[Sách dịch] Getting The Love You Want (Chương 7)

sach-dich-getting-the-love-you-want-chuong-7

Một cuộc đời gắn bó với ta, mang lại cho tâm hồn ta sự thanh thản – đó là điều kỳ diệu của hôn nhân.

Nguyên tác: Getting The Love You Want
Tác giả: Harville Hendrix, Ph.D.
Dịch giả: Phan Linh Lan và Phan Lưu Ly
nxb:   – – – – – –

 

Chương 7 :

ĐÓNG NHỮNG CỬA THOÁT

 

Một cuộc đời gắn bó với ta, mang lại cho tâm hồn ta sự thanh thản – đó là điều kỳ diệu của hôn nhân.
DENIS DE ROUGEMONT

Khi một cặp vợ chồng bước vào văn phòng của tôi ở đợt tham vấn đàu tiên, tôi biết rất ít hoặc chẳng biết gì về họ. Tất cả những gì tôi biết với ít nhiều tin chắc là họ đã bị sa lầy trong cuộc tranh chấp. Họ lạc lối đâu đó trên con đường quanh co khúc khuỷu. Họ là những cặp mới thành hôn bị chao đảo bởi cú sốc khi khám phá ra là họ đã cưới một kẻ phối ngẫu tồi tệ. Họ là một cặp trung niên đang cố gắng đương đầu với những stress khi đã có mỗi người một sự nghiệp, lũ con đang lớn và mối quan hệ đã thoái hoá trong hàng loạt những xung đột khó chịu. Hoặc là một cặp già hơn đã đánh mất mọi cảm xúc về nhau và đang dự tính một cuộc ly dị “thân ái”. Nhưng dù họ ở bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi cũng có thể đoán chắc rằng họ đã kinh qua một cuộc hôn nhân lãng mạn và sau đó sa vào xung đột, rối ren.

Những khảo sát của tôi cũng như của nhiều đồng nghiệp, trong thời gian qua, đều tập trung vào những chi tiết của cuộc tranh chấp. Trong một vài đợt chữa trị đầu tiên, tôi khẳng định rằng dù sao đi nữa, những trục trặc chủ yếu của các cặp vợ chồng thường xoay quanh các chủ đề: sự thông cảm, tình dục, tiền bạc, cha mẹ hai bên, những kỳ vọng, chứng nghiện rượu, ma tuý…

Qua vài tháng sau, tôi giúp họ nhìn nhận rõ ràng hơn những vấn đề ấy. Một phần quan trọng của tiến trình chữa trị là giúp họ có khả năng truyền đạt những cảm nhận của mình trực tiếp hơn: – Anh cảm thấy thế nào khi Mary nói điều đó? Hoặc: – Chị cảm nhận ra sao khi George làm như vậy?

Và ở cuối mỗi đợt, tôi giúp họ thương thảo một khế ước ấn định tiến trình hành động. Ví dụ như, George thoả thuận sẽ quan tâm thăm hỏi Mary hằng ngày. Còn Mary thoả thuận sẽ biểu lộ thẳng thắn mỗi khi có điều gì bực bội, thay vì lầm lì câm lặng như trước. Đó là những chuẩn mực rõ ràng để định hướng mà tiến trình tham vấn về hôn nhân cần xác lập.

Các cặp vợ chồng đã học hỏi lẫn nhau khá nhiều điều trong suốt thời gian chúng tôi tiến hành công việc, và họ đã trở nên khéo léo hơn trong việc truyền đạt cảm xúc. Nhưng điều khiến tôi hoang mang là một vài cặp dường như có khả năng vượt quá cả khái niệm tranh chấp quyền lực. Lẽ ra phải tranh cãi về những đề tài “hiện hữu” của họ, những gì đã khiến họ phải đi chữa trị, thì họ nằng nặc đòi tranh cãi trước hết về việc ai đã xúc phạm ai. Nhiều lúc, tôi cảm thấy vấn đề đi quá xa, vượt khỏi chức năng của một nhà tâm lý vốn đơn thuần chỉ là định lượng và nhận dạng xung đột của họ.

Những ngày đầu, công việc của tôi là giám sát và tôi đã phải chia sẻ tâm trạng thất vọng của tôi với một vị cố vấn pháp lý. Tôi làm gì sai chăng? Tại sao những cặp vợ chồng chậm tiến bộ đến thế? Dường như tất cả những gì tôi làm chỉ khiến họ xung đột nhiều hơn. Cố vấn pháp lý của tôi mỉm cười thông cảm và chỉ cho tôi thấy rằng, dù thế nào di nữa, các khách hàng của tôi cũng muốn và sẵn sàng để thay đổi, và đó chính là điều thú vị đầu tiên. Nếu họ muốn thay đổi – ông động viên tôi – họ sẽ thay đổi. Có lẽ chương trình của tôi bị lộn xộn một chút. Vai trò của tôi – ông lưu ý tôi là giúp người khác thấu hiểu về những vướng mắc của họ, giúp họ củng cố các kỹ năng trong quan hệ và đưa họ đi đúng hướng.

Đó là những năm tháng khó khăn trước khi tôi khám phá rằng, để đạt được hiệu quả, một nhà tâm lý hôn nhân không nên để mình mắc cạn trong những đề tài bề nổi như tiền bạc hay những xung khắc tình dục. Tiềm ẩn dưới những chủ đề nông cạn ấy là các khao khát của tuổi ấu thơ không được đáp ứng, những kỹ năng truyền đạt hay những thỏa ước ứng xử lạc địa chỉ, những gì ở tầng sâu hơn. Để đạt hiệu quả, nhà tâm lý hôn nhân phải định vị được các xung đột nền tảng. Trang bị điều khám phá này, tôi bắt đầu làm việc sâu hơn với các cặp vợ chồng, tìm kiếm bên dưới hiện tượng bề mặt những vấn đề nguyên thủy hơn.

Yêu cầu cam kết

Bởi vì mỗi cuộc hôn nhân đều là duy nhất, nên cách tiếp cận của tôi với từng cặp vợ chồng là một hỗn hợp của công thức và khám phá. Đôi khi, nhà tâm lý hôn nhân đi theo một giáo trình định trước, nhưng thường là tôi phải cắt gọt các phương pháp của tôi để thích hợp với những đòi hỏi cá nhân của họ. Nếu một cặp tìm đến tôi vì gặp khủng hoảng, tôi làm vài cử chỉ trấn an và ngăn không cho cú sốc và nỗi đau khổ của họ bùng nổ. Nếu ngược lại, một đôi vợ chồng bước vào mà biểu lộ đầu tiên là nỗi đau khổ làm tê liệt tất cả, đôi khi tôi phải tìm một nguyên cớ nào đó để kích thích họ. Ngoại trừ khi họ nhận thức được một cách tự nhiên những vấn đề của mình, còn thường là họ rất khó khăn để nhận diện và giải quyết chúng.

Dù sao trong những đợt tham vấn đầu tiên, tôi cũng thiết lập được một số quy luật nền tảng cho việc chữa trị. Với những dị biệt nhỏ, chúng đã là những nguyên tắc cơ bản để tôi đưa ra các bài tập trong cuốn sách này. Một trong những nguyên tắc đầu tiên là các cặp vợ chồng phải thỏa thuận được lịch tham vấn suốt 12 tuần liên tiếp. Ngoại trừ những trường hợp thật sự khẩn cấp, họ phải bố trí công việc sao cho họ có thể tới tham vấn riêng rẽ và đúng hẹn. Lý do để tôi yêu cầu cam kết này là từ kinh nghiệm của bản thân, và từ những kết quả thống kê, đa phần các cặp vợ chồng ngưng chữa trị vào khoảng giữa lần hẹn thứ ba và thứ năm, đó là khoảng thời gian mà những chủ đề vô thức xuất hiện và một số người khác bắt đầu nếm trải những âu lo khắc khoải.

Như chúng ta đã biết, một phương pháp hiện thực và đã được kiểm chứng dùng để giảm thiểu nỗi âu lo là tránh né. Một số cặp vợ chồng phàn nàn rằng việc chữa trị tâm lý làm vấn đề tồi tệ hơn và công kích bác sỹ tâm lý. Một số người khác nói rằng không thu xếp được thời gian theo lịch hẹn. Chính vì cung cách né tránh này khá phổ biến nên tôi phải khuyến cáo các cặp vợ chồng cam kết đủ 12 đợt chữa trị. Cũng có những trường hợp, một vài cặp theo đuổi việc chữa trị quá 3 tháng, nhưng ở mức tối thiểu, tôi tin chắc là hầu hết sẽ kiên trì đủ thời gian cần thiết, bất kể sự phản kháng ban đầu của mình.

Khi thực hành các bài tập trong cuốn sách này, bạn có thể phải trải qua một sự miễn cưỡng tương tự để hoàn tất tiến trình. Một số bài tập dễ, thậm chí vui vẻ. Nhưng nhiều bài tập sẽ mang lại cho bạn những hiểu biết mới về bản thân bạn, thách thức bạn trưởng thành và thay đổi. Khi thực hành những bài tập đòi hỏi cao hơn, bạn có thể bị cám dỗ vứt cuốn sách sang một bên và từ chối những lời chỉ dẫn. Tóm lại, bạn cần cam kết với chính mình sẽ toàn tâm toàn ý theo đuổi tiến trình. Bạn sẽ khám phá ra rằng, nếu trước khi bắt đầu, bạn cam kết mạnh mẽ sẽ hoàn tất các bài tập một cách chính xác như hướng dẫn, bạn sẽ dễ dàng hơn nhiều khi vượt qua sự phản kháng của bản thân.

Đối với những cặp vợ chồng nhìn nhận vấn đề như trên, mọi sự trở nên dễ dàng mọt cách đáng ngạc nhiên – ngay cả những cặp gặp phải sự xáo trộn nặng nề. Để bắt đầu, tôi yêu cầu họ lập danh sách một loạt những cam kết khởi đầu với từ “Chúng tôi” mô tả cung cách quan hệ mà họ muốn có. Họ đưa ra các cam kết đó ở thì hiện tại nếu như trong tương lai họ sẵn sàng cho điều đó. Sau đây là một ví dụ:
– Chúng tôi vui vẻ với các mối quan hệ riêng của nhau.
– Chúng tôi cùng nhau làm những gì mà cả hai cùng thấy thích.
Chỉ sau một đợt chữa trị, họ có thể xác định quan điểm của nhau, tìm ra những điểm chung, và liên kết những cái đó và một mục đích được chia sẻ.
Một khi đã xác định được quan điểm, tôi yêu cầu cả hai đọc những cam kết đó hàng ngày như một hình thức suy ngẫm. Dần dần, theo nguyên tắc lặp đi lặp lại, quan điểm ấy trở nên ăn sâu vào tiềm thức.

Quyết định Không–cửa–thoát

Ngay khi hoàn tất việc xác định quan điểm, thường là vào khoảng đợt chữa trị thứ hai hoặc thứ ba, tôi yêu cầu họ làm bản cam kết tiếp theo dành cho việc theo đuổi đủ 12 tuần chữa trị. Lý do hiển nhiên là: nhà tham vấn hôn nhân sẽ bó tay nếu như cuộc hôn nhân ấy không tồn tại nữa. Suốt 3 tháng, họ sẽ không ly thân, cũng không kết thúc quan hệ một cách bi thảm như tự sát, giết chóc hay mất trí … (mặc dù ly thân và ly dị không phải là cung cách phổ biến nhất mà các khách hàng của tôi dự tính cho cuộc hôn nhân, một thiểu số đáng chú ý cho biết cảm giác của họ là muốn phát điên, và một số cặp còn hình dung ra những lựa chọn bạo liệt hơn nữa…). Tôi gọi quyết định đóng chặt các cánh cửa thoát hiểm này là “quyết định không–cửa–thoát”. Khi sang Phần Ba, bạn sẽ thấy “quyết định không – cửa – thoát” là bài tập đầu tiên tôi yêu cầu thực hành.

Động lực Nối kết/Cách ly

Người chồng và người vợ thường phản ứng đối lập nhau đối với quyết định không–cửa–thoát. Điển hình là, một người cảm thấy an tâm còn người kia cảm thấy bị đe dọa. Người cảm thấy an tâm thường là “cầu chì” kết nối trong mối quan hệ, người trưởng thành với nhu cầu gắn bó không được thỏa mãn. Người cảm thấy bị đe dọa là “sứ cách điện”, một người có nhu cầu tự lập không được thỏa mãn. Lý do mà cầu chì cảm thấy an tâm là cam kết sẽ đảm bảo cho mối quan hệ được ổn định – ít ra trong ba tháng – và giảm thiểu nỗi sợ hãi bị bỏ rơi. (Đối với “cầu chì” nỗi sợ hãi này luôn ẩn náu sau lớp vỏ ngoài, nhưng sẽ trở nên gay gắt hơn trong quan hệ trục trặc). Lý do khiến “sứ cách điện” cảm thấy e ngại quyết định không–cửa–thoát là thỏa thuận đó sẽ đóng sập cánh cửa thoát hiểm quan trọng, gợi lên nỗi sợ hãi cổ xưa đối với sự si mê. Như vậy là quyết định không–cửa–thoát có khuynh hướng làm giảm thiểu nỗi sợ hãi ở người này và làm trầm trọng nó ở người kia.

Trong thời kỳ thỏa hiệp này, tôi cố gắng làm vơi nhẹ nỗi lo âu ở người khách hàng cảm thấy bị mắc bẫy. Tôi lưu ý rằng, cam kết này chỉ có thời hạn 3 tháng và ở cuối thời hạn, họ có thể tự do rời bỏ nó. Bởi vì nó là một quãng thời gian xác định nên hầu hết cảm thấy có thể chấp nhận được. Tiếp theo, tôi giải thích rằng quyết định không–cửa–thoát có khuynh hướng làm hai bên bớt xâm lấn nhau hơn.

“Một lý do mà người phối ngẫu của bạn cần cam kết này chính là sự quan tâm của bạn”, tôi giải thích với “sứ cách điện”: “Bởi vì bạn có vẻ lãnh đạm. Một khi bạn chấp nhận quyết định ở lại bên nhau suốt thời gian tham vấn về cuộc  hôn nhân, người phối ngẫu của bạn sẽ cảm thấy bớt bị áp lực săn đuổi bạn hơn”. Điều đáng nói là khi thỏa thuận giữ mối quan hệ 3 tháng, “sứ cách điện” lại thường kết thúc nó với một tâm trạng nhiều si mê hơn trước đó.

Sự hưởng ứng của một cặp vợ chồng đối với quyết định không–cửa–thoát là một thoáng hiện đầy mê hoặc của những động lực nối kết/ cách ly phức tạp hơn. Mỗi ngày trong đời sống hôn nhân, cả người chồng lẫn người vợ giằng kéo một ranh giới quan hệ vô hình trong cố gắng thỏa mãn đòi hỏi hai mặt của họ: độc lập và gắn kết.

Hầu hết thời gian, mỗi cá thể dính chặt vào một phía: một  người hướng tới, cố gắng thỏa mãn những đòi hỏi không được đáp ứng về sự gắn kết; người kia co lại, cố gắng thỏa mãn những đòi hỏi không được đáp ứng về sự độc lập. Một vài cặp tự giam mình trong một vũ điệu đặc thù suốt khoảng thời gian hôn nhân. Một số cặp khác trải qua một sự đảo lộn làm sửng sốt. Với nhiều lý do, người dấn lên điển hình bỗng co lại loay hoay kinh ngạc: Kẻ theo đuổi biến đi đâu? Và bất ngờ, “sứ cách điện” đột nhiên khám phá nhu cầu không được đáp ứng của sự gần gũi. Kẻ đối ngẫu cũng đảo chiều, giống như sự đảo cực của nam châm, và giờ đây, “sứ cách điện” thành người đuổi bắt. Sự việc sẽ như vậy nếu các cặp vợ chồng thỏa thuận duy trì một khoảng cách nào đó giữa họ. Nếu người này bắt đầu xâm lấn thánh địa của người kia, người kia sẽ thoát lui. Nếu người kia bỏ trống phần đất của mình, người này sẽ săn đuổi. Y như một cặp nam châm bị đảo chiều bởi dòng điện, có một từ trường vô hình giữ cho người chồng và người vợ một khoảng phân cách tới hạn.

Những lối thoát không bi thảm

Một cặp vợ chồng mà tôi đã tham vấn, khá thông thạo trò chơi kéo co. Một chỉ báo rõ ràng là trước đó họ đã từng không có quan hệ chăn gối hơn 3 năm. Tôi yêu cầu họ bỏ ra một ngày cùng nhau làm một việc gì đó mà cả hai thấy thích thú. Nhiều ngày sau đó, điều xảy ra là vào một ngày Thứ Bảy, họ đồng ý cùng đi một chuyến về vùng nông thôn và sau đó cùng nhau ăn tối.

Sáng hôm sau, ngay khi họ rời khỏi nhà, cô vợ đưa ra đề nghị là nên mời một người bạn cùng đi. Đã lâu họ không gặp người bạn này, cô vợ nêu lý do, thêm nữa, người bạn vốn rất thích có dịp ra khỏi thành phố. Anh chồng nói rằng ý kiến đó không hay lắm. Mục đích rõ ràng của ngày hôm đó là dành thời gian hai vợ chồng ở bên nhau. Tại sao cô ta cứ luôn luôn muốn phá đám như vậy? Họ tranh cãi kịch liệt suốt một giờ, rồi anh chồng đành nhượng bộ. Cô vợ gọi điện thoại đến người bạn, và ông bạn tỏ ra thích thú được đi cùng họ. Trong lúc chờ ngồi bạn đến, cô vợ đọc báo và dọn dẹp nhà cửa còn anh chồng thì biến vào phòng riêng với mớ giấy tờ quen thuộc của mình.

Người bạn đến và cả ba lên xe đi về vùng quê. Trên xe, hai người đàn ông ngồi ở băng ghế trước – có vẻ như vì chân họ dài và cần có chỗ duỗi cẳng – còn người vợ ngồi ở hàng ghế sau, đọc sách. Trong chuyến đi, hoặc anh chồng hoặc cô vợ trò chuyện với ông bạn, trong khi người kia lẽo đẽo đằng sau.

Khi họ trở lại thành phố, ông bạn về nhà, còn hai vợ chồng bắt đầu thảo luận kế hoạch cho bữa tối. Họ quyết định đến một nhà hàng có trình diễn nhạc sống. Tại nhà hàng, anh chồng đề nghị chọn một bàn ngay trước dàn nhạc để thưởng thức âm nhạc tốt hơn. Họ ăn tối và cố gắng trò chuyện nhưng không thể được vì nhạc quá lớn khiến họ chẳng thể nghe rõ lời nhau. Họ rời nhà hàng lúc 9 giờ kém 15 phút, như vậy là có thể xem chương trình tivi yêu thích của họ.

Ngay khi bước vào nhà, họ rót hai ly rượu và cùng nhau yên vị trước màn ảnh tivi. Cô vợ vào giường lúc 11 giờ đêm (sau khi nhắc nhở chiếu lệ anh chồng đừng uống quá nhiều) còn anh chồng ngồi đó đến tận 1 giờ sáng, khoái trá nốc whisky và coi chương trình truyền hình. Với kỹ năng hoàn hảo, họ đã làm cho một ngày ở bên nhau của họ hoàn toàn không có chút gì thân mật ấm cúng. Họ đã làm một cuộc ly dị vô hình, dẫu rằng họ không thực hiện điều đó.

Cuộc ly dị vô hình

Ở một mức độ khác, hầu hết các cặp vợ chồng đã rơi vào xung đột tranh chấp theo một mô hình tương tự: họ cấu trúc cuộc đời họ cách nào đó khiến cho sự thân mật chân thành không còn đất sống nữa. Cách họ làm điều đó thật là tài tình. Khi tôi hỏi các thân chủ của tôi một câu hỏi giản dị: “Người bạn đời của bạn đã làm như thế nào để tránh né bạn?”, tôi đã thống kê được khoảng 300 câu trả lời khác nhau. Sau đây là một mảng những câu trả lời ấy. Theo tiết lộ của họ thì chiến thuật phổ biến là: “đọc tiểu thuyết”, “chui vào gara”, “săn sóc xe cộ”, “ôm lấy điện thoại”, “quẩn quanh với con cái”, “chạy công chuyện”, “đọc báo liên miên”, “ngủ gật ở đi văng”, “làm hooligan thể thao”, “về nhà thật muộn”, “lúc nào cũng ốm đau mệt mỏi”, “không thích tiếp xúc”, “nốc rượu suốt đêm”, “đam mê bài bạc”, “ăn uống liên miên”, “đi mua sắm”, “lập sổ sách chi tiêu riêng”, “ra quán”, “nghiền ma túy”, “thủ dâm”…

Với thực tế là nhiều cặp vợ chồng đã đục rỗng mối quan hệ của họ bằng những lối thoát khác nhau, đã đặt ra câu hỏi hiển nhiên: Điều gì khiến những người đàn ông và đàn bà bỏ rất nhiều thời gian để tránh né sự thân mật?

Có hai lý do đáng kể: tức giận và sợ hãi. Tại sao lại tức giận? Trong câu chuyện lãng mạn của mối quan hệ yêu đương, những người này tìm được sự thân mật tương đối dễ dàng, bởi vì họ bị nhồi đầy những mong đợi và ước muốn. Người bạn đời của họ vừa là cha, là mẹ, là bác sĩ, là nhà tâm lý trị liệu, tất cả trong một con người. Nhiều tháng hoặc nhiều năm sau, khi họ nhận ra rằng, người bạn đời của họ chỉ cam kết cho sự cứu rỗi bản thân chứ không phải của họ, họ cảm thấy tức giận và cảm thấy bị phản bội. Một thỏa thuận ngầm đã bị xé bỏ. Trong ước muốn trả thù, họ dưng lên một chướng ngại cảm xúc, như thể họ tuyên bố: “Tôi căm giận vì kẻ ấy đã không đến với những khao khát của tôi”. Thế rồi học khởi đầu một cách hệ thống việc tìm kiếm sự hài lòng và thỏa mãn những mong muốn của họ ở bên ngoài mối quan hệ. Y hệt một con bò đói khát vươn cổ ra ngoài hàng rào gặm những ngọn cỏ xanh, họ tìm kiếm sự thỏa mãn ở bất kỳ đâu. Người chồng ở lại cơ quan thật muộn dẫu rằng ngày làm việc đã hết, hoặc người vợ bỏ cả buổi chiều cho lũ trẻ con trong khi người chồng dán mắt vào tivi – cả hai cá thể cố gắng kiếm tìm sự hài lòng đã vắng mặt từ lâu trong mối quan hệ giữa họ.

Lý do khác để cho các cặp vợ chồng tránh né sự thân mật chính là nỗi sợ hãi, đặc biệt là nỗi sợ hãi sự đau khổ. Ở mức độ vô thức, nhiều người phản ứng với người bạn đời như kẻ thù. Bất kỳ ai, dù là cha mẹ, vợ chồng hay hàng xóm láng giềng (theo cung cách nhận thức của tâm thức cũ) mang lại sự thỏa mãn cho mong ước của ta, sau đó lại tước đoạt sự thỏa mãn ấy (cũng theo cung cách nhận thức của tâm thức cũ), người đó chính là nguồn gốc của sự đau khổ và làm xuất hiện bóng ma của cái chết. Nếu người bạn đời của bạn chính là người sẽ làm cho điều đó xảy ra. Khi mà sự chăm sóc đã không có, lại còn kèm theo những lời công kích dữ dội và trong một số trường hợp là sự ngược đãi thực sự, người bạn đời sẽ trở nên một kẻ thù tiềm tàng. Lý do vô thức mà một số người tránh né người bạn đời của mình, không phải là họ săn tìm một thảo nguyên xanh tươi hơn mà là họ đang lẩn tránh cái chết. Hình ảnh thích hợp trong trường hợp này không phải là điền viên, con bò tìm thức ăn, mà là bầy cừu hoảng loạn chạy trốn con sư tử.

Trong hầu hết trường hợp, nỗi sợ hãi người bạn đời là vô ý thức. Tất cả các cặp vợ chồng đều nhận thức điều đó như một cảm xúc êm dịu của nỗi lo âu khi ở bên người bạn đời và đồng thời, một ước muốn với kẻ khác. Từng dịp, nỗi sợ hãi lại trồi lên trên bề mặt. Một thân chủ kể với tôi rằng, chỉ một lần duy nhất chị cảm thấy thực sự an toàn bên chồng là khi họ bước vào văn phòng của tôi. Anh ta không khi nào ngược đãi chị, nhưng mối quan hệ của họ đầy những xung đột mà làm chị tin rằng cuộc sống của chị đang bị nguy hiểm.

Đóng những cửa thoát

Chúng ta không đặt vấn đề là liệu các lý do cho hành vi né tránh căn cứ trên cái gì. Dù sao, điều quan trọng trong những diễn biến khởi đầu của quá trình chữa trị là các cặp vợ chồng, từng bước một, đưa nguồn năng lượng của họ trở lại mối quan hệ. Họ sẽ luôn tìm kiếm sự hài lòng ở những nơi không thích hợp cho đến khi nào họ đóng chặt những cửa thoát có khá nhiều của họ. Và khi những nhu cầu quan hệ của họ chuyển hướng sang những đứa con, hoặc nghề nghiệp, hoặc những gì có thể thay thế, những lầm lạc trong cuộc hôn nhân không phải lúc nào cũng hiển lộ. Những khu vực trục trặc căn bản cần được xác định trước khi có thể giải quyết chúng.

Thật  ngạc nhiên, nhiều cặp vợ chồng cảm thấy khó khăn khi đóng hàng tá những cửa thoát nhỏ trong mối quan hệ của họ hơn là đóng một cửa thoát bi thảm. Nói cách khác, việc bỏ những giờ dán mắt vào tivi trong 3 tháng còn khó khăn hơn là chấp nhận việc đưa ra giải pháp ly dị.

Một phần lý do là việc chặn những lối thoát nhỏ dường như cướp đi sự hài lòng. Và khi người bạn đời không mang lại những gì họ muốn, họ tỏ ra miễn cưỡng khi mình phải nhìn nhận nguồn gốc của sự thỏa mãn những đòi hỏi của mình. Lý do khác của sự đề kháng là khi vợ chồng thấu hiểu nhau hơn, họ phải thường xuyên đối mặt với những nỗi thất vọng bị đè nén, tức giận và sợ hãi. Họ phải giảm thiểu mức độ của nỗi bất hạnh bằng việc xao lãng tâm trí với những hành vi ngoài lề. Họ không đào hầm hố trong mối quan hệ của họ một cách ngẫu nhiên hay có chủ định – họ làm điều đó vì những lý do quan trọng: để thỏa mãn những mong ước và để an toàn.

Nhằm giúp các cặp vợ chồng vượt qua sự đề kháng của bản thân và trở nên thân mật với nhau hơn, tôi đặt ra một nguyên tắc gọi là: “Thay đổi tiệm tiến”. Ý tưởng cơ bản đằng sau khái niệm này là việc xử lý những nhiệm vụ khó khăn sẽ trở nên dễ dàng hơn khi ta phân chia nó thành những đơn vị nhỏ. Nếu những đơn vị đó được sắp xếp theo mức độ khó khăn và đơn vị dễ nhất được xử lý trước tiên, dự án sẽ trở nên trong tầm tay. Khi đọc sang Phần Ba, bạn sẽ tìm thấy những chỉ dẫn đầy đủ cho việc đóng những cửa thoát. Còn bây giờ là cái nhìn tổng quan cho tiến trình đó. Bạn hãy hình dung hai người bị mắc bẫy trong một mối quan hệ không thỏa mãn. Để hóa trang cho sự trống rỗng của cuộc hôn nhân, họ làm đầy cuộc sống của họ với những hài lòng giả tạo. Chúng ta hãy xem xét những cửa thoát của người phụ nữ. Trong mớ trách nhiệm, có sự nghiệp của cô, hai đứa con tuổi mới lớn, một đời sống xã hội sôi động, một vị trí trong cộng đồng, nỗi đam mê rèn luyện thể hình, hai giờ học nhạc mỗi tuần và thói quen đọc tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Những hoạt động đó giúp cô vùi sâu cảm giác thất vọng nhưng chúng lại làm kiệt quệ năng lượng sống của cô trong mối quan hệ vợ chồng.

Khi người phụ nữ quyết định loại bỏ một vài hoạt động – những “cửa thoát” – thì cũng như nhiều người khác, cô sẽ cố tìm một mức độ giá trị thực sự cho những điều cô làm. Khi bạn thực hành bài tập không–cửa–thoát ở Phần Ba, bạn có thể gặp sự bối rối ban đầu tương tự như vậy.

Một cửa thoát là gì? Một hoạt động bản chất hay một hình thái giá trị của sự tái tạo là thế nào? Con đường cần tìm là hãy hỏi chính bạn những câu hỏi sau: “Phải chăng một trong những lý do khiến ta tham gia hoạt động này là để tránh phải ở bên cạnh người bạn đời?”.

Hầu như tất cả đều biết trường hợp này. Chúng ta giả thiết rằng, người phụ nữ đã tự hỏi mình câu hỏi đó và nhận dạng những hoạt động mà cô sẵn sàng giảm bớt hoặc loại bỏ. Tiếp đó, cô phân loại các hoạt động đó theo mức độ khó khăn và chọn ra cái dễ nhất để xử lý. Ví dụ, cô quyết định sẽ làm 2 thay đổi tương đối dễ: Chạy bộ 2 ngày một tuần thay vì 5 ngày một tuần, đọc những cuốn tiểu thuyết ưa thích vào buổi trưa thay vì buổi chiều. Và dành những thời gian được thu xếp cho chồng cô. Cô cũng có thể quyết định tìm người khác thay thế trong công việc cộng đồng, việc này dẫu khó khăn nhưng không phải là không làm được. Các thay đổi khác có vẻ khó khăn hơn. Nếu cô dấn tới và thực hiện hai thay đổi dễ dàng đó, dù sao, cô cũng dôi ra được vài giờ mỗi tuần để dành chúng cho mối quan hệ vợ chồng. Đây là một xuất phát điểm tốt. Các thay đổi khác, nếu cần thiết, có thể làm sau đó.

Vào thời điểm mà người phụ nữ dự tính loại trừ một số lối thoát, chồng cô cũng đang trong một tiến trình tương tự. Anh cũng rà soát lại các hoạt động của mình, nhận dạng các lối thoát, và bắt đầu một chương trình thu giảm có hệ thống. Kết quả của bài tập này là, cả hai vợ chồng sẽ dành ra nhiều khoảng thời gian đáng chú ý hơn cho nhau.

Phản ứng đối với tương tác được nâng cao này ở mỗi cặp vợ chồng có sự khác biệt. Một vài cặp vui vẻ đón nhận những tiếp xúc bổ sung. Một số khác thấy rằng việc đóng các cửa thoát khiến họ có ít hơn những con đường bỏ trốn khỏi một hoàn cảnh nặng nề.

Mặc dù không có những kết quả hài lòng, họ cũng nhận được đôi điều từ bài tập, đó là một mô tả rõ ràng hơn về khu vực xung đột của họ, họ biết đích xác vì sao họ tránh né nhau và đó là bước đầu tiên quan trọng trong việc chữa trị.

Đến khi cái chết chia lìa chúng tôi

Khi tôi hướng dẫn các cặp vợ chồng làm một loạt cam kết – thỏa thuận như:
1. Theo đuổi các đợt chữa trị, tối thiểu 12 tuần lễ.
2. Xác định một quan điểm hôn nhân.
3. Sát cánh bên nhau suốt thời gian chữa trị.
4. Từng bước đóng các cửa thoát.
tôi cho họ biết rằng, các thỏa thuận đó có thể dẫn đến một cam kết rộng lớn hơn: Quyết định gắn bó cùng nhau trong một hành trình sẽ chỉ kết thúc trong sự an nghỉ của cuộc đời họ.

Mặc dù quyết định này không thể đưa ra lúc khởi đầu quá trình chữa trị, tôi muốn các cặp vợ chồng biết rằng, để có sự tăng trưởng tâm lý và tinh thần tối đa, họ cần sát cánh bên nhau không chỉ 3 tháng hoặc 3 năm, ngay cả 30 năm, mà là cả những năm tháng còn lại của đời họ. Nhưng thương tổn tuổi thơ không hiện diện cùng với họ trong một kiện hàng gói ghém gọn ghẽ. Chúng trồi lên bề mặt một cách chậm chạp, trước tiên thường là những gì nông cạn hơn. Đôi khi, một rắc rối nhỏ xuất hiện cả  một thời gian dài trước khi nó được nhận dạng như một vấn đề đặc trưng. Và đôi khi, một khao khát tinh thần đã được vùi sâu chỉ bật ra do một khủng hoảng hoặc do những đòi hỏi của một biến cố đời sống nào đó. Cuối cùng là cam kết sẽ mang lại cho cặp vợ chồng một quãng đời bên nhau để nhận diện và chữa trị phần lớn những chấn thương tinh thần tuổi thơ.

Trong một nền văn hóa mà chế độ một vợ một chồng trở thành quy tắc sống, ý tưởng về một cam kết vĩnh cửu đối với người phối ngẫu có vẻ cổ lỗ, trói buộc. Câu hỏi thịnh hành những năm 50 là: “Hôn nhân có thể được cứu vãn?” Hàng triệu người đã quyết định trả lời: Không! Trong thực tế, nhiều người trong số đó đã nhìn nhận ly dị như một cơ hội cho sự tăng trưởng cá nhân. Theo quan điểm ngày càng phổ biến này, con người trưởng thành và thay đổi bên ngoài hôn nhân, khi hôn nhân đã đổ vỡ. Họ tin tưởng rằng điều này sẽ mở mắt cho họ những hành vi tự kỷ và mang đến cho họ một cơ hội để giải quyết những vấn đề đó với kẻ phối ngẫu mới. Nhưng trừ phi họ hiểu rõ những ước muốn vô thức, những gì đã dẫn đến ứng xử lệch lạc của họ trong cuộc hôn nhân đầu tiên và học cách làm thỏa mãn những ước muốn ấy với kẻ phối ngẫu mới, cuộc hôn nhân thứ hai cũng sẽ lại mắc cạn trên những ghềnh đá cũ mà thôi.

Cảm nhận về sự trưởng thành và thay đổi giữa hai cuộc hôn nhân là một ảo tưởng: nó sẽ chỉ là nỗi đau khổ đến từ sự hoán đổi những ứng xử quen thuộc của người trước cho kẻ sau.

Tôi sẽ tiếp tục chủ đề này trong một nghiên cứu khác về quan hệ yêu đương, cố tránh những quan điểm bảo thủ về hôn nhân. Nhưng tôi tin rằng, rồi đây, các cặp vợ chồng sẽ dành mọi nỗ lực để tôn vinh lời ước nguyện trong hôn lễ của họ là mãi mãi bên nhau “đến khi cái chết chia lìa” đôi lứa. Không phải vì những lý do đạo đức mà là vì những lý do tâm lý: sự trung thành và cam kết trở thành tiền đề, được xác lập bởi vô thức.

Trong Phần Ba, các bạn sẽ có cơ hội để khơi sâu cam kết, bắt đầu một tiến trình trưởng thành và thay đổi, thời gian được đề nghị gói trọn 16 bài tập là 10 tuần lễ. Dành ra hai tháng rưỡi để cải thiện cuộc hôn nhân, có lẽ là tất cả những gì bạn cần để hiện thực hóa quan niệm của mình.

menu
menu