Bộ não tự thay đổi chính nó (Chương 4)

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-4

Tính dẻo thần kinh dạy cho chúng ta điều gì về sự thu hút tình dục và Tình yêu

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Chương 4.  Thị hiếu học được và Tình yêu

Tính dẻo thần kinh dạy cho chúng ta điều gì về sự thu hút tình dục và Tình yêu

A. là một thanh niên độc thân, đẹp trai đến với tôi vì anh ta bị trầm cảm. Anh ta vừa mới dan díu với một người phụ nữ xinh đẹp đã có bạn trai, và cô ta đã bắt đầu khuyến khích anh ta lạm dụng cô ta. Cô đã cố gắng lôi kéo A. làm theo những tưởng tượng tình dục mà trong đó cô ăn mặc như một cô gái điếm, và anh ta hung hãn “chiếm đoạt” cô.

Khi A. bắt đầu cảm nhận được sự nguy hiểm của mong muốn làm hài lòng cô ta, anh rất tức giận, từ bỏ nó, đi điều trị. Anh có lịch sử dính líu đến những người phụ nữ đã có bạn trai và mất kiểm soát về cảm xúc. Những cô bạn gái của anh là những người hay đòi hỏi hoặc có tính chiếm hữu, hoặc tàn nhẫn. Nhưng đó lại là những phụ nữ mang lại cảm xúc cho anh ta.

Những cô gái “tử tế”, chu đáo, tốt bụng lại khiến anh thấy buồn chán, và anh cảm thấy bất kỳ phụ nữ nào yêu anh một cách nhẹ nhàng, đơn giản thì đều khiếm khuyết.

Mẹ anh là một người nghiện rượu nặng, túng thiếu, quyến rũ và đem đến những cơn bão cảm xúc và những trận cuồng phong thịnh nộ dữ dội trong suốt thời thơ ấu của anh. A. nhớ lại chuyện bà ấy từng đập đầu em gái của anh vào lò sưởi và đốt ngón tay của đứa em trai cùng cha khác mẹ như một hình phạt vì tội nghịch mấy que diêm. Bà ta thường xuyên bị trầm cảm, thường dọa tự tử, và vai trò của anh trong nhà là luôn cảnh giác, trấn an bà và ngăn bà tự tử.

Mối quan hệ của anh với mẹ cũng rất gợi dục. Bà ta mặc váy ngủ xuyên thấu và nói chuyện với anh như thể là người tình. Anh nhớ lại lần bà ta rủ anh lên giường của bà khi anh còn nhỏ và một hình ảnh anh đang ngồi để bàn chân chỗ âm đạo khi bà ta thủ dâm. Anh ta thấy kích thích nhưng cũng rất phẫn nộ về cảnh này. Cha anh hiếm khi về nhà vì ông đã tránh mặt vợ, A. nhớ lại việc "thường xuyên thấy khó thở," và cố ngăn những trận cãi vã giữa bố mẹ, bọn họ cuối cùng đã ly dị.

Phần lớn tuổi thơ của A. dành để kiềm chế cơn thịnh nộ đối với cha mẹ và anh thường xuyên thấy mình giống như một ngọn núi lửa chực chờ nổ tung. Các mối quan hệ thân mật dường như giống các dạng thức của bạo lực, trong đó những cô bạn gái đe dọa ăn tươi nuốt sống anh và đến lúc anh đi qua thời thơ ấu của mình, chỉ những phụ nữ hứa đem đến cảm giác đó mới khiến anh có cảm giác tình ái.

Con người có mức độ dẻo dai về tình dục khác thường so với các loài sinh vật khác. Chúng ta khác biệt nhau trong hành vi tình dục mà ta thích làm với đối tác của mình. Vị trí cơ thể đem lại sự hưng phấn và thỏa mãn tình dục cho chúng ta cũng khác nhau.

Đối với hầu hết chúng ta, kiểu người mà ta thấy quyến rũ là khác biệt nhau. Mọi người thường nói họ thấy tuýp người này thu hút họ hay tuýp người kia làm họ có “cảm giác”, và chúng khác nhau giữa mọi người.

Đối với một số người, kiểu người thu hút họ thay đổi khi họ trải qua những giai đoạn khác nhau và có những kinh nghiệm sống mới. Một người đàn ông đồng tính có những mối quan hệ lần lượt với những người đàn ông đến từ một chủng tộc hoặc một nhóm dân tộc nào đó, sau đó chuyển sang đàn ông ở nhóm khác, và trong mỗi giai đoạn, anh ta chỉ có thể bị thu hút trước người đàn ông trong nhóm hiện tại đang “hot”. Sau khi một giai đoạn kết thúc, anh ta có thể không bao giờ còn bị thu hút bởi một người đàn ông đến từ nhóm cũ nữa.

Anh học được một thị hiếu đối với những "tuýp người yêu" trong những mối quan hệ nhanh chóng và có vẻ như bị mê hoặc bởi một kiểu người (ví dụ "Người châu Á" hoặc "Người Mỹ gốc Phi") hơn là bởi cá nhân. Tính dẻo dai trong sở thích tình dục của người đàn ông này đã phóng đại một sự thật chung rằng: ham muốn tình dục của con người không phải là một thôi thúc sinh học cố định, bất biến, mà nó có thể dễ dàng thay đổi bởi tâm lý của chúng ta và lịch sử những lần ăn nằm của ta. Và ham muốn tình dục của chúng ta cũng có thể cầu kỳ. Nhiều tài liệu khoa học ám chỉ và mô tả bản năng tình dục như một mệnh lệnh sinh học, một kẻ vũ phu thèm khát, lúc nào cũng đòi hỏi được thỏa mãn—bản năng tình dục là một kẻ háu ăn chứ không phải là người sành ăn. Nhưng con người thì giống với những người sành ăn hơn và bị thu hút trước những kiểu người nào đó và có những sở thích manh mẽ; có sẵn một “tuýp người hấp dẫn” khiến chúng ta trì hoãn sự thỏa mãn cho đến khi ta tìm được đúng người mình cần. Vì sự hấp dẫn đối với một tuýp người có tính giới hạn: người “có cảm giác với những cô nàng tóc vàng” có thể ngầm loại trừ những cô tóc đen, tóc nâu và tóc đỏ

Ngay cả thị hiếu tình dục đôi khi cũng có thể thay đổi. Mặc dù một số nhà khoa học ngày càng nhấn mạnh đến cơ sở bẩm sinh của thị hiếu tình dục của chúng ta, đúng là có một số người phần lớn cuộc đời họ là người dị tính luyến ái (bị thu hút trước người khác giới)— không có tiền sử lưỡng tính— và sau đó "thêm vào" một bạn tình đồng tính và ngược lại.

Độ dẻo dai về tình dục dường như đạt đến đỉnh cao ở những người từng có nhiều bạn tình khác nhau. Họ học cách thích nghi với từng người tình mới. Nhưng hãy nghĩ đến tính dẻo dai cần có của những cặp vợ chồng già với đời sống tình dục tốt đẹp. Vẻ ngoài của họ ở độ tuổi 60 rất khác biệt với độ tuổi 20, thời điểm họ gặp nhau, nhưng ham muốn tình dục của họ đã được điều chỉnh, nên họ vẫn thu hút lẫn nhau.

Nhưng độ dẻo dai tình dục vẫn còn đi xa hơn nữa. Những người theo chủ nghĩa tôn sùng đồ vật (fetishist) khao khát những vật vô tri vô giác. Một fetishist nam có thể bị kích thích bởi một đôi giày lông cao gót, hoặc bởi đồ lót của một phụ nữ, hơn là bản thân người phụ nữ ấy. Từ thời xa xưa, một số người ở nông thôn đã giao hợp với động vật. Một số người dường như không bị thu hút bởi con người thực nhiều bằng những kịch bản tình dục phức tạp, ở đó bạn tình đóng các vai biến thái khác nhau như bạo dâm, khổ dâm, thị dâm và phô dâm. Khi họ đặt một quảng cáo trên trang cá nhân, mô tả những thứ họ đang tìm kiếm ở một người yêu thường nghe giống như một bản mô tả công việc hơn là một con người họ muốn quen biết. 

Cứ cho rằng tình dục là một bản năng, và bản năng được định nghĩa theo truyền thống là một hành vi di truyền duy nhất của một loài, thay đổi rất ít từ cá thể này sang cá thể khác, thì sự đa dạng trong sở thích tình dục của chúng ta lại gây tò mò. Nhìn chung thì bản năng chống lại sự thay đổi và được cho là có một mục đích rõ ràng, không thể thương lượng, là bất biến, chẳng hạn như mục đích sinh tồn. Tuy nhiên, “bản năng” tình dục của con người dường như đã phá vỡ mục đích cốt lõi là sinh sản và thay đổi đến mức gây hoang mang, không có ở những loài động vật khác. Vì bản năng tình dục ở động vật có vẻ như tự hành xử và hành động như một bản năng. Không có bản năng nào khác có thể đem đến thỏa mãn lớn mà không đạt được mục đích sinh học của nó, và không có bản năng nào khác bị tách rời khỏi mục đích của nó. Các nhà nhân chủng học đã chỉ ra rằng trong một thời gian dài, loài người không biết rằng quan hệ tình dục là cần thiết để sinh sản. “Thực tế cuộc sống” này phải được tổ tiên chúng ta học hỏi, giống như trẻ em ngày nay phải học nó. Sự tách rời khỏi mục đích chính của nó có lẽ là dấu hiệu lớn nhất của tính dẻo dai về tình dục

Tình yêu cũng rất linh hoạt và biểu hiện của nó đã thay đổi theo lịch sử. Dù chúng ta nói về tình yêu lãng mạn như thứ tình cảm tự nhiên nhất, nhưng trên thực tế, dành mọi tình cảm thân mật, dịu dàng và ham muốn cho duy nhất một người, cho đến khi cái chết chia lìa chúng ta không phổ biến trong tất cả các xã hội và chỉ gần đây mới phổ biến. Trong nhiều thiên niên kỷ, hầu hết các cuộc hôn nhân được cha mẹ sắp đặt vì những lý do thực tế. Chắc chắn là có những câu chuyện khó quên về tình yêu lãng mạn liên quan đến hôn nhân trong Kinh thánh, như trong Song of Songs, và liên quan đến thảm họa trong thơ hát rong thời trung cổ và sau này, trong các tác phẩm của Shakespeare. Nhưng đến thế kỷ mười hai, tình yêu lãng mạn mới bắt đầu nhận được sự chấp thuận của xã hội ở các tầng lớp quý tộc và tòa án ở châu Âu - ban đầu giữa một người đàn ông độc thân và một phụ nữ đã kết hôn, thường đi đến cái kết buồn là ngoại tình hoặc cuộc tình không trọn vẹn. Chỉ với sự truyền bá lý tưởng dân chủ của chủ nghĩa cá nhân thì cái quan điểm cho rằng những người yêu nhau nên được quyền lựa chọn bạn đời dành cho họ mới trở nên vững chắc hơn và dần dần trở thành điều tự nhiên và thiết yếu. 

Có lý do để đặt câu hỏi rằng liệu tính dẻo dai tình dục của chúng ta có liên quan đến tính dẻo thần kinh không. Nghiên cứu cho thấy tính dẻo thần kinh không bị cắm chốt trong những khu vực nhất định trong bộ não cũng như không bị giới hạn trong các khu vực xử lý cảm giác, vận động và nhận thức mà chúng ta đã tìm hiểu ở các chương trước. Cấu trúc não bộ điều chỉnh các hành vi bản năng, bao gồm cả tình dục, được gọi là vùng dưới đồi, có tính dẻo, cũng như hạch hạnh nhân, cấu trúc não bộ xử lý cảm xúc và lo lắng. Trong khi một số phần của não, chẳng hạn như vỏ não, có thể dẻo hơn vì có nhiều tế bào thần kinh và các kết nối sẽ bị thay đổi, thậm chí các khu vực không vỏ não vẫn thể hiện tính dẻo. Trong khi một số phần não, chẳng hạn như vỏ não, có thể dẻo dai hơn vì có nhiều tế bào thần kinh hơn và các kết nối sẽ bị sửa đổi, thậm chí các khu vực không có vỏ não cũng cho thấy có tính dẻo. Nó là một tính chất của tất cả các mô não. Tính dẻo dai tồn tại ở vùng hải mã (khu vực biến ký ức của chúng ta từ ngắn hạn sang dài hạn) cũng như trong các khu vực kiểm soát hơi thở, xử lý cảm giác nguyên thủy và xử lý cơn đau. Nó tồn tại trong tủy sống - như các nhà khoa học đã chỉ ra; nam diễn viên Christopher Reeve, người bị chấn thương cột sống nghiêm trọng, đã thể hiện sự dẻo dai như vậy, khi anh có thể thông qua tập luyện thể dục không ngừng nghỉ, để phục hồi một số cảm giác và khả năng vận động bảy năm sau tai nạn. Merzenich nói về điều này như sau: "Bạn không thể có được độ dẻo dai trong tình trạng cô lập... nó chắc chắn là điều bất khả thi." Các thực nghiệm của ông cho thấy nếu một hệ thống não bộ thay đổi thì những hệ thống có liên kết với nó cũng thay đổi theo. Cùng một “Nguyên tắc dẻo”- sử dụng nó hay đánh mất nó, hay những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau — áp dụng xuyên suốt. Các khu vực khác nhau của não sẽ không thể hoạt động cùng nhau nếu không theo nguyên tắc như vậy. 

Nguyên tắc về tính dẻo áp dụng cho các bản đồ não trong vỏ não cảm giác, vận động và ngôn ngữ liệu có áp dụng cho những bản đồ phức tạp hơn không, chẳng hạn như những bản đồ đại diện cho các mối quan hệ, tình dục của chúng ta? Merzenich cũng đã cho thấy các bản đồ não phức tạp bị chi phối bởi các nguyên tắc dẻo giống như các bản đồ đơn giản hơn. Động vật tiếp xúc với một giai điệu đơn giản sẽ phát triển một vùng bản đồ não duy nhất để xử lý nó. Các con vật được cho tiếp xúc với một mô hình phức tạp hơn, chẳng hạn như giai điệu sáu âm điệu, sẽ không chỉ liên kết sáu vùng bản đồ khác nhau với nhau mà sẽ phát triển một vùng mã hóa toàn bộ giai điệu. Các bản đồ giai điệu phức tạp hơn tuân theo các nguyên tắc dẻo giống như bản đồ cho các âm đơn. 

Freud từng viết “Các bản năng tình dục là đáng chú ý đối với chúng ta vì tính dẻo dai và khả năng thay đổi các mục tiêu của chúng." Freud không phải là người đầu tiên cho rằng tình dục có tính dẻo— Plato, trong cuộc đối thoại về tình yêu, đã lập luận rằng Eros của con người có nhiều hình thức - nhưng Freud đã đặt nền móng cho sự hiểu biết về thần kinh học về tính dẻo của tình yêu và tình dục. 

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của ông là phát hiện ra những giai đoạn quan trọng đối với sự dẻo dai tình dục. Freud cho rằng khả năng yêu thương và tình dục của một người trưởng thành diễn ra theo từng giai đoạn, bắt đầu từ những gắn bó đam mê đầu tiên của trẻ sơ sinh với cha mẹ. Ông học được từ bệnh nhân của mình, và từ việc quan sát trẻ em, rằng thời thơ ấu, chứ không phải tuổi dậy thì, mới là giai đoạn quan trọng đầu tiên đối với tình dục và sự thân mật, và đó là giai đoạn mà đứa trẻ có khả năng đam mê, những cảm giác tiền tình dục— sự phải lòng, những cảm giác yêu thương, và trong một số trường hợp là sự hưng phấn tình dục, như anh chàng A. trong ví dụ ở trên. Freud phát hiện ra rằng việc lạm dụng tình dục trẻ em là có hại vì nó ảnh hưởng đến thời kỳ quan trọng của tính dục trong thời thơ ấu, hình thành những kiểu người hấp dẫn và suy nghĩ về chuyện tình dục về sau của chúng ta. Trẻ em thường thiếu thốn tình cảm và phát triển những mối gắn bó đam mê với cha mẹ của chúng. Nếu cha mẹ ấm áp, dịu dàng và đáng tin cậy, đứa trẻ sẽ thường xuyên phát triển một thị hiếu đối với kiểu quan hệ có những phẩm chất như vậy về sau; nếu cha mẹ không quan tâm, lạnh lùng, xa cách, tức giận, mâu thuẫn, vừa yêu vừa ghét hoặc tính khí thất thường, đứa trẻ có thể tìm kiếm một người bạn đời trưởng thành có xu hướng tương tự. Cũng có những trường hợp ngoại lệ, nhưng một nghiên cứu quan trọng hiện tại đã xác nhận quan điểm cơ bản của Freud rằng các mô hình gắn bó và liên kết với người khác hồi nhỏ, nếu có vấn đề, thì có thể “ghi vào” bộ não của chúng ta thuở ấu thơ và lặp lại ở tuổi trưởng thành. Nhiều khía cạnh của kịch bản tình dục mà A. thực hiện khi lần đầu tiên anh đến gặp tôi là những sự lặp lại các tình huống tổn thương tâm lý thời thơ ấu của anh ấy, chúng được ngụy trang mỏng manh – chẳng hạn như việc anh bị thu hút bởi một người phụ nữ bất ổn, vượt qua ranh giới tình dục bình thường trong những mối quan hệ lén lút vụng trộm, nơi sự thù địch và hưng phấn tình dục hợp nhất, còn người yêu chính thức đang bị cắm sừng của cô nàng thì sắp phát hiện ra mối quan hệ vụng trộm này. 

Quan điểm về giai đoạn quan trọng được hình thành vào khoảng thời gian Freud bắt đầu viết về tình dục và tình yêu, bởi các nhà nghiên cứu phôi thai đã quan sát thấy rằng trong phôi thai, hệ thần kinh phát triển theo từng giai đoạn và nếu các giai đoạn này bị xáo trộn, động vật hoặc con người sẽ bị tổn thương, thường là thảm họa cho cuộc sống. Mặc dù Freud không sử dụng thuật ngữ này, nhưng những gì ông nói về giai đoạn phát triển tình dục thuở ấu thơ phù hợp với những gì chúng ta biết về các giai đoạn quan trọng. Chúng là những cửa sổ thời gian ngắn khi các hệ thống não bộ và bản đồ mới phát triển với sự trợ giúp của sự kích thích từ những người trong môi trường của cá thể. 

Những dấu vết của tình cảm thời thơ ấu trong tình yêu và tình dục của người trưởng thành có thể tìm thấy trong các hành vi hằng ngày. Khi những người trưởng thành trong nền văn hóa của chúng ta có màn dạo đầu trước khi quan hệ, hoặc bộc lộ tình cảm của họ, họ thường gọi nhau là “baby" hoặc "babe” (em yêu). Họ sử dụng những từ mà mẹ dành cho họ khi còn nhỏ, chẳng hạn như "mật ong" và "bánh ngọt", những từ gợi lên những năm tháng đầu đời khi người mẹ bày tỏ tình yêu của mình bằng cách cho ăn, vuốt ve cưng nựng và thủ thỉ với con - cái mà Freud gọi là giai đoạn môi miệng (oral phase), giai đoạn quan trọng đầu tiên của tình dục, bản chất của nó được tóm tắt trong các từ "nuôi dưỡng" và "ôm ấp" - dịu dàng chăm sóc, yêu thương và cho ăn uống. Đứa bé cảm thấy hợp nhất với người mẹ, và niềm tin của nó đối với người khác phát triển khi đứa bé được bế bồng và nuôi dưỡng bằng một loại thức ăn có đường, sữa. Được yêu thương, chăm sóc và cho ăn có sự liên kết về mặt tinh thần trong tâm trí và kết nối với nhau trong não trong trải nghiệm đầu tiên của chúng ta sau khi sinh. 

Khi những người trưởng thành nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ trẻ con, nói những từ như "bánh ngọt" và "cục cưng" để gọi nhau, thì theo Freud, họ đang "thoái lui," chuyển từ những giai đoạn tâm lý trưởng thành của mối quan hệ sang những giai đoạn trước đây của cuộc sống. Theo thuật ngữ về tính dẻo, tôi tin rằng sự thoái lui này liên quan đến việc vạch trần những con đường mòn thần kinh cũ, sau đó kích hoạt tất cả những mối liên kết của giai đoạn trước đây. Sự thoái lui có thể thú vị và vô hại, như trong màn dạo đầu ở người trưởng thành, hoặc nó có thể gây ra vấn đề khi những con đường mòn thần kinh gây hấn thời thơ ấu được mở ra và người trưởng thành ấy đang sắp nổi trận lôi đình.

Ngay cả việc "nói chuyện thô tục, bậy bạ” cũng cho thấy những dấu vết của các giai đoạn tính dục lúc sơ sinh. Rốt cuộc thì tại sao tình dục lại bị xem là “bẩn thỉu”? Thái độ này phản ánh quan niệm của một đứa trẻ về tình dục từ giai đoạn khi nó có ý thức tập đi vệ sinh, tiểu tiện và đại tiện, và bất ngờ khi biết bộ phận sinh dục, liên quan đến việc đi tiểu, và nó cũng rất gần với hậu môn, cái này cũng liên quan đến tình dục, và rằng Mẹ cho phép Cha nhét cái bộ phận “bẩn thỉu” của ông ấy vào một cái lỗ ở rất gần với hậu môn của bà. Người lớn nhìn chung không thấy khó chịu bởi điều này, vì ở tuổi thiếu niên, họ đã trải qua một giai đoạn quan trọng khác của sự dẻo dai về tình dục, mà trong đó bộ não của họ được tổ chức lại, do đó khoái cảm của tình dục trở nên đủ mạnh để vượt qua mọi sự ghê tởm.

Freud chỉ ra rằng nhiều bí ẩn về tình dục có thể được hiểu như những cắm chốt giai đoạn quan trọng. Sau Freud, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy một cô gái từng bị cha bỏ rơi khi còn bé theo đuổi một người đàn ông không sẵn sàng, đáng tuổi cha cô, hoặc những người được nuôi dạy một bà mẹ nữ hoàng-băng giá thường tìm kiếm mẫu người như vậy làm người yêu, đôi khi bản thân họ trở nên “lạnh lùng” vì họ chưa bao giờ trải nghiệm được sự thấu cảm trong giai đoạn quan trọng, toàn bộ phần não đó của họ không thể phát triển được. Và nhiều ‘hư hỏng’ có thể được lý giải bằng thuật ngữ tính dẻo và sự dai dẳng của những xung đột thời thơ ấu.

Nhưng điểm mấu chốt là trong những giai đoạn quan trọng của chúng ta, chúng ta có thể có những thị hiếu và khuynh hướng tình dục và tình yêu được ghi vào bộ não của ta và có tác động manh mẽ đến phần đời còn lại của chúng ta. Và sự thật là chúng ta có thể có những thị hiếu khác nhau về tình dục góp phần vào sự khác biệt tình dục to lớn giữa chúng ta.

Quan điểm cho rằng có một giai đoạn quan trọng định hình ham muốn tình dục ở người trưởng thành trái ngược với lập luận phổ biến hiện nay nói rằng những thừ thu hút chúng ta là sản phẩm của yếu tố sinh học nhiều hơn là của lịch sự cá nhân chúng ta. Một số người— chẳng hạn như người mẫu và ngôi sao điện ảnh—được nhiều người xem là xinh đẹp hay gợi cảm. Một chuỗi sinh học nhất định dạy cho chúng ta rằng những người này là quyến rũ vì họ bộc lộ những dấu hiệu sinh học của sự mạnh mẽ, hứa hẹn khả năng sinh sản và sức mạnh: một nước da sáng sủa và các đặc điểm đối xứng có nghĩa họ là một người bạn đời tiềm năng không bị bệnh tật; dáng người đồng hồ cát là dấu hiệu phụ nữ có khả năng sinh sản; Cơ bắp của một người đàn ông dự đoán anh ta sẽ có thể bảo vệ người phụ nữ và đứa con.

Nhưng điều này đơn giản hóa những gì sinh học thực sự dạy. Không phải ai ai cũng yêu vì thể xác, như khi một phụ nữ nói “Tôi biết rằng khi lần đầu tiên tôi nghe thấy giọng nói đó, anh ấy là dành cho tôi,” âm nhạc của giọng nói có lẽ là chỉ báo về tâm hồn người đàn ông tốt hơn vẻ ngoài cơ thể anh ta. Và thị hiếu tình dục đã thay đổi qua nhiều thế kỷ. Những mỹ nhân của Ruben được đánh giá theo các tiêu chuẩn hiện tại, và trong nhiều thập kỷ, số liệu thống kê quan trọng của các tờ gập giữa của tạp chí Playboy và người mẫu thời trang đã thay đổi từ khêu gợi đến ái nam ái nữ. Thị hiếu tình dục rõ ràng bị ảnh hưởng bởi văn hóa và kinh nghiệm và thường được tiếp thu và sau đó được ghi vào bộ não.

"Thị hiếu học được" (Acquired tastes) theo định nghĩa là thứ do học mà nên, không giống như "thị hiếu" bẩm sinh. Một em bé không cần phải học để biết mùi vị của sữa, nước hoặc đồ ngọt; những điều này ngay lập tức được xem là dễ chịu. Còn với “thị hiếu học được” thì lúc đầu cảm thấy thờ ơ hoặc không thích nhưng sau này trở thành dễ chịu – chẳng hạn như mùi vị của pho mát, vị đắng của Ý, rượu vang không ngọt, cà phê, pate. Nhiều món ngon mà mọi người phải trả giá đắt, rằng họ phải "phát triển vị giác cho nó", chính là những món ăn từng làm họ chán ghét khi còn nhỏ.

Vào thời Elizabeth, những người yêu nhau say mê mùi cơ thể của nhau đến nỗi người phụ nữ thường giữ một quả táo gọt vỏ ở nách cho đến khi nó thấm mồ hôi và mùi của cô. Cô sẽ tặng "quả táo tình yêu" này cho người yêu để ngửi khi vắng cô. Chúng ta thì ngược lại, sử dụng hương liệu tổng hợp của trái cây và hoa để che giấu mùi cơ thể với người yêu của chúng ta. Không dễ để xác định trong hai cách này, cách tiếp cận nào là do học được và cách nào là tự nhiên. Một chất gây nghiện "tự nhiên" đối với chúng ta là nước tiểu của bò được sử dụng bởi bộ lạc Masai ở Đông Phi như một loại kem dưỡng cho tóc – hệ quả trực tiếp của tầm quan trọng của bò trong văn hóa của họ. Nhiều thị hiếu mà chúng ta cho là "tự nhiên" có được thông qua học tập và trở thành "bản chất thứ hai" của chúng ta. Chúng ta không thể phân biệt "bản chất thứ hai” của mình với “bản chất ban đầu" của mình bởi vì bộ não ni-lông/dẻo của chúng ta, một khi được tái tạo, nó sẽ phát triển một bản chất mới, cũng như bản chất sinh học của chúng ta.

Dịch bệnh phim khiêu dâm hiện nay đưa ra một minh chứng sinh động rằng thị hiếu tình dục có thể học được. Nội dung khiêu dâm, được cung cấp bởi các kết nối Internet tốc độ cao, đáp ứng mọi điều kiện tiên quyết cho sự thay đổi của tính dẻo thần kinh.

Thoạt nhìn thì nội dung khiêu dâm có vẻ chỉ là một vấn đề thuần túy về bản năng: những hình ảnh khiêu dâm kích thích phản ứng bản năng, là sản phẩm của hàng triệu năm tiến hóa. Nhưng nếu đó là sự thật thì nội dung khiêu dâm sẽ không thay đổi.

Các yếu tố kích hoạt--các bộ phận cơ thể và tỷ lệ của chúng--đã thu hút tổ tiên chúng ta thì cũng sẽ kích thích chúng ta. Đây là những gì các nhà sản xuất phim khiêu dâm từng khiến chúng ta tin, vì họ cho rằng họ đang chiến đấu chống sự kìm nén tình dục, những cấm kỵ và sợ hãi và mục tiêu của họ là giải phóng bản năng tình dục tự nhiên, bị dồn nén. 

Nhưng trên thực tế, nội dung khiêu dâm là một hiện tượng động, minh họa hoàn hảo cho tiến trình của một “thị hiếu học được”. Ba mươi năm trước, nội dung khiêu dâm nặng "hardcore" nghĩa là mô tả rõ quá trình giao hợp giữa hai đối tác đang hứng tình, phô bày bộ phận sinh dục của họ. Khiêu dâm nhẹ "softcore" nghĩa là những tấm ảnh về phụ nữ, đa số đang nằm trên giường, trong toilet hoặc trong một số khung cảnh gợi tình, trong những trạng thái không mảnh vải che thân, lộ ngực.

Còn hiện giờ thì khiêu dâm nặng hardcore ngày càng biến hóa và bị thống trị bởi các chủ đề bạo dâm, tình dục cưỡng bức, xuất tinh lên mặt phụ nữ, và giao hợp hậu môn thô bạo, tất cả các kịch bản đều hợp nhất tình dục với sự làm nhục và căm ghét. Nội dung khiêu dâm nặng hardcore bây giờ đang khám phá thế giới đồi trụy, còn khiêu dâm nhẹ bây giờ lại là những nội dung của khiêu dâm nặng cách đây vài thập kỷ, mô tả quá trình giao hợp giữa những người lớn, có sẵn trên truyền hình cáp. Những hình ảnh khiêu dâm tương đối nhẹ nhàng của thời xưa – phụ nữ trong tình trạng không mảnh vải che thân – bây giờ được chiếu trên truyền thông chính thống quanh năm suốt tháng, trong mọi thứ, bao gồm tivi, các video nhạc rock, phim truyền hình dài tập, quảng cáo, vân vân.

Phim ảnh khiêu dâm đã phát triển ngoạn mục; nó chiếm 25 phần trăm số video cho thuê và là lý do phổ biến thứ tư khiến mọi người lên mạng. Một cuộc khảo sát người xem của MSNBC.com vào năm 2001 cho thấy 80% cảm thấy họ dành quá nhiều thời gian cho các trang web khiêu dâm đến mức họ đang gây nguy hiểm cho các mối quan hệ hoặc công việc của họ. Ảnh hưởng của phim khiêu dâm nhẹ nhàng bây giờ là sâu sắc nhất bởi vì, hiện tại nó không còn bị che giấu nữa, nó ảnh hưởng đến những người trẻ tuổi có ít kinh nghiệm tình dục và đặc biệt là tâm trí dẻo (bộ não ni-lông), trong quá trình hình thành thị hiếu và ham muốn tình dục của họ. Tuy nhiên, ảnh hưởng dẻo của nội dung khiêu dâm đối với người lớn cũng có thể sâu sắc và những người xem porn không ý thức được mức độ mà bộ não của họ bị định hình lại bởi nó.

Trong khoảng thời gian từ giữa đến cuối những năm 1990, khi Internet phát triển nhanh chóng và nội dung khiêu dâm bùng nổ trên đó, tôi đã điều trị hoặc đánh giá một số người đàn ông có cùng một câu chuyện liên quan đến nó. Mỗi người đều học được thị hiếu về một loại hình khiêu dâm, không ít thì nhiều, gặp rắc rối hoặc thậm chí ghê tởm bản thân, có ảnh hưởng đáng lo ngại đến ham muốn tình dục của anh ta, và cuối cùng ảnh hưởng đến mối quan hệ của anh ta và chứng liệt dương.

Không ai trong số họ là người chưa trưởng thành, ngại giao tiếp xã hội hoặc sống thu mình vào thế giới phim khiêu dâm để thay thế cho các mối quan hệ với phụ nữ ngoài đời thực. Họ đều là những người đàn ông thú vị, nhìn chung là tử tế chu đáo, có những mối quan hệ hoặc hôn nhân tương đối thành công.

Thông thường, khi tôi đang điều trị cho một trong số những người đàn ông đang gặp vấn đề với porn, anh ta sẽ nói rằng anh thấy mình ngày càng dành nhiều thời gian hơn trên nternet, xem nội dung khiêu dâm và thủ dâm. Anh ta có thể cố gắng xoa dịu sự khó chịu của mình bằng cách quả quyết rằng tất cả mọi người đều xem porn. Trong vài trường hợp, anh ta sẽ bắt đầu xem một trang web kiểu như Playboy hoặc xem một tấm ảnh hay video khỏa thuân mà ai đó gửi cho anh. Những trường hợp khác thì anh ta sẽ truy cập một trang web vô hại, có một quảng cáo gợi ý đã chuyển hướng anh sang những trang web đen và chẳng mấy chốc anh sẽ bị cuốn hút.

Một số người thông báo về một thứ khác, thường lướt qua, đã thu hút sự chú ý của tôi. Họ nói là ngày càng thấy khó bị kích thích bởi người bạn tình đời thực của họ (bạn gái hoặc vợ), dù một cách khách quan họ vẫn thấy bạn tình quyến rũ.

Khi tôi hỏi liệu hiện tượng này có liên quan gì đến việc xem nội dung khiêu dâm hay không, họ trả lời rằng ban đầu nó giúp họ phấn khích hơn trong quan hệ tình dục nhưng theo thời gian lại có tác dụng ngược lại. Bây giờ thì thay vì sử dụng các giác quan của họ để thưởng thức chuyện chăn gối trong hiện tại với người bạn tình của họ, thì việc ân ái ngày càng buộc họ phải tưởng tượng rằng họ đang đóng một vai nào đó trong một kịch bản phim porn. Một số người thì nhẹ nhàng thuyết phục bạn tình của họ hành xử giống như những ngôi sao phim porn, và họ ngày càng thích “đụ” thay vì “làm tình”. Những tưởng tượng về tình dục của họ ngày càng bị chi phối bởi các cảnh phim đen mà họ từng xem, chúng được tải vào bộ não của họ và những kịch bản mới của phim đen thường bạo lực và nguyên thủy hơn những tưởng tượng tình dục trước đây của họ. Tôi có cảm tưởng rằng óc sáng tạo trong chuyện tình dục ở những người đàn ông này đã chết và họ trở nên nghiện ngập phim porn trên mạng.

Những thay đổi tôi quan sát được không giới hạn ở một vài người trong trị liệu tâm lý. Một sự thay đổi về xã hội đang diễn ra. Mặc dù thường rất khó để lấy được thông tin về đời sống tình dục cá nhân, nhưng điều này không đúng với nội dung khiêu dâm ngày nay, bởi vì việc sử dụng nó ngày càng công khai. Sự thay đổi này trùng khớp với sự thay đổi từ gọi nó là "nội dung khiêu dâm" sang thuật ngữ "khiêu dâm" thông thường hơn. Đối với cuốn sách về cuộc sống sinh viên đại học ở Mỹ, I Am Charlotte Simmons, Tom Wolfe đã dành vài năm để quan sát sinh viên trong khuôn viên trường đại học. Trong sách, một cậu thanh niên tên là Ivy Peters, đến phòng của sinh viên nam và nói: "Ai có phim đen không?

Wolfe tiếp tục, "Đây không phải là một yêu cầu bất thường. Nhiều chàng trai đã công khai nói về việc họ thủ dâm ít nhất một lần hằng ngày, cứ như thể đây là kiểu bảo trì cẩn thận hệ thống tâm sinh dục." Một cậu khác nói với Ivy Peters, "Thử lên tầng ba hỏi xem. Mấy thằng trên đó có vài tờ tạp chí khiêu dâm." Nhưng Peters đáp lại, "Xem tạp chí giờ không kích thích được tao ... tao cần videos." Một cậu khác nói "Oh, f'r Chrissake, I.P., khoảng 10h tối. Vào giờ khác sẽ có mấy đứa đến đây xxx. . . Và mày đang tìm phim đen..." Rồi Ivy "nhún vai nói 'Tao cần porn. Có gì to tát đâu?'“

Vấn đề lớn ở đây là “ngưỡng chịu đựng” của cậu ta. Cậu ta nhận ra mình đang giống như một người nghiện ma túy, không còn thấy phê trước những hình ảnh khiêu dâm từng kích thích cậu. Và điều nguy hiểm là “ngưỡng chịu đựng” này sẽ đi vào các mối quan hệ, như nó từng làm với các bệnh nhân mà tôi đã gặp, dẫn đến những vấn đề tiềm ẩn và vấn đề mới về thị hiếu, đôi khi không được chào đón. Khi các nhà sản xuất nội dung khiêu dâm ba hoa rằng họ đang thử những thứ mới mẻ bằng cách giới thiệu những chủ đề mới kích thích hơn. Điều họ không nói đó là họ buộc phải làm thế vì các khách hàng của họ đang xây dựng một “ngưỡng chịu đựng” trước nội dung khiêu dâm. Các trang sau của tạp chí khiêu dâm cho đàn ông và các trang web khiêu dâm Internet chứa đầy quảng cáo về các loại thuốc Viagra - thuốc được phát triển cho những người đàn ông lớn tuổi có vấn đề cương dương liên quan đến lão hóa và tắc nghẽn mạch máu ở dương vật. Ngày nay, những người đàn ông trẻ tuổi lướt web khiêu dâm rất sợ chứng bất lực, hay "rối loạn cương dương" vì nó được gọi một cách hoa mỹ. Thuật ngữ gây hiểu lầm này ngụ ý rằng những người đàn ông đó có vấn đề ở dương vật của họ, nhưng thực tế thì vấn đề nằm ở trong đầu óc của họ, trong bản đồ não bộ tình dục của họ.

Dương vật hoạt động tốt khi họ xem nội dung khiêu dâm. Họ hiếm khi nhận ra có thể có mối quan hệ giữa nội dung khiêu dâm mà họ đang tiêu thụ và chứng bất lực của họ. (Tuy nhiên, một vài đàn ông mô tả thời gian dành cho các trang web porn trên máy tính như thời gian dành để “bộ não của tôi tự sướng.”) Một chàng trai trong một cảnh của cuốn sách của Wolfe mô tả những cô gái sắp quan hệ tình dục với bạn trai của họ giống như "những cô gái cho bạn tình bắn tinh lên người." Cậu ta cũng bị tác động bởi các hình ảnh khiêu dâm chẳng hạn như "cum dumpsters," (nhiều phụ nữ trong phim porn, lúc nào cũng háo hức, sẵn sàng tiếp nhận và do đó bị giảm giá trị.)

Nghiện nội dung khiêu dâm trên mạng không phải là một phép ẩn dụ. Không phải mọi chứng nghiện ngập đều liên quan tới ma túy hay rượu. Người ta có thể bị nghiện cờ bạc, thậm chí nghiện chạy (thể dục). Tất cả những người nghiện đều cho thấy sự mất kiểm soát đối với hoạt động, cảm thấy thôi thúc phải tìm đến nó bất chấp những hậu quả tiêu cực, phát triển “ngưỡng chịu đựng” đến nỗi họ cần mức độ kích thích cao và cao hơn nữa để thỏa mãn, và trải nghiệm thiếu thuốc nếu họ không thể thực hiện được hành vi nghiện ngập.

Mọi sự nghiện ngập đều kéo theo sự thay đổi tính dẻo thần kinh trong bộ não về lâu dài, đôi khi kéo dài suốt đời. Đối với người nghiện, sự điều độ là bất khả thi, và họ phải tránh hoàn toàn với thuốc hoặc hoạt động nếu họ đang tìm cách tránh hành vi nghiện ngập.

Để xác định mức độ gây nghiện của một loại chất gây nghiện, các nhà nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia (NIH) ở Maryland huấn luyện một con chuột bấm một nút cho đến khi nó nhận được một liều thuốc. Con chuột càng cố gắng để bấm nút, thì loại thuốc đó càng gây nghiện. Cocaine, và hầu như tất cả các loại thuốc bất hợp pháp khác, và thậm chí cả những chứng nghiện không liên quan tới thuốc chẳng hạn như nghiện chạy bộ làm cho chất dẫn truyền thần kinh đem lại khoái cảm dopamine hoạt động mạnh hơn trong não. Dopamine được gọi là chất dẫn truyền phần thưởng, vì khi chúng ta hoàn thành một việc gì đó—tham gia một cuộc thi chạy và giành chiến thắng—bộ não của ta kích hoạt phóng thích dopamine. Mặc dù kiệt sức nhưng chúng ta nhận được một nguồn năng lượng, khoái cảm phấn khích, sự tự tin và thậm chí xung phong chạy thêm một vòng mừng chiến thắng. Ngược lại, những người thua cuộc không nhận được liều dopamine, thì ngay lập tức bị cạn kiệt năng lượng, sụp đổ ngay tại vạch đích và cảm thấy tồi tệ về bản thân họ. Bằng cách chiếm quyền điều khiển hệ thống dopamine của chúng ta, các chất gây nghiện đem đến cho ta sự khoái cảm, niềm vui mà ta không cần phải nỗ lực để đạt được nó. 

Dopamine, như chúng ta đã thấy trong nghiên cứu của Merzenich, cũng liên quan đến sự thay đổi tính dẻo. Sự gia tăng dopamine khiến chúng ta rộn ràng cũng làm củng cố những kết nối thần kinh chịu trách nhiệm cho hành vi khiến chúng ta hoàn thành mục tiêu của mình. Khi Merzenich sử dụng một điện cực để kích thích hệ thống tưởng thưởng dopamine của động vật trong khi phát âm thanh, sự phóng thích dopamine kích thích sự thay đổi tính dẻo, mở rộng sự đại diện cho âm thanh trong bản đồ thính giác của con vật. Một liên kết quan trọng với phim khiêu dâm là dopamine cũng được giải phóng trong hưng phấn tình dục, làm tăng ham muốn tình dục ở cả hai giới, tạo điều kiện đạt cực khoái và kích hoạt trung tâm khoái cảm của não. Đó là sức mạnh gây nghiện của nội dung khiêu dâm. 

Eric Nestler, tại đại học University of Texas, đã chỉ ra cách sự nghiện ngập gây ra những thay đổi vĩnh viễn trong bộ não của động vật. Một liều duy nhất của nhiều loại thuốc gây nghiện sẽ tạo ra một loại protein được gọi là ΔFosB (phát âm là "delta Fos B"), tích tụ trong các tế bào thần kinh. Mỗi lần sử dụng thuốc, ΔFosB sẽ tích tụ nhiều hơn, cho đến khi nó bật công tắc điều khiển các gen, quyết định đến việc bật hoặc tắt gen nào đó. 

Việc bật công tắc này gây ra những thay đổi kéo dài sau khi ngừng thuốc, dẫn đến tổn thương không thể phục hồi đối với hệ thống dopamine của não và khiến con vật dễ bị nghiện hơn. Những chứng nghiện không liên quan đến thuốc, chẳng hạn như nghiện chạy và uống đồ ngọt, cũng dẫn đến sự tích tụ FosB và những thay đổi vĩnh viễn trong hệ thống dopamine.

Các nhà sản xuất nội dung khiêu dâm hứa hẹn mang đến niềm vui lành mạnh và giảm bớt căng thẳng tình dục, nhưng thứ họ cung cấp là sự nghiện ngập, ngưỡng chịu đựng và cuối cùng là giảm khoái cảm. Nghịch lý thay, những bệnh nhân nam mà tôi làm việc thường thèm khát phim khiêu dâm nhưng họ không thích nó.

Quan điểm thông thường là một người nghiện tìm lại chất gây nghiện để xoa dịu bản thân vì anh ta thích sự hưng phấn mà nó mang lại và không thích nỗi đau, khổ sở khi thiếu nó. Nhưng người nghiện dùng thuốc thường không trông mong đạt được khoái cảm, khi họ biết rằng họ không dùng đủ liều để khiến họ phê, và sẽ thèm khát nhiều hơn ngay cả trước khi họ bắt đầu ngưng. MUỐN và THÍCH là hai thứ khác nhau. Một người nghiện cảm thấy thèm thuốc vì bộ não ni-lông/dẻo của anh ta trở nên nhạy cảm với thuốc hoặc trải nghiệm. Độ nhạy cảm thì khác với ngưỡng chịu đựng. Khi ngưỡng chịu đựng tăng, người nghiện ngày càng cần nhiều thuốc hoặc phim porn hơn để có được khoái cảm; khi độ nhạy cảm tăng, anh ta ngày càng ít cần đến chất gây nghiện để thèm muốn nó mãnh liệt. Vì vậy, độ nhạy cảm làm tăng ham MUỐN, mặc dù không nhất thiết phải THÍCH. Chính sự tích tụ của ΔFosB, gây ra do tiếp xúc với một chất gây nghiện hoặc hoạt động gây nghiện, dẫn đến sự nhạy cảm. 

Nội dung khiêu dâm gây kích thích hơn là làm thỏa mãn vì chúng ta có hai hệ thống niềm vui riêng biệt trong não bộ, một hệ thống liên quan đến sự kích thích niềm vui/khoái cảm và một hệ thống liên quan đến thỏa mãn niềm vui. Hệ thống kích thích niềm vui liên quan đến niềm vui do “thèm muốn, khao khát” khi chúng ta tưởng tượng về điều gì đó mà mình khao khát, chẳng hạn như tình dục hay một bữa ăn ngon. Hóa chất thần kinh của nó chủ yếu liên quan đến dopamine, và nó làm tăng mức độ căng thẳng của chúng ta. 

Hệ thống niềm vui thứ hai liên quan đến sự thỏa mãn, hay niềm vui được đáp ứng, như thực sự được làm tình hay được ăn một bữa cơm, đó là một niềm vui/khoái cảm được thỏa mãn, làm dịu. Hóa chất thần kinh của nó dựa trên sự phóng thích endorphins, có liên quan đến thuốc phiện và đem lại một hạnh phúc bình an, sảng khoái. 

Nội dung khiêu dâm cung cấp các chủ đề tình dục vô tận, làm tăng cường hệ thống “thèm muốn, khao khát”. Những người xem phim khiêu dâm phát triển bản đồ mới trong bộ não của họ, dựa trên những bức ảnh và video họ đã xem. Bởi vì đây là một nguyên tắc của bộ não “sử dụng nó hoặc mất nó”, khi chúng ta đã phát triển một khu vực bản đồ, thì chúng ta mong muốn tiếp tục duy trì nó. Giống như cơ bắp của chúng ta trở nên thiếu kiên nhẫn với việc tập thể dục nếu chúng ta thường ngồi ì một chỗ suốt cả ngày, tương tự thế, các giác quan của chúng ta cũng thèm được kích thích. 

Những người đàn ông ngồi trước máy tính để xem phim porn cũng giống như những con chuột trong lồng của NIH, nhấn vào nút để nhận được một liều dopamine hoặc phần thưởng tương đương. Mặc dù họ không biết điều đó, nhưng họ đang bị lôi cuốn vào những buổi huấn luyện nội dung khiêu dâm thỏa mọi điều kiện cần thiết cho sự thay đổi tính dẻo của bản đồ não. Vì những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, những người đàn ông đó đã dành nhiều thời gian thực hành kết nối những hình ảnh porn vào các trung tâm khoái lạc của bộ não, cùng với sự chú ý chăm chú cần thiết cho sự thay đổi tính dẻo. Họ tưởng tượng về những hình ảnh này khi rời máy tính, hoặc trong lúc đang làm tình với bạn gái của họ, đã củng cố chúng. Mỗi lần họ thấy hưng phấn tình dục và đạt cực khoái khi thủ dâm, một liều dopamine, chất dẫn truyền thần kinh tưởng thưởng, đã củng cố những mối liên kết được tạo thành trong bộ não; trong các phiên. Phần thưởng không chỉ tạo thuận lợi cho hành vi; mà nó còn khiến họ không cảm thấy xấu hổ khi mua tạp chí Playboy tại cửa hàng. Đây là một hành vi không có “hình phạt”, mà chỉ có phần thưởng. Những nội dung mà họ thấy kích thích đã thay đổi khi trang web đưa vào những chủ đề và kịch bản porn mới làm thay đổi bộ não của họ mà họ không nhận ra. Bởi vì tính dẻo có sự cạnh tranh, những bản đồ não dành cho các hình ảnh porn kích thích, mới mẻ tăng lên khiến phải hy sinh những thứ trước đây từng thu hút họ—tôi tin rằng đây là lý do họ bắt đầu thấy bạn gái của mình kém hấp dẫn.  

Câu chuyện về Sean Thomas, được xuất bản lần đầu trên tờ Spectator của Anh, là một câu chuyện đáng chú ý về một người đàn ông nghiện phim khiêu dâm, và nó làm sáng tỏ cách thức phim khiêu dâm thay đổi bản đồ não và thay đổi thị hiếu tình dục, cũng như vai trò của sự dẻo dai trong giai đoạn quan trọng. Thomas đã viết: "Tôi chưa bao giờ thích xem phim khiêu dâm. Thật vậy, ở tuổi thiếu niên vào những năm bảy mươi, tôi đã từng có một phiên bản Playboy để dưới gối của mình. Nhưng nói chung, tôi thực sự không thích tạp chí khiêu dâm hay phim đen. Tôi thấy chúng tẻ nhạt, lặp đi lặp lại, vô lý và rất xấu hổ khi mua.” Sự nhạt nhẽo của những cảnh phim porn làm anh thấy khó chịu. Nhưng vào năm 2001, ngay sau khi anh ta lên mạng, anh bị tò mò về nội dung khiêu dâm mà mọi người bàn tán trên internet. Nhiều trang được xem miễn phí— những hình ảnh như trêu tức khiến người xem phải mò vào xem những nội dung ‘nóng hơn’. Có một phòng trưng bày ảnh của các cô gái khỏa thân, những kiểu tưởng tượng và hấp dẫn tình dục phổ biến, được thiết kể để nhấn một nút trong não bộ người xem, ngay cả khi anh ta không biết mình có. Có cả hình ảnh của những đồng tính nữ trong bồn mát-xa, phim hoạt hình khiêu dâm, phụ nữ đang hút thuốc trong nhà vệ sinh, tình dục tập thể, và đàn ông xuất tinh lên phụ nữ châu Á đang phục tùng. Hầu hết các bức ảnh đều kể về một câu chuyện.

Thomas đã tìm thấy vài hình ảnh và kịch bản thu hút anh ta, và chúng “lôi kéo tôi quay lại để xem thêm vào ngày tiếp theo. Và tiếp nữa. Và nữa." Chẳng mấy chốc, anh phát hiện thấy bất kì lúc nào có được một phút rảnh rỗi là anh sẽ “thèm muốn vào xem các trang porn.”

Rồi một ngày nọ, anh tình cờ thấy một trang web có hình ảnh phát vào mông. Anh ngạc nhiên khi thấy mình vô cùng kích thích. Thomas nhanh chóng tìm thấy tất cả các trang web có liên quan đến thể loại phát mông, chẳng hạn như “Trang phát mông của Bernie" và "Hội phát mông.”

"Đây là khoảnh khắc," anh viết, "mà cơn nghiện đã thực sự xuất hiện. Sở thích của tôi với thể loại porn phát mông khiến tôi tự hỏi: Trong tôi còn ẩn giấu điều gì nữa? Những ngóc ngách bí mật khác cùng những phần thưởng gì tiềm ẩn trong tính dục của tôi mà bây giờ tôi có thể khám phá trong không gian riêng tư tại nhà mình? Hóa ra là có rất nhiều. Tôi khám phá ra một sở thích đặc biệt đối với thể loại đồng tính nữ, phim porn về những người khác chủng tộc, và hình ảnh các cô gái Nhật cởi quần hotpants. Tôi cũng say mê hình những cô nàng chơi bóng rổ không mặc quần lót, những cô gái Nga say rượu khoe thân, và cảnh những nữ diễn viên Đan Mạch ở vị thế phục tùng đang quấn lấy nhau, được cạo lông bởi đối tác nữ kiểm soát khác dưới vòi hoa sen. Nói cách khác, mạng internet đã tiết lộ với tôi rằng tôi có một loạt các tưởng tượng và thói quen kì quặc về tình dục không thể chối cãi và quá trình thỏa mãn những ham muốn đó trên mạng chỉ khiến tôi có nhiều ham muốn hơn.”

Những hình ảnh mà anh thấy thú vị nhưng không hấp dẫn được anh, cho đến khi anh tình cờ nhìn thấy những bức ảnh phát mông, có lẽ vì chúng đã kết nối với một số trải nghiệm thời thơ ấu hoặc tưởng tượng về việc bị trừng phạt. Những tưởng tượng về tình dục của người khác lại làm ta chán ngấy. Trải nghiệm của Thomas giống với một số bệnh nhân của tôi: khi không ý thức được việc họ đang tìm kiếm thứ gì, họ lướt qua hàng trăm bức ảnh và kịch bản cho đến khi họ gặp một tấm ảnh hoặc kịch bản tình dục chạm vào một số chủ đề bị chôn dấu thực sự kích thích họ.

Khi Thomas phát hiện ra hình ảnh đó, anh đã thay đổi. Tấm hình phát mông đó đã thu hút được sự tập trung chú ý của anh, là điều kiện cho sự thay đổi tính dẻo diễn ra. Và không như một phụ nữ ngoài đời thực, những tấm ảnh khiêu dâm đó luôn có sẵn hằng ngày trên máy tính.

Bây giờ Thomas đã bị mắc vào cạm bẫy. Anh cố gắng kiểm soát bản thân nhưng vẫn dành ít nhất 5 tiếng mỗi ngày trên laptop. Anh lén lút lướt web đen, chỉ ngủ 3 tiếng mỗi đêm. Bạn gái anh đã nhận thấy sự mệt mỏi, kiệt quệ ở anh, cô tự hỏi có phải anh đã có người khác rồi không. Anh bị thiếu ngủ đến nỗi ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, và anh mắc phải một loạt bệnh nhiễm trùng buộc phải vào phòng cấp cứu bệnh viện và phải uống thuốc. Anh bắt đầu tìm hiểu đám chiến hữu của mình và thấy nhiều người trong số họ cũng bị cuốn hút vào porn.

Rõ ràng có một thứ gì đó về tình dục của Thomas nằm ngoài nhận thức của anh, đột ngột khởi lên. Có phải mạng internet chỉ đơn giản tiết lộ về một trạng thái tâm lý dị thường, hay là nó cũng góp phần tạo ra chúng? Tôi cho rằng nó tạo ra những tưởng tượng mới từ những khía cạnh tình dục nằm ngoài nhận thức của người lướt web, kết hợp những yếu tố đó lại với nhau để tạo nên những mạng lưới mới. Không thể có chuyện hàng ngàn người đàn ông đã chứng kiến hoặc thậm chí tưởng tượng về cảnh các nữ diễn viên người Đàn Mạch phục tùng để cho các đối tác nữ thống trị cạo lông cho họ dưới vòi hoa sen.

Freud phát hiện ra những tưởng tượng đó kiểm soát tâm trí bởi những yếu tố đặc biệt trong đó. Chẳng hạn, một số đàn ông dị tính hứng thú với những cảnh porn mà ở đó người phụ nữ lớn tuổi, có tính thống trị khơi mào việc giao hợp đồng tính với cô gái trẻ tuổi hơn. Nguyên nhân có thể vì hồi còn nhỏ, những cậu bé thường cảm thấy bị kiểm soát, chế ngự bởi mẹ họ, mẹ họ là “sếp” và được mẹ mặc quần áo, cởi quần áo và giặt chúng. Ở tuổi thơ ấu, một số cậu bé có thể đã trải qua một giai đoạn mà chúng đồng nhất mạnh mẽ với mẹ của chúng và cảm thấy mình “như một bé gái” và hứng thú với tình dục nữ đồng tính của họ về sau này có thể bộc lộ sự đồng nhất hóa với tính nữ còn sót lại trong vô thức của họ.

Nội dung khiêu dâm nặng Hardcore bóc trần một số mạng lưới thần kinh thuở bé được hình thành trong các giai đoạn quan trọng của sự phát triển tính dục và kết nối tất cả những yếu tố từng bị kìm nén, quên lãng này lại với nhau để hình thành một mạng lưới mới, mà ở đó tất cả các đặc điểm được liên kết với nhau. Các trang porn tạo ra một danh mục các thể loại phổ biến và trộn lẫn chúng với nhau thành các bức ảnh. Không sớm thì muộn, người xem web đen sẽ tìm thấy một sự kết hợp chết người chạm vào một loạt nút kích thích tính dục của anh ta ngay lập tức. Sau đó anh ta củng cố mạng lưới bằng việc liên tục xem ảnh porn, thủ dâm, phóng thích dopamine và làm tăng cường các mạng lưới đó. Anh ta đã tạo ra một kiểu "tính dục mới," một ham muốn tình dục được thiết lập lại có nguồn gốc mạnh mẽ trong những sở thích tình dục bị chôn vùi của anh ta. Vì anh ta thường xuyên phát triển “ngưỡng chịu đựng”, khoái cảm tình dục phải được bổ sung bằng khoái cảm của sự gây hấn, và những tấm ảnh gợi dục và gây hấn hung hăng đang ngày càng pha trộn với nhau— dẫn đến sự gia tăng của các chủ đề thông dâm và ác dâm trong nội dung khiêu dâm nặng.

Các giai đoạn quan trọng đặt nền tảng cho types của chúng ta, nhưng tình yêu ở tuổi thanh niên hoặc sau này mang đến một cơ hội cho một vòng thay đổi tính dẻo lớn thứ hai. Stendhal, tiểu thuyết gia và nhà tiểu luận thế kỷ XIX, hiểu rằng tình yêu có thể dẫn đến những thay đổi triệt để trong sự hấp dẫn. Tình yêu lãng mạn kích hoạt cảm xúc mạnh mẽ đến mức chúng ta có thể tái cấu trúc lại những gì chúng ta thấy hấp dẫn, thậm chí vượt qua cả vẻ đẹp "khách quan". Trong On Love, Stendhal mô tả về một chàng trai trẻ tên Alberic, người gặp một người phụ nữ xinh đẹp hơn người yêu của anh ta. Nhưng Alberic bị thu hút mạnh mẽ với người yêu của anh hơn là người phụ nữ này vì người yêu của anh hứa hẹn đem lại cho anh nhiều hạnh phúc hơn. Stendhal gọi đây là "Vẻ đẹp bị truất ngôi bởi tình yêu". Tình yêu có sức mạnh làm thay đổi sự hấp dẫn khiến Alberic bị kích thích trước một khiếm khuyết nhỏ trên gương mặt của người yêu anh, vết sẹo rỗ của cô ấy. Nó kích thích anh vì “anh đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc gắn với sự hiện diện của vết sẹo rỗ đó, những cảm xúc dành cho phần cơ thể tuyệt mỹ nhất và thu hút nhất, bất kể cảm xúc của anh ấy là gì, chúng được làm mới lại với sự sống động khó tin khi thấy dấu hiệu này, ngay cả khi quan sát nó trên khuôn mặt của người phụ nữ khác... trong trường hợp này, xấu xí trở thành xinh đẹp.” 

Sự chuyển đổi của thị hiếu có thể xảy ra vì chúng ta không chỉ yêu vì mỗi vẻ ngoài. Trong những tình huống bình thường, nhìn thấy ai đó quyến rũ có thể khiến ta sẵn lòng rơi vào lưới tình của họ, nhưng tính cách của người đó và một loạt những phẩm chất khác, bao gồm khả năng của anh ta khiến chúng ta cảm thấy tốt về bản thân, làm kết tinh quá trình phải lòng nhau. Sau đó tình yêu kích hoạt một trạng thái cảm xúc quá đỗi vui sướng đến nỗi nó có thể khiến cho những vết sẹo rỗ trở nên hấp dẫn, xây dựng lại ý thức thẩm mỹ của chúng ta. Tôi tin đây là cách nó hoạt động. 

Năm 1950, "trung tâm khoái cảm" được phát hiện trong hệ thống limbic, một phần của bộ não liên quan nhiều đến việc xử lý cảm xúc. Trong các thí nghiệm của Tiến sĩ Robert Heath trên người - một điện cực được cấy vào vách ngăn của hệ thống limbic và bật lên - những bệnh nhân này đã trải qua một cơn khoái cảm mạnh mẽ đến mức khi các nhà nghiên cứu cố gắng kết thúc thí nghiệm, một bệnh nhân đã nài nỉ họ đừng dừng lại. Vùng vách ngăn cũng bắn điện khi các đối tượng dễ chịu được thảo luận với bệnh nhân và trong khi đạt cực khoái. Những trung tâm khoái cảm này được phát hiện thấy là một phần của hệ thống tưởng thưởng của não bộ, hệ thống dopamine mesolimbic. Năm 1954, James Olds và Peter Milner đã chỉ ra rằng khi họ đưa các điện cực vào trung tâm khoái cảm của động vật trong khi đang dạy nó thực hiện một nhiệm vụ, nó học được dễ dàng hơn bởi vì việc học cảm thấy rất dễ chịu và được phần thưởng. 

Khi các trung tâm khoái cảm được bật sáng lên, mọi thứ chúng ta trải nghiệm đều mang lại cho chúng ta niềm vui. Một loại thuốc như cocaine tác động lên chúng ta bằng cách hạ thấp ngưỡng mà trung tâm khoái cảm của chúng ta sẽ sáng lên, giúp chúng dễ dàng bật sáng hơn. Không đơn giản rằng cocaine mang lại cho chúng ta niềm vui. Mà thực tế là các trung tâm khoái cảm của chúng ta bây giờ rất dễ bật lên khiến cho bất cứ điều gì chúng ta trải nghiệm đều thấy tuyệt vời. Không chỉ mỗi cocaine mới có thể hạ thấp ngưỡng mà trung tâm khoái cảm của chúng ta bật sáng. Khi những người mắc chứng rối loạn lưỡng cực (trước đây gọi là hưng trầm cảm) bắt đầu di chuyển về phía hưng cảm, trung tâm khoái cảm của họ bắt đầu bắn dễ dàng hơn. Và yêu đương cũng làm giảm ngưỡng mà các trung tâm khoái cảm sẽ sáng lên. 

Khi một người phê cần, trở nên hưng cảm hoặc rơi vào lưới tình, anh ta đi vào một trạng thái hứng khởi và lạc quan về mọi thứ, vì cả ba điều kiện trên đã hạ thấp ngưỡng bắn của hệ thống khoái cảm, hệ thống dựa trên dopamine gắn liền với sự háo hức mong đợi một thứ gì đó mà chúng ta khao khát. Người nghiện, người hưng cảm và người đang yêu đầy ắp hy vọng và nhạy cảm với bất cứ thứ gì có thể mang lại niềm vui – những bông hoa và không khí trong lành truyền cảm hứng cho họ, và một cử chỉ nhẹ nhàng nhưng chú đáo khiến họ hoan hỉ với cả nhân loại. Tôi gọi quá trình này là “toàn cầu hóa" (globalization). 

Toàn cầu hóa trở nên mãnh liệt khi người ta đang yêu và tôi tin rằng đó là một trong những lý do chính khiến tình yêu lãng mạn trở thành một chất xúc tác mạnh mẽ cho sự biến đổi tính dẻo. Vì trung tâm khoái cảm bật lên thoải mái, dễ dàng nên những người đang yêu cuồng say không chỉ yêu người tình của họ mà còn yêu cả thế giới và lãng mạn hóa góc nhìn của anh ta về nó. Bởi vì bộ não của chúng ta đang trải nghiệm sự dâng trào dopamine, giúp củng cố sự thay đổi tính dẻo, nên bất kỳ trải nghiệm và mối liên kết thú vị nào chúng ta có trong giai đoạn ban đầu của tình yêu đều được kết nối vào bộ não của chúng ta. 

Toàn cầu hóa không chỉ cho phép chúng ta nhận được nhiều niềm vui từ thế giới mà nó còn khiến chúng ta khó mà cảm nhận được đau đớn, bất mãn hay ác cảm. Heath cho thấy khi trung tâm khoái cảm của chúng ta được bật lên thì những trung tâm của nỗi đau và ác cảm gần đó khó mà sáng lên. Những điều trước kia thường làm ta khó chịu bây giờ đã biến mất. Chúng ta thích trạng thái yêu đương không chỉ vì nó khiến ta dễ hạnh phúc, vui vẻ hơn mà đồng thời cũng khiến chúng ta khó mà đau khổ nổi

Toàn cầu hóa cũng tạo ra một cơ hội để chúng ta phát triển những thị hiếu mới về những thứ hấp dẫn chúng ta, giống như vết sẹo rỗ đã mang lại khoái cảm cho Alberic. Những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, và cảm giác vui thích với sự hiện diện của vết sẹo rỗ thường bị cho là không quyến rũ này khiến nó được kết nối vào trong bộ não như một nguồn mang lại khoái cảm. Một cơ chế tương tự xảy ra khi một người nghiện cocaine “đã cai nghiện” đi qua một con hẻm nhỏ nơi lần đầu tiên anh ta dùng thuốc và sự thèm khát ngập tràn trong anh mạnh mẽ đến nỗi anh tìm lại nó. Sự hưng phấn anh ta cảm nhận trong lúc phê thuốc mãnh liệt đến nỗi khiến việc anh đi qua con hẻm xấu xỉ như sự mời gọi, do bởi sự liên kết. 

Do đó có một hóa chất tình yêu theo nghĩa đen, và các giai đoạn của sự lãng mạn phản ánh những thay đổi trong bộ não chúng ta không chỉ trong những lúc hưng phấn ngây ngất mà cả những lúc hấp hối của tình yêu. Freud, một trong những người đầu tiên mô tả tác dụng tâm thần của cocaine, và khi còn trẻ, người đầu tiên khám phá ra công dụng y học của nó, đã có cái nhìn thoáng qua về hóa chất này. Viết cho vợ sắp cưới của mình, Martha, vào ngày 2 tháng 2 năm 1886, ông mô tả về việc dùng cocaine trong khi đang viết thư. Vì cocaine tác động lên hệ thống rất nhanh, lá thư, khi mở nó ra, chỉ cho chúng ta thấy một cửa sổ tuyệt vời vào các hiệu ứng của nó. Đầu tiên ông ấy mô tả nó khiến ông trở nên nói nhiều và thú tội như thế nào. Những lời nhận xét tự ti ban đầu của ông biến mất khi tiếp tục đọc thư, và chẳng mấy chốc ông cảm thấy không sợ hãi, đồng nhất với tổ tiên dũng cảm bảo vệ Đền thờ ở Jerusalem của ông. Ông ví khả năng của cocaine trong việc chữa trị sự mệt mỏi của mình với phương thuốc kỳ diệu mà ông có được khi ở bên Martha. Trong một bức thư khác, ông viết rằng cocaine làm giảm sự nhút nhát và trầm cảm, khiến ông hưng phấn, tăng cường năng lượng, lòng tự trọng và sự nhiệt tình và có tác dụng kích thích tình dục. Ông đang mô tả về một trạng thái giống với “sự say men tình” khi người ta cảm thấy hưng phấn, nói chuyện suốt đêm và tăng năng lượng, ham muốn tình dục, lòng tự trọng và sự nhiệt tình, nhưng vì họ nghĩ mọi thứ đều tốt đẹp nên khả năng phán đoán của họ cũng có thể bị suy giảm—tất cả xảy ra nhờ một loại thuốc làm tăng dopamine như cocaine. Chụp fMRI gần đây (hình ảnh cộng hưởng từ chức năng) về những người đang yêu đang nhìn những tấm ảnh người yêu của họ cho thấy một phần não có sự tập trung nhiều dopamine đang được kích hoạt; bộ não của họ trông giống như những người dùng cocaine. 

Nhưng nỗi đau của tình yêu cũng có một đặc tính hóa học. Khi xa nhau quá lâu, những người yêu nhau sụp đổ và ‘thiếu thuốc’, khao khát người họ yêu, lo lắng, nghi ngờ bản thân, mất năng lượng và nếu không trầm cảm thì cũng cảm thấy suy sụp. Một sự sửa chữa nhỏ, một lá thư, một email, một tin nhắn điện thoại từ người yêu dấu cung cấp ngay một liều năng lượng. Nếu họ chia tay, họ sẽ bị trầm cảm— điều ngược lại với sự hưng phấn cao độ. “Những triệu chứng gây nghiện” này- hưng phấn, sụp đổ, những thèm khát, ‘thiếu thuốc’, và sửa chữa— là những dấu hiệu chủ quan của sự thay đổi tính dẻo đang diễn ra trong cấu trúc não bộ của chúng ta, khi họ thích nghi với sự hiện diện hoặc vắng mặt của người yêu. 

Một ngưỡng chịu đựng, giống với ngưỡng chịu đựng chất gây nghiện, có thể phát triển ở những cặp đôi đang hạnh phúc khi họ trở nên quen thuộc với nhau. Dopamine thích sự mới lạ. Khi một đôi vợ chồng phát triển ngưỡng chịu đựng lẫn nhau và mất đi sự lãng mạn cao độ mà họ từng có, sự thay đổi có thể là một dấu hiệu, chẳng phải vì họ tẻ nhạt hay khiếm khuyết, nhưng bộ não ni-lông của họ đã thích nghi với nhau đến mức rất khó để họ tìm lại cảm giác say mê phấn chấn từng có về nhau.  

May mắn thay, những người yêu nhau có thể kích thích dopamine của họ, giữ được sự hưng phấn, bằng cách đưa sự mới lạ vào mối quan hệ của họ. Khi một cặp vợ chồng có kỳ nghỉ lãng mạn bên nhau hoặc thử các hoạt động mới cùng nhau, hoặc mặc kiểu quần áo mới hoặc gây bất ngờ cho nhau, họ đang sử dụng sự mới lạ để bật trung tâm khoái cảm lên, để mọi thứ mà họ trải nghiệm, kể cả trải nghiệm ở bên nhau, gây phấn khích và thỏa mãn cho họ. Một khi trung tâm khoái lạc bật lên và sự toàn cầu hóa bắt đầu, hình ảnh mới của người yêu lại gắn với những niềm vui bất ngờ và được kết nối vào bộ não (bộ não được tiến hóa để đáp ứng trước sự mới lạ). Chúng ta phải học hỏi những điều mới nếu ta muốn cảm thấy mình đang tràn đầy sức sống, và khi cuộc sống, hoặc tình yêu, trở nên quá dễ đoán và dường như không còn gì để học, chúng ta trở nên bứt rứt – có thể đó là một sự phản kháng của bộ não ni-lông khi nó không còn thực hiện được những nhiệm vụ thiết yếu của nó nữa. 

Tình yêu tạo ra một trạng thái tinh thần hào phóng. Bởi vì tình yêu cho phép chúng ta trải nghiệm những tình huống hay vẻ ngoài cơ thể là thú vị mà bình thường ta không có cảm giác, nó cũng cho phép chúng ta gỡ bỏ những liên kết tiêu cực, một hiện tượng khác của tính dẻo. 

Khoa học của sự gỡ bỏ, quên đi là một thứ rất mới mẻ. Vì tính dẻo có sự cạnh tranh, khi một người phát triển một mạng lưới thần kinh thì nó trở nên hiệu quả và tự duy trì, và giống như một thói quen, rất khó để gỡ bỏ nó. Hãy nhớ lại ở chương trước Merzenich đang tìm kiếm “một cục tẩy” để giúp ông ấy tăng tốc độ thay đổi và gỡ bỏ những thói quen xấu. 

Có nhiều hóa chất khác nhau liên quan đến việc học hơn là loại bỏ (thói quen). Khi chúng ta học một điều mới mẻ, những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, và một quá trình hóa học xảy ra ở cấp độ tế bào thần kinh gọi là "tiềm năng dài hạn," hay LTP, giúp tăng cường các kết nối giữa các tế bào thần kinh. Khi bộ não gỡ bỏ những kết nối hoặc ngắt kết nối giữa các nơ-ron, một quá trình hóa học khác xảy ra được gọi là "giảm sút dài hạn," hay LTD (Quá trình này không liên quan gì đến trạng thái bệnh trầm cảm). Việc gỡ bỏ và làm suy yếu các kết nối giữa các nơ-ron cũng là một quá trình của tính dẻo, nó cũng quan trọng như việc học hỏi và tăng cường chúng. Nếu chúng ta chỉ tăng cường kết nối, mạng lưới thần kinh của chúng ta sẽ bị bão hòa/ngập tràn. Bằng chứng cho thấy việc quên đi những ký ức hiện có là cần thiết để nhường chỗ cho những ký ức mới trong mạng lưới của chúng ta. 

Sự gỡ bỏ/quên đi là điều thiết yếu khi chúng ta chuyển từ một giai đoạn phát triển này sang giai đoạn tiếp theo. Chẳng hạn, khi đến cuối tuổi thiếu niên, một cô gái rời nhà đi học đại học ở một tiểu bang khác, cả cô và cha mẹ đều trải qua sự đau buồn và thay đổi lớn về tính dẻo, khi họ thay đổi những thói quen cảm xúc, lề thói và hình ảnh bản thân cũ. 

Lần đầu tiên biết yêu cũng đồng nghĩa với bước vào một giai đoạn phát triển mới và đòi hỏi rất nhiều sự quên đi/gạt bỏ. Khi người ta cam kết với nhau, họ phải thay đổi hoàn toàn những ý định hiện tại và thường là những ý định ích kỷ, và điều chỉnh lại tất cả những mối gắn bó khác, để hợp nhất người yêu mới vào cuộc đời họ. Cuộc sống hiện tại bao gồm sự hợp tác liên tục, đòi hỏi tái tổ chức lại tính dẻo của các trung tâm não bộ xử lý cảm xúc, tính dục và bản thân. Hàng triệu mạng lưới thần kinh phải bị xóa sạch và thay thế bằng những mạng lưới mới—một lý do khiến việc yêu ai đó-đối với nhiều người-có cảm giác như đánh mất bản sắc cá nhân. Phải lòng một ai đó cũng đồng nghĩa với việc quên đi một tình yêu trong quá khứ; điều này cũng đòi hỏi sự quên đi ở cấp độ thần kinh. 

Trái tim một người đàn ông tan vỡ bởi tình yêu đầu tiên của anh ta hủy hôn ước. Anh gặp nhiều phụ nữ, nhưng họ đều lu mờ khi so với vị hôn thê của anh, người mà anh tin là tình yêu đích thực duy nhất của mình và bị ám ảnh bởi hình bóng cô ấy. Anh không thể gỡ bỏ được sự thu hút trước tình yêu đầu tiên của anh. Hay như một phụ nữ đã kết hôn cách đây 20 năm nay trở thành một góa phụ trẻ và từ chối hẹn hò lại. Cô ấy không thể tưởng tượng được rằng mình sẽ yêu đương trở lại, và cái ý nghĩ “thay thế” chồng cô là một sự xúc phạm với cô. Năm tháng trôi qua, và bạn bè đã khuyên cô đến lúc đi bước nữa, nhưng đều vô ích. 

Thường thì những người như vậy không thể đi bước nữa vì họ không thể thôi đau buồn; cái ý nghĩ sống mà không có người họ yêu đau đớn đến nỗi không chịu đựng được. Theo thuật ngữ Tính dẻo thần kinh, nếu người yêu lãng mạn hay góa phụ muốn bắt đầu một mối quan hệ tình cảm mới mà không để lại gánh nặng thì trước tiên mỗi người phải điều chỉnh lại hàng tỷ kết nối trong bộ não của họ. Freud lưu ý rằng việc đoạn tang là quá trình diễn ra dần dần; dù thực tế bảo ta rằng người mình yêu đã đi rồi, thì “mệnh lệnh của nó cũng không được tuân theo ngay tức khắc.” Chúng ta tiếc thương bằng cách mỗi lúc nhớ lại một ký ức, làm sống lại nó và sau đó buông bỏ nó. Ở cấp độ não bộ, chúng ta đang bật lên từng mạng lưới thần kinh từng liên kết với nhau để tạo nên nhận thức của chúng ta về người đó, trải nghiệm ký ức một cách sống động về họ, sau đó chào tạm biệt từng mạng lưới một. Trong quá trình thương tiếc, chúng ta học cách sống mà không có người mình yêu, nhưng lý do khiến bài học này khó học là vì đầu tiên chúng ta phải gạt bỏ được ý nghĩ rằng người đó còn sống và vẫn có thể dựa vào họ. 

Walter J. Freeman, giáo sư khoa học thần kinh tại Berkeley, là người đầu tiên tạo ra mối liên hệ giữa tình yêu và sự quên đi rất nhiều. Ông đã tập hợp một số sự kiện sinh học hấp dẫn để đi đến kết luận rằng sự tái tổ chức nơ-ron thần kinh lớn xảy ra ở hai giai đoạn cuộc sống: khi chúng ta yêu nhau và khi chúng ta bắt đầu nuôi dạy con cái. Freeman cho rằng việc tái tổ chức bộ não ni-lông—nhiều hơn hẳn trong việc học tập hay quên đi bình thường— trở nên khả thi nhờ một chất điều biến thần kinh (Neuromodulators). 

Chất điều biến thần kinh khác với chất dẫn truyền thần kinh. Trong khi các chất điều biến thần kinh được giải phóng trong các khớp thần kinh để kích thích hoặc ức chế tế bào thần kinh, thì các chất điều biến thần kinh tăng cường hoặc làm giảm hiệu quả tổng thể của các kết nối synap và mang lại sự thay đổi lâu dài. Freeman tin rằng khi chúng ta yêu nhau, chất điều biến thần kinh não oxytocin được giải phóng, cho phép các kết nối thần kinh hiện tại tiêu biến đi để những thay đổi trên quy mô lớn có thể xảy ra. 

Oxytocin đôi khi được gọi là chất điều biến thần kinh cam kết vì nó củng cố sự gắn bó ở các động vật có vú. Nó được phóng thích khi những người yêu nhau gắn kết và làm tình— ở con người oxytocin được giải phóng ở cả hai giới trong lúc đạt được cực khoái—và khi cặp vợ chồng nuôi dạy con cái. Ở phụ nữ oxytocin được giải phóng trong quá trình chuyển dạ và cho con bú. Một nghiên cứu fMRI cho thấy khi các bà mẹ nhìn vào những bức ảnh của con mình, vùng não giàu oxytocin được kích hoạt. Ở động vật có vú đực, một chất điều biến thần kinh có liên quan chặt chẽ được gọi là vasopressin được giải phóng khi chúng trở thành cha. Nhiều người trẻ nghi ngờ rằng họ sẽ có thể gánh được các trách nhiệm của việc nuôi dạy con cái không ý thức được rằng mức độ oxytocin có thể thay đổi bộ não của họ, cho phép họ vượt qua khó khăn trong việc làm cha. 

Các nghiên cứu về một loài động vật theo chế độ ‘một vợ một chồng’ được gọi là chuột đồng cỏ đã chỉ ra rằng oxytocin, thường được giải phóng trong não của chúng trong quá trình giao phối, khiến chúng kết đôi với nhau suốt đời. Nếu một con chuột cái được tiêm oxytocin vào não, nó sẽ kết đôi suốt đời với một con chuột đực gần đó. Nếu một con chuột đực được tiêm vasopressin, nó sẽ âu yếm với một con cái gần đó. Oxytocin dường như cũng gắn kết trẻ em với cha mẹ và các tế bào thần kinh kiểm soát sự bài tiết của nó có thể có một giai đoạn quan trọng của riêng chúng. Trẻ em được nuôi dưỡng trong trại trẻ mồ côi mà không có sự tiếp xúc yêu thương thường gặp vấn đề về gắn kết khi lớn tuổi. Nồng độ oxytocin của chúng vẫn ở mức thấp trong vài năm sau khi được các gia đình yêu thương nhận nuôi 

Trong khi dopamine gây hưng phấn, đưa chúng ta vào trạng thái ngất ngây và kích thích hưng phấn tình dục, thì oxytocin tạo ra một tâm trạng bình tĩnh, ấm áp làm tăng cảm giác dịu dàng và gắn bó và có thể khiến chúng ta giảm sự cảnh giác. Một nghiên cứu gần đây cho thấy oxytocin cũng kích hoạt lòng tin. Khi mọi người ngửi oxytocin và sau đó tham gia vào một trò chơi tài chính, họ có xu hướng tin tưởng người khác bằng tiền của họ. Mặc dù vẫn còn nhiều nghiên cứu phải làm đối với oxytocin ở người, nhưng bằng chứng cho thấy tác dụng của nó tương tự như ở chuột đồng cỏ: nó khiến chúng ta cam kết với bạn đời và tận tụy với con cái chúng ta.

Nhưng oxytocin hoạt động theo một cách độc đáo, liên quan đến việc gạt bỏ. Ở cừu, oxytocin được giải phóng trong khứu giác, một phần của não bộ liên quan đến nhận thức mùi, với mỗi lứa mới. Cừu và nhiều động vật khác gắn kết với nhau, hoặc "in dấu" lên con của chúng bằng mùi hương. Chúng chỉ chăm sóc con của mình và từ chối những con cừu xa lạ.

Nhưng nếu oxytocin được tiêm vào cừu mẹ khi tiếp xúc với một con cừu lạ, cừu cái ấy cũng sẽ chăm sóc, nuôi nấng con cừu lạ.

Tuy nhiên, Oxytocin không được phóng thích với lứa đầu tiên—mà chỉ phóng thích với những lứa sau— cho thấy oxytocin đóng vai trò xóa sạch các mạch thần kinh gắn kết người mẹ với lứa đầu tiên, dể cô ấy có thể gắn kết với lứa con thứ hai của cô. (Freeman ngờ rằng người mẹ gắn kết với lứa đầu tiên của mình bằng cách sử dụng các chất hóa học thần kinh khác.) Khả năng xóa sạch hành vi đã học của oxytocin đã khiến các nhà khoa học gọi đó là hoóc môn làm quên đi/mất trí nhớ. Freeman cho rằng oxytocin làm tan biến những kết nối thần kinh đang tồn tại làm nằm bên dưới những mối gắn bó đang có, để cho những mối gắn bó mới có thể hình thành. Theo lý thuyết này, Oxytocin không dạy cho các bậc cha mẹ cách làm cha mẹ, cũng như nó không làm cho những người yêu nhau hợp tác và tử tế với nhau; đúng hơn là, nó tạo ra khả năng cho họ học những khuôn mẫu mới. 

Có một số tranh cãi về ý kiến ​​cho rằng oxytocin chỉ chịu trách nhiệm cho đợt học tập mới này. Đối với những thay đổi trong mối gắn bó hiện tại của chúng ta, hoặc cách nó tạo điều kiện cho những thay đổi này, nhà thần kinh học Zarc Pansckip lập luận rằng oxytocin và sự kết hợp với những hóa chất não bộ khác tích cực làm giảm cảm giác đau khổ do chia ly của chúng ta, khiến nỗi đau của sự đánh mất mối gắn bó trước trở nên ít sâu sắc hơn. Bớt khổ sở hơn cũng giúp chúng ta dễ dàng học được những điều mới mẻ, và hình thành những mối quan hệ mới, đồng thời điều chỉnh lại phần nào mối quan hệ hiện tại của chúng ta. 

Lý thuyết của Freeman giúp giải thích tình yêu và tính dẻo ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào. Tính dẻo cho phép chúng ta phát triển bộ não rất độc đáo - để đáp ứng trước những trải nghiệm cuộc sống cá nhân của chúng ta - rằng thường khó nhìn thế giới như cách của người khác, muốn những gì họ muốn, hoặc hợp tác. Nhưng sự sinh sản thành công của loài người đòi hỏi sự hợp tác với nhau. Những gì tự nhiên mang lại, trong một chất điều biến thần kinh như oxytocin, là khả năng để hai bộ não đang yêu trải qua một giai đoạn tính dẻo tăng cao, cho phép họ thay đổi để hòa hợp với nhau và định hình những ý định và nhận thức của nhau. Theo Freeman bộ não về cơ bản là một cơ quan xã hội hóa và do đó phải có một cơ chế, theo thời gian sẽ xóa bỏ xu hướng quá cá nhân, quá chú trọng bản thân và quá ích kỷ của chúng ta. 

Như Freeman nói, "Ý nghĩa sâu sắc nhất của trải nghiệm tình dục không nằm ở khoái cảm, hay thậm chí chuyện sinh sản, mà nằm ở cơ hội nó mang đến để vượt sự duy ngã (đề cao bản thân). Chính lúc sau khi làm tình xong, chứ không phải khúc dạo đầu, có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng lòng tin.”

Khái niệm của Freeman nhắc nhở chúng ta về nhiều biến thể của tình yêu: người đàn ông bất an nhanh chóng rời bỏ người phụ nữ sau khi làm tình suốt đêm, vì anh ta sợ bị tác động quá mức bởi cô ấy nếu anh ở lại đến sáng; phụ nữ có xu hướng yêu người mà cô ấy đã có quan hệ tình dục. Hoặc sự thay đổi bất ngờ ở người đàn ông hầu như ít chú ý đến trẻ con bỗng trở thành một người cha tận tụy; chúng ta cho rằng “anh ấy đã trưởng thành” và “những đứa trẻ được đặt lên hàng đầu,” nhưng anh ta có thể đã nhận được sự trợ giúp từ oxytocin, cho phép anh ta vượt qua những mối bận tâm ích kỷ sâu sắc của mình.

Sự quên đi trong tình yêu cho phép chúng ta thay đổi hình ảnh bản thân mình—trở nên tốt hơn, nếu chúng ta có một đối tác đáng yêu. Nhưng nó cũng giúp giải thích cho tính dễ bị tổn thương của chúng ta khi yêu và giải thích tại sao có rất nhiều đàn ông và phụ nữ trẻ tự tin, khi yêu một người có tính cách thao túng, khinh miệt, thường đánh mất hết cảm giác về bản thân và trở nên hoài nghi bản thân mình, từ đó có thể mất nhiều năm để phục hồi. 

Hiểu được sự quên/gỡ bỏ, và một số điểm tốt về tính dẻo não bộ, hóa ra lại quan trọng trong việc điều trị bệnh nhân của tôi, anh A. Vào khoảng thời gian A. học đại học, anh thấy bản thân lặp lại trải nghiệm của giai đoạn-quan trọng của anh và bị thu hút trước những phụ nữ bất ổn về cảm xúc, đã có bạn trai, rất giống với mẹ anh, cảm thấy mình có trách nhiệm yêu thương và giải cứu họ. A. bị mắc kẹt vào hai cái bẫy của tính dẻo. 

Cái bẫy đầu tiên là một mối quan hệ với một người phụ nữ ổn định, chu đáo có thể giúp anh gỡ bỏ tình cảm đối với những phụ nữ có vấn đề, và dạy anh một con đường mới để yêu thương, đơn giản lại không làm anh có cảm xúc, dù anh rất muốn. Vì vậy anh bị mắc kẹt với kiểu thu hút tiêu cực, hủy hoại được hình thành trong giai đoạn-quan trọng của anh. 

Cãi bẫy thứ hai của anh có thể hiểu được về mặt tính dẻo. Một trong những triệu chứng dằn vặt anh nhất đó là sự hợp nhất giữa tình dục với sự xung hấn trong tâm trí anh. Anh cảm thấy yêu một người tức là tàn phá, ăn tươi nuốt sống cô ấy, và được yêu tức là bị ăn tươi nuốt sống. Và cảm giác quan hệ tình dục của anh là một hành động bạo lực khiến anh rất khó chịu những cũng rất kích thích. Những ý nghĩ về tình dục ngay lập tức dẫn đến những ý nghĩ về bạo lực, và ngược lại, ý nghĩ về bạo lực đưa đến ý nghĩ về tình dục. 

Khi anh làm tình giỏi, anh cảm thấy mình là một người nguy hiểm. Như thể anh ta thiếu bản đồ não riêng biệt cho cảm giác tình dục và bạo lực. 

Merzenich đã mô tả một số “cạm bẫy của bộ não” xảy ra khi hai bản đồ não đáng lẽ nên tách biệt thì lại hợp nhất với nhau. Như chúng ta đã thấy, ông phát hiện ra nếu các ngón tay của một con khỉ được khâu lại với nhau và buộc phải di chuyển cùng một lúc, các bản đồ não cho chúng sẽ hợp nhất, bởi vì những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau. Nhưng ông cũng phát hiện ra các bản đồ hợp nhất trong cuộc sống hàng ngày. Khi một nhạc sĩ thường xuyên sử dụng hai ngón tay với nhau đủ nhiều trong khi chơi một nhạc cụ, thì bản đồ não cho hai ngón tay đôi khi hợp nhất lại và khi nhạc sĩ cố gắng di chuyển chỉ một ngón tay thì ngón kia cũng di chuyển theo. Các bản đồ não cho hai ngón tay khác nhau bây giờ không còn được phân hó nữa. Nhạc sĩ càng cố gắng tạo ra một chuyển động đơn lẻ, anh ta sẽ càng di chuyển cả hai ngón tay, củng cố bản đồ não đã hợp nhất hai ngón tay đó. Một người càng cố gắng thoát khỏi cái bẫy của bộ não thì anh ta càng lún sâu vào, phát triển một tình trạng được gọi là “loạn trương lực cơ khu trú". Một cái bẫy não bộ tương tự xảy ra ở những người Nhật Bản, khi nói tiếng Anh, không thể nghe được sự khác biệt giữa r và l vì hai âm thanh không được phân biệt trong bản đồ não của họ. Mỗi lần họ cố gắng nói đúng âm thanh, họ sẽ nói sai, củng cố thêm vấn đề. 

Đây là những gì tôi tin rằng A. đang trải nghiệm. Mỗi lần anh ta nghĩ về tình dục, anh sẽ nghĩ đến bạo lực. Mỗi lần anh ta nghĩ về bạo lực, anh ta sẽ nghĩ đến tình dục, tăng cường mối liên kết trong bản đồ não đã hợp nhất. 

Đồng nghiệp của Merzenich, bà Nancy Byl, người làm việc trong ngành y học vật lý, dạy cho những người không thể điều khiển ngón tay để phân định lại bản đồ các ngón tay của họ. Bí quyết không phải là cố gắng cử động các ngón tay một cách riêng biệt, mà là học lại cách sử dụng tay theo cách họ đã làm khi còn bé. Ví dụ, khi điều trị cho các nghệ sĩ guitar mắc chứng loạn trương lực cơ khu trú, đã mất kiểm soát ngón tay, trước tiên, bà hướng dẫn họ ngừng chơi guitar một thời gian để làm suy yếu bản đồ não đã hợp nhất. Sau đó, họ chỉ giữ một cây ghita đã tháo dây trong vài ngày. Sau đó một dây đàn tạo ra cảm giác khác biệt so với dây đàn ghita bình thường được gắn vào cây ghita, và họ cảm nhận nó thật cẩn thận, nhưng chỉ với một ngón tay. Cuối cùng họ sử dụng một ngón tay thứ hai cho một dây đàn riêng biệt. Cuối cùng, bản đồ não hợp nhất cho các ngón tay của họ tách thành hai bản đồ riêng biệt và họ có thể chơi lại. 

A. bắt đầu làm phân tâm học. Chúng tôi đã sớm phát hiện ra lý do tại sao ở anh tình yêu và sự xung hấn lại hợp nhất, lần theo dấu vết của cạm bẫy não bộ đến trải nghiệm của anh với bà mẹ say xỉn. Mẹ anh thường xuyên bộc lộ những cảm xúc tính dục và bạo lực cùng một lúc. Nhưng khi anh ấy vẫn không thể thay đổi được điều thu hút anh, tôi đã làm một việc tương tự như Merzenich và Byl đã làm để phân định lại bản đồ não. Trong khoảng thời gian trị liệu kéo dài, bất cứ khi nào A. bộc lộ sự dịu dàng về thể lý nào ngoài tình dục không bạo lực, tôi chỉ ra và yêu cầu anh quan sát kỹ, nhắc nhở rằng anh có khả năng cảm nhận tích cực và khả năng thân mật.

Khi những ý nghĩ bạo lực xuất hiện, tôi yêu cầu anh ấy tìm kiếm trong bộ kinh nghiệm của mình để tìm kiếm dù chỉ một ví dụ cho thấy sự hung hang gây hấn hay bạo lực không dính tới chuyện tình dục là đáng khen, ví dụ như sự tự vệ chính đáng. Bất cứ khi nào những khu vực này xuất hiện— một hành động dịu dàng, hay sự gây hấn không mang tính tiêu cực, hủy hoại— tôi yêu cầu anh chú ý đến chúng. Thời gian trôi qua, anh ấy có thể hình thành hai bản đồ não riêng biệt, một cho sự dịu dàng thể lý, không liên quan đến sự quyến rũ mà anh cảm nhận với mẹ, và bản đồ khác cho sự xung hấn-bao gồm cảm sự quyết đoán lành mạnh— khác hẳn với sự bạo lực điên rồ mà anh cảm nhận khi mẹ mình say xỉn.  

Tách biệt tình dục và bạo lực trong bản đồ não bộ cho phép anh ấy cảm thấy tốt hơn về các mối quan hệ và tình dục, và sự tiến bộ theo các giai đoạn. Dù anh ấy không thể ngay lập tức yêu hoặc hứng thú với một phụ nữ lành mạnh, anh đã yêu một phụ nữ lành mạnh hơn một chút so với những cô bạn gái cũ của anh và anh được hưởng lợi từ việc học hỏi mẫu tình yêu mới và gỡ bỏ mẫu tình yêu quá khứ. Trải nghiệm này cho phép anh dần dần bước vào những mối quan hệ lành mạnh hơn, và gạt bỏ những mối quan hệ độc hại. Đến khi kết thúc trị liệu, anh đang có một cuộc hôn nhân hạnh phúc, lành mạnh và thỏa mãn; tính cách của anh, kiểu tình dục của anh đã biến đổi hoàn toàn. 

Việc điều chỉnh lại hệ thống khoái lạc của chúng ta, và mức độ thị hiếu tình dục của chúng ta có thể học được, có thể thấy rõ nhất ở những chứng biến thái tình dục như chứng khổ dâm, biến đau đớn thể xác thành khoái cảm tình dục. Để làm điều này, bộ não phải biến những thứ vốn dĩ khó chịu trở nên dễ chịu, và các xung điện thường kích hoạt hệ thống đau đớn của chúng ta được kết nối lại vào hệ thống khoái cảm của chúng ta. 

Cuộc đời của những người có hành vi biến thái tình dục thường xoay quanh những hoạt động pha trộn giữa tính dục và sự xung hấn, và họ thường tán dương và tôn sùng sự nhục nhã, thù hận, thách thức, cấm đoán, giận dữ, tội lỗi nham hiểm và phá vỡ những điều cấm kị; họ cảm thấy mình đặc biệt chỉ đơn giản vì họ không sống “bình thường.” Những thái độ "ngang ngược" hoặc thách thức này rất cần thiết cho việc hưởng thụ sự đồi trụy. Việc lý tưởng hóa sự đồi trụy và đánh giá thấp sự “bình thường” được viết một cách xuất sắc trong tiểu thuyết Lolita của Vladimir Nabokov, trong đó một người đàn ông trung niên thần tượng và quan hệ tình dục với một cô gái chưa dậy thì mới 12 tuổi, đồng thời tỏ ra khinh miệt tất cả những người phụ nữ lớn tuổi. 

Chủ nghĩa bạo dâm mô tả về tính dẻo ở chỗ nó hợp nhất hai xu hướng quen thuộc là tình dục và sự xung hấn, mỗi yếu tố có thể mang lại khoái cảm riêng biệt và kết hợp chúng lại với nhau để khi chúng được giải phóng thì khoái cảm sẽ nhân đôi. Nhưng khổ dâm (masochism) còn đi xa hơn bởi vì nó mang một thứ gì đó vốn đã khó chịu, đau đớn và biến nó thành một niềm vui, làm thay đổi ham muốn tình dục một cách cơ bản và chứng minh một cách sống động về tính dẻo của hệ thống khoái cảm và đau đớn của chúng ta. 

Trong nhiều năm, cảnh sát, thông qua các cuộc tấn công vào các cơ sở S&M, đã biết nhiều hơn về những sai lầm nghiêm trọng hơn hầu hết các bác sĩ lâm sàng. Mặc dù những bệnh nhân mắc chứng biến thái tình dục nhẹ thường tìm kiếm sự điều trị cho các vấn đề như lo lắng hoặc trầm cảm, nhưng những người mắc biến thái tình dục nghiêm trọng hiếm khi tìm kiếm liệu pháp điều trị bởi vì, nói chung, họ thích chúng.

Robert Stoller

Robert Stoller, M.D., một nhà phân tâm học ở California, đã thực hiện những khám phá quan trọng thông qua các chuyến thăm đến các cơ sở S&M và B&D (sự ràng buộc và kỷ luật) ở Los Angeles. Ông đã phỏng vấn những người mắc chứng loạn dâm gây đau nghiêm trọng (sadomasochism), gây đau đớn cho thể xác, và phát hiện ra tất cả những người mắc loạn dâm gây đau đều mắc bệnh nghiêm trọng khi còn nhỏ và phải trải qua việc điều trị y tế đau đớn, thường xuyên. "Kết quả là," Stoller viết, "họ bị nhốt trong bệnh viện một thời gian dài mà không có cơ hội để trút bỏ sự thất vọng, tuyệt vọng và giận dữ một cách công khai và thích hợp. Dẫn đến những biến thái tình dục.” Khi còn nhỏ, họ làm sống lại những cơn đau, cơn thịnh nộ không thể biểu đạt trong các giấc mơ, trong những trạng thái tâm lý được thay đổi hoặc trong tưởng tượng thủ dâm, để họ có thể kể lại câu chuyện về tổn thương tâm lý với một cái kết hạnh phúc và nói với bản thân, Lần này, tôi sẽ chiến thắng. Và cách họ giành chiến thắng là dâm dục hóa nỗi thống khổ của họ. Quan điểm cho rằng một cảm xúc vốn đau đớn có thể trở nên vui sướng thoạt đầu khiến chúng ta thấy khó tin, vì chúng ta có xu hướng cho rằng mỗi cảm giác và cảm xúc của chúng ta về bản chất hoặc là vui sướng (niềm vui, chiến thắng và khoái cảm tình dục) hoặc đau đớn (nỗi buồn, sợ hãi và thương tiếc). Nhưng trên thực tế, giả định này là không đúng. Chúng ta có thể khóc những giọt nước mắt hạnh phúc và có những chiến thắng cay đắng; và ở những người bị loạn thần, họ có thể cảm thấy tội lỗi về khoái cảm tình dục hoặc hoàn toàn không có khoái cảm, trong khi những người bình thường khác sẽ cảm thấy thích thú. Một cảm xúc mà chúng ta cho là vốn khó ưa, chẳng hạn sự buồn bã, có thể được thể hiện một cách tinh tế và đẹp đẽ trong âm nhạc, văn chương hoặc nghệ thuật, nỗi buồn không chỉ có cảm giác sâu sắc mà còn cao quý. Nỗi sợ hãi có thể thú vị trong những bộ phim kinh dị hoặc trên tàu lượn siêu tốc. Bộ não con người dường như có thể gắn kết nhiều cảm xúc và cảm giác của chúng ta với hệ thống khoái cảm hoặc hệ thống đau đớn, và mỗi gắn kết hoặc liên kết tinh thần này đòi hỏi một sự kết nối tính dẻo mới trong não. 

Những người khổ dâm nặng mà Stoller phỏng vấn chắc chắn đã tạo nên một con đường mòn thần kinh liên kết những cảm giác đau đớn họ từng chịu đựng với hệ thống khoái cảm tình dục của họ, kết quả là tạo thành một trải nghiệm tổng hợp mới, nỗi đau gây khoái lạc. Những khổ đau mà bọn họ trải qua thời thơ ấu cho thấy sự điều chỉnh này xảy ra trong giai đoạn quan trọng của tính dẻo dai về tính dục. 

Năm 1997, một bộ phim tài liệu đã làm sáng tỏ về tính dẻo và chứng khổ dâm: Sick:The Life and Death của Bob Flanagan, một người siêu khổ dâm. Bob Flanagan đã thực hiện các hành vi bạo dâm của mình trước công chúng như một nghệ sĩ biểu diễn và người phô bày thân thể đã được thể hiện một cách rõ ràng, thi vị và đôi lúc rất khôi hài. Trong những cảnh mở đầu của Flanagan, chúng ta thấy anh ta trần truồng, nhục nhã, bị ném bánh vào mặt, được cho ăn bằng một cái phễu. Nhưng những hình ảnh cho thấy anh bị tổn thương về thể xác và khó thở, ám chỉ những hình thức gây đau đớn đáng lo ngại hơn nhiều. 

Bob Flanagan

Bob sinh năm 1952 bị xơ nang, một căn bệnh của phổi và tuyến tụy do di truyền, trong đó cơ thể sản xuất quá nhiều chất nhầy dày bất thường làm tắc nghẽn đường dẫn khí, khiến anh ta không thể thở một cách bình thường và dẫn đến các vấn đề tiêu hóa mãn tính. Anh phải chiến đấu trong từng hơi thở và người thường chuyển thành màu xanh do thiếu oxy. Đa số bệnh nhân sinh ra với căn bệnh này đều chết khi còn nhỏ hoặc ở tuổi đôi mươi.

Cha mẹ của Bob nhận thấy anh vẫn đau đớn từ lúc xuất viện về nhà. Khi anh mười tám tháng tuổi, các bác sĩ đã phát hiện ra mủ giữa phổi và bắt đầu điều trị cho anh bằng cách nhét kim vào sâu trong ngực anh. Anh bắt đầu sợ quá trình chữa trị này và hét lên tuyệt vọng. Trong suốt thời thơ ấu, anh phải thường xuyên nhập viện và bị giam cầm gần như trần truồng trong một cái lều bong bóng để các bác sĩ có thể theo dõi mồ hôi của anh - một trong những cách chẩn đoán bệnh xơ nang - trong khi anh cảm thấy cơ thể mình bị người lạ nhìn thấy. Để giúp anh ta thở và chống lại nhiễm trùng, các bác sĩ đã chèn tất cả các loại ống vào người anh. Anh cũng nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề của mình: hai trong số các em gái của anh cũng bị xơ nang; một người chết lúc sáu tháng, người kia lúc hai mươi mốt tuổi. 

Dù trên thực tế anh đã trở thành cậu bé được đăng trên poster của Hiệp hội Xơ nang quận Cam, anh đã bắt đầu sống cuộc đời bí mật. Khi còn nhỏ, khi dạ dày đau không ngừng, anh sẽ kích thích dương vật của mình để đánh lạc hướng bản thân. Khi còn học cấp ba, anh sẽ nằm trần truồng vào ban đêm và che phủ mình bằng keo dày, anh không biết tại sao. Anh ta treo mình ở cửa bằng thắt lưng ở vị trí gây đau đớn. Sau đó, anh ta bắt đầu nhét kim vào thắt lưng để đâm vào da thịt mình. 

Khi anh ba mươi mốt tuổi, anh yêu Sheree Rose, xuất thân từ một gia đình rất phức tạp. Trong phim, chúng ta thấy mẹ của Sheree khinh chồng mình ra mặt, cha của Sheree, người mà Sheree chê là người thụ động và không bao giờ bày tỏ tình cảm của mình. Sheree tự nhận mình là hống hách từ nhỏ. Cô ta là kẻ bạo dâm của Bob.

Trong phim Sheree đối xử với Bob (với sự cho phép của anh) như nô lệ của cô ta. Cô làm nhục anh ta, cắt vào da gần núm vú của anh ta bằng con dao X-Acto, ép anh ăn, bóp cổ anh bằng sợi dây cho đến khi mặt anh chuyển thành màu xanh, nhét một quả bóng bằng thép to như quả bóng bida vào hậu môn anh, đặt cây kim khâu vào vùng kích dục của anh. Môi và miệng anh bị khâu kín. Anh còn kể lại chuyện uống nước tiểu của Sheree từ một cái chai nhỏ. Chúng tôi còn thấy phân dính trên dương vật của anh.  

Mọi lỗ hổng trên người anh đều bị xâm chiếm và làm ô uế. Những hành vi đó khiến anh cương cứng và đạt được cực khoái trong tình dục. Bob sống qua tuổi 20 và 30, đến đầu tuổi 40 anh trở thành người sống sót lớn tuổi nhất của hội xơ nang. Anh mang theo chứng khổ dâm trên đường, đến các câu lạc bộ S&M và bảo tàng nghệ thuật, nơi anh thực hiện các nghi thức khổ dâm của mình nơi công cộng, luôn luôn đeo mặt nạ oxy để thở. 

Ở một trong những cảnh phim cuối cùng Bob Flanagan đang khỏa thân và lấy búa đóng đinh vào dương vật mình, xuyên vào chính giữa, lên một tấm ván. Rồi sau đó anh ta tháo móng tay để máu chảy khắp ống kính máy quay phim… 

Điều quan trọng là chúng ta phải mô tả chính xác những gì mà hệ thần kinh của Flanagan có thể chịu đựng, để hiểu mức độ mà các mạch não hoàn toàn mới có thể phát triển, liên kết hệ thống đau với hệ thống khoái cảm.

Ý tưởng của Flanagan rằng nỗi đau của anh phải được biến thành niềm vui đã tô màu cho những tưởng tượng của anh từ thời thơ ấu. Quá khứ đáng chú ý của anh xác nhận rằng sự biến thái tình dục của anh phát triển từ trải nghiệm cuộc đời độc nhất và được liên kết với những ký ức đau thương của anh. Khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, anh ta bị trói vào cũi trong bệnh viện để anh ta không thể trốn thoát và làm tổn thương chính mình. Đến năm bảy tuổi, sự giam cầm của anh đã biến thành tình yêu đối với sự co thắt. Khi trưởng thành, anh ta yêu thích sự trói buộc và bị còng tay hoặc trói và treo trong khoảng thời gian kéo dài ở những vị trí mà những kẻ tra tấn có thể sử dụng để hủy hoại nạn nhân của mình. Khi còn nhỏ, anh được yêu cầu phải cam chịu trước các y tá và bác sĩ quyền lực đã làm tổn thương anh; khi trưởng thành, anh ta tự nguyện trao quyền lực này cho Sheree, trở thành nô lệ của cô, người mà cô có thể lạm dụng. Ngay cả những khía cạnh tinh tế trong mối quan hệ thời thơ ấu của anh ấy với các bác sĩ của anh ấy cũng được lặp lại ở tuổi trưởng thành. Việc Bob cho phép Sheree lặp lại một khía cạnh của chấn thương bởi vì, sau một độ tuổi nhất định, khi các bác sĩ lấy máu, đâm vào da thịt và làm tổn thương anh ta, anh ta đã cho phép họ làm điều đó, vì biết rằng cuộc sống của anh ta phụ thuộc vào nó.

Sự phản chiếu của những sang chấn thời thơ ấu thông qua việc lặp đi lặp lại những chi tiết tinh tế như vậy là điển hình của những biến thái tình dục. Những người sùng bái đồ vật (Fetishists) – tức bị thu hút bởi đồ vật – có cùng đặc điểm. Một Fetist, theo Robert Stoller, là một đồ vật kể một câu chuyện, ghi lại những cảnh tượng từ sang chấn tâm lý thời thơ ấu và gợi dục. (Một người đàn ông trở thành tôn sùng đồ lót bằng cao su và áo mưa là một người thời thơ ấu hay đái dầm, buộc phải ngủ trên tấm đệm bằng cao su, khiến anh ta thấy nhục nhã và khó chịu. Flanagan thì tôn sùng một số đồ vật, là dụng cụ y tế và kim loại cùn từ các cửa hàng bán đồ kim khí – như ốc vít, móng tay, kẹp và búa - tất cả những thứ mà anh ta đã sử dụng, vào những thời điểm khác nhau, để kích thích tình dục-khổ dâm, để thâm nhập, véo hoặc đập vào da thịt anh ta.)  

Trung tâm khoái lạc của Flanagan chắc chắn đã được điều chỉnh theo hai cách. Đầu tiên là, những cảm xúc như lo âu chẳng hạn, thường bị xem là khó chịu, đã trở nên thú vị. Anh ta giải thích răng anh đang liên tục đùa giỡn với thần chết vì anh được dự báo là sẽ chết sớm và đang cố gắng làm chủ nỗi sợ của mình. Trong bài thơ "Why" năm 1985, anh nói rõ rằng chứng siêu khổ dâm của anh mang lại cho anh cảm giác chiến thắng, dũng cảm và bất khả xâm phạm trước một cuộc đời dễ bị tổn thương. Nhưng anh còn đi xa hơn cả việc chỉ đơn thuần làm chủ nỗi sợ. Anh từng bị các bác sỹ làm bẽ mặt khi lột anh trần truồng và đặt vào trong chiếc lều nhựa để đo mồ hôi của anh. Bây giờ anh lại tự hào khi thoát y trong các viện bảo tàng. Để làm chủ cảm giác bị phơi bày và làm nhục khi còn bé, anh trở thành một người phô bày cơ thể đắc thắng. Nỗi xấu hổ chuyển thành lạc thú, chuyển thành sự trơ trẽn. 

Khía cạnh thứ hai của sự điều chỉnh của anh đó là nỗi đau về mặt thể xác đã trở thành khoái lạc. Những đồ kim loại trong da thịt anh làm anh thấy vui, làm anh cương cứng và đạt cực khoái. Một số người khi gặp sự căng thẳng cực độ về thể xác đã giải phóng endorphins, thuốc giảm đau giống như thuốc phiện mà cơ thể chúng ta tạo ra để xoa dịu cơn đau và có thể khiến chúng ta thấy hưng phấn. Nhưng Flanagan nói rằng anh không muốn giảm đau, mà anh đang bị cuốn hút vào nó. Anh ta càng gây tổn thương cho bản thân, anh càng trở nên nhạy cảm hơn với cơn đau, và anh càng cảm thấy đau. Vì các hệ thống đau đớn và khoái lạc của anh đã liên kết với nhau, Flanagan vừa cảm nhận được cơn đau dữ dội, vừa cảm thấy sướng. 

Trẻ em sinh ra đã bất lực, và trong giai đoạn quan trọng của tính dẻo về tính dục, chúng sẽ làm bất cứ điều gì để không bị bỏ rơi và gắn bó với người lớn, ngay cả nếu chúng phải học cách yêu lấy nỗi thống khổ và tổn thương do người lớn gây ra. Những người lớn trong thế giới nhỏ bé của Bob đã gây ra đau đớn cho anh “vì muốn tốt cho anh.” Bây giờ khi đã trở thành một người siêu khổ dâm, thật trớ trêu làm sao khi anh xem nỗi đau đớn như thể nó là bạn tốt của anh. Anh hoàn toàn ý thức được rằng mình đang bị mắc kẹt vào quá khứ, làm sống lại thời thơ ấu và tự nói với mình “vì tôi là một đứa trẻ to xác và tôi muốn sống theo lối đó.” Có lẽ tưởng tượng sống mãi với hình ảnh đứa bé bị hành hạ là một phương cách tưởng tượng giúp anh tránh được cái chết đang đợi anh nếu anh cho phép mình trưởng thành. Nếu anh có thể sống mãi như Peter Pan (mãi mãi không chịu trưởng thành), mãi mãi bị Sheree “tra tấn”, thì ít nhất anh cũng sẽ chẳng bao giờ lớn lên và chết sớm. 

Cuối phim chúng ta thấy cảnh Flanagan đang hấp hối. Anh ta ngừng đùa bỡn và bắt đầu giống một con thú bị dồn vào đường cùng, ngập tràn nỗi sợ. Khán giả nhìn thấy anh ấy từng khiếp sợ biết chừng nào khi còn là một cậu bé, trước khi anh khám phá ra giải pháp khổ dâm để chế ngự cơn đau và nỗi sợ của anh. Vào lúc này, chúng ta học được từ Bob rằng Sheree đã nói về việc chia tay—đánh thức nỗi sợ lớn nhất của đứa trẻ, đó là sợ bị bỏ rơi. Sheree nói rằng vấn đề nằm ở chỗ Bob không còn phục tùng cô nữa. Trông anh đau khổ tột cùng— và cuối cùng cô ở lại chăm sóc anh một cách dịu dàng. 

Trong những giây phút cuối cùng, anh gần như bị sốc, hỏi rằng, "Tôi có chết không? Tôi không hiểu điều đó ... Chuyện gì đang xảy ra? ... Tôi không bao giờ tin điều này." Những tưởng tượng, trò chơi và nghi thức khổ dâm của anh mạnh mẽ đến nỗi tưởng chừng anh đã chấp nhận cái chết đau đớn, rằng dường như anh thực sự đã đánh bại được nó. 

Đối với các bệnh nhân liên quan đến porn, đa số có thể sẽ run như cầy sấy một khi họ hiểu được vấn đề và cách họ củng cố nó về mặt tính dẻo thần kinh. Cuối cùng họ cũng phát hiện thấy mình lại bị thu hút bởi bạn tình của họ. Không ai trong số những người đàn ông này có tính cách nghiện ngập hoặc từng bị sang chấn tâm lý nghiêm trọng thời thơ ấu, và khi họ hiểu được điều gì đang xảy ra với họ, họ đã ngưng dùng máy tính một thời gian để làm suy yếu những mạng lưới thần kinh có vấn đề của họ, và sở thích xem porn của họ mất dần. Việc điều trị sở thích tình dục do học được trong giai đoạn sau này của họ thì đơn giản hơn so với việc điều trị cho những bệnh nhân học được những sở thích tình dục có vấn đề trong giai đoạn-quan trọng. Một số đàn ông có thể giống như A., thay đổi được kiểu tình dục của họ vì quy luật của tính dẻo thần từng cho phép chúng ta học được những thị hiếu có vấn đề, cũng cho phép ta học được những thị hiếu mới lành mạnh hơn. Và trong một số trường hợp, bỏ được những thị hiếu tình dục không lành mạnh. Đó chính là bộ não sử dụng-nó-hay-đánh mất-nó, áp dụng cho cả ham muốn tình dục và tình yêu. 

  

(hết chương 4)        

menu
menu