vợ chồng tìm đến tôi để tham vấn.

Bị quyến rũ bởi viễn ảnh về miền Đất Hứa, người Israel đi theo Moses. Nhưng người Israel đã không chuẩn bị cho những gian khó của cuộc hành trình và họ chẳng mấy tin cậy và sự che chở của Thượng đế. Khi họ gặp trở ngại đầu tiên, Biển Đỏ, họ phàn nàn cay đắng với Moses: “Ông đưa chúng tôi ra khỏi túp lều quen thuộc của chúng tôi với những lời hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bây giờ đường đi bị chắn ngang bởi biển cả bao la. Ông đưa chúng tôi tới sa mạc để chết, bỏ lại mồ mả ông cha ở Ai Cập. Chúng tôi làm gì đây?”.

Chính Moses cũng không chắc phải làm gì, nhưng ông tin tưởng rằng nếu có đức tin thì đường đi sẽ hiện ra. Trong lúc ông đang suy tính về số phận của mọi người, một đám mây bụi khổng lồ xuất hiện ở chân trời. Trong nỗi kinh hoàng của người Israel, họ nhận ra đó là cát bụi cuộn lên bởi sự xuất hiện đột ngột của những chiến binh Ai Cập đuổi theo bắt họ để đưa họ trở về với xiềng xích nô lệ. Lúc đó, Moses đưa tay lên và một ngọn gió đông giữ dội rẽ đôi Biển Đỏ. Kinh sợ vì điều kỳ diệu lớn lao, những người Israel tập trung hết can đảm, nhìn lại Ai Cập lần cuối – quê hương duy nhất mà họ biết – và theo Moses, đầy sợ hãi bước vào khe nước. Hai bức tường nước dựng lên ở bên trái và bên phải họ. Khi họ đã vượt qua biển an toàn, Moses giơ tay lên lần nữa, và hai bức tường nước khổng lồ khép lại, nhấn chìm các chiến binh Ai Cập trong dòng nước xiết.

Người Israel chỉ có một lần duy nhất để vinh danh cuộc hành trình trót lọt của mình. Khi nhìn thấy vùng đất mới, họ mất hết can đảm lúc nhận ra mình đi đến rìa của một sa mạc hoang vu, cằn cỗi. Một lần nữa, họ lại bật khóc trong nỗi thống khổ: “Ông đã huỷ hoại cuộc sống yên ổn của chúng tôi. Ông lôi kéo chúng tôi theo ông vào hành trình dài dằng dặc này. Chúng tôi đã suýt chết đuối trong Biển Đỏ. Bây giờ, chúng tôi lại lạc lõng trong sa mạc khô cằn, không thức ăn nước uống!”

Dù sợ  hãi, người Israel không còn cách nào khác là tiếp tục hành trình. Họ lang thang nhiều tháng ròng trong vùng đất xa lạ, theo sự dẫn dắt của một cột mây lúc ban ngày và của một cột lửa lúc ban đêm. Họ chịu đựng nhiều nỗi gian truân, nhưng Thượng đế nhân từ đã  làm nhẹ bớt gánh đau thương của họ bằng những phép lạ.

Cuối cùng, những người Israel cũng đi hết sa mạc. Vượt qua đụn cát cuối cùng, Moses nói, là miền Đất Hứa. Những toán trinh sát được phái đi để tìm hiểu vùng đất. Nhưng khi các trinh sát trở về, họ mang theo những tin tức còn tồi tệ hơn: “Đất Hữa thực sự là đầy sữa và mật ong, nhưng đã bị chiếm. Đó là xứ sở của người Canaan, một chủng tộc khổng lồ!”. Đám đông nghe vậy lại kêu khóc và nuối tiếc cuộc sống yên ổn an toàn ở Ai Cập.

Lúc đó, Thượng đế nói với họ: “Bởi vì các ngươi không có đức tín và cứ ôm ấp hoài niệm ở Ai Cập, các ngươi sẽ phải lưu lạc trong sa mạc 40 năm, cho tới khi một thế hệ mới ra đời, thế hệ không có những hồi ức về quá khứ. Chỉ khi ấy các ngươi mới tới được Đất Hứa”. Và như vậy, 40 năm, người Israel du cư trong sa mạc. Những đứa trẻ ra đời và những người già chết đi. Cuối cùng, một nhà lãnh đạo mới xuất hiện trong cư dân và đưa họ đến Israel, khởi đầu công cuộc giành lại đất đai từ người Canaan.

Chúng ta có thể học hỏi được gì từ câu chuyện đã trở nên quen thuộc này để áp dụng trong cuộc thăm dò khảo sát về hôn nhân? Một trong những lý do chân lý đầu tiên chúng ta có thể học được từ sự kiện: Hấu hết chúng ta đi qua đời sống hôn nhân như thể mơ ngủ, hoà tan vào những tương giao thường nhật với sự hài hoà bé mọn. Giống như những người Israel suốt 400 năm trong tình trạng nô lệ cho người Ai Cập, chúng ta quên mất mình là ai. Như trong thơ của Wordsworth, chúng ta mang tới thế gian “những đám khói tàn tích của vinh quang nhưng ngọn lửa thì đã tắt ngấm tự bao giờ, và chúng ta không còn nhìn nhận mình như một thực thể toàn vẹn và cao quý nữa. Chúng ta sống một cuộc sống khốn khổ, nhàm chán, vô vọng và đổ lỗi cho người bạn đời về nỗi bất hạnh của mình. Câu chuyện còn dạy chúng ta rằng, chúng ta là tù nhân của nỗi sợ hãi sự thay đổi. Khi tôi yêu cầu các cặp vợ chồng thử nghiệm cung cách ứng xử mới, họ tỏ ra bực bội với tôi. Một số cặp thà ly dị, phá vỡ gia đình, phân chia tài sản còn hơn là tìm một kiểu thức quan hệ mới. Giống như người Israel, họ run rẩy trước Biển Đỏ, ngay cả khi con đường mở ra trước mặt. Sau đó, cuộc hành trình trở nên gian khổ, nhũng khó khăn trong cảm xúc của họ cũng giống như đám quân Ai Cập truy nã hoặc những quái vật khổng lồ. Nhưng khác với trường hợp người Israel, kẻ thù lần này ở trong bản thân họ, nó phủ nhận và đàn áp những gì có thể trở nên nhận thức đối với họ.

Chân lý cuối cùng trong câu chuyện về Moses là chúng ta luôn chờ đợi cuộc đời mang đến những phần thưởng một cách dễ dãi mà không phải hy sinh điều gì. Giống như người Israel mong muốn Đất Hứa là vườn Địa Đàng mà Chúa Trời dành sẵn cho Adam và Eva. Chúng ta mong muốn một cách đơn giản là hôn nhân sẽ chữa trị cho chúng ta mọi bệnh hoạn. Chúng ta muốn sống trong truyện cổ tích, những cô công chúa xinh đẹp gặp những chàng hoàng tử hào hoa và sau đó là cuộc sống hạnh phúc. Nhưng điều đó chỉ diễn ra khi người Israel nhìn nhận miền Đất Hứa như một cơ hội, một dịp để họ sáng tạo một thực tại mới, nơi mà họ được phép bước vào. Và điều đó chỉ diễn ra khi chúng ta nhìn nhận cuộc hôn nhân như một phương tiện cho sự thay đổi và tự trưởng thành, và chúng ta có thể bắt đầu thoả mãn những khao khát vô thức của chúng ta.

menu
menu