[Sách dịch] Một hướng dẫn cho cuộc đời tốt đẹp - Nghệ thuật cổ của niềm vui Khắc kỷ - Lời mở đầu

sach-dich-mot-huong-dan-cho-cuoc-doi-tot-dep-nghe-thuat-co-cua-niem-vui-khac-ky-loi-mo-dau

Nếu ta sống theo những nguyên tắc của phái Khắc kỷ, “một khí chất vui tươi và an nhiên” sẽ tự động đi theo ta.

Nguyên tác: A Guide to the Good Life: The Ancient Art of Stoic Joy

Tác giả: William B. Irvine

Năm xuất bản: 2008

Giới thiệu một kế hoạch cho cuộc sống

Bạn muốn điều gì từ cuộc đời? Bạn có thể trả lời câu hỏi này bằng cách nói rằng bạn muốn một người bạn đời biết quan tâm, một công việc tốt, và một ngôi nhà đẹp, nhưng chúng thực sự chỉ là một số điều bạn muốn trong cuộc đời. Khi hỏi bạn muốn điều gì từ cuộc đời, tôi đang hỏi câu này theo nghĩa rộng nhất của nó. Tôi không hỏi về những mục tiêu mà bạn đề ra khi thực hiện các hoạt động hằng ngày của bạn. Mà tôi đang hỏi về mục tiêu lớn trong cuộc sống của bạn. Nói cách khác, trong số những thứ mà bạn có thể theo đuổi trong cuộc đời, đâu là thứ bạn tin là có giá trị nhất? 

Nhiều người sẽ gặp khó khăn khi gọi tên mục tiêu này. Họ biết những gì họ muốn từng giờ từng phút hay thậm chí từng thập kỷ trong suốt cuộc đời của họ, nhưng họ chưa bao giờ dừng lại để xem xét về mục tiêu sống lớn lao của họ. Ta có thể hiểu được nguyên do tại sao. Nền văn hóa của chúng ta thường không khuyến khích mọi người nghĩ về những điều như vậy; quả thực, nó chỉ mang đến cho họ một dòng xao lãng bất tận để họ không cần bận tâm đến chúng. Nhưng một mục tiêu lớn trong đời là thành phần đầu tiên của một triết lý sống. Điều này có nghĩa là nếu bạn thiếu một mục tiêu lớn trong cuộc sống, thì bạn đang thiếu một triết lý sống chặt chẽ. 

Tại sao có một triết lý như vậy lại quan trọng? Vì nếu không, bạn có nguy cơ sẽ lầm đường lạc lối trong cuộc sống—mặc cho mọi hoạt động của bạn, bất chấp tất cả những điều thú vị mà bạn có lẽ đã tận hưởng khi còn sống, bạn sẽ kết thúc với một cuộc đời tệ hại. Nói cách khác, có một mối nguy hiểm là lúc bạn đang hấp hối trên giường, bạn sẽ nhìn lại đời mình và nhận ra bạn đã phí hoài một cơ hội sống của mình. Thay vì dành cả đời để theo đuổi một điều gì đó thực sự đáng giá, bạn đã phung phí nó vì bạn để cho mình bị sao nhãng bởi vô số thứ phù phiếm mà cuộc đời đưa đến. 

Giả sử bạn có thể xác định được mục tiêu lớn của bạn trong cuộc sống. Giả sử bạn cũng có thể giải thích được tại sao mục tiêu này lại đáng để phấn đấu. Dù thế, bạn có một nguy cơ sẽ sống lầm đường lạc lối. Đặc biệt là nếu bạn thiếu một chiến lược hiệu quả để đạt được mục tiêu của mình, chưa chắc bạn sẽ đạt được nó. Do đó, thành phần thứ hai của một triết lý sống là một chiến lược để đạt được mục tiêu lớn của bạn. Chiến lược này sẽ chỉ rõ bạn phải làm những gì, khi bạn thực hiện các hoạt động hằng ngày của mình, để tối đa hóa khả năng đạt được điều mà bạn xem là đáng giá nhất trong cuộc đời bạn.

Nếu chúng ta muốn thực hiện các biện pháp nhằm tránh lãng phí tiền tài của mình, ta có thể dễ dàng tìm đến các chuyên gia để hỗ trợ ta. Nhìn vào danh bạ điện thoại, chúng ta sẽ tìm thấy vô số chuyên gia lập kế hoạch tài chính có chứng chỉ. Những người này có thể giúp chúng ta làm rõ các mục tiêu tài chính của mình: Chẳng hạn, ta nên tiết kiệm bao nhiêu tiền cho lúc về hưu? Và khi có được những mục tiêu rõ ràng này, họ có thể khuyên chúng ta các giải pháp để đạt được chúng. 

Tuy nhiên, giả sử rằng chúng ta muốn thực hiện các biện pháp để tránh không chỉ lãng phí tài sản của mình mà cả cuộc đời của chúng ta. Chúng ta có thể tìm kiếm một chuyên gia để hướng dẫn ta: Một triết gia về cuộc đời. Người này sẽ giúp chúng ta nghĩ về các mục tiêu trong cuộc sống của mình và trên thực tế những mục tiêu nào là đáng theo đuổi. Bà ấy sẽ nhắc nhở chúng ta rằng bởi vì các mục tiêu có thể xung đột với nhau, chúng ta cần xác định mục tiêu nào của ta nên được ưu tiên trước khi xảy ra mâu thuẫn. Do đó bà ấy sẽ giúp chúng ta sắp xếp các mục tiêu của ta và đặt chúng vào một hệ thống thứ bậc. Mục tiêu nằm ở đỉnh cao của hệ thống thứ bậc này sẽ là cái mà tôi gọi là mục tiêu lớn của chúng ta trong cuộc sống: Nó là mục tiêu mà chúng ta không nên hy sinh để đạt được những mục tiêu khác. Và sau khi giúp chúng ta lựa chọn mục tiêu này, một triết gia về cuộc đời sẽ giúp chúng ta đưa ra một chiến lược để đạt được nó. 

Nơi hiển nhiên để tìm một triết gia về cuộc sống là ở khoa triết của trường đại học địa phương. Đến thăm văn phòng của khoa ở đó , chúng ta sẽ tìm thấy các nhà triết học chuyên về siêu hình học, logic, chính trị, khoa học, tôn giáo và đạo đức. Chúng ta cũng có thể tìm thấy các triết gia chuyên về triết học thể thao, triết học về nữ quyền và thậm chí cả triết học về triết học. Nhưng trừ phi chúng ta đang học ở một trường đại học khác thường, bằng không chúng ta sẽ chẳng thể tìm được các triết gia về cuộc đời theo ý nghĩa mà ta có trong đầu.

Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Đơn cử như nhiều triết gia Hy Lạp và La Mã cổ đại không chỉ cho rằng các triết lý về cuộc đời là đáng để suy ngẫm mà còn cho rằng lý do để triết học tồn tại là để phát triển chúng. Các triết gia đó thường cũng có một hứng thú với những lĩnh vực khác của triết học — chẳng hạn như logic- chỉ vì họ nghĩ rằng theo đuổi mối quan tâm đó sẽ giúp họ phát triển một triết lý sống. 

Hơn nữa, các triết gia cổ đại này không giữ riêng các phát hiện của họ cho riêng bản thân hay chỉ chia sẻ chúng với các triết gia đồng đạo của họ. Đúng hơn là, họ mở trường học và chào đón các môn đồ của họ cũng như bất kỳ ai muốn học về triết lý cuộc đời. Các trường phái khác nhau đưa ra lời khuyên khác nhau về những việc con người phải làm để có một cuộc sống tốt đẹp. Antisthenes, một môn đồ của Socrates, đã thành lập trường phái triết học Hoài nghi, ủng hộ một lối sống khổ hạnh. Aristippus, môn đồ khác của Socrates, thành lập trường phái Cyrenaic cổ, lại ủng hộ lối sống chạy theo khoái lạc. Chúng ta tìm thấy ở giữa những thái cực này trong số nhiều trường phái khác, trường phái Epicurean, trường phái hoài nghi, và được ta quan tâm nhất ở đây là trường phái Khắc kỷ, do Zeno xứ Citium sáng lập. 

Các triết gia gắn liền với những trường phái này không ngượng ngùng về mối quan tâm của họ với các triết lý về cuộc đời. Ví dụ, theo Epicurus, “Rỗng tuếch là lời nói của một triết gia không chữa lành được nỗi đau nào của con người. Vì thuốc men không mang lại lợi ích gì cả nếu nó không tống khứ được bệnh tật ra khỏi cơ thể, triết học cũng chả có ích lợi gì nếu nó không xua tan được khổ đau của tâm trí.”1 Và theo nhà triết học trường phái Khắc kỷ Seneca, người mà tôi sẽ nhắc đến nhiều lần trong cuốn sách này, “Một người học hỏi từ một triết gia cần phải gặt hái cho bản thân một điều tốt đẹp nào đó mỗi ngày: khi anh ta quay về nhà, anh ta đã là một người minh triết hơn hoặc đang trên con đường trở nên minh triết hơn.”2

Cuốn sách này được viết cho những người đang tìm kiếm một triết lý về cuộc sống. Trong các trang tiếp theo, tôi sẽ tập trung vào một thứ triết lý mà tôi thấy hữu ích và tôi nghĩ rằng nhiều độc giả cũng sẽ thấy nó có ích. Đó là triết học của trường phái Khắc kỷ cổ đại. Triết học Khắc kỷ có thể đã cũ nhưng nó xứng đáng nhận được sự chú ý của bất cứ cá nhân thời hiện đại nào muốn có một cuộc đời vừa ý nghĩa và trọn vẹn— những ai ao ước có được một cuộc đời tốt đẹp.

Nói cách khác, cuốn sách này đem đến lời khuyên mọi người nên sống như thế nào. Chính xác hơn, tôi sẽ hành động như một cầu nối mang đến cho bạn lời khuyên của các triết gia theo trường phái Khắc kỷ hai ngàn năm trước. Đây là điều mà các nhà triết học đồng nghiệp của tôi thường không thích làm, nhưng một lần nữa, mối quan tâm của họ về triết học chủ yếu là “học thuật”; tức là nghiên cứu của họ chủ yếu là lý thuyết suông hoặc lịch sử. Ngược lại sự quan tâm của tôi về chủ nghĩa Khắc kỷ là rất thực tế: Mục tiêu của tôi là áp dụng triết lý này vào cuộc sống của tôi và khuyến khích người khác áp dụng nó trong cuộc sống của họ. Tôi cho rằng các nhà triết học Khắc kỷ cổ đại sẽ khuyến khích cả hai kiểu cố gắng, nhưng họ cũng khẳng định rằng lý do chính để tìm hiểu về Chủ nghĩa Khắc kỷ là chúng ta có thể áp nó vào thực tiễn.

Một điều khác cần hiểu là dẫu cho Chủ nghĩa Khắc kỷ là một triết lý, thì nó vẫn có một thành phần tâm lý quan trọng. Các nhà Khắc kỷ nhận ra một cuộc sống chứa đầy cảm xúc tiêu cực — bao gồm tức giận, lo lắng, sợ hãi, đau buồn và ghen tỵ— thì không phải là một cuộc sống tốt. Do đó họ trở thành những nhà quan sát nhạy bén về hoạt động của tâm trí con người và kết quả là trở thành một trong những nhà tâm lý học sáng suốt nhất của thế giới cổ đại. Họ tiếp tục phát triển các kỹ thuật để ngăn không cho các cảm xúc tiêu cực xuất hiện và để dập tắt chúng khi những nỗ lực ngăn chặn thất bại. Ngay cả những độc giả thận trọng với sự suy đoán triết lý cũng nên quan tâm đến các kỹ thuật này. Rốt cuộc thì có ai trong số chúng ta mà lại không muốn giảm bớt số lượng cảm xúc tiêu cực trong cuộc sống hằng ngày?

Mặc dù tôi đã nghiên cứu triết học trong suốt cả quãng đời trưởng thành của mình, nhưng tôi, cho đến gần đây, vẫn chả biết tí gì về chủ nghĩa Khắc kỷ. Các giảng viên của tôi ở trường đại học và sau đại học chưa từng yêu cầu tôi đọc về chủ nghĩa Khắc kỷ, và mặc dù tôi là một người ham đọc sách, tôi lại thấy mình chưa có nhu cầu tìm tòi về chúng. Nhìn chung, tôi thấy không cần phải suy ngẫm về một triết lý về cuộc sống. Thay vào đó tôi cảm thấy thoải mái với thứ triết lý sống mặc định như hầu hết mọi người: dành những tháng ngày của cuộc đời để tìm kiếm một sự kết hợp thú vị giữa sự giàu sang, địa vị xã hội, và khoái lạc. Nói cách khác, triết lý sống của tôi có thể được gọi một cách nhân từ là một dạng của chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ

Trong thập kỷ thứ năm của cuộc đời tôi, mặc dù các sự kiện bí mật giới thiệu cho tôi về chủ nghĩa Khắc kỷ. Sự kiện đầu tiên trong số này là ấn phẩm năm 1998 bởi tác giả Tom Wolfe, A Man in Full. Trong cuốn tiểu thuyết này, một nhân vật tình cờ phát hiện ra nhà triết học Khắc kỷ Epictetus và sau đó bắt đầu bày tỏ quan điểm triết lý của ông ta. Tôi thấy điều này vừa khó hiểu và hấp dẫn. 

Hai năm sau, tôi bắt đầu làm nghiên cứu cho một cuốn sách về chủ đề ham muốn. Là một phần của nghiên cứu này, tôi xem xét lời khuyên được đưa ra qua hàng thiên niên kỷ về việc làm chủ ham muốn. Tôi bắt đầu bằng cách tìm hiểu xem các tôn giáo đã nói gì về ham muốn, bao gồm Kitô giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo, Đạo Sufi, và Phật giáo (và đặc biệt, Thiền tông). Tôi tiếp tục xem xét lời khuyên về cách làm chủ ham muốn của các nhà triết học nhưng phát hiện thấy chỉ có một số ít trong số họ đưa ra lời khuyên như vậy. Nổi bật trong số những người đưa ra lời khuyên là các nhà triết học Hy Lạp: phái Epicureans, phái Hoài nghi, và các nhà Khắc kỷ. 

Khi tôi tiến hành nghiên cứu về ham muốn, tôi có một động cơ thầm kín. Từ lâu tôi đã bị hấp dẫn bởi Thiền Tông và tưởng tượng xem xét kỹ hơn về nó trong mối liên hệ với nghiên cứu của tôi, tôi sẽ trở thành một người cải đạo hoàn toàn. Nhưng điều tôi phát hiện ra thì thật vô cùng bất ngờ, đó là Chủ nghĩa Khắc kỷ và Thiền có một số điểm tương đồng. Chẳng hạn, cả hai đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc suy ngẫm về bản chất tạm thời của thế giới xung quanh chúng ta và tầm quan trọng của việc làm chủ ham muốn, trong giới hạn khả năng cho phép. Họ cũng khuyên chúng ta theo đuổi sự bình thản (tranquility) và cho ta lời khuyên làm sao đạt được và duy trì được nó. Ngoài ra, tôi cũng nhận thấy chủ nghĩa Khắc kỷ phù hợp với bản tính ưa phân tích mọi sự của tôi hơn là Phật giáo. Kết quả là tôi bất ngờ thấy bản thân đùa nghịch với cái ý tưởng trở thành một người thực hành Chủ nghĩa Khắc kỷ, thay vì là một người thực tập Thiền Tông. 

Trước khi tôi bắt đầu nghiên cứu về ham muốn, đối với tôi, chủ nghĩa khắc kỷ từng là một kẻ bại trận về triết lý về cuộc đời, nhưng khi tôi đọc về phái Khắc kỷ, tôi khám phá ra hầu hết mọi điều tôi nghĩ mình đã biết về họ đều sai bét. Để bắt đầu, tôi biết rằng từ điển định nghĩa về một người Khắc kỷ là “người dường như thờ ơ hoặc không bị ảnh hưởng bởi niềm vui, đau buồn, khoái lạc hay đau đớn.”3 Vì vậy tôi cứ tưởng rằng chữ viết hoa S sẽ là chữ thường- stoical— rằng họ sẽ là những con người hay kìm nén cảm xúc. Tôi khám phá ra mục tiêu của Chủ nghĩa Khắc kỷ không phải là xua đuổi cảm xúc khỏi cuộc sống mà là xua đuổi những cảm xúc tiêu cực. 

Khi tôi đọc các tác phẩm của Chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi bắt gặp những cá nhân vui vẻ và lạc quan về cuộc sống (mặc dù họ đã dành thời gian để suy nghĩ về tất cả những thứ tồi tệ có thể xảy ra với họ) và những người có khả năng tận hưởng trọn vẹn những thú vui của cuộc sống (đồng thời cũng cẩn thận để không trở thành nô lệ cho những thú vui đó). Ngạc nhiên làm sao, tôi cũng thấy những con người coi trọng niềm vui; quả thực, theo Seneca, điều mà các nhà khắc kỷ tìm cách khám phá là “cách tâm trí có thể luôn luôn theo đuổi một đường hướng ổn định và thuận lợi, có thể là thái độ tích cực đối với bản thân nó, và có thể nhận xét các điều kiện của nó bằng niềm vui.”4 Ông cũng quả quyết rằng ai thực hành các nguyên tắc của phái Khắc kỷ “dù anh ta có muốn hay không, anh ta cần phải liên tục tham dự vào niềm vui và sự hân hoan, những vấn đề từ sâu bên trong, bởi vì anh ta cảm thấy vui sướng với những nguồn lực nội tại của mình, và chẳng hề khao khát niềm vui nào ngoài những niềm vui nội tâm của anh ấy.”5 Tương tự thế, triết gia Khắc kỷ Musonius Rufus nói với chúng ta rằng nếu ta sống theo những nguyên tắc của phái Khắc kỷ, “một khí chất vui tươi và an nhiên” sẽ tự động đi theo ta.6

Thay vì là những con người thụ động, nhẫn nhục cam chịu sự bất công và bạo hành của thế giới, các nhà Khắc kỷ đã dấn thân trọn vẹn vào cuộc đời và nỗ lực biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn. Chẳng hạn, hãy xem Cato the Younger. (Mặc dù ông ấy không đóng góp cho tài liệu của chủ nghĩa Khắc kỷ, Cato là người theo phái Khắc kỷ; thật vậy, Seneca gọi ông ta là một người Khắc kỷ hoàn hảo.)7 Triết lý khắc kỷ của ông ta không thể ngăn cản được Cato đấu tranh dũng cảm để khôi phục nền cộng hòa La Mã. Cũng vậy, Seneca dường như tràn đầy sinh lực: Ngoài việc là một triết gia, ông còn là một nhà soạn kịch thành công, người cố vấn cho hoàng đế, và tương đương với một nhà đầu tư ngân hàng thế kỷ thứ nhất. Và Marcus Aurelius, ngoài việc là một triết gia, còn là hoàng đế La Mã — quả thực ông được cho là một trong những hoàng đế La Mã vĩ đại nhất. Khi tôi đọc về cuộc đời các nhà Khắc kỷ, trong lòng tôi đầy ắp sự thán phục trước họ. Họ dũng cảm, điều độ, có lý trí, và tự kỷ luật bản thân — những phẩm chất mà tôi muốn có. Họ cũng cho rằng điều quan trọng đối với chúng ta là hoàn thành các nghĩa vụ của mình và giúp đỡ đồng loại-- những giá trị mà tôi sắp chia sẻ.

Trong nghiên cứu của tôi về ham muốn, tôi khám phá ra một sự đồng lòng nhất trí gần như trong số những người có suy nghĩ sâu xa, rằng chúng ta khó mà có được một sống tốt đẹp và ý nghĩa trừ phi ta có thể vượt qua sự tham lam vô độ, không bao giờ thỏa mãn của mình (insatiability). Cũng có sự đồng thuận một cách tuyệt vời để chế ngự cái xu hướng lúc nào cũng muốn có nhiều hơn của chúng ta là thuyết phục bản thân mình muốn những thứ mình đã có. Đây có vẻ là một tuệ giác quan trọng, nhưng nó để ngỏ một câu hỏi rằng chính xác thì làm thế nào ta có thể làm được việc này. Tôi vui mừng khi phát hiện ra các nhà Khắc kỷ đã có câu trả lời cho câu hỏi này. Họ đã phát triển một kỹ thuật khá đơn giản, nếu được thực hành, có thể làm chúng ta hân hoan với con người mình đang là, dù chỉ trong một khoảng thời gian, sống cuộc đời mà ta đang sống, gần như bất chấp cuộc đời có ra làm sao.

Càng nghiên cứu về chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi càng thấy mình bị cuốn hút vào triết lý của họ. Nhưng khi tôi cố gắng chia sẻ với mọi người về lòng nhiệt thành mới tìm thấy của tôi với chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi nhanh chóng nhận ra không chỉ có mỗi mình tôi từng hiểu sai về triết lý này. Bạn bè, người thân và ngay cả đồng nghiệp của tôi ở trường đại học dường như đều cho rằng các nhà khắc kỷ là những người mà mục tiêu của họ là kìm nén mọi cảm xúc và do đó sống một cuộc đời thụ động đến buồn thảm. Tôi chợt nhận ra các nhà Khắc kỷ từng là nạn nhân của sự ngu ngốc.

Chỉ riêng nhận thức này cũng đủ để thôi thúc tôi viết một cuốn sách về trường phái Khắc kỷ —một cuốn sách sẽ làm sáng tỏ vấn đề— nhưng khi nó xảy ra, tôi dần dần có một động lực thứ hai thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Sau khi nghiên cứu về chủ nghĩa Khắc kỷ, tôi bắt đầu thử áp dụng nó như triết lý sống của tôi, một cách có chừng mực. Cho đến nay, thử nghiệm đã thành công đến mức tôi cảm thấy thôi thúc muốn thông báo về các phát hiện của tôi cho cả thế giới biết, và tin rằng những người khác có thể thu được lợi lạc từ việc nghiên cứu chủ nghĩa Khắc kỷ và áp dụng triết lý về cuộc sống của họ.

Độc giả tự nhiên sẽ thấy tò mò về những gì liên quan đến việc thực hành chủ nghĩa khắc kỷ. Ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, một người muốn-trở thành người Khắc kỷ có thể học được cách thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ bằng cách tham gia học ở một trường chuyên dạy về trường phái khắc kỷ, nhưng điều này hiện tại không còn làm được nữa. Một người thời hiện đại muốn-trở thành người Khắc kỷ có thể tham khảo các tác phẩm của các nhà Khắc kỷ thời cổ đại như một cách thay thế, nhưng cô ấy sẽ phát hiện ra nhiều tác phẩm trong số đó — đặc biệt là những tác phẩm của các nhà Khắc kỷ Hy Lạp—đã bị thất lạc. Hơn nữa, nếu cô ấy đọc được những tác phẩm còn sót lại cô sẽ thấy mặc dù họ bàn luận về chủ nghĩa Khắc kỷ rất chi tiết nhưng họ lại không đưa ra giáo án dành cho những người mới học về chủ nghĩa Khắc kỷ. Thách thức mà tôi đối mặt trong quá trình viết cuốn sách này là xây dựng một kế hoạch như vậy từ các manh mối rải rác trong các tác phẩm của chủ nghĩa Khắc kỷ.

Mặc dù phần còn lại của cuốn sách này cung cấp các hướng dẫn chi tiết cho chủ nghĩa Khắc kỷ, hãy để tôi mô tả sơ bộ ở đây một số điều chúng ta sẽ muốn làm nếu chúng ta chấp nhận Chủ nghĩa Khắc kỷ như triết lý về cuộc đời của chúng ta. 

Chúng ta sẽ xem xét lại các mục tiêu của mình trong cuộc sống. Đặc biệt, chúng ta sẽ thuộc nằm lòng câu tuyên bố của phái Khắc kỷ rằng nhiều thứ mà ta khao khát - nhất là danh tiếng và tài sản— chẳng đáng theo đuổi đâu. Thay vào đó, chúng ta sẽ hướng sự chú ý đến việc theo đuổi sự bình thản, trầm lặng và cái mà các nhà Khắc kỷ gọi là đức hạnh. Chúng ta sẽ khám phá ra đức hạnh Khắc kỷ không giống với những gì con người ngày nay nghĩ về từ này. Chúng ta cũng sẽ khám phá ra sự bình thản mà các nhà Khắc kỷ truy cầu không phải là loại bình thản có thể đạt được bằng cách uống thuốc an thần; nói cách khác, đó không phải là một trạng thái giống như thây ma. Thay vào đó, nó là một trạng thái được đánh dấu bằng sự thiếu vắng các cảm xúc tiêu cực, chẳng hạn như tức giận, đau buồn, lo âu và sợ hãi, và sự hiện diện của những cảm xúc tích cực—đặc biệt là niềm vui. 

Chúng ta sẽ nghiên cứu các kỹ thuật tâm lý khác nhau được phát triển bởi các nhà Khắc kỷ nhằm đạt được và duy trì sự bình thản, và ta sẽ sử dụng các kỹ thuật này vào cuộc sống hằng ngày. Ví dụ, chúng ta sẽ cẩn thận phân biệt giữa những việc mà ta có thể kiểm soát và những gì ta chẳng thể kiểm soát, từ đó ta sẽ không còn bận tâm đến những thứ mà mình không thể kiểm soát và thay vào đó tập trung chú ý đến những thứ mà mình kiểm soát được. Chúng ta cũng sẽ nhận ra người khác dễ dàng quấy rầy sự bình thản của chúng ta ra làm sao, và do đó chúng ta sẽ thực hành các chiến lược của phái Khắc kỷ để ngăn không cho chúng quấy nhiễu chúng ta. 

Cuối cùng, chúng ta sẽ trở thành một người quan sát sâu sắc hơn về cuộc đời mình. Chúng ta sẽ dõi theo bản thân khi ta thực hiện các công việc hằng ngày của mình và sau đó ngẫm nghĩ về những điều ta thấy, tìm cách xác định những nguồn cơn gây ra đau khổ trong cuộc đời ta và nghĩ về cách tránh né đau khổ đó.

Thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ rõ ràng sẽ đòi hỏi bạn nỗ lực, nhưng điều này đúng với tất cả các triết lý chân chính về cuộc đời. Thật thế, ngay cả những người theo chủ nghĩa “khoái lạc khai ngộ” cũng phải nỗ lực. Mục tiêu lớn trong cuộc sống của những người theo chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ là tối đa hóa những lạc thú mà anh ta trải nghiệm trong suốt cuộc đời. Để thực hành triết lý sống này, anh ta sẽ phải dành thời gian để tìm tòi, khám phá và xếp hạng các loại lạc thú và kiểm tra bất kỳ tác dụng phụ không mong muốn nào có thể có. Người theo chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ sau đó sẽ đưa ra các chiến lược nhằm tối đa hóa những lạc thú mà anh ta trải nghiệm (Người theo chủ nghĩa khoái lạc mê muội là một người tìm kiếm sự thỏa mãn ngắn hạn một cách thiếu cân nhắc, mà theo tôi là họ không có một triết lý sống nhất quán, chặt chẽ.) 

Nỗ lực đòi hỏi để thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ có thể sẽ lớn hơn so với chủ nghĩa khoái lạc khai ngộ nhưng ít hơn nỗ lực để thực hành Thiền Tông. Một Phật tử phái Thiền Tông sẽ phải ngồi thiền, một sự tu tập vừa tốn thời gian và (ở một số loại tu tập) thách thức về mặt thể lý và tinh thần. Ngược lại, việc thực hành Chủ nghĩa Khắc kỷ không đòi hỏi chúng ta dành riêng một khoảng thời gian để “tập Khắc kỷ.” Nó đòi hỏi chúng ta định kỳ suy ngẫm về cuộc đời của mình, nhưng những giai đoạn suy ngẫm này nhìn chung có thể len lỏi vào những khoảnh khắc kì lạ trong ngày, chẳng hạn như khi chúng ta đang bị kẹt xe hoặc— đây là khuyến nghị của Seneca—khi chúng ta đang nằm trên giường chuẩn bị ngủ. 

Khi đánh giá “các chi phí” gắn liền với việc thực hành Chủ nghĩa Khắc kỷ hay bất kỳ triết lý sống nào khác, độc giả nên nhận ra rằng việc không có một triết lý sống cũng khiến bạn phải trả giá. Tôi đã chỉ ra một cái giá phải trả: mối nguy hiểm khi bạn sẽ dành những tháng ngày cuộc đời mình theo đuổi những điều phù phiếm và do đó sẽ lãng phí cuộc đời bạn

Tại thời điểm này, một số độc giả có thể tự hỏi liệu việc thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ có tương thích với niềm tin tôn giáo của họ hay không. Trong trường hợp của phần lớn tôn giáo, tôi nghĩ là có. Những người theo đạo Cơ đốc nói riêng sẽ thấy những giáo lý của chủ nghĩa Khắc kỷ cộng hưởng với các quan điểm tôn giáo của họ. Chẳng hạn, họ sẽ chia sẻ với mong muốn đạt được trạng thái bình thản của các nhà Khắc kỷ, mặc dù những người theo đạo Cơ đốc có thể gọi nó là sự bình an. Họ sẽ đánh giá cao lời huấn thị “yêu thương nhân loại” của Marcus Aurelius.8 Và khi họ bắt gặp sự quan sát của Epictetus rằng một số chuyện thì trong tầm kiểm soát của chúng ta và một số khác thì không, và nếu chúng ta khôn ngoan thì ta sẽ tập trung năng lượng của mình vào những thứ nằm trong tầm kiểm soát của mình, những người theo đạo Cơ-đốc sẽ nhắc nhở về “lời cầu nguyện bình yên,” thường được quy cho nhà thần học Reinhold Niebuhr. 

Như đã nói, tôi nên nói thêm rằng một ai đó có thể là một người theo thuyết bất khả tri và đồng thời cũng là một người thực hành theo chủ nghĩa Khắc kỷ.

Phần còn lại của cuốn sách này được chia thành bốn phần. Trong phần 1, tôi mô tả sự ra đời của triết học. Mặc dù các nhà triết học hiện đại có xu hướng dành những năm tháng cuộc đời họ để tranh luận về mấy cái chủ đề huyền bí, thì mục tiêu chính của hầu hết các nhà triết học cổ đại là giúp người bình thường sống tốt hơn. Chủ nghĩa khắc kỷ, như chúng ta sẽ thấy, là một trong những trường phái triết học cổ đại phổ biến và thành công nhất.

Trong phần 2 và 3, tôi giải thích những gì chúng ta phải làm để thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ. Tôi bắt đầu bằng cách mô tả các kỹ thuật tâm lý mà chủ nghĩa Khắc kỷ đã phát triển để đạt được và sau đó duy trì sự bình thản. Tiếp theo tôi sẽ mô tả lời khuyên của phái Khắc kỷ về cách đối phó tốt nhất với những căng thẳng trong cuộc sống hằng ngày: Chẳng hạn, chúng ta nên đáp trả ra sao khi một ai đó xúc phạm ta? Mặc dù có nhiều thứ đã thay đổi trong hai thiên niên kỷ qua, nhưng tâm lý con người vẫn chẳng thay đổi là mấy. Đây là lý do tại sao những người đang sống ở thế kỷ 21 có thể gặt hái được lợi ích từ lời khuyên của các triết gia như Seneca dành cho người La Mã ở thế kỷ thứ nhất

Cuối cùng, trong phần 4 của cuốn sách này, tôi bảo vệ chủ nghĩa Khắc kỷ trước những lời chỉ trích, và tôi đánh giá lại tâm lý học Khắc kỷ dưới ánh sáng của các phát hiện khoa học hiện đại. Tôi kết thúc cuốn sách này bằng cách liên hệ những tuệ giác mà tôi đạt được trong việc thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ của riêng tôi. 

Các học giả đồng nghiệp của tôi có thể hứng thú với cuốn sách này; ví dụ họ có thể tò mò về cách diễn giải của tôi về những câu nói khác nhau của chủ nghĩa Khắc kỷ. Tuy nhiên, khán giả mà tôi quan tâm nhất chính là những cá nhân bình thường đang lo không biết họ có đang sống lỗi. Điều này bao gồm những người đang dần nhận ra rằng họ thiếu một triết lý sống nhất quán và hậu quả là họ đang lúng túng trong các hoạt động hằng ngày của họ: Những thành quả họ làm việc để đạt được trong một ngày lại biến những thành quả của ngày hôm trước thành dã tràng xe cát. Nó cũng bao gồm những người đã có một triết lý sống nhưng lo ngại rằng triết lý ấy phần nào khiếm khuyết.

Tôi đã viết cuốn sách này với câu hỏi sau đây trong tâm trí: Nếu các nhà Khắc kỷ thời cổ đại gánh lấy trọng trách viết một cuốn sách hướng dẫn cho những người sống ở thế kỷ 21— một cuốn sách sẽ cho ta biết làm thế nào để có được một cuộc sống tốt đẹp—thì cuốn sách đó sẽ trông như thế nào. Các trang tiếp theo sẽ là câu trả lời của tôi cho câu hỏi này.

 

NỘI DUNG

Giới thiệu: Một kế hoạch cho cuộc sống – Đọc ở đây

Phần 1  Nguồn gốc của Chủ nghĩa Khắc kỷ

Chương 1 - Triết học quan tâm đến cuộc sống – Đọc ở đây

Chương 2 - Các nhà Khắc kỷ đầu tiên _ Đọc ở đây

Chương 3 - Chủ nghĩa Khắc kỷ La Mã - Đọc ở đây

Phần 2 Các kỹ thuật tâm lý của chủ nghĩa Khắc kỷ

Chương 4 - Tưởng tượng tiêu cực (Negative Visualization) - Đọc 4.1 - Đọc 4.2

Chương 5 – Phép lưỡng phân quyền kiểm soát

Chương 6 – Thuyết định mệnh: Buông bỏ quá khứ . . . và Hiện tại - Đọc ở đây

Chương 7 - Khổ hạnh: Ứng phó với mặt tối của Khoái lạc - Đọc ở đây

Chương 8 - Suy ngẫm: Quan sát bản thân chúng ta thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ 

Phần 3 Các lời khuyên của Chủ nghĩa Khắc kỷ

Chương 9 – Bổn phận yêu thương nhân loại -

Chương 10 – Quan hệ xã hội- Cách ứng xử với người khác 

Chương 11Những lời lăng mạ

Chương 12 – Đau buồn

Chương 13 Tức giận

Chương 14 – Những giá trị cá nhân - Bàn về việc tìm kiếm Danh vọng 

Chương 15 – Những giá trị cá nhân - Bàn về cuộc sống xa hoa

Chương 16Bị lưu đày

Chương 17Tuổi già

Chương 18 – Cái chết

Chương 19 Trở thành người Khắc kỷ

Phần 4

Chương 20 - Sự suy tàn của Chủ nghĩa Khắc kỷ

Chương 21 - Xem xét lại Chủ nghĩa Khắc kỷ

Chương 22 Thực hành chủ nghĩa Khắc kỷ

 

 

menu
menu