(Sách hiếm) Trẻ em và các mối quan hệ gia đình (Chương 6.2 - hết)

sach-hiem-tre-em-va-cac-moi-quan-he-gia-dinh-chuong-6-2-het

Nguyên tác: L’enfant et les relations familiales_Maurice Porot_Đạm Thư dịch.


D. Những kỹ thuật họa hình: Vẽ

Chữ viết còn chưa hoàn bị của trẻ không thể cung cấp cho những nhà xem tướng chữ những thông tin giống như đối với người lớn. Thực tế phải dùng hình thức vẽ, vừa phần đó lại là một trong những hoạt động ưa thích của trẻ.

Có nhiều tác giả đã sử dụng lối vẽ tự do. Ở Pháp, Hueyer và S. Morgenstern đã xử lý và chữa khỏi một chứng không nói của trẻ chỉ nhờ vào hình thức vẽ. Bà Minkowska sử dụng vẽ nhiều nhất trong phân tích nhân cách toàn bộ của trẻ em.

Nhưng những bức vẽ theo chủ đề mới cho những kết quả tốt nhất. Cũng như đối với chuyện kể, một số trẻ thực ra chẳng biết vẽ gì một cách tự nhiên hay chỉ thể hiện xe hơi và tàu bè một cách rập khuôn và không có hứng thú gì. Năm 1931 Appell đã đề xuất với trẻ vẽ một ngôi nhà, một gia đình, những súc vật. Bà Minkowska nêu rõ hơn “tôi, gia đình và ngôi nhà của tôi”.

Cá nhân chúng tôi đã nhận thấy là bức vẽ về gia đình là cái có lợi nhất để nghiên cứu về các quan hệ gia đình trong số những bức vẽ đề xuất với trẻ. Ngoài ra chúng tôi đã xuất bản một công trình nghiên cứu chi tiết về kỹ thuật này kèm với những bức vẽ và những nhận xét đặc biệt có ý nghĩa.

Yêu cầu trẻ vẽ về gia đình, và đôi khi trẻ vẽ một cách tự nhiên, không phải là phương pháp mới.

Nhưng chúng tôi đã nghĩ là nếu không hệ thống hóa thì ít nhất cũng hiệu chính kỹ thuật và sau đó thúc đẩy việc phân tích và tổng hợp những kết quả đạt được nhiều hơn nữa so với những cái người ta thường làm, và cũng nên theo những hướng mới.

Một kỹ thuật phóng chiếu tốt nhất phải cho phép chủ thể phóng chiếu nhân cách toàn bộ của trẻ, cả ý thức lẫn vô thức trên một chất liệu ít được cấu trúc để khỏi làm biến dạng và hạn chế sự phóng chiếu; nhưng đồng thời kỹ thuật này sau đó lại cho phép thông qua chất liệu đó mà phân tích được nhân cách và so sánh nó với những kết quả thực nghiệm do các chủ thể khác cung cấp trên cùng một chất liệu…Chúng tôi cho là bức tranh gia đình đáp ứng hay hơn cả so với hầu hết những thử nghiệm đã nghiên cứu ở trên đối với hai đòi hỏi khá mâu thuẫn với nhau.

Thử nghiệm này cho phép những kết luận nhanh xuất phát từ những cứ liệu đơn giản, chỉ cần nhờ cậy ý thức hơn là những lý thuyết đã thiết lập từ trước và nhất là biết được gia đình của trẻ theo như nó thể hiện, và đó mới là điều quan trọng hơn nhiều so với việc biết thực tế gia đình đó ra sao.

1. Kỹ thuật đơn giản: Người ta cho trẻ một tờ giấy với một bút chì đen và những bút chì màu và nói với trẻ hãy vẽ gia đình của mình. Trẻ em hầu như luôn luôn sẵn sàng chơi trò này cho đến tuổi khá lớn. Chúng tôi đã thu hoạch được những bức vẽ có ý nghĩa ở trẻ từ 4 tuổi rưỡi cho đến 15 tuổi rưỡi. Nói chung trẻ vẽ say mê tới mức nó mất hết vẻ hoài nghi và mọi sự kiểm soát, nhiều khi người ta có thể nói chuyện trực tiếp với trẻ khi nó bị thu hút mạnh vào hoạt động đó; những câu trả lời đó rất tự nhiên và người ta đạt được những thông tin rõ ràng mà thái độ ngập ngừng trước đó không cho người ta biết được. Người ta yêu cầu nó chỉ rõ những người nó vẽ là ai, nếu nó không làm việc đó một cách tự nhiên bằng cách ghi tên từng người vào dưới hình vẽ.

Cần phải xem trẻ trong khi nó vẽ, không phải chỉ để ghi rõ thứ tự những nhân vật nó đã vẽ mà cũng để hiểu một vài lỗi lầm rất có ý nghĩa. Một vài lời bình, vài sự do dự đôi khi cũng cho thêm hiểu biết.

Như vậy, người ta có thể nhanh chóng đạt tới tâm tư sâu xa của trẻ và đã phân biệt được những nét lớn về tình cảnh cảm xúc của trẻ. Nhưng tôi cũng cần phải nêu lên một điều trở ngại cần tránh là những lời giải thích dễ dãi và vội vàng: chừng nào người ta chưa hiểu rõ về đứa trẻ, cần phải biết rằng đằng sau một bức tranh vẽ nhìn bề ngoài đơn giản, hãy quan sát chăm chú những chi tiết và tìm ra tính chất tượng trưng mà đôi khi bức tranh chứa đựng. Nhưng người ta cũng dễ đoán mối nguy hiểm lớn mà người ta gặp là tìm trong các bức vẽ sự chứng thực cho một ý niệm đã có sẵn từ trước, một giả thuyết sai lầm. Cần thật khiêm tốn và chấp nhận việc rà soát lại nhiều lần ý kiến của mình về những điểm tưởng như đã đạt được rồi.

2. Nghiên cứu phân tích – Thành phần gia đình tượng trưng trong bức vẽ, gia đình như là đứa trẻ thấy hoặc nó trông mong, đó là yếu tố đầu tiên phải tìm tòi. Những nhân vật trong một “gia đình bình thường” nói chung là hoàn toàn theo thứ tự, xếp theo một hay hai hàng ngang, mỗi người có một kích thước tỉ lệ với kích thước thật; những nhân vật được vẽ một cách đối xứng.

Những sự loại trừ đã thể hiện một cách đầu tiên để trẻ chối bỏ vô thức vài người thân. Việc đứa trẻ không có mặt trong bức vẽ nói chung, không có nghĩa là nó bị loại trừ khỏi gia đình; về mặt này cần có những nghiên cứu tiếp về sau.

Một vài thanh niên trong gia đình có thể bị loại trừ trong bức vẽ vì họ không có mặt trong gia đình một thời gian nào đó, vì trẻ không công nhận họ (mới đến chẳng hạn) hoặc chủ yếu vì trẻ không yêu thích họ và muốn loại bỏ họ đi một cách tượng trưng. Việc bỏ quên một thành viên của gia đình, dù thế nào chăng nữa, theo quy tắc chung cũng là một cách gián tiếp để đứa trẻ từ chối sự tồn tại và từ đó loại trừ tượng trưng một khó khăn.

Làm tăng và giảm giá trị của những nhân vật khác nhau – Vị trí và thứ bậc đặt các nhân vật ở trong bức vẽ nói lên tầm quan trọng của họ. Thứ tự ưu tiên được chỉ rõ trước tiên bởi vị trí của nhân vật đó đứng ở hàng thứ nhất hay ở hàng thứ hai, hàng đầu tiên biểu lộ hàng những người bề trên, và hàng dưới là hàng những người bề dưới. Chúng tôi không bao giờ thấy quá hai hàng ngang. Trong hai hàng đó, thứ tự các nhân vật có giá trị lớn: ai đứng tận cùng bên trái tờ giấy vẽ thường là người quan trọng hơn cả và hầu như là người được vẽ đầu tiên. Khi các nhân vật được phân bố một cách tình cờ, ít nhất là nhìn bề ngoài, trên toàn bộ tờ giấy; việc rất có ích là ghi nhanh thứ tự nhất quán: người được vẽ đầu tiên là người quan trọng hơn cả đối với đứa trẻ, là người mà trẻ gắn bó tình cảm hơn cả, người mà trẻ mong muốn tự đồng nhất, nhiều khi cả hai điểm đó cùng một lúc.

Theo quy tắc chung, người ta có thể nói rằng nhân vật mà trẻ thích hơn cả là người ở vị trí trên cao và ở phía trái còn nhân vật mà trẻ thờ ơ hơn cả hay là chán ghét hơn cả là người ở dưới thấp và ở bên phải. Tất cả những việc đó dĩ nhiên không được coi như là một quy luật tuyệt đối mà xem như một chỉ dẫn đặc biệt quí giá.

Sau cùng là vị trí mà trẻ được xếp đặt so sánh với các thành viên khác ở trong gia đình của trẻ nhiều khi có giá trị hiểu biết tốt.

Những thuộc tính mà trẻ gắn vào các nhân vật của mình cũng chứng tỏ tầm quan trọng của họ đối với trẻ. Kích thước chỉ rõ giá trị tương đối. Khi trẻ sử dụng những bút chì màu mà người ta dành cho nó, không phải là điều cố định, màu sắc của một hay nhiều nhân vật cũng là một cách để tôn người đó lên, thiệt thòi cho những người khác, đôi khi gây tương phản, làm một sự nổi bật đáng ngạc nhiên bên cạnh một số nhân vật khác không có màu sắc.

Cũng có một cách khác để làm giảm giá trị một thành viên trong gia đình; đó là trình bày một cách không hoàn chỉnh. Sự không hoàn hảo có chọn lọc của việc họa hình không phải việc cố ý về phía trẻ mà là một cách biểu lộ sự không tán thành, sự oán giận hay sự thù địch của trẻ đối với thành viên trong gia đình, nhất là khi những nhân vật khác lại được vẽ tử tế. Ngược lại một nhân vật bị lãng quên hoặc đặt ở vị trí kém vế có thể được tôn trọng lên bằng việc đóng khung, mở ngoặc kép hoặc tô điểm xung quanh tên người đó. Có rất nhiều chi tiết khác nhiều khi chỉ là bình thường của nhân vật cũng có thể có một giá trị tượng trưng trong một số trường hợp.

Hình như việc không vẽ cánh tay cho một nhân vật cũng là một cách gián tiếp hạ thấp giá trị người đó như khi cần giảm bớt một cách tượng trưng cánh tay thiếu cởi mở của người cha hay người mẹ ít âu yếm hoặc có bàn tay ở tư thế sẵn sàng để tát. Việc thiếu cánh tay không có đã đành, nguyên bàn tay cũng không có. Vấn đề các nhân vật bị cắt mất bàn tay đã làm cho Cotte, Roux và Auteille chú ý và họ đã ghi nhận trong các bưc vẽ các hình người do bọn trẻ ăn cắp vẽ; họ tự hỏi phải chăng ta nhìn thấy ở đó là nỗi sợ bị thiến hay chỉ là một nhu cầu cắt bỏ nhằm chuộc một lỗi lầm tự thấy mà không thú nhận ra được. Trên thực tế, quá trình này đối với chúng tôi có vẻ phức tạp hơn.

Tất cả những dấu hiệu đó đôi khi hiển nhiên tới mức mà chúng tôi có thể để cho một người không biết rõ tình hình thực tế của đứa trẻ giải thích một số bức vẽ và những câu trả lời đích xác nhận được chứng tỏ giá tri khách quan của việc thử nghiệm.

3. Giá trị thực tế: Không thể kể hết ở đây rất nhiều thí dụ chứng tỏ giá trị thực tế của thử nghiệm này chúng tôi chỉ liệt kê những trường hợp mà việc sử dụng đã tỏ ra đặc biệt có ích với chúng tôi.

Bức vẽ về gia đình có thể giúp tìm ra nhanh chóng nguyên nhân tình cảm thực của những nhiễu tâm ở trẻ, trong vài trường hợp, nó cho phép xác nhận một giả thuyết đã được định trước có thể thực hoặc làm cho sáng tỏ thêm; trong những trường hợp khác, ngược lại người ta có thể nhờ nó mà bác bỏ một giả thuyết đã định trước, đôi khi bề ngoài là chính đáng và đây cũng không phải là giá trị của nó chỉ có thế; có những hoàn cảnh bất ngờ, không được biết đến hoặc do gia đình dấu, đôi khi lại được phát hiện bằng bức vẽ gia đình. Nó giúp việc theo dõi tiến triển cảm xúc của trẻ trong những tình huống gia đình không phải lúc nào cũng xác định rõ hoặc không biến đổi. Khi người lớn, thầy thuốc, cha mẹ hoặc người giáo dục biết rõ về tình huống như vậy rõ ràng cho phép họ hành động tốt hơn vì lợi ích của trẻ bằng cách chữa trong chừng mực có thể được một thứ chấn thương liên miên có thể gây trở ngại cho sự phát triển cảm xúc đều đặn và bình thường.

Kinh nghiệm cho thấy điều rất có lợi là kiểm tra những sự biến đổi bằng cách lặp lại thực nghiệm vẽ gia đình đôi khi cách một vài năm. Sự chuyển dịch các nhân vật, sự tăng giá trị hay giảm giá trị của họ thể hiện rõ ở vị trí mỗi thành viên gia đình, tính chất và cường độ của tình cảm mà trẻ dành cho mỗi người, ở những thời điểm khác nhau. Sự so sánh và đối chiếu những thông tin mà đứa trẻ cung cấp với những thông tin mà anh chị của trẻ cùng làm thử nghiệm là một cách rất tốt để biết rõ và kiểm tra thực trạng gia đình. Nếu có một tình hình xung đột giữa trẻ với nhau việc thể hiện ở mỗi trẻ trong bức vẽ gia đình cho phép đo mức độ quan trọng thật sự. Ý kiến ngây thơ của trẻ bộc lộ về cha mẹ bằng bức vẽ của một đứa trẻ sẽ có thể đáng quan tâm tùy theo người ta có thấy nó thể hiện hay không ở những trẻ khác.

Sau đây chúng tôi đưa ra làm thí dụ hai trường hợp đã chọn lựa trong số nhiều trường hợp khác.

Trường hợp 1: Nicole là một em gái tám tuổi rưỡi. Nó sống với cha mẹ và một người anh. Ông bố hơi thiển cận, khi hai anh em cãi nhau, ông bố luôn bênh nó, cho là nó có lý. Nó luôn luôn tìm cách chọc tức anh và làm cho anh nổi khùng đến nỗi cha mẹ phải cho anh vào ở bán trú. Mẹ nó là người nóng nảy, thô bạo, không kiên trì mặc dù có ý định tốt. Nicole có trí khôn bình thường, tính đặc biệt nóng nảy dễ bị kích thích hay có những ác mộng, ngủ hay bị giật mình, ở trường luôn luôn xung đột với các cô giáo. Nhưng ngoài người anh, ở nhà chủ yếu nó đối địch mạnh nhất với mẹ. Nó chỉ dịu đi trong mười lăm ngày hè, một mình với mẹ nó năm ngoái mà thôi. Nó tự công nhận là nó khoảnh ác “Như thế đấy, vô cớ”, và nó không cho một động cơ nào về hung tính của nó.

Bức vẽ của nó về gia đình cho chúng tôi tìm ra nguyên nhân. Trước tiên nó vẽ một người mà nó gọi là Paul (anh nó) rồi lại nói là chính nó và bắt đầu viết tên nó (N xóa) lại thay đổi ý kiến lần nữa và gọi là Paul lần nữa, lần này viết rõ tên. Nó thể hiện cùng một lúc ý muốn đồng nhất hóa với anh với lý do mà bức vẽ sẽ chỉ dẫn cho biết. Nhân vật thứ hai là mẹ (M) và người ta thấy ngay là MẸ cầm tay Paul, biểu thị sự liên minh với con trai, và trong tâm tư nó đó là đứa con được ưu ái. Nhân vật thứ ba ở vị trí đầu bên trái và ở đầu tờ giấy (đó là đứa bé mà nó muốn là nó): đó là con bé Nicole tội nghiệp không có cả cánh tay (hoặc không muốn có) và như vậy không thể nắm lấy bàn tay kia của anh hay của mẹ. Người được vẽ sau cùng là bố ở đầu bên kia. Ông có cánh tay nhưng ông cũng chỉ có kích thích bé bằng Nicole, điều đó chứng tỏ là Nicole coi hai người đầu tiên mới có tầm quan trọng trong đám người ở gia đình. Nó đinh ninh rằng mẹ nó chỉ ưa thích có mỗi mình anh nó và đối với bà, nó không là gì cả, từ đó có những phản ứng thù nghịch, đối với cậu anh được ưu ái, và đối với và mẹ đã ruồng bỏ nó, ấy là nó nghĩ như vậy.

Trường hợp 2 – Do chiến tranh mà Jean phải xa bố từ năm 3 tuổi. Nó sống một mình với mẹ và đứa em trai kém nó 2 tuổi cho đến khi bố nó trở về (lúc đó nó 6 tuổi). Nó biểu lộ sự hung hãn đối với người đến chiếm chỗ đã đoạt một phần tình thương mến của mẹ nó, giữ một vị trí ở trong gia đình làm cho nó bị đẩy xuống hàng thứ hai. Một hôm người ta tìm thấy ở trong phòng nó một bức vẽ tự nhiên thể hiện một cách rất rõ tình trạng O – đíp được kiểm tra bằng những kỹ thuật khác và một phần lớn được thanh toán sau đó.

Hàng trên gồm có “mẹ” ở bên phải, “Jean” ở bên trái, ở giữa có một cái giường trên đó có một đứa bé nằm, đó là em trai “(Francois”; “mẹ” và “Jean” được vẽ cùng kích thích và vẽ khá tử tế. Ở hàng dưới có hình vẽ khác: bên trái là “bố” vẽ xấu, quần áo vá, lông đầy ngực và cánh tay trông gớm ghiếc; ở giữa có một bầy thỏ ở trong chuồng, bên phải có một chuồng đầy gà. Tất cả cấu tạo nên “những thành viên của gia đình tôi”. Người ta nhìn thấy rất rõ người cha là đối tượng thù địch, bị dồn khỏi gia đình, xuống hàng dưới cùng với bày thỏ và gà, bề ngoài ăn mặc lôi thôi xấu xí, đáng làm cho người ta khinh thường trong khi ở hàng trên, cặp lý tưởng “Mẹ” và “Jean” hai tay dang ra phía giường có em bé ngủ.

Jean được nuôi dạy trong một gia đình am hiểu về các vấn đề tâm lý trẻ em, cho nên nó đã khắc phục được tình trạng trên và điều đó đã được xác minh bằng bức vẽ thứ hai, làm theo yêu cầu, 6 năm sau, khi nó 12 tuổi. Ở đây cũng có hai hàng. Ông bố được đưa lên hàng trên. Ông đã được chấp nhận, đứng ở vị trí thứ nhất, ăn mặc bình thường, có một biểu hiện nam tính là hút tẩu xì gà. Mẹ ở bên cạnh bố. Còn Jean, con cả, luôn luôn vẫn ở hàng đầu hàng trên.

Nhân vật thứ nhất ở hàng dưới là cậu em Francois mà Jean đã có vẻ che chở ở bức tranh thứ nhất. Từ khi nó gần như chấp nhận ông bố, nó chuyển hung tính của nó phóng chiếu từ bố sang em trai (bây giờ 10 tuổi). Nó hành hạ em nó một cách liên tục và độc đoán, khinh miệt em và luôn luôn làm cho em phải nhận thấy sự kém cỏi của mình. Trong bức vẽ gia đình lần này nó vẽ em (và nó xin lỗi là vẽ xấu…) ở hàng những người dưới. Em bé gái Suzanne chỉ mới 2 tuổi rưỡi cùng có kích thước bằng cậu kia. Cô giúp việc Aicha đã thế vào chỗ đám thỏ và con vịt thế vào chỗ chuồng gà trước đây.

Điều lý thú và đáng chú ý là sự tồn lưu về một kiểu vẽ bức vẽ gia đình sau 6 năm: cũng vẫn hai hàng, mở rộng khung cảnh gia đình, có thêm người giúp việc và gia cầm. Ngoài ra chúng tôi thận trọng hỏi Jean sau thử nghiệm: nó không còn nhớ gì về bức vẽ thứ nhất mà nó đã tự nhiên vẽ. Và chúng tôi đưa cho nó xem bức vẽ đó. Nó tỏ vẻ thích thú, không hề nghĩ rằng nó có thể đã là tác giả và nó không thiết lập mối quan hệ giữa bức vẽ nọ với bức vẽ hiện thời.

Thử nghiệm này có giá trị là đơn giản (vì chỉ cần một tờ giấy và bút mà thôi) và nhanh chóng và kinh nghiệm mỗi ngày vẫn chứng minh sự xác thực của nó. Vì vậy mặc dầu có thêm rất nhiều test và kỹ thuật thử nghiệm đủ loại để thăm dò tâm tư vô thức của trẻ, chúng tôi vẫn thấy đề xuất việc sử dụng một cách hệ thống “bức vẽ gia đình” để thăm dò những quan hệ gia đình là điều chính đáng, tất nhiên là thử nghiệm tốt nhất cũng không thể thay thế cảm tình âu yếm và “sự đeo đẳng” của đứa trẻ rất có thể dễ dàng đến với ai biết đem cả tấm lòng và trí tuệ vào công việc làm này.

 

 HẾT

menu
menu