(Sách hiếm) Trẻ em và các mối quan hệ gia đình (Chương 5.1)

sach-hiem-tre-em-va-cac-moi-quan-he-gia-dinh-chuong-5-1

Nguyên tác: L’enfant et les relations familiales_Maurice Porot_Đạm Thư dịch.

 

 

E1. Sự ganh đua giữa anh chị em

Về nguồn gốc, đứa con đối với mẹ nó chỉ là một. Sự ra đời của nó thay thế cuộc đọ sức tay đôi ở số ít. Vai trò anh chị em sẽ làm cho những quan hệ đó thành số nhiều nghĩa là làm chúng gần giống với quan hệ của đứa con khi trở thành người lớn thiết lập với xã hội. Nói tóm hai, những quan hệ giữa anh chị em với nhau là sự lặp lại những vai trò mà họ sẽ thể hiện sau này trong tấn trò đời.

Đầu tiên, việc cảm nhận được cái "tôi", sự tự chủ hóa đối với thế giới bên ngoài được thiết lập vào quãng 3 tuổi sẽ hình thành dễ dàng hơn nhờ đối lập với người khác và nhờ có những tiếp xúc anh chị em trong mọi lúc. Việc đạt tới "chúng ta” cũng dễ dàng như vậy. Để đáp ứng đòi hỏi của đời sống xã hội, tính duy kỉ thông thường của trẻ con sau đó phải dần dần nhường chỗ nếu không phải cho sự vị tha hoàn toàn (nếu cực đoan có thể là một dạng không thích ứng) ít nhất cũng phải biết đến những lợi ích của chính chủ thể đó. Vô vàn những sự bội bạc vụn vặt, những sự xúc phạm nhẹ, đứa trẻ đều học để nhận biết nhờ sự tiếp xúc với anh chị em. Sự thực tập đó được điều hòa phần lớn bằng tác động của cha mẹ nhưng chủ yếu bằng tình bè bạn được nảy sinh, tình trìu mến và sự đoàn kết cố hữu liên kết anh chị em với nhau.

Chức năng chủ yếu giữa anh chị em là giúp cho sự xã hội hóa tốt nhất có thể được đối với đứa trẻ. Sự thích ứng xã hội sẽ đạt được thông qua việc ganh đua bầu bạn và sự hợp tác, hai thái độ này là từ ngữ quen thuộc của những quan hệ giữa anh chị em đã có một sự tiến triển bình thường.

Chính giai đoạn trung gian đó của sự ganh đua là chìa khóa của những quan hệ giữa anh chị em. Lúc đầu là hoàn toàn sau đó tiến dần đến mất hẳn theo đà tiến triển của nó. Cuộc sống là một sự đấu tranh. Kĩ thuật đấu tranh cũng phải học như những cái khác nếu không thì chịu thất bại mà hậu quả ở đây là sống còn. Trẻ con không thể học đấu tranh lại với cha mẹ. Sự không cân sức giữa các địch thủ sẽ nặng nề và trẻ con không có cơ may dành thắng lợi.

Cũng không thể đấu tranh với xã hội ngay cả với những người ngang hàng mà trẻ có thể thấy ngay tức khắc khi có thể nhớ lại trong kí ức, hình ảnh hốt hoảng và thất vọng của cậu con một, từ trước đến đó được cha mẹ ấp ủ, chưa được chuẩn bị gì, bỗng dưng bị ném vào sân trường học. Chỉ có anh chị em mới có thể là những đối thủ chấp nhận được cho sự tập luyện đó.

Sự ganh đua giữa anh chị em như vậy là bình thường và cần thiết nhưng nhiều bậc cha mẹ không biết ích lợi của nó "Khi hai anh em đánh nhau, thì cuộc đấu tranh giữa chúng là một mối liên hệ có thể xem như là liên hệ xã hội" J. Boutonier sự ganh đua anh em không phải vì thế thu tóm lại mà chỉ là hung tính hoặc ít hơn chỉ là bạo lực. Cũng không thể lầm lẫn cái đó với sự hiềm khích và ở đó nó có quan hệ so sánh tương tự như giữa một cuộc đấu quyền anh với một cuộc ẩu đả bằng tay không. Kiểu thứ nhất gây phấn chấn, kiểu ẩu đả gây đau đớn và giết nhau. Hơn nữa Burlingham và A. Freud còn chứng minh ganh đua cũng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của tâm trí và thể chất. Họ đưa những trẻ em rất nhỏ ở trại mồ côi vào với nhau thành những nhóm gia đình bốn, năm người dưới sự chăm sóc của một cô bảo mẫu. Họ thấy ở những trẻ này xuất hiện những cãi cọ và ghen tị mà trước khi chia nhóm họ không thấy có. So với trước, sự bình yên không được như vậy nhưng trẻ em có sức khỏe tốt hơn, chúng biết giao du và lanh lợi hơn những trẻ khác ở trại.

Sự ganh đua thông thường và cần thiết đó có một lợi ích chắc chắn biểu lộ trong môi trường gia đình: lành mạnh và vững vàng. Căng thẳng về cảm xúc ở bọn trẻ sẽ bớt sâu sắc nếu như nó được chia cho nhiều thành viên. Nhất là sự ganh đua này có một trung tâm điều hòa ở người mẹ người cha đó để quy định những giới hạn có thể được với điều kiện là sự điều chỉnh đó không biến thành đàn áp một cách hệ thống mọi biểu hiện ganh đua với cái cớ là hòa thuận và được giáo dục tốt; điều đó nói chung chỉ dẫn đến thói che dấu hay chuyển dịch cái hung tính bị kìm hãm đôi khi mang sắc thái nhiễu tâm. Những con mèo cần được mài móng vuốt.

Hãy để cho bọn trẻ tự giải quyết những vấn đề giữa chúng với nhau là cách tốt nhất để dạy cho chúng là chính nghĩa đôi khi bị thua và lí lẽ của kẻ mạnh - bằng cơ bắp hay bàng sự tinh ranh - có khi lại tốt hơn, do lòng ngờ vực về công bằng ngự trị trong trái tim trẻ còn chưa thỏa mãn. Heuyer đã nhấn mạnh sai lầm mà các bậc cha mẹ thường mắc phải khi nghĩ rằng những sự trừng phạt, khen thưởng nhằm dạy cho trẻ ý niệm về công bằng, thực ra là ngược lại, từ lúc thơ ấu trẻ em đã có một cảm nhận về công lí dáng ngờ vực.

Việc không can thiệp vào những cuộc cãi lộn luôn cười và liên miên về những chuyện nhỏ nhặt và về những bất công nho nhỏ không thể nêu thành nguyên tắc. Cha mẹ cần phải cắt ngang, đôi khi hơi võ đoán. Trẻ em mong muốn như thế và dễ dàng nhờ cậy đến sự xét xử của bề trên: lập pháp, xét xử, hành pháp, tất cả mọi quyền lực đều ở trong tay cha mẹ.

A. Berge nhà giáo dục gia đình đã nêu: "Hầu hết những sự ghen tức giữa anh chị em xoay quanh cha mẹ và mỗi đứa trẻ mong muốn chiếm đoạt ngầm tình thương của mẹ cha. Những sự xích mích giữa trẻ có ý lôi kéo cha hay mẹ vào can thiệp dường như đó là một sự thử thách nhằm làm lộ rõ ý đồ cha mẹ ưu ái ai hơn. Nếu cha mẹ bênh đứa A thì đứa B thấy đó là bằng chứng mình bị ruồng bỏ: thế là B muốn phục thù A là đứa mà nó nghĩ là được cha mẹ cưng hơn. Nhưng về phía mình A lại tìm cách củng cố thắng lợi vì thật là thú vị được những người thân yêu cho là mình có lí. Vậy thì phải kiếm cớ mà gây sự, trêu chọc để dẫn đến đánh đấm. Một trong hai đứa sẽ dùng nắm đấm còn đứa kia dùng cách la lối vì khi la hét chắc chắn cha mẹ sẽ chạy đến và cho mình là nạn nhân. Cha mẹ đôi khi ngạc nhiên là chính đứa bé khích đứa lớn không chăm sóc đứa bé. Không đáng ngạc nhiên. Mục tiêu phải là đạt thắng lợi trên thực địa mà một cách khôn khéo hơn: tương quan giữa chúng với nhau. Vì vậy những ý đồ trung thực dễ xét xử một cách công bằng là không có hiệu lực chút nào trong hầu hết các trường hợp.

Vì vậy cha mẹ vừa phải tránh để bất công bao trùm bằng cách lộ rõ những sự ưu ái thầm kín, vừa không được dùng một kiểu câu nệ pháp lí tẩn mẩn mà nguy hiểm theo kiểu chi li đếm đến những hạt nho khi chùm nho chia có vẻ không được đều. Nguyên tắc ở những trường nội trú mà đứa trẻ nào cắt chiếc bánh ga tô sẽ nhận miếng bánh sau cùng là cách tốt nhất để làm cho ai nấy đều có trách nhiệm. Ngoài ra bọn trẻ con chứng tỏ là chúng cảm thấy một cách lờ mờ cái điều cần thiết phải giải quyết các quan hệ giữa chúng bình đẳng với nhau là sớm lên án cái tội "mách lẻo" bằng cách tố cáo anh em để anh em tạm thời không công nhận đứa mách lẻo.

Sự ganh đua giữa anh chị em thể hiện bề ngoài ở bất cứ cái gì có nguồn gốc tranh giành tình yêu của mẹ, tuy không bao giờ vơi cạn vì “ai cũng có phần và tất cả đều được hưởng toàn bộ" như thi sĩ vẫn ca ngợi. Sự chiếm hữu mẹ, cả sữa lẫn tình yêu thương đều sống còn đối với trẻ thơ bế bồng. Khi lớn lên, đứa trẻ phải giảm dần một cách luyến tiếc và khó khăn những đòi hỏi bớt cấp thiết đối với sự sở hữu đó. Một đứa em ra đời, bị chiếm mất chỗ mà nó phải rời bỏ một cách tiếc rẻ, làm cho nó cảm thấy như bị hẫng hụt. Đứa mới đến trở thành một đối thủ.

P. Cahn khi nghiên cứu những quan hệ anh chị em giữa những đứa trẻ đặt ra ngoài môi trường gia đình đã đem lại một bằng chứng gián tiếp về sự khẳng định đó, dựa trên giả thuyết là sự vắng mặt của người mẹ mất đi đồng thời cả tâm trạng bị hẫng hụt lẫn sự ganh đua nhau. Những công trình nghiên cứu tuy hạn hẹp (chỉ có 12 nhóm trong một trại mồ côi) nhưng giúp hình thành giả thiết đó. Lúc đó không những không còn gang đua trong lĩnh vực anh em mà lại nảy sinh quan hệ cha mẹ - con cái; tình bè bạn của đứa em thứ đối với anh lớn tuổi hơn có giá trị như tình yêu của đứa trẻ đối với người cha hay người mẹ, người con cả lúc đó được đồng nhất hóa với cha hai mẹ thể hiện một sự ân cần có tính cách bảo vệ đối với đứa em thứ. Quan hệ cha mẹ - con cái lộ ra là hàng đầu và khi cần thiết sẽ chiếm chỗ quan hệ anh em.

Tuy nhiên quan hệ anh em không hoàn toàn mất đi. Lebovici cho ta thấy là trẻ em ở trại trẻ coi bạn bè như anh chị em và sống với bạn một phần quan hệ anh em chính đáng. Những quan hệ đầu tiên, quan trọng hơn cả là sự ganh đua để chiếm đoạt tình yêu của mẹ ở đây không có. Những quan hệ anh em, trong trường hợp đầu được xã hội hóa thì ở trường hợp thứ hai không có vì nó không giải quyết được vấn đề cắm chốt vào người mẹ. Đứa em không phải là đứa đi cướp đoạt vậy làm sao trở thành đối thủ? Người ta có thể tiên đoán tính chất sau này trong quan hệ anh em của một đứa trẻ dựa theo nhưng quan hệ của nó với bà mẹ: tùy theo quan hệ đó có là quá săn sóc, bình thường hay vô tâm mà sự ganh đua sẽ mãnh liệt, bình thường hoặc không tồn tại.

Người ta cũng báo hiệu một nguồn gốc ganh đua anh em mang tính bệnh lí. Một số tính chất trong nhân cách được người ta coi là di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quan hệ gia đình. Hilgard gọi đó là di truyền xã hội. Việc lưu truyền không phải bằng phôi mà bàng ảnh hưởng căn nguyên tâm lí của cha mẹ đối với con cái. Những vấn đề ganh đua anh em không được người lớn thanh toán lại chuyển sang thế hệ sau: một bà mẹ tìm mọi cách để tấm bi kịch cũ được diễn lại đối với chính các con mình một cách vô thức. Sự đồng nhất hóa nhân vật mình và người anh hay chị em mình có thể xảy ra theo nhiều cách. Thí dụ 2 đứa con trai của bà mẹ được hướng vào việc tái diễn sự ganh đua đã có giữa mẹ chúng và người chị khi còn nhỏ. Việc ý thức được cơ chế này ở người cha hay mẹ có trách nhiệm rất cần thiết để chấn chỉnh lại tình hình. Cần phải giải thích các quan hệ anh em một cách nặng động, không chỉ phụ thuộc chuyên vào sự khác biệt về tuổi và giới tính mà thôi.

Sự ra đời của đứa em cho phép theo dõi sự xuất hiện, sự tiến triển và những tính chất của sự ganh đua anh em qua những phản ứng của đứa con đầu. Trong những thời kì được coi là khủng hoảng nghĩa là khoảng 3 và 7 tuổi những phản ứng này quyết liệt hơn và có thể nảy sinh "mặc cảm giết em (mỹ cảm cain)” theo như Baudouin gọi. Việc người mẹ rời nhà đến bệnh viện để sinh con, việc đứa trẻ phải tạm thời gửi đến nhà bà con làm cho nó thấy tâm trạng bị hẫng hụt được củng cố thêm và người ta thấy nảy sinh ở nó lòng ghen tức đối với đứa em đến chiếm chỗ. Mối ghen tức đó có thường xảy ra không? Theo chúng tôi, cái đó hầu như thường xuyên và là bình thường nếu nó ở mức độ vừa phải. Có nhiều cha mẹ tưởng rằng con cái không ghen tỵ khi đứa em ra đời. Đôi khi vì mẹ nó thực sự không có mặt trong đời sống tình cảm của nó hoặc vì nó gắn bó với một bà vú hay một người thân nào hơn mẹ nó mà nó không có cảm tưởng là mình bị hẫng hụt. Nhưng nhiều khi sự ghen tỵ ở dạng ẩn tàng. Bên cạnh cái ghen tức lộ liễu và thể hiện ngây thơ bằng những sự thoái lui về mặt cảm xúc như đã thường nêu: mút tay, đái dầm tái diễn, khóc nhè, biếng ăn v.v... Nó ngụy trang bằng những tình cảm thực vì thông thường là người lớn hay mắng trẻ rằng "ghen với em là xấu". Cái ghen tỵ của trẻ con không phải là điều xấu đó là nỗi đau khổ, thật là dở khi xô đẩy một người đang khổ đau. Điều đó lại càng đáng tiếc vì sự ghen ty không phải là tình cảm duy nhất mà đứa con đầu dành cho đứa em mới ra đời. Thường trước đó nó vui mừng được có em, chắc là nó sẽ yêu em nếu như đứa bé đó không phải là đối thủ của nó. Những lời phê phán không đúng lúc lại trút lên đứa bé đã bị ngỡ ngàng vì tình cảm hai chiều mà nó không sao thích ứng được. Sự giằng xé bởi những tình cảm mâu thuẫn với nhau giữa yêu thương, thù ghét và tội lỗi có thể làm nảy sinh một nỗi lo hãi không thể tìm thấy nguồn gốc ở đâu khác. Nếu cha mẹ không muốn nhầm lẫn đau khổ với lỗi lầm vì làm cho đứa lớn chấp nhận đứa mới sinh một cách tế nhị thì sự ra đời của đứa em sẽ nhận gấp đôi sự ganh đua anh em rất có ích chứ không phải là sự thù địch lâu dài và nguy hiểm. Một tập tục của Ả Rập là người ta đặt vào lòng bàn tay đứa sơ sinh một quả trứng luộc rất tượng trưng và người ta cho nó cầm đưa cho đứa lớn để làm quà cho sự lên chức vui vẻ này. Có thể tặng đứa anh một gói kẹo trong lúc này có thể tránh được nhiều phản ứng bề ngoài thật khó hiểu.

Đôi khi đứa con đầu giải tỏa tình cảm hai chiều của nó bằng cách phóng chiếu vào một đứa trẻ khác gần gũi với nó, có thể là sự thù địch nhưng nhiều khi là tình thương mến của nó đối với đứa em mới sinh. Như vậy có thể giải thích một vài sự gắn bó bất ngờ, tha thiết đột nhiên và không thể giải thích nổi của đứa con đầu.

Nỗi đau khổ đó cũng có thể nảy sinh ở đứa trẻ nhỏ tuổi hơn là đứa đã lớn tuổi và nó chứng minh thêm là sự hẫng hụt rất sớm nhằm vào bà mẹ.

Sự ghen tỵ không phải bao giờ cũng xuất hiện ngay khi đứa em ra đời. Đứa con đầu, trong niềm vui chung của cả nhà, chưa hình dung hoàn toàn sự cần thiết không thể tránh được của việc san sẻ. Việc người lớn nựng nịu âu yếm đứa bé làm cho đứa lớn ý thức được, nhất là khi nó là đứa con đầu, giờ đây trung tâm của sự chú ý của gia đình đã di chuyển sang em bé và nó không còn quy tụ được tất cả sự chăm chút của mẹ. Những đòi hỏi thông thường của cha mẹ (con là lớn, con phải làm gương cho em) chỉ càng làm cho nó co lại ở một thái độ thù địch với đứa em và thái độ này lan ra tất cả những người xung quanh. Để phục hồi tình thương mến của những người thân mà nó tưởng chừng đã mất vì nó ít thấy có những biểu hiện bên ngoài nó sẵn sàng làm đủ điều kể cả những cách ứng xử khó chịu nhất. Một cậu bé con trai trái tính trái nết tử ngày có em, khi bị bà mẹ bực mình dọa cho ăn tát đã nói "con thích mẹ cho con ăn tát còn hơn là mẹ chẳng chú ý đến con". Hãy coi chừng biểu hiện ghen tuông của đứa con đầu chẳng có gì quan trọng, biểu lộ cho nó thấy mẹ trìu mến nó hơn, ngay cả khi nó giở chứng làm cho đứa đầu chấp nhận là có trách nhiệm nho nhỏ đối với đứa em bé mới ra đời là một lợi ích là vinh dự, đó là những cơ sở chủ yếu giúp cho sự ghen tuông giữa anh chị em được bình thường và cần thiết tiến triển trong những giới hạn đáng mực.

 

menu
menu