(Sách hiếm) Trẻ em và các mối quan hệ gia đình (Chương 6.1)

sach-hiem-tre-em-va-cac-moi-quan-he-gia-dinh-chuong-6-1

Nguyên tác: L’enfant et les relations familiales_Maurice Porot_Đạm Thư dịch.

 

 

F. Khảo sát những quan hệ gia đình

Chất lượng của những quan hệ gia đình quyết định trên thực tế tương lai đứa trẻ. Quan hệ lành mạnh giảm bớt những chấn thương tâm lý đau đớn nhất; quan hệ xấu lại tăng cường những cái nhỏ nhất giữa chúng. Nó thế để thấy cần phải hiểu biết lợi ích của yếu tố điều chỉnh có tầm quan trọng hàng đầu này.

Người ta có thể đạt được sự hiểu biết này bằng những con đường trực tiếp như quan sát và thẩm vấn, và bằng những con đường gián tiếp trong đó phải kể đến phân tâm học cổ điển, những test phóng chiếu thông thường và nhất là những kỹ thuật phóng chiếu riêng cho trẻ em.

A. Những phương pháp trực tiếp

Để hiểu biết trực tiếp những quan hệ gia đình, việc quan sát các sự việc, hỏi han đứa trẻ, cha mẹ nó những người xung quanh có lẽ là những phương tiện đơn giản và thuận tiện nhất. Tuy nhiên những cái đó có giá trị rất hạn chế; những triệu chứng bệnh mà trẻ có, ngày nay người ta biết nhiều khi chỉ là sự thể hiện vô thức và chuyển vị cả những vấn đề thực sự của nó. Việc mô tả những chỉ báo lâm sàng, nếu như nó cho phép một người có kinh nghiệm định hướng được thường không đủ để đi vào chiều sâu sự việc. Việc thẩm vấn đứa trẻ đem lại ít hơn vì những câu trả lời của trẻ bị ức chế, sai lạc hoặc bị đảo ngược bởi sợ hãi lo âu hoặc đơn giản hơn chỉ vì rụt rè không thể nào hỏi một đứa trẻ như hỏi một người lớn; rất dài, không thể hệ thống hóa, nó đòi hỏi người khảo sát phải có một sự kiên nhẫn và có văn hóa đa dạng và sâu sắc; nhiều khi người ta “đeo đẳng” một cậu bé bằng cách nói với nó về trận đấu bóng đá mới đây, tỏ vẻ biết rõ những bàn tán về phim ảnh nâng giá trị người khảo sát lên rất nhiều đối với một em gái. Nhưng dù đã tin cậy, đứa trẻ không dám đưa ra một bức tranh thực về những quan hệ gia đình của nó và nhiều khi còn không biết những cái bất bình thường trong những quan hệ đó; có những đứa trẻ thực sự cho là bình thường và chính đáng những hành động hung bạo của người cha nghiện rượu và quên không nói đến cái đó.

Những khó khăn thực sự thuộc về phía cha mẹ và những người xung quanh. Thường thường họ không biết tất những gì về tâm lý thực sự của đứa trẻ, họ ngạc nhiên là những hiểu biết của họ không hoàn toàn khớp với cái giường của Procuste 1 về những nguyên tắc chính và những thành kiến giáo dục mà họ tin là có giá trị bất biến ở mọi nơi, mọi lúc, với mọi trường hợp. Hoặc tệ hại hơn nữa là họ tưởng là biết sâu sắc tâm hồn con trẻ vì họ đã đọc những bài tóm tắt và ít nhiều được thông tin đúng đắn về vấn đề này ở trong những tạp chí hàng tuần phát hành với lượng lớn hoặc trong tạp chí phụ nữ nào đó. Cùng với sự không hiểu biết hoặc khoa học sai lầm đó còn có thêm một sự bóp méo có hệ thống và cố ý về sự thật do tự mãn và cũng do thù ghét.

Cho dù những bậc cha mẹ đã được biết rõ và khiêm tốn, có cố gắng thành thực làm cho khách quan, người ta vẫn không thể chấp nhận mà không dè dặt sự tường thuật những quan hệ gia đình vì họ là những người trong cuộc vừa là quan tòa vừa là bị cáo. Những bằng chứng của họ dù thành thật đến đâu cũng không thể tiên nghiệm là khách quan. Khi người ta đã nắm trong tay những thông tin đầy đủ, người ta phải ngạc nhiên về những biến dạng mà các bậc cha mẹ trình bày hoàn cảnh gia đình thật của mình, ấy là họ đã cố tìm cách để cộng tác với người thầy trị liệu.

Nếu trở ngại mới nói trên được loại trừ, nếu như chỉ riêng việc thẩm vấn đạt được một sự tổng kết chính xác về các quan hệ gia đình, có lẽ người ta có thể xem như đã biết được cấu trúc gia đình nhưng đó chưa phải là giá trị đích xác đối với đứa trẻ, hai đứa trẻ bề ngoài giống nhau về phương diện tâm lý, được đặt trong một hoàn cảnh gia đình tương tự có thể phản ứng một cách khác nhau về cơ bản. Cần nhắc lại không bao giờ thừa là đối với đứa trẻ không phải những thực tế được coi trọng mà là cách nó nắm bắt được những thực tế đó, nó tưởng những thực tế đó như thế nào; một cô gái nghĩ sai tự cho mình bị một bà mẹ rất tốt bỏ rơi và cô ta sầu não – đau khổ chẳng kém gì một cô gái hoàn toàn bị lơ là bởi một bà mẹ kế ghẻ lạnh hoặc ghù ghét. Nhiều ông bố bà mẹ và ngay cả những nhà giáo dục vẫn không tin vào sự khẳng định nói trên mà việc thực hành hàng ngày luôn luôn đã xác minh và việc đó thật đáng tiếc, người ta không thể phủ nhận nó hoặc coi thường nó mà không có nguy cơ sai lầm nghiêm trọng.

B. Phân tâm học

Qua những điều nêu ở trên, cần phải từ bỏ việc nhận biết sự thực về quan hệ gia đình của một đứa trẻ chỉ bằng những phương pháp trực tiếp. Người ta phải nhờ đến những phương pháp gián tiếp.

Những nhà phân tâm trẻ em nhanh chóng hiểu ra rằng những kỹ thuật phân tâm cổ điển không thể sử dụng trực tiếp ở trẻ em và họ đã điều chỉnh những kỹ thuật đặc biệt mà chúng tôi sẽ nói sau.

Thực vậy, sự tổ chức cách suy nghĩ của trẻ thực tế không cho phép sử dụng những liên tưởng tự do; chứng bịa hoang đường là bình thường ở trẻ tới một mức độ nào đó và những hệ thống liên tưởng còn kém được tổ chức trong tâm trí của trẻ.

Việc phân tích những giấc mơ, “con đường vương giả” đạt tới vô thức của người lớn, là đối tượng của những sự đánh giá rất khác nhau về phía những nhà phân tâm trẻ em. Một số người không thừa nhận ích lợi của nó, Kimmins chỉ tìm ra những giấc mơ đơn điệu và nghèo nàn trên 5000 giấc mơ trẻ em. Kanner nói là đúng ra phải quen biết đứa trẻ trước và thân với trẻ rồi mới có thể sử dụng nó. Madeleine Rambert cùng chung ý kiến với Madeleine Backes – Thomas là những giấc mơ cung cấp những chỉ dẫn giá trị, tuy nhiên đánh giá là dùng “những giấc mơ như là tiêu chuẩn duy nhất để chẩn đoán thì có vẻ rất phiêu lưu. Đó là những điều bổ sung, nếu không phải là cần thiết thì ít nhất cũng rất có ích cho những kỹ thuật thăm dò khác”.

Nội dung của chúng nói chung tương tự như nội dung của những trò chơi tượng trưng mà chúng ta sẽ nói sau. Trong một phần nửa các trường hợp, theo bà Rambert thì giấc mơ sẽ thể hiện sự sợ hãi, sợ người lớn khổng lồ, đòn trừng phạt báo thù, bị bỏ rơi, chết, bị thiến. Trong một phần tư các trường hợp chúng có thể biểu lộ hoặc là một sự mong muốn (mặc cảm O-đip, ao ước quyền lực, chạy trốn, được quà tặng, gặp lại cha mẹ vắng nhà hay đã chết) hoặc là những tình cảm thường hai chiều về tội lỗi, tự ty hoặc liên quan đến những vấn đề tình dục.

Với sự liệt kê nói trên, người ta thấy là những chỉ dẫn cung cấp bởi việc nghiên cứu các giấc mơ của trẻ em không thể coi thường trong sự tìm hiểu hoàn cảnh gia đình thật của trẻ.

C. Những kỹ thuật phóng chiếu thường dùng.

Một phương pháp thăm dò chân thực và toàn bộ nhân cách trẻ em phải vừa khách quan để đảm bảo chân thực và không giới hạn để được toàn bộ. Những kỹ thuật phóng chiếu đáp ứng tốt hơn cả đối với định nghĩa nói trên nhưng cũng phải nói rằng không bao giờ đáp ứng được đầy đủ hoàn toàn.

Hầu hết những test phóng chiếu thông thường không cho những thông tin trực tiếp về quan hệ gia đình của đứa trẻ. Nhưng lại rất có ích để hiểu biết đời sống tâm lý; cấu trúc nhân cách của đứa trẻ, tính nết v.v…Test Rorschach không có giá trị đối với trẻ em trước 9 tuổi.

Test Szondi có vẻ bị phê bình dữ dội; tuy nhiên Luccioni trên thực tế đã nhận xét thấy những sự giống nhau rõ nét ở những trẻ cùng một gia đình và những trẻ sinh đôi cùng trứng. Làng Arthus có thể có một vài chỉ báo về tổ ấm gia đình về cái nhà ở gia đình. Nó đặc biệt quý giá để chứng minh cho một số cha mẹ về những gì mà họ không muốn nhìn thấy.

Test liên tưởng những từ của Jung đôi khi cho chúng ta một vài kết quả có ích, nhất là ở trẻ lớn mà đối với nó những từ gợi sự liên tưởng được lướt giữa những từ không quan trọng đôi khi gây ra những liên tưởng và những thời kỳ ẩn tàng rất giá trị. Nhưng trẻ em dễ đãng trí và câu trả lời của trẻ bị nhiễm bởi những ảnh hưởng ngoại sinh.

Test T.A.T (thematic aperception test) của Murray lý thú hơn. Người ta có thể sử dụng từ tuổi 11 đến 12 hoặc bằng kỹ thuật độc đáo hoặc chỉ dùng một số thu hẹp các tấm tranh bằng cách dựa vào sở thích của tất cả mọi trẻ em là kể chuyện những hình ảnh này gợi lên những câu trả lời phối hợp hoặc trần trụi tùy theo kỹ thuật riêng của phương pháp đó, cho phép nắm bắt tốt hơn hoàn cảnh thực của đứa trẻ ở trong gia đình của nó. Và cái đó căn cứ nhiều vào sự phân tích nội dung những chuyện kể hơn là hình thức và cấu trúc các chuyện. Vị trí của “nhân vật” trong những tình huống khác nhau (đặc biệt ở gia đình) cho phép thể hiện rất tốt tình cảm thật của trẻ đối với các thành viên khác nhau trong gia đình. Nhưng ở đây cũng phải dè chừng nhiều về xu hướng bịa chuyện hầu như thường tình đối với trẻ em và không được chấp nhận mà không có những kiểm tra các câu trả lời nhiều khi dựa trên tưởng tượng hơn là trên thực tế.

Bellak đã hiệu đính một test C.A.T (Children aperception test) lý thú hơn với trẻ em vì các tấm tranh thể hiện một thế giới loài vật được nhân tính hóa nhiều hay ít, thuận hơn cho sự phóng chiếu thế giới trẻ em.

– – – – –

1 Giường của Procuste: theo điển tích Hy Lạp tên cướp Procuste có một chiếc giường dùng làm khuôn thước để hành hạ người đi đường. Ai chân dài quá thì chặt chân cho khớp, ai chân ngắn quá thì kéo dài cho vừa bằng. (Người dịch)


F2. Những kỹ thuật phóng chiếu đặc thù cho trẻ em

Những kỹ thuật này hợp thành một nhóm ngày càng phong phú lên vì chúng dựa vào những sở thích và những hoạt động bình thường của trẻ. Để thuận tiện cho việc mô tả, chúng tôi chia chúng làm 4 nhóm dựa theo những hoạt động nhìn, lời nói, trò chơi hay hình vẽ của trẻ.

A – Những kỹ thuật nhìn

1. Hình ảnh. Lydia Jackson đã hiệu đính với cái tên Test những thái độ gia đình, một kỹ thuật gần giống Test T.A.T của Murray nhưng dành riêng cho trẻ em và nhằm trước hết vào việc thăm dò các quan hệ gia đình.

Việc thử nghiệm bao gồm trình bày lần lượt cho trẻ em xem 7 bức vẽ (từ 0 đến 6) có khả năng gợi lên hoàn cảnh của trẻ ở trong gia đình: (0) sự bảo vệ cảu người mẹ và sự phụ thuộc của trẻ thơ vào mẹ; (1) sự loại trừ đứa trẻ khỏi sự mật thiết giữa cha mẹ và tình cảm bất an liền theo đó. (2) ghen ghét đối với đứa mới sinh; (3) không vâng lời, cô đơn, tính tội lỗi hậu quả của sự ghen ghét nói trên; (4) khả năng hung tính hay phản bội về phía cha mẹ; (5) sự hấp dẫn của quả cấm (đồ cấm) có khả năng bị trừng phạt; (6) những phản ứng có thể xảy ra của trẻ khi cha mẹ cãi nhau. Thí dụ hình ảnh (2) thể hiện một bà mẹ đang cho con bú một cách âu yếm dưới con mắt hiền từ của người cha cùng ngồi bên mẹ trên một tràng kỷ, còn đứa con đầu đứng đàng xa nhìn lại cảnh đó. Về mặt cá nhân chúng tôi thấy có lẽ 7 tấm hình đó không phải tất cả cũng đã thành công và cũng không hẳn là đã phù hợp với mục tiêu.

Người ta yêu cầu trẻ bịa ra một câu chuyện độc đáo trên mỗi hình ảnh liên tiếp nhau (như trong test T.A.T) mà không cần giới hạn thời gian. Người ta ghi lại từng từ của trẻ sau đó phân tích những chuyện trẻ đã kể. Những sự xung đột thường được phóng chiếu là tình thân ái và sự ghen tuông đối với anh chị em, tình cảm tự ty, và sự cần thiết khẳng định những ham muốn hung tính đối với cha mẹ, anh chị em, nỗi sợ hãi về sự báo thù.

Bà L.Jackson đã làm sự so chuẩn rất nghiêm túc về thử nghiệm của mình trên 3 nhóm trẻ từ 6 đến 12 tuổi bình thường, nhiễu tâm và phạm pháp để nhận ra rằng hai nhóm sau cho những câu trả lời khác hẳn với nhóm thứ nhất. Chúng tôi không thể nhấn mạnh ở đây về những kết quả đó. Song người ta có thể tự hỏi là tại sao bà ta lại tạo ra một loại đặc biệt cho những trẻ phạm pháp mà chúng rất khó có thể khác những trẻ bình thường hay nhiễu tâm, điều mà bà đã thừa nhận ra trên thực tế.

Dù sao đi chăng nữa, việc so chuẩn đó đã cho phép bà phác họa một bức tranh gần đúng với trẻ bình thường qua những câu trả lời của chúng: hình như trẻ sống trên một bình diện thực tế hơn, nhiều khi cho câu trả lời “mong đợi” nó có xu hướng xét đoán những người khác (người lớn hay trẻ em) “tốt” hơn là “ác” nhưng cũng giữ được khá khách quan để công nhận là trẻ con đôi khi cũng “hư” và thường bị phạt về những chuyện không vâng lời. Tuy nhiên sự trừng phạt đó hiếm khi trẻ hình dung là tàn nhẫn hoặc quá đáng. Tuy nhận định là cha mẹ có tính hai chiều đối với con cái và sẵn sàng giúp đỡ và bảo vệ con. Nó cảm thấy đủ an toàn ở trong gia đình của mình để có thể “tiên nghiệm” những người lạ là nhân từ. Nó công nhận một cách thoải mái giữa anh chị em có sự ghen ghét nhưng đối với nó lòng thương mến vẫn chiếm những người đó vẫn vượt lên trên.

Đối với chúng tôi, test này có vẻ rất tốt mặc dầu chúng tôi có những dè dặt về một số hình ảnh chưa đủ giá trị khơi gợi Jackson nói rẵng việc diễn giải nó đòi hỏi sự tập huấn và kinh nghiệm của một nhà tâm lý trị liệu trẻ em thành thạo. Chúng tôi hoàn toàn tán thành quan điểm đó.

Ngoài ra, tuy những tấm tranh đưa ra thăm dò những dạng quan trọng nhất của những quan hệ gia đình thì chúng không thể nào thăm dò toàn bộ được.

2 – Phim ảnh. Test dùng phim về những con chim kim tước của E. Fulchignoni hiện thời đối với chúng tôi có vẻ là thử nghiệm duy nhất về loại này. Tác giả này làm một loại những phê bình về các test phóng chiếu thông thường và phần lớn hoàn toàn có cơ sở đúng. Ông đặc biệt tránh những người sử dụng các phương pháp trên là chỉ quan niệm ý thức con người như là cái tủ sắt sẵn sàng mở ra ngay khi nhìn một tấm ảnh hay một hình ảnh chủ chốt. Cái đó làm cho việc phân tích sâu xa chủ thể nhiều có nguy cơ lẫn lộn với một sự chú giải phê bình tỉ mỉ của những chuyện kể hời hợt bị nhiễm bởi tất cả các kiểu hồi tưởng lại từng đoạn, do tính thẩm mỹ và văn hóa bao hàm trong chất liệu sử dụng. Theo ông, trước một cuốn phim, cảm tưởng về thực tế biến mất nhờ một trạng thái giống như trạng thái thôi miên: phòng chìm trong bóng tối, những chuyển động có nhịp điệu ở trên màn ảnh, độ sáng không bình thường của tác nhân gây kích thích cảm ứng, sự biến dần những tác nhân kích thích giác quan đồng thời là bốn yếu tố đem lại cho hoàn cảnh mới đó những tính chất riêng làm giảm năng lực phê phán của ý thức mà nó có thể là điều kiện tiên quyết xác định hiện tượng phóng chiếu. Trong trạng thái đó tính ám thị được kích thích cùng một lúc với khả năng hướng ngoại cái trạng thái đó nhờ việc giảm sự kiềm chế phê bình trên những tầng lớp sâu xa của cảm xúc.

Người ta chiếu cho một nhóm trẻ xem cuốn phim về đời sống những con chim kim tước có kèm theo lời bình rất đơn giản nhằm giải thích cho trẻ em trong hai con chim lớn chim nào là bố, chim nào là mẹ để thu hút sự chú ý của trẻ. Vào những điểm nổi bật của đời sống trong tổ chim: việc mớm mồi cho chim con, chim con ngóng đợi chim bố mẹ đang xa tổ, những vỗ cánh đầu tiên, sự rời tổ vĩnh viễn. Sau khi chiếu phim xong, người ta cho những trẻ được mời đến xem một bảng câu hỏi để trả lời cho 6 câu hỏi nhằm xác minh sự hòa hợp tình cảm của trẻ hoặc nỗi thù ghét của trẻ đối với một trong hai cha mẹ; thăm dò sự ganh tị và ganh đua giữa anh em, những tình cảm tự ti, tội lỗi, bị ruồng bỏ, hoặc về trách nhiệm, tìm kiếm sự rụt rè, nỗi lo lắng, những thói quen xã hội, mức độ tự lập và cuối cùng là hung tính, tính tội lỗi, sự mong muốn tự trừng phạt, sự hiến dâng v.v…

Lợi ích của thử nghiệm này là ở chỗ các yếu tố của hoàn cảnh gia đình được nêu bật lên không phải chỉ qua một câu hỏi mà là sự khớp nhau của nhiều câu hỏi, cái đó cho phép phát hiện ra cấu trúc của những sự xung đột và những mặc cảm. Thí dụ, tình cảm đối với cha mẹ có thể được phát hiện sau khi trả lời 4 câu hỏi, tình cảnh đối với anh chị em qua trả lời 2 câu hỏi v.v…Ngoài ra, phim ảnh đưa ra một kiểu chuyển động tường thuật tự do và người xem test này chỉ cần phải lồng việc giải thích trên một câu chuyện phát triển một cách hết sức tự nhiên. Như vậy không cần phải làm cả đôi việc sáng tạo ra chuyện và diễn giải chuyện như trong trường hợp Test của L. Duss (với test này chúng ta sẽ thấy có rất nhiều sự tương đồng) và test T.A.T.

Điều đáng trách chủ yếu đối với test rất lý thú này là việc khó khăn áp dụng thông thường vì nó đòi hỏi công cụ chiếu phim.

B – Những kỹ thuật bằng lời: chuyện kể và ngụ ngôn.

Người ta đề nghị trẻ kể chuyện gì đó nó có trong đầu, kể tự do. Nói chung người ta mất nhiều thì giờ để thu hoạch những tư liệu nghèo nàn: trẻ bịa chuyện thể hiện rất mơ hồ những mong muốn hoặc những nỗi sợ, thêu dệt trên những kỷ niệm thực, chuyển dịch một đề tài thông thường (truyện thần thoại, sách tranh). Ngay trong những trường hợp khác trẻ nhắc lại mà không có sự tham gia của cá nhân, những chuyện đó nó đã biết rõ hay không có mối liên hệ có giá trị nào cả.

Những chuyện dựa trên một chủ đề cho sẵn lý thú hơn nhiều đối với nhà quan sát, vừa là cái bẫy vừa là chiếc sào đưa ra để trẻ có thể bộc lộ những tình cảm thực sự vô thức mà không biết. Kỹ thuật này có sự đỡ đầu mơn trớn của bà mẹ của đại thi hào Goethe đã từng kể chuyện nửa chừng cho cậu con trai nghe và ngay lúc nhỏ ông đã phải kết thúc các câu chuyện mẹ kể.

Chính Madeleine Backes – Thomas là người đầu tiên đã có ý kiến sử dụng một cách hợp lý phương pháp này bằng cách tạo ra kỹ thuật về những câu chuyện phải hoàn tất. Xuất phát từ ý nghĩ là mọi sáng tạo bằng tưởng tượng đều tuân thủ một quyết định luận nào đó, khi gặp một sự sáng tạo như vậy người ta có thể đi ngược trở ra bằng qui nạp những nguyên nhân tâm lý mà nó toát ra, bà đã đề xuất với trẻ em mười chuyện kể đòi hỏi một câu trả lời trong đó trẻ có thể phóng chiếu những tình cảm thực của mình vì nó tưởng rằng đó là chuyện của đứa bé khác. Trong số mười chuyện đã có 4 chuyện liên quan rõ nhất đến các quan hệ gia đình. Đó là các chuyện (2), (3), (4), (6):

(2): Một cậu bé cãi nhau với em trai. Người mẹ chợt đến. Cái gì sẽ xảy ra?

(3): Một cậu bé đang ngồi ăn với cha mẹ. Người cha nổi cáu. Tại sao?

(4) Một hôm cha và mẹ đang giận nhau. Họ kiếm chuyện cãi cọ với nhau. Tại sao?

(6) Một cậu bé bị điểm xấu ở trường. Cậu ta trở về nhà. Cậu ta sẽ đưa sổ điểm cho ai. Ai sẽ mắng cậu ta nhiều hơn.

Năm 1940, Louisa Duss dựa trên nguyên tắc này đã đề xuất một phương pháp chuyện ngụ ngôn cần kết thúc. Test của bà bao gồm 10 ngụ ngôn. Ở đây chúng tôi chỉ trích hai chuyện liên quan đến các quan hệ gia đình.

Con chim bị rơi khỏi tổ: chim bố, chim mẹ, chim con đang ngủ ở trong tổ cheo leo trên một cành cây. Nhưng một cơn gió to ào đến rung cây là cho tổ chim rơi xuống đất. Cả ba con chim choàng tỉnh. Chim bố vội bay ngay lên cây thông. Chim mẹ cũng bay ngay lên một cây thông khác. Còn chim con sẽ làm gì? Nó cũng đã biết bay tàm tạm.

Cừu con cai sữa: Có một con cừu mẹ và một con cừu con sống tại một đồng cỏ. Tối tối, mẹ cừu cho con bú một bầu vú sữa nóng mà nó rất thích. Nhưng cừu con đã biết ăn cỏ. Một hôm người ta đưa đến một chú cừu bé tí đã đói mềm để mẹ cừu cho bú. Nhưng cừu mẹ không đủ sữa cho cả hai chú cừu và cừu mẹ nói với con: “Mẹ không đủ sữa cho cả hai, con hãy tự đi ăn cỏ non”. Cừu con sẽ làm gì?

Chuyện thứ nhất có mục đích nhận biết mức độ và sự tập trung gắn chặt vào cha mẹ như thế nào. Đứa trẻ sung sướng nghĩ rằng cha mẹ nó sẽ tìm kiếm con và lại làm tổ. Có những trẻ đến với chim bố, những trẻ khác chọn chim mẹ, có những đứa tự lo liệu lấy. Một cậu bé có mẹ sắp tái giá và nó khó chấp nhận cuộc hôn nhân đó trả lời: “chim mẹ sẽ làm một tổ khác với một chim bố khác – Thế còn chim con? – Cuối cùng thì nó cũng quay trở về với mẹ…nhưng sẽ còn lâu….

Một trẻ phạm pháp, đi bụi đời thực sự và không được giáo dục trong khi ông bố nghiện rượu đã từ bỏ gia đình thì trả lời nó sẽ tự làm một tổ khác cho một mình nó. Người ta hỏi thêm, nó trả lời: “Nếu mẹ tìm thấy nó, nó sẽ đi với mẹ” – Nếu người ta hỏi thêm, nó nói: “Nếu không, có người qua đường sẽ nhặt nó, bỏ nó vào lồng, chăm sóc và nuôi nấng nó và khi nó lớn sẽ thả nó ra”. Câu hỏi han này xảy ra với cậu bé đang ở trại cải tạo. Trên những thí dụ này, người ta không tin rằng trẻ đã tự đồng nhất một cách có ý thức với chim con. Những thời gian đầu người ta giữ một thái độ hoài nghi trước một sự ngây thơ vô thức đến thế nhưng kinh nghiệm buộc người ta công nhận sự mù quáng của trẻ hoàn toàn không nghi ngờ là chính nó đang ở trong cuộc.

Người ta hiểu rằng ngụ ngôn về cừu con cho phép nhận biết sự cai sữa được chấp nhận ở mức độ nào và mức độ kình địch anh em. Có những ngụ ngôn khác thí dụ như Kỷ niệm ngày cưới, Cuộc dạo chơi có ý thăm dò sự ghen tỵ đối với bố mẹ, tình trạng ơ đíp v.v…Đối với chúng tôi, 10 chuyện ngụ ngôn đó không có một giá trị như nhau ít nhất là những chuyện liên quan đến những mối quan hệ gia đình, và các chuyện chim con và cừu non có vẻ có giá trị hơn cả.

Để kết thúc, chúng tôi kể đến một thử nghiệm nhỏ nhưng lý thú đó là Ba điều ước. Chuyện này rất đơn giản: và trẻ nhỏ phải nói lên ba điều mà nó mong muốn thấy thực hiện trước hết nếu có thể được ( nhờ sự giúp đỡ của một bà tiên hay nhà ảo thuật). Những câu trả lời nhiều khi chứng tỏ một sự ích kỷ rất mạnh đi từ bánh ga tô đến tàu hỏa chạy bằng điện. Tuy vậy thử nghiệm này có một lợi ích kép: nó chứng tỏ cường độ những tình cảm của trẻ qua chọn lựa trong các ham muốn đồng thời chứng tỏ thứ bậc mà nó phải sắp đặt; ngoài ra đôi khi nó cho biết tiến triển của sự định hướng tình cảm gia đình. Một cậu bé phạm pháp 13 tuổi chậm khôn nhẹ, con một gia đình đông con nghèo khổ có bố nghiện rượu, khi vào trại đã nêu ba điều ước cổ điển của đứa trẻ bị hụt hẫng cả về tình thần và vật chất: “điều thứ nhất: 1 cái bánh ga-tô. Điều 2: một đôi giày; điều 3: 1 bộ quần áo”. Sau một năm cải tạo, nó mong ước: 1 một quần dài, một bộ quần áo, giày dép (ăn uống và không khí trong trại thì tốt nhưng đồng phục thì quá kém); 2. Quần áo cho mẹ và các em trai; 3. Một ngôi nhà cho cha mẹ.

C. Những kỹ thuật trò chơi.

Trò chơi vừa là hoạt động tự nhiên nhất vừa là dạng sáng tạo nhất của trẻ em. Dùng trò chơi để khám phá những tình cảm vô thức là lô-gic. Trò chơi tự do và tự nhiên cũng có những bất lợi như những chuyện kể tự nhiên. Những trò chơi có kiểm tra và hướng dẫn có giá trị hiểu biết hơn cả.

Nặn hình có ích cả về mặt chẩn đoán lẫn trị liệu. Nhưng lại ít giá trị về mặt các quan hệ gia đình tuy rằng tổ chim là một trong những mô típ thường được thể hiện và từ đó việc thăm dò gián tiếp bằng lời có thể phát triển dễ dàng.

Những kỹ thuật trò chơi tốt nhất không phải tranh cãi nữa là trò chơi búp bê, trò chơi múa rối. Quyền tác giả của kỹ thuật này còn phải thảo luận nhưng ít ra là ở Châu Âu, Madeleine Rambert đã có công hiệu chỉnh kỹ thuật này năm 1938 và đã sử dụng một cách hợp lý và tỉ mỉ. Phương pháp này sau đó mở rộng nhanh đến nỗi năm 1943 ở Luân Đôn (Anh) đã thành lập “Hội những trò múa rối mang tính giáo dục”.

Chính Rambert đã kể lại là ý nghĩ sử dụng các con rối được gợi lên từ việc đọc một đoạn trong cuốn truyện “ Người tuyết” của nữ văn sĩ G.Sand: “ Nó (con rối) phục tùng tính thất thường của tôi, niềm cảm hứng và sự hăng say của tôi…tất cả những chuyển động của con rối là kết quả của những suy nghĩ nảy sinh trong đầu tôi và gắn cho nó những lời của tôi…Nó chính là “tôi” nghĩa là một con người chứ không phải là một con búp bê nữa”.

Cũng ở đây trẻ có những sự đồng nhất hóa hoàn toàn và không có ẩn ý cho đến quãng 10-12 tuổi dù là con trai hay con gái.

Người ta cho trẻ được quyền sử dụng một số những con rối có vỏ bọc trong đó đặc biệt có hai nhân vật “xấu” thể hiện con quỷ và mụ phù thủy, hai nhân vật “tốt” là ông vua và bà hoàng hậu, cùng một số người có thể thay đổi và khẳng định trước rõ ràng vai trò. Qua đó trẻ có thể bộc lộ tự do những tình cảm thường là hai chiều đối với cha mẹ, trong tâm trí nó vừa “tốt” vừa “xấu” mà nó không cảm thấy tội lỗi. Trẻ đặc biệt say mê trò chơi này, đôi khi thiệt thòi cho những con rối hay thầy trị liệu. Nó phóng chiếu vào trò chơi thật cừ và không hoài nghi, những quan hệ gia đình thực sự mà nó có ở môi trường gia đình, đôi khi nó mô tả thật bất ngờ. Bằng những phản ứng xuất tâm liên tiếp những dồn nén cảm xúc nhờ đó có thể trút bỏ một số hung tính, trò chơi này có những giá trị trị liệu thật sự. Sự can thiệp gián tiếp của thầy trị liệu đôi khi có thể tỏ ra có ích. Cậu bé Christian trước đó không chấp nhận việc tái giá của bà mẹ góa, chơi trò dàn cảnh cuộc gặp gỡ giữa “ người đi săn” (bố dượng tương lai) với bà hoàng hậu (bà mẹ) và những dự định của họ về cuộc hôn nhân sắp tới. Lễ kết hôn được vị tổng giám mục ban phép lành. Christian đã đầu tư vào thầy trị liệu vinh dự đó bởi vì vừa phần vị giáo sĩ được hình dung bởi con rối thể hiện ông vua (tức là người cha “hiền từ” (đã quá cố) mà nó gán cho thầy trị liệu) vừa phần nó cho rằng người mẹ mà nó tôn sùng sẽ không thể bằng lòng ban phép lành của một nhân vật giáo sĩ nhỏ nhất như thế. Trong trường hợp đặc biệt, thầy trị liệu trong lúc nhập vai “Tổng giám mục” tự cho phép ban những lời khuyên nhủ, những chỉ dẫn dễ được chấp nhận dưới hình thức này và sau đó tỏ ra là có ích.

Dĩ nhiên trong việc sử dụng những thu hoạch phong phú của phương pháp này cũng còn phải tránh những xét đoán dứt khoát, những tiên nghiệm lý thuyết và những ý niệm định trước và phải sẵn sàng xem lại ý kiến mà ta đã có ngày hôm trước. Nhờ sự cảnh giác đối với mình như vậy, kỹ thuật rất tốt này cho phép đạt tới một sự hiểu biết thật sự những quan hệ gia đình của trẻ.

Người ta có thể xếp những phương pháp gần với những phương pháp tâm kịch của Moreno tuy ở đó các con rối được thay bằng người thật, ở đây cái chính là phương pháp chữa bệnh, chẩn đoán là phụ. Những diễn viên một đề tài hoặc hoàn toàn tự nhiên hoặc đề tài được nghiên cứu và chuẩn bị trước bởi thầy trị liệu và hành động do thầy kiểm soát và điều khiển. Ở Pháp, Lebovici và Diatkine theo đuổi những công trình lý thú nhằm hiệu chỉnh phương pháp này.

 

menu
menu