[Sách dịch] Một hướng dẫn cho cuộc đời tốt đẹp - Nghệ thuật cổ của niềm vui Khắc kỷ - Chương 1

sach-dich-mot-huong-dan-cho-cuoc-doi-tot-dep-nghe-thuat-co-cua-niem-vui-khac-ky-chuong-1

Phần 1 Nguồn gốc của Chủ nghĩa Khắc kỷ

Nguyên tác: A Guide to the Good Life: The Ancient Art of Stoic Joy

Tác giả: William B. Irvine

Năm xuất bản: 2008

 

Phần 1

Nguồn gốc của Chủ nghĩa Khắc kỷ

1

Triết học quan tâm đến cuộc sống 

 

Chắc hẳn cuộc đời sẽ luôn luôn có các triết gia, theo ý nghĩa nào đó của từ này. Họ là những người không chỉ đặt ra các câu hỏi chẳng hạn như—Thế giới đến từ đâu? Con người tới từ đâu? và Tại sao lại có cầu vồng?— nhưng quan trọng hơn, họ tiếp tục hỏi những câu hỏi tiếp theo. Ví dụ khi nói rằng thế giới được tạo ra bởi các vị thần, các triết gia thời cổ xưa đã nhận ra câu trả lời này đã không đi đến tận cùng vấn đề. Họ sẽ tiếp tục hỏi tại sao các vị thần tạo ra thế giới, họ tạo ra nó như thế nào, và -- gây bực bội nhất cho những ai đang cố gắng để trả lời các câu hỏi của họ--ai đã tạo ra các vị thần. 

Bất cứ khi nào nó có thể khởi sự, tư duy triết học đã có một bước tiến vượt bậc trong thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Chúng ta tìm thấy Pythagoras (năm 570–500 trước công nguyên) đang tranh luận và giải thích các lý thuyết triết học của mình ở Italy; Thales (năm 636–546 trước công nguyên), Anaximander (năm 641–547 trước công nguyên), và Heracleitus (năm 535– 475 trước công nguyên) ở Hy Lạp; Khổng Tử (năm 551–479 trước công nguyên) ở Trung Quốc; và Đức Phật (563–483 trước công nguyên) ở Ấn Độ. Ta không biết rõ liệu những cá nhân này khám phá ra triết lý của họ một cách độc lập hay không; cũng như không rõ ảnh hưởng triết học chảy theo chiều hướng nào, nếu quả thực là có.

Nhà viết tiểu sử người Hy Lạp Diogenes Laertius, từ góc nhìn thuận lợi của thế kỷ thứ ba sau công nguyên, đã cung cấp một lịch sử về triết học thuở ban đầu khá dễ đọc (nhưng không hoàn toàn đáng tin cậy). Theo Diogenes, triết học phương Tây thời kỳ đầu có hai nhánh riêng biệt.1 Một nhánh— mà ông gọi là nhánh Ý— bắt đầu với Pythagoras. Nếu chúng ta theo dõi thông qua những người kế vị khác nhau của Pythagoras, chúng ta cuối cùng đến với Epicurus, người sở hữu trường phái triết học là đối thủ chính của trường phái Khắc kỷ. Một nhánh khác —Diogenes gọi nó là nhánh Ionian — bắt đầu với Anaximander, người sinh ra (về mặt trí tuệ và phương pháp sư phạm) Anaximenes, người sinh ra Anaxagoras, người sinh ra Archelaus, người, cuối cùng, sinh ra Socrates (năm 469–399 trước công nguyên). 

Socrates sống một cuộc đời phi thường. Ông cũng chết một cách phi thường: Ông bị xử vì tội làm hư hỏng giới trẻ Athens và những hành vi sai trái khác, bị kết tội bởi đồng bào của ông, và bị kết án tử hình bằng cách uống thuốc độc. Ông ấy có thể tránh được hình phạt này bằng cách cầu xin lòng thương xót của tòa hoặc bằng cách bỏ trốn sau khi bản án đã được tuyên. Nhưng các nguyên tắc triết lý của ông sẽ không cho phép ông làm vậy. Sau cái chết của ông, nhiều môn đồ của Socrate không chỉ tiếp tục nghiên cứu triết học mà còn thu hút thêm nhiều môn đồ cho trường phái của họ. Plato, môn đồ nổi tiếng nhất của ông, sáng lập trường triết học được biết đến với tên Academy, Aristippus sáng lập trường phái khoái lạc (Cyrenaic), Euclides sáng lập trường phái Megarian, Phaedo sáng lập trường phái Elian, và Antisthenes sáng lập trường phái Cynic. Thứ từng là con một suối nhỏ trước Socrates trở thành một dòng chảy thực sự sau cái chết của ông.

Tại sao lại diễn ra sự bùng nổ về mối quan tâm trong triết học? Một phần vì Socrates đã thay đổi trọng tâm của câu hỏi triết học. Trước Socrates, các nhà triết học chủ yếu quan tâm đến việc giải thích về thế giới xung quanh họ và các hiện tượng của thế giới đó —họ đang làm cái việc mà chúng ta bây giờ gọi là khoa học. Mặc dù Socrates nghiên cứu khoa học khi còn trẻ, ông đã từ bỏ nó để tập trung vào thân phận, hoàn cảnh của con người. Như nhà hùng biện La Mã, chính trị gia, và triết gia Cicero đã nói, Socrates là “người đầu tiên gọi triết học từ trên trời xuống mặt đất và đặt nó vào các thành phố của loài người và đưa nó đến các gia đình và buộc nó đặt ra những câu hỏi về cuộc sống và đạo đức và những điều thiện, ác.”2 Nhà cổ điển học Francis MacDonald Cornford mô tả về tầm quan trọng của triết học Socrates bằng những lời lẽ tương tự: “Triết học tiền-Socratic bắt đầu. . . với sự khám phá về Tự nhiên; triết học Socratic bắt đầu với công cuộc khám phá về tâm trí của con người.”3 

Tại sao Socrates vẫn còn là một nhân vật ấn tượng trong hai mươi bốn thế kỷ sau cái chết của ông? Đấy không phải vì những khám phá triết học của ông ấy; những kết luận về triết học của ông, sau rốt thì chúng về cơ bản là tiêu cực: Ông ấy chỉ cho chúng ta thấy những điều ta chưa biết. Đúng hơn là, mức độ mà ông ấy cho phép lối sống của mình chịu ảnh hưởng của những suy đoán triết học của ông. Quả thực, theo triết gia Luis E. Navia, “ở [Socrates], có lẽ hơn bất kỳ triết gia lớn nào khác, chúng ta bắt gặp tấm gương về một người đàn ông có khả năng hợp nhất trong cuộc đời ông những mối quan tâm về lý thuyết và suy đoán vào bối cảnh của những hoạt động thường ngày của ông.” Navia mô tả ông như “một mô hình xác thực của hoạt động triết học cả trong tư tưởng và hành động.”4

Có lẽ một số người bị thu hút trước Socrates chủ yếu do ấn tượng với lý thuyết của ông ấy, còn số khác thì ấn tượng nhất bởi lối sống của ông. Plato thuộc về nhóm đầu; trong học viện Academy của ông, Plato thích khám phá lý thuyết triết học hơn là rao giảng lời khuyên về lối sống. Ngược lại, Antisthenes thì ấn tượng sâu sắc với lối sống của Socrates; trường phái hoài nghi mà ông sáng lập làm ngơ với lý thuyết triết học mà thay vào đó tập trung vào việc khuyên nhủ con người họ cần phải làm gì để có một cuộc sống tốt đẹp. 

Như thể cái chết của Socrates đã phân tách thành Plato và Antisthenes, với Plato kế thừa mối quan tâm về lý thuyết của Socrates và Antisthenes kế thừa mối quan tâm của ông ấy với việc sống cuộc đời tốt đẹp. Sẽ thật tuyệt vời nếu hai mặt triết học này phát triển mạnh mẽ trong những thiên niên kỷ tiếp theo, bởi vì con người sẽ nhận được nhiều lợi lạc từ cả hai lý thuyết triết học và áp dụng triết học vào cuộc sống của họ. Thật không may, mặc dù khía cạnh lý thuyết của triết học đã hưng thịnh, nhưng khía cạnh thực tiễn thì lại lụi tàn.

Dưới sự cai quản của một chính phủ chuyên chế như Ba Tư cổ đại, khả năng đọc, viết và làm toán rất quan trọng với chính phủ, còn khả năng thuyết phục người khác thì lại bị xem nhẹ. Chính quyền chỉ cần đưa ra mệnh lệnh, những người dưới quyền sẽ răm rắp tuân theo. Tuy nhiên, ở Hy Lạp và La Mã, sự xuất hiện của dân chủ đồng nghĩa với những ai có khả năng thuyết phục người khác có xu hướng có sự nghiệp thành công trong chính trị hoặc luật pháp. Một phần bởi lý do này mà các bậc phụ huynh giàu có ở Hy Lạp và La Mã đã tìm kiếm những giáo viên có thể giúp con họ phát triển khả năng thuyết phục người khác, sau khi đứa trẻ hoàn thành xong chương trình giáo dục trung học.

Các bậc cha mẹ ấy có thể tìm đến dịch vụ của một nhà ngụy biện, với mục tiêu là dạy cho học sinh chiến thắng trong các cuộc tranh luận. Để đạt được mục tiêu này, các nhà ngụy biện sẽ dạy nhiều kỹ thuật thuyết phục khác nhau, bao gồm thuyết phục lý trí và thao túng cảm xúc. Cụ thể, họ dạy học sinh rằng bạn có thể tranh luận hoặc phản bác lại bất cứ lời tuyên bố nào. Cùng với việc phát triển các kỹ năng tranh luận của học sinh, các nhà ngụy biện còn phát triển kỹ năng hùng biện của chúng, để chúng có thể truyền đạt hiệu quả những lý lẽ của mình. 

Ngoài ra, các bậc phụ huynh có thể tìm đến các dịch vụ của một triết gia. Giống như các nhà ngụy biện, các triết gia cũng dạy các kỹ thuật thuyết phục, nhưng không giống nhà ngụy biện, họ tránh thao túng cảm xúc (appeals to emotion). Không giống như các nhà ngụy biện, các triết gia cho rằng bên cạnh việc dạy học sinh cách thuyết phục, họ cũng nên dạy chúng cách sống cho tốt. Bởi thế, theo nhà sử học H. I. Marrou, trong giáo lý của họ, họ nhấn mạnh đến “khía cạnh đạo đức của giáo dục, sự phát triển của nhân cách và đời sống nội tâm.”5 Trong quá trình làm điều này, nhiều triết gia cung cấp cho học sinh một triết lý về cuộc sống: Họ dạy chúng những điều gì trong cuộc đời đáng để theo đuổi và cách tốt nhất để đạt được chúng. 

Một số phụ huynh muốn có một nền giáo dục triết học cho con cái của mình đã thuê một triết gia làm gia sư về cách sống; ví dụ như Aristotle, được vua Philip của Macedon thuê để kèm cặp cho Alexander, người sau này trở thành Alexander “Đại Đế.” Những phụ huynh không đủ tiền để mướn gia sư riêng thì sẽ gửi con trai họ— nhưng chắc không phải là con gái họ— đến học ở một trường dạy về triết. Sau cái chết của Socrates, những ngôi trường này đã trở thành một đặc trưng nổi bật của văn hóa Athen, và đến thế kỷ thứ hai trước công nguyên, La Mã chịu sự chi phối của văn hóa Athen, các trường phái triết học bắt đầu xuất hiện ở La Mã.

(Hiện tại) Không còn các trường dạy về triết học, và đây là một điều đáng xấu hổ. Đúng là triết học vẫn còn được dạy ở các trường học — chính xác hơn là, ở khoa triết học của trường đại học — nhưng vai trò văn hóa của các khoa triết học hoàn toàn không giống như các trường triết học thời cổ đại. Bởi một lẽ, những sinh viên đăng ký các lớp triết học ở trường đại học hiếm khi bị thúc đẩy bởi ham muốn thu nhận triết lý về cuộc đời; thay vào đó, họ ghi danh vì người cố vấn của họ bảo rằng nếu không học thì không được tốt nghiệp. Và nếu họ muốn tìm kiếm một triết lý sống thì ở đa số các trường đại học, họ sẽ khó mà tìm ra một khóa học cung cấp cho họ điều đó. 

Nhưng cho dù các trường học về triết giờ chỉ còn là dĩ vãng, những người đang rất cần một triết lý sống như ngày nào. Câu hỏi là, họ cần đến chỗ nào để tìm được nó? Nếu họ đến khoa triết ở trường đại học địa phương, như tôi đã giải thích, họ có lẽ sẽ thất vọng. Nếu thay vào đó họ tìm đến nhà thờ địa phương thì sao? Mục sư của họ có thể khuyên họ những điều họ cần làm để trở thành một người tốt, tức là những việc họ phải làm để trở thành người đàng hoàng, mẫu mực về đạo đức. Chẳng hạn họ có thể được dạy rằng không được nói dối hay ăn cắp hoặc (trong một số tôn giáo) phá thai. Mục sư của họ có lẽ cũng sẽ giải thích về những điều họ phải làm để khi chết được lên thiên đàng: Họ nên đi lễ nhà thờ thường xuyên và cầu nguyện và (trong một số tôn giáo) đóng tiền thập phân. Nhưng mục sư của họ có thể sẽ chẳng nói gì mấy về những việc họ phải làm để có được một cuộc sống tốt đẹp. Quả thực phần lớn tôn giáo, sau khi nói với các tín đồ những việc họ phải làm để thành người mẫu mực và sau khi chết sẽ được lên thiên đàng, để mặc họ tự định đoạt những thứ gì đáng và không đáng theo đuổi trong cuộc sống. Những tôn giáo này thấy chẳng có gì sai với một môn đồ làm việc hết mình để anh ta có thể mua được một căn biệt thự lớn và một chiếc xe hơi thể thao đắt tiền, miễn là anh ta không vi phạm luật pháp khi làm giàu; cũng như họ chẳng thấy có gì sai với những môn đồ từ bỏ căn biệt thự để sống trong một túp lều và từ bỏ xe hơi để đi xe đạp. 

Và nếu các tôn giáo đưa ra lời khuyên cho các môn đồ về những gì đáng hoặc không đáng theo đuổi trong cuộc đời, họ có xu hướng đưa ra lời khuyên một cách ôn hòa mà các môn đồ có thể xem nó như một sự gợi ý hơn là một chỉ dẫn về cách sống và do đó có thể phớt lờ lời khuyên ấy. Ta có thể mường tượng đây là lý do tại sao các môn đồ của những tôn giáo khác nhau, mặc cho những khác biệt về niềm tin tôn giáo của họ, kết thúc với cùng triết lý sống thật bất ngờ, tức là, một hình thức của chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ (enlightened hedonism). Do đó, mặc dầu giáo phái Luther, giáo phái Baptists, Do Thái giáo, giáo phái Mormons, và Công giáo có những quan điểm tôn giáo khác nhau, nhưng họ lại rất giống nhau khi gặp bên ngoài nhà thờ hoặc giáo đường. Họ làm những công việc giống nhau và có tham vọng nghề nghiệp giống nhau. Họ sống trong những ngôi nhà tương tự, đồ nội thất giống nhau. Và họ đều thèm khát những sản phẩm tiêu dùng đang thịnh hành. 

Rõ ràng là một tôn giáo có thể yêu cầu các tín đồ của mình tuân theo một triết lý sống cụ thể. Hãy xem xét ví dụ minh họa về tôn giáo Hutterite, nơi dạy các môn đồ rằng một trong những điều quý giá nhất của cuộc sống là ý thức cộng đồng. Hutterites do đó bị cấm sở hữu tài sản riêng, lý do là quyền sở hữu sẽ làm nảy sinh cảm giác ghen tỵ, từ đó sẽ phá vỡ ý thức cộng đồng mà Hutterites coi trọng. (Tất nhiên chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu đây có phải là một triết lý sống đúng đắn hay không.) 

Tuy nhiên, hầu hết các tôn giáo đều không yêu cầu các tín đồ của họ tuân theo một triết lý sống cụ thể. Chừng nào các tín đồ không làm hại người khác và không chọc giận Chúa, họ có thể tự do sống cuộc đời theo ý mình muốn. Đúng là, nếu tôn giáo Hutterite có vẻ vừa cực đoan và kỳ lạ đối với đa số mọi người, ấy là tại vì họ không thể tưởng tượng nổi chuyện thuộc về một tôn giáo yêu cầu họ phải sống cuộc đời của họ như thế nào.

Điều này có nghĩa là những ngày này hoàn toàn có thể xảy ra đối với một người nào đó đã được nuôi dưỡng trong một tôn giáo và đã tham gia các khóa triết học ở đại học nhưng vẫn thiếu một triết lý sống. (Quả thật đây là tình cảnh mà đa phần các sinh viên của tôi nhìn thấy hình bóng bản thân ở đó.) Vậy thì những người đang tìm kiếm một triết lý sống nên làm gì đây? Có lẽ lựa chọn tốt nhất của họ là tạo cho mình một trường phái triết học ảo bằng cách đọc tác phẩm của các triết gia từng sáng lập các trường phái thời cổ đại. Điều này, ở mức độ nào đó, trong những trang tiếp theo, tôi sẽ khuyến khích các độc giả làm.

Vào thời Hy Lạp cổ đại, khi các trường phái triết học vẫn là những nét đặc trưng của cảnh quan văn hóa, có nhiều trường phái mà các bậc cha mẹ có thể gửi con cái theo học. Giả sử chúng ta có thể du hành ngược thời gian về năm 300 trước công nguyên và nghĩ về chuyến đi bộ ở Athens của một người. Chúng ta có thể bắt đầu chuyến đi của mình ở Agora, nơi Socrates một thế kỷ trước đó đã giải thích hoặc tranh luận (một quan điểm hoặc ý tưởng) theo các lý thuyết triết học của ông với các công dân Athens. Ở phía bắc Agora chúng ta sẽ thấy Stoa Poikile, hoặc Painted Porch, và được nắm giữ bởi Zeno xứ Citium, người sáng lập trường phái triết học Khắc kỷ. “Hành lang” này trên thực tế là một dãy cột được trang trí bằng tranh tường.

 Stoa Poikile

 

Khi chúng ta đi thăm Athens, chúng ta có thể tình cờ gặp nhà triết học Hoài nghi Crates, người có trường phái triết học mà Zeno từng theo học. Mặc dù các nhà hoài nghi gặp nhau lần đầu ở gần nhà thi đấu của Cynosarges— do đó tên tuổi của họ— có thể tìm thấy ở bất cứ đâu tại Athens, cố gắng lôi kéo (hoặc lôi đi, nếu cần) những người bình thường vào các cuộc tranh luận về triết học. Hơn nữa, trong khi các bậc cha mẹ có thể sẵn sàng cho con cái theo học với Zeno, họ khó có thể động viên con cái trở thành những nhà Hoài nghi, bởi vì nếu chúng tiếp thu các giáo lý hoài nghi, sẽ đảm bảo một cuộc đời khổ nhục cho đứa trẻ .

Đi về hướng Tây Bắc và rời khỏi thành phố bằng Cổng Dipylon, chúng ta sẽ đến Khu vườn của Epicureans, do Epicurus cai quản. Trong khi Painted Porch là một kiểu không gian đô thị, việc giảng bài của các nhà Khắc kỷ chốc chốc lại bị làm gián đoạn bởi tiếng ồn ào từ đường phố hoặc những bình phẩm, ý kiến của người đi đường, Khu vườn của Epicurus lại mang cảm giác thôn quê rõ rệt. Khu vườn này trên thưc tế là một khu vườn làm việc mà những người Epicureans tự trồng rau. 

Tiếp tục đi về phía tây bắc, cách Agora khoảng một dặm, chúng ta sẽ đến học viện Academy, trường phái triết học do Plato sáng lập năm 387 trước công nguyên, hơn một thập kỷ sau cái chết của Socrates. Giống như Khu vườn của Epicurus, học viện Academy sẽ là một nơi nổi bật để giải thích hoặc tranh luận (một quan điểm hoặc ý tưởng) theo các lý thuyết triết học của một người. Đó là một nơi tu tập giống như công viên, có trang bị lối đi bộ và đài phun nước. Trong khuôn viên Academy là các tòa nhà, được chi trả bằng tiền của Plato và bạn bè của ông. Thuyết giảng ở đó vào năm 300 trước công nguyên có thể là Polemo, người kế thừa vị trí chủ nhân của trường. (Nhà triết học khắc kỷ Zeno, như chúng ta sẽ thấy, đã theo học trường Polemo một thời gian.)

Quay trở lại, đi qua thành phố một lần nữa, và ra khỏi cổng thành ở ngoại ô phía đông Athens, chúng ta sẽ đến Lyceum. Trong khu vực rừng cây này, gần một đền thờ Apollo Lykeios, chúng ta có thể thấy Peripatetics, các môn đệ của Aristotle, đang đi bộ và nói chuyện, và người đứng đầu nhóm có thể là Theophrastus. 

Nhưng đây chỉ là khởi đầu của các lựa chọn giáo dục mở ra cho các bậc cha mẹ thời cổ đại. Bên cạnh các trường phái được đề cập có liên quan đến chuyến đi bộ của chúng ta, còn có cả trường phái Khoái lạc, trường phái Hoài nghi, Megarian, và Elian đã đề cập trước đó, mà chúng ta có thể bổ sung thêm nhiều trường phái khác được đề cập bởi Diogenes Laertius, bao gồm trường phái Eretrian, Annicerean, và trường phái Theodorean, cùng với các trường phái được điều hành bởi những người theo đạo Do Thái, những người yêu thích sự thật, những người theo chủ nghĩa phản đối, the Reasoners từ Analogy, những nhà vật lý, những nhà đạo đức, và nhà biện chứng.6 

Thật tình cờ, những người đàn ông trẻ (và, hiếm thấy phụ nữ trẻ) không phải là những người duy nhất tham dự các trường triết học. Có đôi lúc người cha cũng theo học cùng với con trai họ. Trong các trường hợp khác, những người trưởng thành một mình đi nghe bài giảng của trường học. Một số người trưởng thành chỉ đơn giản là thấy hứng thú với triết học; có lẽ họ từng đi học khi còn trẻ và bây giờ mưu cầu “việc học lâu dài” về triết lý sống được giảng dạy bởi các trường đó. Những người trưởng thành khác, dù chưa từng thuộc về một trường phái nào, có thể đến nghe giảng với tư cách khách mời. Động cơ của họ có lẽ cũng giống như động cơ của những con người thời hiện đại khi đến những buổi thuyết giảng công cộng: Họ mưu cầu sự giác ngộ và giải trí. Tuy nhiên những người trưởng thành khác thì lại có động cơ mờ ám khi theo học ở các trường triết học: Họ muốn thành lập trường phái của riêng mình và đi nghe bài giảng của người đứng đầu các trường thành công để vay mượn ý tưởng triết học để sử dụng cho bài giảng của họ. Zeno xứ Citium bị buộc tội đã làm điều này: Polemo phàn nàn rằng động cơ của Zeno khi đi nghe các bài diễn thuyết tại trường Academy là để ăn cắp các học thuyết của ông.7

Các trường phái triết học đối thủ khác nhau về các chủ đề họ dạy. Các nhà Khắc kỷ thuở ban đầu, ví dụ, không chỉ hứng thú với một triết lý về cuộc đời, mà còn cả vật lý và logic, vì lý do đơn giản là họ cho rằng các lĩnh vực đó vốn gắn kết với nhau. Phái Epicureans (những người theo chủ nghĩa khoái lạc) chia sẻ mối quan tâm về vật lý với các nhà Khắc kỷ (dù họ có những quan điểm khác về thế giới vật chất so với các nhà Khắc kỷ) nhưng không chia sẻ mối quan tâm của họ về logic. Những người theo chủ nghĩa Khoái lạc và những người Hoài nghi không quan tâm đến vật lý cũng như; ở các ngôi trường của họ, tất cả những điều họ dạy là một triết lý về cuộc sống. 

Những trường phái đó trang bị cho sinh viên một triết lý sống khác biệt nhau theo triết học mà họ giới thiệu. Chẳng hạn, Trường phái Khoái lạc cho rằng mục tiêu lớn trong cuộc đời là để trải nghiệm lạc thú và do đó ủng hộ con người ta tận dụng mọi cơ hội để trải nghiệm nó. Người theo chủ nghĩa Hoài nghi ủng hộ một lối sống khổ hạnh: Họ cho rằng nếu bạn muốn có một cuộc sống tốt đẹp thì bạn phải học cách gần như là chẳng mong cầu thứ gì. Các nhà Khắc kỷ rơi vào đâu đó giữa phái Khoái lạc và phái Hoài nghi: Họ cho rằng con người nên tận hưởng những điều tốt đẹp mà cuộc đời trao tặng, bao gồm tình bạn và sự giàu sang, nhưng chỉ khi nào họ không khư khư giữ lấy những điều tốt đẹp đó. Quả thật, họ tin rằng chúng ta nên định kỳ làm gián đoạn sự sung sướng của mình với những điều cuộc đời mang đến để dành thời gian suy ngẫm về sự mất mát của bất cứ thứ gì mà ta đang tận hưởng.

Tuân theo một trường phái triết học là một công việc nghiêm túc. Theo nhà sử học Simon Price, “Trung thành với một môn phái triết học không đơn giản chỉ là vấn đề của trí óc, hay chỉ đơn giản là kết quả của cách tư duy. Những người nghiêm túc coi trọng triết lý sống của họ sẽ cố gắng sống theo triết lý đó hằng ngày.”8 Và giống như một tôn giáo của con người thời hiện đại có thể trở thành yếu tố then chốt của bản sắc cá nhân của anh ta —hãy nghĩ về một tín đồ Cơ-đốc được sanh ra lần nữa—một hiệp hội triết học của Hy Lạp hoặc La Mã thời cổ đại trở thành một phần quan trọng của con người anh ta. Theo sử gia Paul Veyne, “Để thực sự là một triết gia tức là sống theo học thuyết của môn phái đó, cách cư xử tuân thủ theo quy tắc (và thậm chí cả trang phục), và nếu cần, thì sẵn sàng chết vì nó.”9

Do đó, độc giả của cuốn sách này nên nhớ rằng mặc dù tôi ủng hộ chủ nghĩa khắc kỷ như một triết lý sống, thì đó cũng không phải là sự lựa chọn duy nhất cho những ai đang tìm kiếm một triết lý sống. Hơn nữa, mặc dầu các nhà Khắc kỷ tin rằng họ có thể chứng minh triết lý sống của họ là đúng đắn thì tôi cũng không nghĩ (chúng ta sẽ thấy ở chương 21) đó là một bằng chứng khả thi. Thay vào đó, tôi cho rằng triết lý sống mà một người nên chọn lựa phụ thuộc vào tính cách và hoàn cảnh sống của cô ấy.

Nhưng khi thừa nhận điều này, tôi xin nói thêm rằng tôi nghĩ có rất nhiều người có tính cách và hoàn cảnh sống khiến họ trở thành những ứng viên tuyệt vời để thực hành Chủ nghĩa Khắc kỷ. Hơn nữa, bất cứ triết lý sống nào mà một người cuối cùng chọn tuân theo, nếu cô ấy cố gắng sống theo triết lý đó, cô ấy có lẽ sẽ có cuộc sống tốt hơn những người thiếu một triết lý sống nhất quán.

(hết chương 1)

menu
menu