(Sách hiếm) Trẻ em và các mối quan hệ gia đình (Chương 5.2)

sach-hiem-tre-em-va-cac-moi-quan-he-gia-dinh-chuong-5-2

Nguyên tác: L’enfant et les relations familiales_Maurice Porot_Đạm Thư dịch.

 Trẻ em và các mối quan hệ trong gia đình

(nguyên tác: L’enfant et les relations familiales_Maurice Porot_Đạm Thư dịch)

 

E2. Thứ tự trong gia đình

Nhưng không phải số lượng trẻ con là đã đủ mà những quan hệ nội bộ giữa anh chị em phụ thuộc chủ yếu và giới tính, tuổi và thứ tự mà bọn trẻ đó ở trong gia đình. Mauco và Rambaud đã làm một cuộc khảo cứu rất tốt về những vấn đề và những khó khăn mà đứa trẻ gặp phải tùy theo thứ tự của nó trong gia đình. Công trình gồm 200 hồ sơ trẻ em ở vùng Pari đã được đưa đến tham vấn sư phạm – y học do gặp những khó khăn về cảm xúc và tính nết. Những kết quả tổng thể được nêu ở bảng sau đây

Trẻ em

Tham vấn khó khăn về cảm xúc và tính nết

Thống kê của địa hạt Seine về trẻ dưới 21 tuổi

Con một

Con cả

Con thứ

Con út

33%

27%

20%

19%

Chúng ta thấy con một và con cả là nguyên nhân của những khó khăn nhiều hơn so với con thứ và con út. Theo các tác giả này, đứa con một và con cả (có một thời gian là con một) được cha mẹ quá quan tâm và làm cho chúng chịu đựng khó khăn. Việc mở rộng gia đình làm cho trẻ dễ phát triển cảm xúc và tính nết.

1. Vai trò con cả không phải là dễ dàng. Ngay từ lúc còn nhỏ, cha mẹ đã hay giao cho con những trách nhiệm về mặt tâm lý không phù hợp với tuổi của nó. Chắc chắn đó là một trường đào tạo tốt nếu những yêu cầu đề ra không quá cao. Những việc gương mẫu và những sự hy sinh đòi hỏi ở những đứa con cả đôi khi làm cho nó cảm nhận cũng bị tước đoạt tình cảm và chịu bất công vì đâu có phải tự nó muốn làm con cả. Nó cảm thấy tình trạng này không có lợi gì hiển nhiên cả trong khi hàng ngày chỉ thấy những bất lợi. Nhiều khi chính cha mẹ đã bất công đối với nó một cách vô thức: vì nó là con cả người ta đòi hỏi nó phải biết lẽ phải, hy sinh những thỏa mãn chính đáng đối với lứa tuổi của nó để cho các em khỏi ghen tỵ, nhưng người lớn lại bắt nó phải vâng lời ngay lập tức không được có ý kiến, vì nó chỉ là một đứa trẻ. Khi người ta biết rằng những đứa con cả vượt lên hẳn các đứa trẻ khác về mặt trí tuệ, người ta sẽ hiểu rõ hơn sự tai hại của cách cư xử đó. Thực vậy Mauco và Rambaud đã chứng minh có 61% những đứa con cả đã vượt mức khôn trung bình. Nếu người ta đo chỉ số khôn, người ta có thể nhận thấy nói chung là một phần ba số con cả có mức dưới hoặc trung bình (110 và thấp hơn), 1/3 (32%) có mức cao (110 đến 120) và 1/3 (29%) có một mức rất cao (quá 120). Điều đó có thể là do người lớn thường quan tâm rất nhiều đến đứa con cả trong những năm đầu tiên so với các đứa sau và việc đó cũng khẳng định thêm tầm quan trọng của những sự chăm sóc tình cảm của trẻ thơ.

Nếu cha mẹ đòi hỏi đứa con cả phải hy sinh và có nhiều trách nhiệm hơn thì khi kêu gọi lý trí của nó nhiều hơn, họ cũng cần phải quan tâm đến việc giải thích rõ ràng và cụ thể hơn là chỉ cấm đoán đại khái hay giải thích đơn giản như thường gặp đối với các đứa con sau.

Về mặt cảm xúc, các tác giả trên ghi nhận là ¼ các trường hợp (24%) con cả được mẹ ưu ái; một nửa (49%) thì con trai cả đáp ứng lại bằng một sự cắm chốt rất rõ vào mẹ, trong khi một tỷ lệ tương tự (46%) con gái cả phản ứng lại bằng cách ghen tỵ đối với mẹ. Sự ghen tỵ với các em ở con cả cao hơn (65%) so với những đứa con thứ (50%) và theo các tác giả này khi đứa đầu ở khoảng 5 tuổi, sự ra đời của đứa thứ hai gây những rối loạn về cảm xúc mạnh nhất ở đứa đầu.

Có một xu hướng tự nhiên được củng cố bằng cách ứng xử của cha mẹ đối với con cả, nó tỏ rõ uy quyền đối với những đứa em. Ở trẻ em không có ranh giới rõ ràng giữa uy quyền và sự độc đoán. Nhiều đứa em bị tự ty do sự độc tài của đứa con cả gây ra hoặc ít ra đã duy trì bởi nó.

2. Con thứ nhìn thấy con cả thành đạt ở một số lĩnh vực, còn nó không thể đạt được chỉ vì nó chưa tới tuổi của đứa con cả. Với ý nghĩ của trẻ con chưa biết phân biệt nó tự kết luận nó là đứa vô tích sự. Ngoài ra, nhiều khi trẻ em có những năng khiếu rất khác nhau, có đứa em thật sự thất bại ở mặt đứa con cả đã thành công, nhưng nó lại nổi bật ở mặt đứa con cả đã thất bại. Do đó chính cha mẹ cần giúp cho mỗi đứa con phát triển bằng con đường riêng của nó mà đừng áp đặt cho tất cả con trai cũng như con gái một cách ứng xử tương tự nhau ở lĩnh vực lao động, giải trí và sở thích. Như thế sẽ tránh được tình cảm tự ty (không phải là mặc cảm), một lý do cáo lỗi cho tâm lý thất bại nhiều khi viện cớ đúng hơn là có cơ sở thực tế.

Những phản ứng của đứa con thứ đối với tình cảm tự ty rất nhiều. Phản ứng bắt chước (H.Joly) về lý do uy tín của con cả thường chỉ là một sự sao chép lệ thuộc và vô bổ, không có giá trị sáng tạo. Phản ứng chống đối (Hueyer và Bublineau) có thể xen kẽ với cái trên và biểu hiện bằng một tinh thần chống đối có hệ thống: mơ mộng nhõng nhẽo và mức độ cực đoan có thể là phản ứng chống đối vừa biểu lộ đối với cả cha mẹ lẫn với con cả: sự thù ghét của con thứ đáp lại sự ghen tỵ của con cả.

Con thứ còn 2 cách phản ứng nữa: thoái thác và bù trừ. Đứa con thứ có phản ứng thoái thác, phó mặc chán nản, luôn luôn chơi cái bài thua; có khả năng bị nhiễu tâm kiểu thất bại sau này; nó không chịu học hành, càng phạt nó càng tỏ ra thờ ơ, và cách ứng xử của nó tỏ ra thoái lui ngày càng rõ nét; nó đái dầm trở lại, thích được chiều chuộng nhưng nói chung kết quả lại càng bị thúc bách, nó ăn nói thô tục, thích luộm thuộm, ăn nhồm nhoàm, không ưa rửa ráy. Càng bị mắng, bị phạt nó càng gia tăng cách ứng xử thoái lui nhằm biện minh một cách vô thức cho sự đối địch với anh em sau đó với cha mẹ mà nó không hiểu nổi.

Phản ứng bù trừ ít xảy ra hơn so với cái trên nhưng lại tốt lành hơn. Đứa em tìm con đường có thể làm cho nó nổi bật lên. Nó sẽ thành công nếu được cha mẹ khuyến khích vì đứa con cả thường có xu hướng cản trở việc giải phóng này đã tấn công vào uy quyền của nó. Baudoin đã nghiên cứu kỹ lịch sử gia đình nhà văn hào Victor Hugo: cậu con cả Abel thuở nhỏ đã hành hạ hai đứa em trai trong đó có V. Hugo là đứa bé yếu ớt và bị bỏ rơi. Hung tính, nỗi oán hờn, ý muốn vượt các anh sau đó được thăng hoa trong sự thành công rực rỡ về văn học lúc trưởng thành.

Tuy tình cảm tự ty đe dọa đứa con thứ son có thể thay đổi. Mauco và Rambaud nhận thấy trường hợp này chỉ có 20% số trẻ được khảo sát. Điều đó phụ thuộc vào thái độ của đứa con cả, của cha mẹ và có lẽ còn tùy thuộc cả giới tính. Sự canh tranh chỉ xảy ra giữa 2 đứa con trai hay 2 đứa con gái. Sự khác biệt giới tính đối với trẻ em là một biện minh tốt cho những sự không đồng đều trong ứng xử hay trong thành công hơn là sự khác biệt về tuổi.

3 – Những điều vừa nêu về đứa con thứ có thể là đứa con giữa, có thể là con út. Những đứa con ở giữa vừa là đứa trên vừa là đứa dưới nên tránh được một phần những nguy cơ về cảm xúc của đứa con đầu cũng như đứa con út có lẽ vì chúng trung hòa lẫn nhau. Nguy cơ thực sự đối với chúng chính là ở chỗ để cho sự trung hòa đó lan ra lĩnh vực nhân cách riêng của chúng khi có một số cha mẹ muốn các con không có sự phân biệt nào cả (ăn mặc giống nhau, giải trí như nhau v.v…)

Vai trò của đứa con giữa đôi khi tế nhị trong những gia đình có số con lẻ: ở gia đình 5 con là kiểu điển hình cho việc hình thành những cặp; cặp con đầu, cặp con bé còn đứa thứ ba hơi cô đơn hoặc bị bỏ rơi. Ở đây, sự khác giới có thể điều hòa cho sự khẳng định tuyệt đối nói trên. Nếu hai đứa lớn khác giới thì cặp trẻ dễ hình thành giữa đứa thứ hai và đứa thứ ba chẳng hạn, nếu chúng cùng giới tính. Nói tóm lại là tình hình trung gian như vậy được cân bằng tốt hơn.

Theo Mauco và Rambaud thì các trẻ em thuộc loại nói trên ít phải đưa đến tham vấn tâm lý – sư phạm, gia đình mở rộng thì sự chú ý của cha mẹ giảm đi, người mẹ thường bớt chiếm hữu, những đứa trẻ cũng bớt cắm chốt vào mẹ và chấp nhận sự san sẻ tốt hơn.

4. Đứa con út theo cổ điển là “đứa bé bỏng nhất nhà” “đứa được cưng nhất nhà” ít ra là theo cách nhìn của các anh chị chỉ thấy những biểu hiện trìu mến và khoan dung mà đứa bé nhất được hưởng. Thực ra các anh chị cũng yêu quí đứa em út và đứa bé càng được cưng nếu nó yếu đuối và khoảng cách tuổi càng lớn nhưng khi lại tách khỏi cộng đồng của bọn trẻ. Đứa út thường bám vào mẹ. Những đứa lớn dần dần được giải phóng cảm xúc lại khiến cho người mẹ chiều chuộng đứa bé nhất và kéo dài thời kỳ bé bỏng của nó vì nó là đứa con cuối cùng. Cách ứng xử đó làm cho những lời buộc tội của bọn trẻ là mẹ ưu ái đứa út có một vẻ bề ngoài chính đáng.

Mauco và Rambaud đã cải chính ý kiến thông thường đó. Những đứa con út được đưa đến tham vấn không phải là những đứa được chiều chuộng mà lại là bị bố bỏ rơi vì ông ta thấy có nó là thêm gánh nặng và ngay bà mẹ cũng ngán buộc phải chăm sóc một đứa con thơ trong khi những đứa khác đã tự xoay xở lấy được rồi. Những trẻ út đến chữa phần lớn thuộc các gia đình khó khăn (góa bụa, ly dị, kết hôn lại v.v…) nhiều hơn là thuộc các trường hợp đã nghiên cứu về thứ tự trong gia đình (con một, con cả, con út, con giữa). Sự thiếu hụt tình cảm mà có lẽ chúng là nạn nhân đã giải thích cho hai kiểu tính cách được các tác giả nêu lên: xu hướng tìm cách gây sự chú ý của mọi người bằng bất cứ giá nào, và chậm phát triển về cảm xúc (1/3 trường hợp).

Một giả thuyết tài tình của A. Berge có lẽ cho phép dung hòa những nhận xét trên, bề ngoài có vẻ trái ngược nhau, làm cho đứa út có thể là đứa bé được nuông chiều hoặc bị bỏ rơi: cha mẹ chán chường về những kinh nghiệm trước đây không thể có ngay sự thích thú tự nhiên và đôi khi say mê như đã làm để giúp cho sự chiều chuộng chẳng qua là sự bù đắp một cách vô thức cho sự vô tâm tương đối nói trên.

Sự chênh lệch tuổi giữa những đứa đầu và đứa út có vai trò chủ yếu. Với những trẻ em dưới 7 tuổi thì cách nhau một tuổi là đáng kể và không thể bù lại bằng sự phát triển sớm vể thể chất và trí tuệ của đứa bé hơn. Nếu khoảng cách tuổi càng lớn thì đứa con cả hoặc những đứa lớn càng có vai trò bảo vệ đối với em út, rõ thấy từ 3 tuổi trở lên. Không nên ngăn cản cách ứng xử đó với điều kiện là những đứa lớn không có xu hướng độc đoán làm cho đứa bé thoái lui. Nếu khoảng cách càng lớn và tới trên mười tuổi chẳng hạn thì đứa út có bao nhiêu anh chị sẽ có thêm chừng ấy cha mẹ. Ngược lại những quan hệ anh em bị triệt tiêu và sự thiếu hụt đó có hại đối với nó như nó là đứa con một, trên thực tế.


E3. Giới tính của trẻ em

Sự hợp lại giữa con trai và con gái trong anh em một nhà là một điều tốt lành nhờ tác dụng điều hòa đối với những ganh đua cần thiết phải có, chúng tôi đã nói là những sự ganh đua giúp cho việc luyện tập ít tốn kém và không có gì nguy hiểm cho đời sống xã hội. Ngoài ra những quan hệ giữa con trai và con gái về một mức độ nào đó, hình dung trước cho những quan hệ xã hội tương lai giữa đàn ông và đàn bà. Đời sống hàng ngày có các chị em làm cho các con trai vừa có thái độ dễ dàng thoải mái với phụ nữ vừa có sự kính trọng đối với họ. Người ta hình dung cách ứng xử của những cậu con trai không có chị em, vừa quá dụt dè vừa quá thô bạo khi có những tiếp xúc đầu tiên với các cô gái, chúng có sự vụng về của những người mới thực tập. Còn đối với các cô gái, sự tiếp xúc hàng ngày đôi khi thô lỗ của anh em trai tuy giúp cho họ thực tập những mưu mẹo của giới, đồng thời lại tránh cho họ hướng ẻo lả, mơ mộng lãng mạn, tách rời thực tế; ở đây cũng vậy, sự sôi động gây ra trong gia đình toàn chị em gái do có một cậu con trai trạc tuổi cô gái trong nhà đến với gia đình càng làm cho thấy rõ lợi ích của những quan hệ anh em sớm có giữa anh em trai với chị em gái.

Người ta biết rõ rằng các cậu con trai coi thường con gái, những người kém vế, nhưng lại tìm cách chiều lòng các cô, tỏ ra có phong độ; các cô gái, coi bọn con trai là những người thô lỗ, nhơ bẩn nhưng lại khâm phục và ghen tỵ ngầm sức mạnh của họ. Những ý kiến hai chiều rất rõ không thể ngăn được giữa anh em trai với chị em gái và khi đi đến thái quá nhiều khi gây bất lợi. Một chị cả có thể vừa cảm thấy mình là bề trên với tư cách con cả nhưng lại thấy kém cỏi vì là con gái. Một người con trai có thể phát triển tình tự ti thật sự do những nhận xét chanh chua và không thương xót ở một bà chị nanh nọc.

Có những gia đình mà cậu con trai duy nhất sinh trước nhiều em gái, cậu đó dễ tự mãn, đôi khi không ai chịu được do luôn luôn được nịnh hót. Trái lại, cậu con trai sinh sau một loại chị gái có nguy cơ không nam tính, mềm yếu, không có cá tính vì không có sự ganh đua khỏe khoắn và sinh động với một hay nhiều anh em trai.

Trường hợp vắng mẹ trong gia đình, người chị cả hiển nhiên có thể thay thế mẹ, nhưng như thế bất lợi cho sự tiến triển cảm xúc của bản thân. Về mặt tâm lý, chị cả có thể đóng vai trò người vắng mặt đối với các em trai em gái nếu như khoảng cách tuổi khá lớn. Và ngay cả một gia đình có cấu tạo bình thường, một người em có thể chuyển tình cảm ban đầu đối với cha hay mẹ sang anh hay chị.

 

E4. Những trường hợp đặc biệt

A. Trẻ sinh đôi

Việc nghiên cứu cách ứng xử của những trẻ sinh đôi có lợi ích lớn về lý thuyết. Nó có thể giúp cho sự hiểu biết những quan hệ anh em ở trạng thái thuần túy nghĩa là không kể đến tuổi và thứ tự trong gia đình.

Người ta biết rằng việc nghiên cứu những trẻ sinh đôi cho những bằng chứng có hiệu quả về vai trò của di truyền và hoàn cảnh tùy theo chúng là sinh đôi từ một trứng hay hai trứng. “Trên số đông, nếu một tính cách nào đó thấy có sự phù hợp ở những trẻ sinh đôi cùng trứng nhiều khi không hòa hợp ở những trẻ sinh đôi hai trứng thì tính cách đó là do di truyền. Ngược lại, những sự khác nhau nhận thấy ở những trẻ sinh đôi cùng trứng được coi là ảnh hưởng của hoàn cảnh” (Kammerer). Như trên chúng tôi đã nói điều cực kỳ khó khăn là tìm được những trẻ sinh đôi cùng một trứng nuôi tách nhau ngay sau khi sinh.

Những trẻ sinh đôi cùng trứng nói tóm lại chỉ là một cá nhân tách làm hai người có cùng một gia sản di truyền. Ngoài ra cha mẹ nhiều khi có xu hướng củng cố thêm sự giống nhau về thể chất thí dụ như mặc quần áo giống nhau v.v…Những quan hệ giữa chúng về lý thuyết có thể coi như là quan hệ điển hình.

Tuy nhiên Zazzo dựa trên một số lớn những quan sát đã nhận thấy điều đáng ngạc nhiên trên thực tế là giữa trẻ em sinh đôi, bên cạnh những sự giống nhau về thể chất, đối lập lại có những sự khác nhau về tâm lý rất rõ nét mặc dầu di truyền và hoàn cảnh giống hệt nhau. Theo ông, trước hết đó là do hai cá nhân dù giống nhau không thể ở cùng một thời điểm, cùng một nơi, mà mỗi người tiến triển theo thời điểm trong không gian của từng người. Việc nghiên cứu “môi trường vi mô” làm cho Zazzo quan niệm những trẻ sinh đôi trước hết là một cặp hình thành từ hai người bổ sung nhau, có cấu trúc bên trong được xây dựng trên những quan hệ ảnh hưởng tiền nhân và phục tùng như tất cả các cặp. Những quan hệ bổ sung đặt hai trẻ sinh đôi, ngay từ tuổi thơ, vào những vị trí khác nhau đối với thế giới bên ngoài.

Cặp sinh đôi lấy hình mẫu có trước của cha mẹ. Một đứa trẻ tự đồng nhất với một trong hai cha mẹ. Ở đây sẽ là cặp sinh đôi đồng nhất hóa với cặp cha mẹ mà sự thăng bằng của họ sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của cặp sinh đôi. Nếu là sinh đôi cùng trứng thì đương nhiên là cùng giới tính và một trong hai trẻ sẽ đồng nhất hóa với cha hay mẹ khác giới với nó, đó không phải là điều mong muốn.

Những trẻ sinh đôi tạo ra một tế bào khép kín, một thế giới riêng không cần đến kẻ khác, thí dụ nhiều khi chúng có ngôn ngữ riêng chỉ hiểu ngầm giữa chúng với nhau. Sự cách ly tay đôi đó thường dẫn đến hậu quả là chậm trễ về trưởng thành xã hội gắn liền với sự chậm trễ về cảm xúc và tâm lý trong khi trí lực vẫn bình thường. Những trẻ sinh đôi chậm nói hơn những trẻ khác, ít nhất là trong một nửa các trường hợp. Sau này những thích nghi xã hội sẽ không được tốt so với trẻ khác, khi có việc tách rời cặp đôi này thí dụ khi lấy vợ lấy chồng.

Từ việc nghiên cứu rất kiên trì và rất tỉ mỉ chỉ một cặp sinh đôi không cùng trứng, một trai và một gái P.Cahn (22) đã kết luận là chúng ý thức được nhân cách của chúng vào quãng 3 tuổi, không sớm, không muộn so với các trẻ khác ý thức về “chúng ta” đi liền sau khi ý thức được “cái tôi” và củng cố thêm cho nó. Trái với quan niệm của Zazzo, theo P.Cahn sự đối tính của trẻ sinh đôi làm cho chúng được phong phú hơn. Về sự thu nhận tính xã hội, dễ giao thiệp, ảnh hưởng, tích cực của việc sinh đôi rõ nét. Sự khác nhau về giới tính của trẻ sinh đôi cho phép nhận rõ chiều hướng hung tính nổi bật ở đứa con trai, cũng như ở đứa con gái nổi bật chiều hướng quyến luyến hầu như chỉ dành cho anh (hay em) trai sinh đôi với mình. Có lẽ đối với đứa gái, thái độ đó là sự đồng nhất của đứa trai sinh đôi với người cha, còn thái độ hung bạo của đứa trai đối với đứa gái sinh đôi là do nó coi đứa gái là đối thủ chiếm hữu tình mẹ. P. Cahn kết luận bằng cách đưa ra giả thuyết là sự ganh đua anh em trong thời kỳ O- đíp giữa những trẻ sinh đôi khác giới tính không gay gắt bằng giữa những anh chị em bình thường hay giữa trẻ sinh đôi cùng giới tính. Giả thuyết này còn cần có những xác minh đầy đủ. Theo P.Cahn, sự sinh đôi có hai giới tính có lẽ là dạng về tình anh chị em mở ra những khả năng phát triển xã hội và cảm xúc tốt đẹp hơn cả.

B. Con một

Một gia đình chỉ có một đứa con – chưa thể là một gia đình hoàn chỉnh. Đứa con một là một đứa con cô đơn, một đứa trẻ được ấp ủ và phần nhiều là đứa con của những người ích kỷ, và lý tưởng về cha mẹ nó nhập tâm chỉ có thể là một lý tưởng của người ích kỷ. Sự cằn cỗi tự nguyện của cha mẹ làm cho nó ngả về sự cằn cỗi tâm lý. Đối với nó, “cái có” thắng “cái cho”. Ngoài ra hai cha mẹ chỉ có một con và không “cho” sinh ra những đứa khác nữa.

F, Dolto – Marette nêu: từ phía người lớn, người ta cho nó một hình ảnh trì trệ chứ không phải là một hình ảnh sinh động và cuối cùng nó cảm thấy mình là một vật báu và cũng tự nhìn nhận như vậy.

Đó là một đứa trẻ được ấp ủ và được nịnh nọt. Thật vậy người ta ân cần chăm sóc một đối tượng duy nhất trên đời mà nếu mất đi sẽ hủy hoại lập tức tất cả kết cấu gia đình. Người cha thường là một người nhu nhược để vợ xỏ mũi lôi đi. Người mẹ luôn luôn lo lắng về đứa con cho nên khó lòng mà thoát khỏi cách ứng xử bảo vệ quá mức. Bà ta quan tâm đến việc ăn uống, may mặc và bạn bè của nó một cách kỹ lưỡng tới mức đứa trẻ biến thành trò cười của bạn bè nó. Để phản ứng lại, đứa con một tỏ ra khó tính, hay đòi hỏi, đỏng đảnh vì quá dư thừa những sự chăm chút liên tục. Mauco và Rambaud đã ghi sự thường xuyên thể hiện tính chiếm hữu công khai ở các bà mẹ có đứa con một. Nó chiếm tới 53% các trường hợp quan sát trong khi chỉ là 17% với đứa út, 16% với con cả và chỉ 4% với con thứ.

Bà mẹ đòi hỏi đứa con môt phải sạch sẽ trong việc ị đái quá sớm và cái đó gây ra những hiệu quả tai hại. Bà đòi hỏi con phải có một biểu hiện lễ phép rất hình thức, những kết quả học tập thật trội nhiều khi đạt bằng cách nhồi nhét và học tư, phải chọn bạn bè được giáo dục thật tốt đó là những cái tối thiểu mà người ta trông chờ ở nó. Nếu một ngày nào đó bắt gặp nó đánh bạn thì cả một bi kịch xảy ra trong nhà. Nếu nó xếp hạng trong lớp kém đi thì chính thầy giáo có lỗi. Người ta sẵn sàng tránh cho nó những kiểu bạn bè tào lao không được lựa chọn kỹ lưỡng, giữ gìn không cho nó tiếp xúc với cái gì độc hại cho dù là vi trùng hay những lời nói thô tục. Người ta đón trước những ý muốn nhỏ nhất tới mức nó phát chán không còn thấy cái thú vị ham muốn bất cứ cái gì. Nó không được hưởng một kinh nghiệm bản thân nào, cái ích lợi duy nhất đối với nó.

Chỉ sau này người ta mới thấy là nó kém sáng kiến. chỉ quen nhận mà không biết cho, nó sẽ ngạc nhiên khi không thể kết bạn với ai, không biết rằng đó là một sự trao đổi liên tục. Không được chọn những quyết định nhỏ nhất (cái áo, một cuộc giải trí). Nó sẽ thất bại trước những trách nhiệm lớn trong nghề nghiệp hay trong hôn nhân. Ngay cha mẹ của nó có nguy cơ nhận được sự vô ơn, kết quả của tính ích kỷ mà chính họ đã gieo mầm ở nó một cách có ý thức hay không.

Sau cùng, đó đứa trẻ cô đơn. Sống cô độc thì không thể phát triển tinh thần cộng đồng và ý niệm về thực tiễn xã hội mà chúng ta thấy nảy nở và tôi luyện trong sự ganh đua giữa anh em. Việc thiếu hụt đời sống xã hội thích ứng với lứa tuổi được củng cố thêm bằng cách thái độ khen ngợi của người lớn. Đôi khi một đứa bạn nhỏ được bà mẹ chấp nhận qua sàng lọc cho phép nó thỏa mãn ít nhiều ý muốn được tiếp xúc xã hội. Điều nói trên giải thích hiện tượng thiếu kỷ luật học đường thường xảy ra đối với các con một. Có lẽ đó là kết quả của những khó khăn do tiếp xúc lần đầu với những người đồng loại, đặc biệt gay cấn đối với những trẻ chưa được thực tập về cuộc sống chung với nhau từ trong gia đình. Cũng phải nói thêm về tinh thần tự do mà nó cảm nhận được khi chan hòa trong đám đông trẻ, nó cảm thấy ít bị theo dõi hơn ở nhà và nó trả thù lại đối với sự chăm sóc quá mức của gia đình làm cho nó không được tự do thể hiện chính mình (Mauco và Rambaud).

Cũng như con cả, đứa con một thường là đứa xuất sắc về mặt trí tuệ. Sự quan tâm chú ý đến nó cho cho phép nó thể hiện sớm tất cả những khả năng trí tuệ. Nhưng khi đi sâu vào các vấn đề, người ta nhận thấy trên thực tế là ở các mặt cảm xúc, giác quan và vận động, nó vẫn là đứa bé không có chút độc lập của mình. Chỉ có ngôn ngữ là ngoại lệ trong sự chậm trễ về vận động: Nhưng ngôn ngữ không phải là mặt chức năng chuyên nhất của vận động. Và sau này, nó sẽ có một sự thông minh chủ yếu trong nói năng.

Bức tranh có phần u ám về đứa con một thực tế chỉ là một sơ đồ về những mối nguy hiểm đe dọa nó. Tùy theo sức khỏe tinh thần, đứa con một sẽ vượt được hay không phần lớn những trở ngại có nguy cơ chủ yếu để lại mãi ở lúc trưởng thành là tính ái kỷ và ích kỷ gây khó khăn nghiêm trọng cho sự thích nghi xã hội của nó.

Jacquemyns đã làm một cuộc điều tra và nhận thấy là 22% những người Bỉ mong muốn gia đình có trên 3 con và 16% chỉ có 3 con. Những lý do đưa ra ở những người muốn tránh có con hay hạn chế số lượng con chia làm 2 nhóm. Trong gần một nửa các trường hợp là sự ích kỷ của cặp vợ chồng muốn rằng mình không phải từ bỏ những tiện nghi hoặc những khả năng (32%) hoặc nghĩ rằng trẻ con ra đời làm giảm mức sống gia đình (13%). Trong nhóm thứ hai (26%) tức là một phần tư các trường hợp, các cha mẹ không biết những nhu cầu tâm lý thực của trẻ con, nghĩ rằng như thế đảm bảo giáo dục con tốt hơn (16%) hoặc nâng cao triển vọng may mắn trong tương lai (10%). Ngược lại nhiều cha mẹ buồn phiền vì nỗi không thể cho đứa con có thêm em trai, em gái. Người ta có thể dự đoán lá những hậu quả của sự cô đơn này ở trẻ em đỡ nghiêm trọng hơn là ở những trẻ là con một do ý muốn ích kỷ hoặc mù quáng của cha mẹ nó. Vì nhiều khi họ cũng có một khái niệm lành mạnh, nhiều khi vô thức là có anh chị em thì đỡ nguy hiểm hơn là để con một. Và họ sẽ tìm mọi cách để biện giải những bất lợi đó và phần lớn là các bậc cha mẹ đã làm được. Tuy nhiên, đứa con một là đứa trẻ bị thiệt thòi ngay từ đầu không có những cơ may để thành công như những đứa trẻ khác. Nếu nó thích ứng với xã hội thì đó là điều đáng khen.

C – Trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi.

Nguyên nhân việc thiếu quan hệ gia đình trong trường hợp này có thể cho phép nhận biết một cách hầu như thực nghiệm tính chất đích xác và giá trị của sự mất mát mà đứa trẻ phải chịu. Chúng tôi không thể đề cập ở đây vấn đề rộng lớn này đã được J.Boutonier nghiên cứu kỹ, ngoài những dạng có liên quan đến những quan hệ gia đình.

Trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi đều có một tính chất chung là thiếu cha mẹ mãi mãi và không vãn hồi được; ở một thời điểm mà con người hãy còn cần đến cha mẹ trong sự giáo dục. Nhưng đối với một số trẻ em, việc bị bỏ rơi còn bổ sung vào sự thiếu hụt đó những tình cảm nhục nhã và thù oán không thể bỏ qua.

Có rất nhiều yếu tố làm thay đổi những phản ứng của đứa con trước những tình cảnh đó. Một đứa con cả phản ứng mạnh mẽ hơn một đứa con thứ ở cùng lứa tuổi vì những lý do trách nhiệm thực sự hay tưởng tượng thuộc bổn phận của nó. Sự có mặt của các anh chị em nhiều khi giúp cho sự bù đắp tình cảm tốt lành mà đứa con một không được hưởng, nó cũng cho phép những đứa nhỏ tuổi hơn có thể tự đồng nhất với một người anh cùng giới tính khi thiếu người cha hay người mẹ. Tính khí riêng của đứa trẻ và thực trạng tình cảm gia đình có thể biến đổi một tai họa đối với nhiều đứa trẻ trở thành một “cơ may được đơn côi”. Những hoàn cảnh dẫn đến việc mất mát đột ngột hay từ từ sau khi bệnh tật kéo dài, những hậu quả của sự mất mát đó đối với hoàn cảnh xã hội của gia đình nhất là sau khi người cha mất đi (những khát vọng bị tước đoạt, bỏ học, nghèo khổ) cũng đều có ảnh hưởng. Những phản ứng cũng khác nhau đối với cái chết của người cha, của người mẹ hay của cả hai và tùy theo người cha hay người mẹ còn lại có lập gia đình hay không.

Nhưng yếu tố chủ yếu là lứa tuổi mà đứa trẻ bị mồ côi hay bị bỏ rơi. Hai thời điểm xấp xỉ 7 tuổi và 10 tuổi giúp cho việc phân nhỏ những phản ứng làm 3 thời kỳ khác nhau.

Trước 7 tuổi những hậu quả trên thực tế hầu như không đáng kể nếu đứa trẻ quá nhỏ và những người thay thế cha mẹ tương xứng. Nhưng ngược lại hoàn toàn nếu sự mất mát đó dẫn đến sự thiếu hụt tình cảm kéo dài. Đối với trẻ lớn hơn, những phản ứng tức thời mơ hồ và gây bối rối, nỗi buồn phiền của những người xung quanh làm cho trẻ lo sợ, nó biểu hiện sự oán hận trước sự ác ý của các người đã khuất bằng hung tính vì người đó là người toàn năng ở trong tâm trí của nó, thế nhưng không trở về nữa, cái hung tính đó lại được củng cố thêm bằng những mắng mỏ của những người xung quanh không hiểu nổi nó lại cho rằng “ác ý” của nó phạm thượng trong tình huống đau buồn như thế.

Về mặt trí lực, đứa trẻ thiếu được kích thích và trình độ của nó bị ảnh hưởng. Về mặt cảm xúc, nó không thích nghi dễ dàng với sự thay đổi môi trường, cách yêu thương, bằng yêu sách “món nợ đối với nó”, nó trở nên hay đòi hỏi, cố chấp, ghen tị, tham lam nhất là sau này trở thành người hay yêu sách hoặc khó thích nghi với đời sống xã hội; đó là trường hợp những cô gái ở các trại từ thiện buông ngay vào người tình đầu tiên do nhu cầu về tình cảm mà các cô không được biết từ lúc nhỏ.

Vào khoảng 5 tuổi, trẻ mồ côi sống ít nhiều về sự có mặt cha mẹ trong tưởng tượng. Nhiều khi, trẻ mồ côi sống ở cô nhi viện (Burlingham và A. Freud) không được người xung quanh đả động đến nỗi tang tóc và gợi nhớ người đã khuất, dễ chối bỏ về thực tế cái chết của người cha hoặc tạo ra một hình ảnh quá lý tưởng, sự thái quá đó ngăn cản nó chấp nhận dễ dàng việc tái giá của người mẹ và tạo nên những tình huống khó xử.

Đối với trẻ mồ côi, việc mất cha mẹ là một thực tế đau khổ nhưng có thể bày tỏ được trong khi đứa trẻ bị bỏ rơi phải chịu đựng thêm nỗi tủi nhục đã có người cha hay người mẹ hoặc cả hai cha mẹ hư hỏng đến nỗi bỏ rơi nó. Nó xấu hổ về cha mẹ nó đã lỗi lầm. Nếu người ta đã dấu cách ứng xử thật của cha mẹ nó, nó cũng có thể tái tạo theo ý nó như đứa trẻ mồ côi và đề tài “không gia đình” và con-của-hoàng-tử-bị-những-người-lang-thang-cướp-đi làm dịu những nuối tiếc của nó, cho đến một ngày mà sự phát hiện vụng về làm sụp đổ sự tưởng tượng bù trừ, gây nên một chấn thương tình cảm đôi khi hoàn toàn vì chấp nhận sự bỏ rơi của người mẹ còn khó hơn là chấp nhận cái chết của mẹ. Từ giờ phút đó, đứa trẻ có thể chìm sâu trong tình cảm tự ti, được củng cố thêm bằng những xu hướng ứng xử thoái lui (vô cảm, mơ mộng)

Từ 7 đến 10 tuổi, trẻ hiểu rõ hơn, đôi khi có chậm trễ về nỗi bất hạnh mà nó phải gánh chịu. Đó là trường hợp đứa trẻ chỉ òa lên khóc nức nở 3 tháng sau khi mẹ nó chết và luôn miệng nói “không bao giờ, không bao giờ mẹ nó trở về nữa”. Tính chất không vãn hồi của việc mất mát đó tạo ra một sự đè nặng mà đứa trẻ chưa đến tuổi để phản ứng một cách hữu hiệu. Nỗi lo sợ mơ hồ bị bỏ rơi bởi tất cả những người mà nó yêu thương như cha mẹ nó đã bỏ rơi nó, lại càng làm cho nó sợ hãi. Sự đè nặng đó cùng với nỗi thất vọng có thể làm ngừng trệ sự phát triển và ảnh hưởng sâu đậm đến cảm xúc của trẻ “như những cây đang ra hoa bỗng bị một trận sương muối muộn màng” (J.Boutonier). Hậu quả nghiêm trọng nhất của sự thất vọng này ở đây còn là xu hướng từ bỏ, trốn tránh thực tiễn bằng những mơ mộng liên quan đến tuổi thơ hạnh phúc và sau này trong cách cư xử kiểu phân liệt đôi khi đáng lo ngại.

Sau 10 tuổi, đứa trẻ có những phản ứng gần giống người lớn. Nó có nỗi buồn thương thật sự thể hiện ở một sự giải tỏa tốt. Nhân cách sâu kín của nó ít bị tác động hơn. Nguyên tắc chung là quá trình tự lập hóa được thúc đẩy nhanh hơn: người ta có thể khẳng định việc này trong những trường hợp trẻ mồ côi trong chiến tranh đã được sống bên cha mẹ ít nhất đến 7 tuổi và sau khi cha mẹ chết đã được tập hợp lại trong các trại trẻ.

Điều đáng sợ hơn cả là những nỗ lực mà trẻ làm để thay thế người đã khuất bằng cách đảm nhiệm một gánh nặng quá lớn; thường là bị thất bại và thất vọng. Thực tế này thường xảy ra ở các con gái muốn thay thế mẹ, tự nấu nướng, chăm sóc các em nhỏ và không thành công mặc dầu cô gái có thiện chí đảm đang. Từ đó nảy sinh nỗi oán hận đối với người cha dượng hay mẹ kế đến thay thế và nó giận không chỉ vì người đó đã đến chiếm chỗ của người thân yêu mà người đó lại còn thành công ở chỗ nó đã bị thất bại.

Việc mất cha hay mẹ là một sự mất mát không thể vãn hồi được. Người ta chỉ có thể bù đắp sự thiếu hụt mẹ cha, người ta có thể thế chỗ của mẹ cha nhưng người ta không thể thay mẹ cha được.

J. Boutonier cho rằng muốn thay cha mẹ trong tâm trí đứa trẻ là không thể được và có hại; người ta chỉ nên kế vị thôi trừ trường hợp trẻ còn rất nhỏ.

Từ sự không nhận biết một thực tế khó chịu đó đã dẫn đến sự thất bại của biết bao bà mẹ kế, ông cha dượng lúc đầu được khích lệ bằng những ý định tốt đẹp.

 

menu
menu