[Sách dịch] Một hướng dẫn cho cuộc đời tốt đẹp - Nghệ thuật cổ của niềm vui Khắc kỷ - Chương 2

sach-dich-mot-huong-dan-cho-cuoc-doi-tot-dep-nghe-thuat-co-cua-niem-vui-khac-ky-chuong-2

Một người không bình thản - tức là người bị dễ bị phân tâm bởi các cảm xúc tiêu cực chẳng hạn như tức giận hay đau buồn - có thể khó mà thực hiện những gì lý trí khuyên bảo anh ta làm: Cảm xúc của anh ta sẽ chiến thắng lý trí của anh ta.

Nguyên tác: A Guide to the Good Life: The Ancient Art of Stoic Joy

Tác giả: William B. Irvine

Năm xuất bản: 2008

 

Chương 2

Các nhà Khắc kỷ đầu tiên

 

Zeno (333–261 trước công nguyên) là nhà Khắc kỷ đầu tiên. (Và khi nói đến Zeno, tôi đang nói về Zeno xứ Citium, đừng nhầm lẫn với Zeno xứ Elea, người nổi danh vì một nghịch lý liên quan đến Achilles và một con rùa, hoặc với bất kỳ ông Zeno nào trong số bảy ông Zeno khác được đề cập bởi Diogenes Laertius trong các bản phác thảo tiểu sử của ông.) Cha của Zeno là một lái buôn thuốc nhuộm tím và thường trở về nhà sau những chuyến đi cùng với những cuốn sách tặng cho Zeno đọc. Trong số chúng có những cuốn sách triết học mua ở Athens. Những cuốn sách này đã khơi dậy sự quan tâm của Zeno về cả triết học và Athens. Do bị đắm tàu, Zeno đi lang thang ở Athens, và trong lúc đang lưu tại đó, anh quyết định tận dụng lợi thế của những nguồn lực triết học mà thành phố này mang lại. Anh ta đến một cửa hàng bán sách và hỏi có thể tìm gặp những người đàn ông giống như Socrates ở đâu. Ngay lúc đó thì Crates-người theo chủ nghĩa Hoài nghi, đi ngang qua. Người bán sách chỉ vào ông ta và nói, “Hãy đi theo người đàn ông đằng kia.” Và thế là, chúng ta được biết, Zeno trở thành học trò của Crates. Nhìn lại quãng thời gian này trong cuộc đời, Zeno nhận xét, “Tôi đã có một chuyến đi thành công khi tôi bị đắm tàu.”1 Những người theo chủ nghĩa hoài nghi không quan tâm nhiều đến các lý thuyết triết học. Thay vào đó họ ủng hộ một lối sống triết học khá cực đoan.

 Zeno

Họ là những người khổ hạnh. Về mặt xã hội, họ cũng giống như những người mà ngày nay chúng ta gọi là người vô gia cư: Họ sống trên đường phố và trong cảnh màn trời chiếu đất. Họ chỉ sở hữu quần áo mặc trên người, thường là một cái áo choàng rách nát, thứ mà người xưa gọi là “trang phục của người Hoài nghi.” Họ sống cuộc đời giật gấu vá vai, lo kiếm ăn hết ngày này qua tháng nọ. 

Khi một ai đó nói với Epictetus— dù bản thân ông là một nhà Khắc kỷ, quen thuộc với chủ nghĩa Hoài nghi—rằng anh ta đang định tham gia trường phái Hoài nghi, Epictetus giải thích những gì cần có để trở thành một người Hoài nghi: “Anh phải hoàn toàn gạt bỏ ý muốn chiếm hữu, và phải sẵn sàng tránh những điều dối trá trong phạm vi của ý chí của bạn: anh phải không còn chấp chứa sự tức giận, phẫn nộ, ganh tỵ, sự thương hại: một cô thiếu nữ, một danh vọng, những sở thích hay những cái bánh ngọt, không có ý nghĩa gì với anh.” Một người Hoài nghi, ông giải thích, “phải có một tinh thần bền bỉ to lớn mới có thể xuất hiện trước mọi người với dáng vẻ sắt đá như vậy. Bị chửi rủa hay bị ăn đòn hay lăng mạ đối với anh ta chẳng là gì cả.”2 Ít ai đủ can đảm và sức chịu đựng để sống cuộc đời giống như một người Hoài nghi.

Những người Hoài nghi nổi tiếng vì sự khôn ngoan và trí tuệ của họ. Chẳng hạn, khi ai đó hỏi một người đàn ông nên kết hôn với kiểu phụ nữ nào, Antisthenes đáp rằng dù ông có chọn mẫu phụ nữ nào làm vợ thì ông vẫn sẽ sống trong cuộc hôn nhân đầy hối tiếc: “Nếu nàng xinh đẹp, bạn sẽ không có được cô ấy cho mình; nếu nàng xấu xí, bạn sẽ phải trả giá đắt.” Bàn về những mối quan hệ của chúng ta với những người khác, ông nhận xét rằng “thà rơi vào tay lũ quạ còn hơn là những kẻ nịnh hót; bởi trong trường hợp đầu tiên, bạn bị ăn thịt khi đã chết, trường hợp kia thì bị thịt khi đang sống.” Ông cũng khuyên khán giả của ông “hãy chú ý đến kẻ thù của bạn, vì họ là người đầu tiên phát hiện ra lỗi lầm của bạn.” Mặc dù, hay có lẽ do trí thông minh sắc bén của mình, Antisthenes được gọi là “người đàn ông dễ chịu nhất trong cuộc trò chuyện.”3

Diogenes của thành Sinope (đừng nhầm lẫn với Diogenes Laertius, người đã viết một bản phác thảo tiểu sử về ông ấy và các triết gia khác) là học trò của Antisthenes và tiếp tục trở thành người theo chủ nghĩa hoài nghi lừng danh nhất. Để bảo vệ cho lối sống đơn giản, Diogenes quan sát thấy “chúa trời đã ban cho loài người các phương tiện kiếm sống dễ dàng, nhưng điều này đang bị ẩn giấu, bởi vì chúng ta đòi hỏi những cái bánh mật ong, thuốc mỡ và những thứ tương tự.” Đó là sự điên rồ của con người, ông cho biết, rằng họ chọn cuộc sống khổ sở trong khi họ có quyền năng để được hạnh phúc, vui vẻ. Vấn đề là “người xấu tuân theo những ham muốn của họ cũng giống như tôi tớ tuân lệnh chủ nhân của họ,” và do họ không thể kiểm soát được những ham muốn của mình nên họ không bao giờ có thể thỏa mãn.4 

Diogenes quả quyết rằng các giá trị của con người đang trở nên bại hoại. Ông đưa ra ví dụ minh họa về một bức tượng, mà chức năng duy nhất của nó là làm vui mắt, có thể tiêu tốn ba ngàn drachmas, trong khi một đấu bột lúa mạch, khi ăn có thể giữ cho ta sống, có thể mua chỉ với hai đồng xu.5 Ông tin rằng cơn đói là món khai vị tốt nhất, và bởi vì ông đợi cho đến khi ông cảm thấy đói hoặc khát trước khi ông ăn uống, “ông ta đã từng ăn một chiếc bánh lúa mạch với sự thỏa mãn to lớn hơn những loại thực phẩm đắt tiền nào khác, và thích thú uống nước từ một dòng suối đang chảy hơn những người đang uống rượu Thasian.”6 Khi được hỏi về chuyện ông không có nhà cửa gì, Diogenes sẽ trả lời rằng ông ông đã đến những ngôi nhà to lớn nhất ở mọi thành phố—đó là những ngôi đền thờ và nhà thi đấu thể thao của họ. Và khi được hỏi ông đã học được gì từ triết học, Diogenes đáp, “Để chuẩn bị cho mọi vận mệnh.”7 Câu trả lời này, chúng ta sẽ thấy, dự đoán về một chủ đề quan trọng của chủ nghĩa Khắc kỷ.

Những người Hoài nghi không rao giảng triết học trong khung cảnh ngoại ô, như Epicurus và Plato đã làm, mà trên các đường phố của Athens, như Socrates. Và giống như Socrates, những người hoài nghi tìm cách hướng dẫn không chỉ cho những người xem mình là học sinh mà còn hướng dẫn cho bất cứ ai, bao gồm cả những người không muốn được dạy. Thật vậy, triết gia hoài nghi Crates là giáo viên dạy triết học đầu tiên của triết gia khắc kỷ Zeno—không bằng lòng với việc kêu gọi những người ông gặp trên đường phố; ông còn bước vào nhà của những người mà họ không mời ông để khuyên nhủ, thuyết giảng cho những người trong nhà. Bởi thói quen này mà ông ta còn được biết đến với cái tên “Người Mở Cửa.”8

Sau khi học với Crates một thời gian, Zeno quyết định rằng ông thấy hứng thú với lý thuyết hơn Crates. Do đó ông nảy ra ý tưởng không chỉ tập trung vào một mình lối sống triết lý hay một lý thuyết triết học, mà còn kết hợp lối sống với lý thuyết, theo cách mà Socrates đã làm.9 Nhà triết học người Đức thế kỷ 19 Arthur Schopenhauer đã tóm tắt mối quan hệ giữa Chủ nghĩa hoài nghi và Chủ nghĩa Khắc kỷ bằng việc quan sát thấy các triết gia Khắc kỷ tiếp nối từ các triết gia hoài nghi “bằng cách thay đổi thực hành thành lý thuyết.”10

Do đó Zeno bắt đầu học lý thuyết triết học. Ông ta theo học với Stilpo của trường phái Megarian. (Crates phản đối bằng cách cố lôi ông ta ra khỏi chỗ đó.) Ông ta cũng học với Polemo ở học viện Academy, và vào khoảng năm 300 trước công nguyên, ông ta bắt đầu sáng lập trường phái triết học của riêng mình. Trong bài giảng của mình, ông dường như đã pha trộn lời khuyên về lối sống của Crates với lý thuyết triết học của Polemo. Trong sự pha trộn này, ông cũng hợp nhất mối quan tâm về logic và nghịch lý của trường phái Megarian. 

Trường phái triết học của Zeno ngay lập tức có được thành công.12 Các môn đồ của ông ban đầu được gọi là Zenonians, nhưng vì ông có thói quen giảng bài ở Stoa Poikile, sau này họ được biết đến bằng cái tên Stoics—nhân tiện tôi giới thiệu luôn, đó cũng là nơi mà các nhà thơ trước đây hay lui tới.13 

Một điều làm cho chủ nghĩa Khắc kỷ trở nên hấp dẫn là nó từ bỏ chủ nghĩa khổ hạnh của người Hoài nghi: Các nhà Khắc kỷ ưa thích một lối sống tuy đơn giản nhưng cho phép con người tận hưởng sự thoải mái. Những nhà Khắc kỷ biện hộ cho sự từ bỏ này bằng cách lập luận rằng nếu họ tránh né “những điều tốt lành,” như những người Hoài nghi làm, họ qua đó chỉ chứng tỏ rằng những thứ họ đang hoài nghi là thực sự tốt đẹp—đó là những thứ, nếu họ không che giấu chúng với chính mình, thì họ sẽ thèm muốn. Các nhà Khắc kỷ tận hưởng bất cứ “điều tốt đẹp nào” đến với họ, nhưng họ vẫn chuẩn bị tinh thần từ bỏ những thứ đó.

Triết học của Zeno có các yếu tố đạo đức, vật lý và logic. Những người theo học chủ nghĩa Khắc kỷ dưới thời của ông ấy bắt đầu với môn logic, rồi chuyển sang vật lý, và kết thúc bằng môn đạo đức.14 

Salt Lake ở Larnaca—quê hương của Zeno xứ Citium, nhà sáng lập Chủ nghĩa Khắc kỷ

Mặc dù các nhà Khắc kỷ không phải là những người đầu tiên dạy về logic —Aristotle, chẳng hạn, đã làm điều đó trước họ, cũng như những người theo trường phái Megara— logic của phái Khắc kỷ cho thấy một mức độ công phu chưa từng thấy. Mối quan tâm với logic của các nhà Khắc kỷ là hệ quả tự nhiên của niềm tin rằng đặc điểm phân biệt của con người với động vật chính là khả năng lý trí của anh ta. Sau cùng, Logic là môn học về cách sử dụng lập luận chính xác. Các nhà khắc kỷ trở thành chuyên gia về các hình thức tranh luận, ví dụ  “Nếu A, thì B; Không A, do đó B” hoặc “Hoặc A hoặc B; nhưng không A, do đó B.” Những hình thức lập luận đó, tương ứng được gọi là Khẳng định luận Phủ định để khẳng định, vẫn được các nhà logic học sử dụng. 

Để hiểu được mối quan tâm của các nhà Khắc kỷ với logic, ta cần nhớ rằng các bậc phụ huynh đã gửi con em họ theo học các trường triết học không chỉ muốn chúng có thể học được cách sống tốt mà còn có thể mài giũa kỹ năng thuyết phục. Bằng cách dạy logic cho học trò của mình, các nhà Khắc kỷ còn đang giúp chúng phát triển những kỹ năng đó: Những học sinh hiểu logic có thể phát hiện ra các lỗi ngụy biện của người khác và nhờ vậy chiếm ưu thế trong các cuộc tranh luận.

Vật lý là thành phần thứ hai của Chủ nghĩa Khắc kỷ của Zeno. Sống trong một thời đại mà chưa có khoa học, các học trò của Zeno chắc chắn đánh giá cao những lý giải về thế giới xung quanh chúng. Và bên cạnh việc đưa ra những giải thích về các hiện tượng tự nhiên, giống như cách làm của vật lý thời hiện đại, vật lý của chủ nghĩa Khắc kỷ quan tâm đến cái mà chúng ta gọi là Thần học. Ví dụ, Zeno cố gắng lý giải những thứ như sự tồn tại và bản chất của các vị thần, tại sao các vị thần tạo ra vũ trụ của chúng ta và các cư dân của nó, vai trò của thần thánh trong việc định đoạt kết quả của các sự kiện, và mối quan hệ đúng đắn giữa con người và các vị thần.

Đạo đức là thành phần thứ ba và quan trọng nhất của chủ nghĩa khắc kỷ của Zeno. Độc giả cần nhận ra quan niệm về đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ khác biệt với quan niệm hiện đại của chúng ta. Chúng ta nghĩ về đạo đức như nghiên cứu về cái đúng và sai về đạo đức. Chẳng hạn, một nhà đạo đức học thời nay có thể tự hỏi liệu việc phá thai có được phép về mặt đạo đức không, và nếu được thì, trong hoàn cảnh nào. Ngược lại, đạo đức của chủ nghĩa khắc kỷ là cái được gọi là đạo đức eudaemonistic, theo tiếng Hy Lạp eu nghĩa là “tốt” và daimon nghĩa là “tinh thần.” Nó không quan tâm đến sự đúng sai về đạo đức, mà nó quan tâm đến việc có một “tinh thần tốt,” tức là, sống một cuộc đời hạnh phúc, tốt đẹp hoặc với cái đôi khi được gọi là trí tuệ đạo đức.15 Như nhà triết học Lawrence C. Becker đã nói, “Đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ là một dạng của eudaimonism. Mối quan tâm chính của nó là về những gì chúng ta cần làm để sống tốt—và phát triển.”16 Theo lời của nhà sử học Paul Veyne, “Chủ nghĩa Khắc kỷ không phải là một kiểu đạo đức khi nó là một công thức nghịch lý cho hạnh phúc.”17

Bạn đọc thời hiện đại dễ dàng hiểu sai những điều mà các nhà Khắc kỷ nói về “một cuộc sống tốt”. Quả thực, nhiều độc giả sẽ đánh đồng việc có một cuộc sống tốt với đời sống sung túc, kiếm ra nhiều tiền—tức là, có một công việc lương cao. Tuy nhiên, các nhà Khắc kỷ lại cho rằng một người hoàn toàn có thể có một cuộc sống tồi tệ mặc dù anh ta kiếm được rất nhiều tiền. Thí dụ, giả sử anh ta căm ghét cái công việc có mức lương cao của mình, hay giả sử công việc đó tạo ra nhiều mâu thuẫn trong anh bởi nó yêu cầu anh ta làm những việc mà anh ta biết là sai trái. 

Vậy thì một người cần phải làm gì để có được một cuộc sống tốt đẹp theo các nhà Khắc kỷ? Hãy có đạo đức, đức hạnh! Nhưng một lần nữa, “đạo đức” là một từ mời gọi nhiều sự hiểu lầm. 

Nói với một độc giả thời hiện đại rằng các nhà Khắc kỷ ủng hộ cô ấy sống một cách có đạo đức, và cô ấy có thể đảo mắt; quả thật, với nữ độc giả này, các nữ tu sẽ là những ví dụ điển hình của những cá nhân có đạo đức, và điều khiến họ có đạo đức là sự trong trắng, khiêm tốn và tốt bụng của họ. Có phải các nhà Khắc kỷ cổ động chúng ta sống như nữ tu? Trên thực tế, đây không phải là suy nghĩ của các nhà Khắc kỷ khi họ nói về đạo đức. Chẳng hạn, đối với các nhà Khắc kỷ, đạo đức, phẩm hạnh của một người không phụ thuộc vào quá khứ tình dục của cô ấy. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào sự xuất sắc của cô như một con người—cô ấy thực hiện tốt các chức năng mà con người cô được thiết kế để làm ra sao. Tương tự thế, một cây búa có “đạo đức” (hoặc xuất sắc) là cây búa thực hiện tốt chức năng mà nó được thiết kế, tức là đóng đinh —một cá nhân đạo đức là người thực hiện tốt chức năng mà con người đã được thiết kế. Để có đạo đức, tức là sống theo cách mà ta đã được thiết kế để sống; đó là sống, như Zeno từng nói, thuận theo tự nhiên.18 Các nhà Khắc kỷ sẽ bổ sung thêm rằng nếu ta làm được như vậy thì chúng ta sẽ có một cuộc sống tốt đẹp. 

Và con người được thiết kế cho những chức năng nào? Để trả lời câu hỏi này, các nhà Khắc kỷ nghĩ rằng chúng ta chỉ cần xem xét lại bản thân mình. Khi làm thế, chúng ta sẽ khám phá ra mình cũng có những bản năng nhất định, như mọi loài động vật. Chúng ta cảm thấy đói khát; đây là cách của tự nhiên để khiến chúng ta phải nuôi dưỡng bản thân. Chúng ta cũng trải qua cơn hứng tình; đây là cách của tự nhiên để khiến ta sinh sản. Nhưng chúng ta khác những động vật khác ở một khía cạnh quan trọng: Chúng ta có khả năng suy luận. Zeno sẽ khẳng định rằng từ đây chúng ta có thể kết luận chúng ta được thiết kế để trở thành người có lý trí. 

Và nếu chúng ta sử dụng lý trí của mình, chúng ta sẽ kết luận thêm rằng ta được thiết kế để làm một số việc nào đó, rằng chúng ta có những bổn phận nhất định. Quan trọng hơn hết, vì tự nhiên đã ấn định cho chúng ta là những động vật xã hội, chúng ta có bổn phận với đồng loại của mình. Ví dụ, chúng ta nên kính trọng bố mẹ mình, dễ thương với bạn bè của chúng ta, và quan tâm đến lợi ích của đồng bào của chúng ta.19 Chính ý thức về trách nhiệm xã hội này đã khiến triết gia khắc kỷ Cato trở thành một nhân tố tích cực trong chính trường La Mã, mặc dầu làm vậy khiến ông ấy trả giá bằng sinh mạng của mình. 

Mặc dù, như tôi đã nói, mối quan tâm hàng đầu của các nhà Khắc kỷ là với đạo đức—với việc sống đức hạnh và nhờ đó mà có một cuộc sống tốt đẹp—họ cũng chú ý đến logic và vật lý. Bằng việc nghiên cứu về logic, họ hy vọng sẽ thực hiện tốt một trong những chức năng mà chúng ta đã được thiết kế; cụ thể là cư xử một cách hợp lý. Và bằng cách nghiên cứu vật lý, họ hy vọng sẽ hiểu rõ hơn về mục đích mà chúng ta được thiết kế. Các nhà Khắc kỷ đã đưa ra nhiều ẩn dụ khác nhau để giải thích cho mối quan hệ giữa ba thành phần trong triết lý của họ. Ví dụ, họ quả quyết rằng triết học Khắc kỷ giống như một cánh đồng màu mỡ, với “Logic là hàng rào bao quanh, Đạo đức là cây trồng, Vật lý là đất.”20 Ẩn dụ này làm sáng tỏ vai trò trung tâm của đạo đức trong triết lý của họ: Tại sao phải bận tâm đến đất và tại sao phải xây hàng rào trừ phi sẽ đưa đến một vụ mùa? 

Nếu chúng ta sống hoàn toàn thuận theo tự nhiên—tức là nếu chúng ta thực hành chủ nghĩa khắc kỷ một cách hoàn hảo — chúng ta sẽ trở thành một người mà các nhà khắc kỷ gọi là người khôn ngoan hay hiền triết. Một nhà hiền triết khắc kỷ, theo Diogenes Laertius, là người “thoát khỏi sự phù phiếm; bởi anh ta dửng dưng trước danh tiếng tốt hoặc xấu.” Anh ta chẳng bao giờ đau buồn vì anh ta nhận ra đau buồn là một “sự tiêm nhiễm phi lý của tâm hồn.” Hành vi của anh ta mẫu mực. Anh ta không để cho bất cứ thứ gì ngăn cản anh thực hiện các trách nhiệm, bổn phận của mình. Mặc dù anh ta uống rượu, nhưng anh ta không uống cho say. Nói một cách ngắn gọn, nhà hiền triết khắc kỷ giống “như thần thánh.”21 

Giống như thần thánh, các nhà khắc kỷ sẽ là người đầu tiên thú nhận, cực kỳ hiếm. Đối với các nhà khắc kỷ, việc trở thành một hiền triết gần như là chuyện bất khả thi, nhưng lại không thành vấn đề. Họ nói về các nhà hiền triết chủ yếu để họ có được một hình mẫu dẫn dắt họ trong việc thực hành Chủ nghĩa Khắc kỷ. Hiền triết là một mục tiêu để họ nhắm đến, mặc dù họ có lẽ sẽ không đạt được. Nói cách khác, hiền triết đối với Chủ nghĩa Khắc kỷ cũng giống như Đức Phật đối với Đạo Phật. Đa số các Phật tử có thể không có hy vọng sẽ trở nên giác ngộ như Đức Phật, tuy nhiên, việc tái hiện sự hoàn hảo của Đức Phật có thể giúp họ có được một mức độ giác ngộ nào đó.

Cleanthes (331–232 trước công nguyên) là một học trò trong trường phái Khắc kỷ của Zeno, và khi Zeno qua đời, ông kế thừa vị trí lãnh đạo của trường phái. Khi Cleanthes già đi, ông bắt đầu để mất học trò về tay các trường phái khác, và tương lai của Chủ nghĩa Khắc kỷ có vẻ ảm đạm. Khi ông mất, vai trò lãnh đạo của trường phái Khắc kỷ đã được truyền lại cho học trò của ông Chrysippus (khoảng năm 282–206 trước công nguyên), dưới sự lãnh đạo của ông, trường phái Khắc kỷ đã lấy lại được danh tiếng trước đây. 

Sau cái chết của Chrysippus, trường phái khắc kỷ tiếp tục hưng thịnh dưới sự kế thừa của các nhà lãnh đạo, bao gồm Panaetius của Rhodes, người được nhớ đến trong biên niên sử của Chủ nghĩa Khắc kỷ không phải với tư cách một nhà canh tân mà như một người xuất khẩu triết học. Khi Panaetius tới Rome vào khoảng năm 140 sau công nguyên, ông mang theo Chủ nghĩa Khắc kỷ. Ông kết bạn với Scipio Africanus và các quý ông La Mã khác, khiến họ quan tâm đến triết học, và do đó trở thành nhà sáng lập của Chủ nghĩa Khắc kỷ La Mã. 

Sau khi du nhập chủ nghĩa Khắc kỷ, người La Mã đã điều chỉnh học thuyết này cho phù hợp với nhu cầu của họ. Bởi một lẽ, họ ít hứng thú với logic và vật lý như người Hy Lạp. Thực vậy, vào thời của Marcus Aurelius, thời cuối cùng của các nhà Khắc kỷ La Mã vĩ đại, logic và vật lý về cơ bản là bị bỏ rơi: Trong cuốn Suy tưởng, chúng ta thấy Marcus chúc mừng bản thân vì đã không lãng phí thời gian để học mấy môn đó.22 

Người La Mã cũng có những thay đổi tinh tế trong chương trình đạo đức của chủ nghĩa khắc kỷ Hy Lạp. Như chúng ta đã thấy, mục tiêu đạo đức chính của các nhà khắc kỷ Hy Lạp là có đạo đức, đức hạnh. Các nhà khắc kỷ La Mã vẫn giữ lại mục tiêu này, nhưng chúng ta thấy họ cũng liên tục hướng đến một mục tiêu thứ hai: đạt được sự bình thản (tranquility). Và theo họ, sự bình thản không phải là một trạng thái giống như-thây ma. (Để ủng hộ kiểu bình thản đó, rốt cuộc sẽ là sự khước từ của lý trí mà các nhà khắc kỷ tin là cần thiết cho lối sống đạo đức.) Nói đúng hơn, sự bình thản của phái Khắc kỷ là một trạng thái tâm lý được đánh dấu bởi sự vắng mặt của các cảm xúc tiêu cực, chẳng hạn như đau buồn, tức giận và lo lắng, và sự hiện diện của những cảm xúc tích cực, như niềm vui.

Đối với các triết gia khắc kỷ La mã, mục tiêu đạt được sự bình thản và có đạo đức thì có liên quan với nhau, và bởi lý do này, khi họ bàn về đạo đức, họ cũng có xu hướng bàn về sự bình thản. Cụ thể, họ thích chỉ ra một lợi ích của việc đạt được đức hạnh, đạo đức đó là chúng ta sẽ trải nghiệm được sự bình thản. Do đó, ngay từ những trang đầu trong cuốn Discourses, Epictetus khuyên chúng ta theo đuổi đức hạnh nhưng ngay lập tức cũng nhắc chúng ta rằng đức hạnh “giữ lời hứa . . . tạo ra hạnh phúc và sự tĩnh tâm và thanh thản” và “quá trình hướng đến đức hạnh là quá trình hướng đến từng trạng thái tâm lý đó.” Quả thật, ông đi xa đến mức xác định sự thanh thản là kết quả mà đức hạnh nhắm đến.23 

Bởi vì các triết gia khắc kỷ La Mã dành quá nhiều thời gian để thảo luận về sự bình thản (như một sản phẩm phụ của lối sống đạo đức), họ tạo ra ấn tượng rằng họ không quan tâm đến đạo đức. Ví dụ, hãy xem xét cuốn cẩm nang của Epictetus, còn được gọi là Sổ tay hoặc Encheiridion. Arrian (một trong các môn đồ của Epictetus) đã biên soạn tác phẩm này với mục tiêu cung cấp cho các khán giả La Mã thế kỷ thứ hai một lời giới thiệu để dễ dàng tiếp cận được chủ nghĩa Khắc kỷ. Mặc dù cẩm nang này có đầy lời khuyên về những gì chúng ta phải làm nếu ta muốn đạt được và duy trì sự bình thản, theo Epictetus. Arrian thì lại thấy không cần thiết phải đề cập đến đạo đức. 

Một nhận xét cuối cùng về các triết gia Khắc kỷ La Mã để liên kết giữa mục tiêu đạt được đức hạnh và mục tiêu đạt được sự bình thản. Bên cạnh việc quả quyết rằng theo đuổi đức hạnh sẽ mang lại cho chúng ta sự bình thản, tôi cho rằng các nhà Khắc kỷ La Mã sẽ lập luận rằng việc đạt được sự bình thản sẽ giúp chúng ta theo đuổi đức hạnh. Một người không bình thản - tức là người bị dễ bị phân tâm bởi các cảm xúc tiêu cực chẳng hạn như tức giận hay đau buồn - có thể khó mà thực hiện những gì lý trí khuyên bảo anh ta làm: Cảm xúc của anh ta sẽ chiến thắng lý trí của anh ta. Bởi vậy, người này có thể trở nên lẫn lộn về những gì thực sự là tốt lành, hệ quả là anh ta không thể theo đuổi được chúng, và do đó không đạt được đức hạnh. Bởi thế, đối với các nhà Khắc kỷ La Mã, theo đuổi đức hạnh và theo đuổi sự bình thản là những yếu tố của một vòng tròn đức hạnh—thật vậy, một vòng tròn đức hạnh gấp bội: Theo đuổi đức hạnh mang lại kết quả là một mức độ bình thản nhất định, đến lượt nó làm chúng ta dễ dàng theo đuổi đức hạnh hơn. 

Tại sao các nhà khắc kỷ La Mã lại gán cho việc đạt được sự bình thản một vai trò nổi bật hơn những nhà tiền nhiệm Hy Lạp? Một phần của câu trả lời cho câu hỏi này theo tôi nghĩ, đó là các triết gia khắc kỷ La Mã ít tự tin vào sức mạnh của lý trí thuần túy để thúc đẩy con người hành động hơn các triết gia Hy Lạp. Các nhà Khắc kỷ Hy Lạp tin rằng cách tốt nhất để làm con người theo đuổi đức hạnh là làm cho họ ngộ ra được thứ gì mới là tốt đẹp: Nếu một người hiểu được điều gì mới thực sự là tốt lành, anh ta vốn là một con người có lý trí, nhất định sẽ theo đuổi chúng và nhờ đó mà trở nên đức hạnh. Bởi thế, các nhà Khắc kỷ Hy Lạp thấy chẳng cần phải nói về những kết quả phụ của việc theo đuổi đức hạnh, bao gồm cả điều quan trọng nhất là đạt được sự bình thản.

Ngược lại, các nhà Khắc kỷ La Mã cho rằng đồng bào La Mã của họ sẽ không hiểu rõ tại sao nên theo đuổi đức hạnh. Họ cũng nhận ra rằng người La Mã bình thường theo bản năng sẽ coi trọng sự bình thản và do đó sẽ dễ tiếp nhận các chiến lược để đạt được nó. Các triết gia Khắc kỷ La Mã dường như đã đi đến kết luận rằng bằng cách kết hợp đạo đức với sự bình thản—chính xác hơn là, bằng cách chỉ ra con người sẽ đạt đến sự bình thản bằng việc theo đuổi đức hạnh—họ sẽ làm cho học thuyết Khắc kỷ trở nên hấp dẫn hơn với người La mã bình thường. 

Hơn nữa, các giáo viên phái Khắc kỷ đơn cử như Musonius Rufus và Epictetus có một lý do khác để nhấn mạnh sự bình thản: Bằng cách đó, họ khiến trường phái của họ trở nên hấp dẫn hơn với các học sinh tiềm năng. Trong thế giới cổ đại, chúng ta nên nhớ rằng, các trường phái triết học cạnh tranh trực tiếp với nhau. Nếu một trường phái dạy một triết lý mà mọi người thấy cuốn hút, thì nó sẽ giành được “thị phần” nhưng nếu triết lý của một trường phái không còn được học sinh tiềm năng ưa chuộng thì trường phái ấy có thể đã chìm vào quên lãng —điều này như chúng ta đã thấy, nó suýt xảy ra với trường phái Khắc kỷ dưới thời Cleanthes. 

Để thu hút và giữ chân học sinh, các trường phái sẵn sàng trở nên linh hoạt trong các học thuyết triết lý mà họ giảng dạy. Chẳng hạn có giả thuyết cho rằng, vào giữa thế kỷ thứ ba trước công nguyên, bởi vì trường phái triết học Academic và Khắc kỷ đang đánh mất học sinh vào tay trường phái đối thủ Epicurean, họ đã quyết định tham gia vào một liên minh triết học và sửa đổi học thuyết của họ cho phù hợp, với mục đích chung là thu hút học sinh từ trường phái Epicureans.24 Tương tự thế, ta có thể hình dung rằng các nhà Khắc kỷ La Mã, bằng cách nhấn mạnh sự bình thản trong triết lý của họ, có thể đang cố gắng thu hút học sinh khỏi trường phái Epicureans, cũng đang treo lủng lẳng cái viễn cảnh về sự bình thản trước mũi các học trò của họ.

Nếu bạn khó mà tin được rằng các nhà triết học cổ đại sẽ “bẻ cong” các học thuyết triết học nhằm thu hút các học trò, chúng ta nên nhớ rằng đây chính xác là cách mà nhiều trường phái triết học cổ đại bắt đầu. Thí dụ, khi Potamo of Alexandria quyết định bắt đầu một trường phái triết học, ông có một cách quảng bá thiên tài: Ông quyết định rằng cách tốt nhất để thu hút học sinh là lựa chọn kỹ càng từ các học thuyết triết học của các trường phái cạnh tranh nhau.25 Những ai tham gia trường phái gọi là Eclectic của ông có thể thu được cái tinh túy nhất của từng trường phái triết học đang cạnh tranh nhau. Quan trọng hơn nữa, chúng ta nên nhớ rằng bản thân Zeno, để tạo ra chủ nghĩa khắc kỷ Hy Lạp, ông đã bẻ cong và pha trộn các học thuyết của (ít nhất) là ba trường phái triết học khác nhau: trường phái hoài nghi, trường phái Megarians, và Academy. 

Bằng cách nêu bật sự bình thản trong triết lý của họ, các nhà Khắc kỷ không chỉ làm cho nó trở nên hấp dẫn hơn đối với người La Mã cổ đại mà theo tôi, còn khiến nó hấp dẫn hơn đối với con người thời hiện đại. Rốt cuộc, khiến cho những cá nhân thời hiện đại hứng thú với việc trở thành người đức hạnh hơn, theo ý nghĩa cổ xưa của từ này, là chuyện hiếm hoi (Có lẽ chúng ta nên quan tâm đến việc trở nên đạo đức hơn, nhưng sự thật tàn nhẫn của vấn đề là phần lớn chúng ta không phải người đức hạnh.) Bởi vậy, nói với một người nào đó rằng bạn đang sở hữu và sẵn lòng chia sẻ với anh ta một chiến lược cổ xưa để đạt được đức hạnh, và bạn có khả năng sẽ nhìn thấy một cái ngáp từ anh ta. Nhưng nói với anh ta rằng bạn đang sở hữu và sẵn sàng chia sẻ một chiến lược cổ xưa nhằm đạt được sự bình thản, có thể tai anh ta sẽ vểnh lên; thông thường, bạn chẳng cần thuyết phục ai về giá trị của sự bình thản. Quả thật, nếu được hỏi, anh ta có thể chia sẻ rất nhiều về chuyện cuộc đời anh ta bị vùi dập ra sao bởi những cảm xúc tiêu cực tàn phá sự bình lặng của mình.

Vì lý do này, trong các trang tiếp theo, tôi tập trung sự chú ý vào các nhà khắc kỷ La Mã hơn là Hy Lạp, và chính vì lý do đó, trọng tâm chính của việc xem xét về các triết gia khắc kỷ La Mã của tôi không phải ở lời khuyên của họ về cách đạt được đức hạnh, mà là lời khuyên về cách đạt được và duy trì sự bình thản. Như đã nói, tôi xin bổ sung thêm là những độc giả nào làm theo lời khuyên của các nhà khắc kỷ La Mã về cách đạt được sự bình thản thì họ cũng nhờ đó mà đạt được đức hạnh. Nếu điều này xảy ra thì còn tuyệt vời hơn!

(hết chương 2)

menu
menu