Bộ não tự thay đổi chính nó (Chương 6)

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-6

Áp dụng Tính dẻo thần kinh để chấm dứt lo âu, những ám ảnh, những sự cưỡng bách và thói quen xấu

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Chương 6

Mở khóa bộ não

Áp dụng Tính dẻo thần kinh để chấm dứt lo âu, những ám ảnh, những sự cưỡng bách và thói quen xấu

Tất cả chúng ta đều có những nỗi lo lắng của riêng mình. Chúng ta lo lắng vì chúng ta là những sinh vật thông minh. Trí thông minh dự đoán, đó là bản chất của nó; cũng chính trí thông minh ấy cho phép chúng ta lập kế hoạch, hy vọng, tưởng tượng và đưa ra giả thuyết cũng cho phép chúng ta lo lắng và lường trước kết quả tiêu cực. Tuy nhiên có những con người “siêu lo lắng", họ là bậc thầy về lo lắng. Dù nỗi khổ của họ “đều nằm trong đầu họ” vượt xa những gì đa số mọi người trải qua vì tất cả khổ sở đều nằm trong đầu họ và do đó không thể thoát được. Những người như vậy thường xuyên bị tổn thương bởi chính bộ não của họ đến mức họ hay nghĩ đến chuyện tự tử. Có một trường hợp về một cậu sinh viên đại học tuyệt vọng vì bị mắc kẹt vào những lo lắng và ám ảnh cưỡng bách đã đặt một khẩu súng vào miệng và bóp cò. Viên đạn đi vào thùy trán của cậu, gây ra một sự phẫu thuật thùy não, đó là một cách điều trị cho chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Cậu ta vẫn còn sống, chứng rối loạn của cậu được chữa khỏi và cậu quay lại trường học. 

Có nhiều kiểu người lo lắng và nhiều loại lo lắng— những nỗi ám ảnh, rối loạn stress sau sang chấn và những cơn hoảng loạn. Nhưng người khổ sở nhất trong số đó chính là những người mắc rối loạn ám ảnh cưỡng chế, hay OCD, những người lo sợ rằng một số chuyện nguy hiểm sẽ đến, hoặc đã đến với họ hoặc với những người họ yêu thương. Mặc dù họ có thể khá lo lắng khi còn nhỏ, sau này, thường vào độ tuổi thanh niên, họ   bị một “cơn” hoảng loạn đưa nỗi lo lắng của họ lên một cấp độ mới. Từng là những người lớn tự lập, giờ đây họ mang theo mình cảm giác như đứa trẻ khốn khổ, đầy sợ hãi. Cảm thấy xấu hổ vì mất kiểm soát, họ thường che giấu nỗi lo lắng của họ với người khác, đôi khi trong nhiều năm, trước khi họ tìm kiếm sự trợ giúp. Trong những trường hợp xấu nhất, họ không thể thức tỉnh khỏi những cơn ác mộng này xảy ra trong nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm. Uống thuốc có thể dập tắt những cơn lo lắng của họ nhưng chúng thường không loại bỏ được vấn đề.

OCD thường trở nên trầm trọng hơn theo thời gian, từ từ thay đổi cấu trúc não bộ. Một bệnh nhân OCD có thể tìm cách giải tỏa bằng việc tập trung vào nỗi lo của anh ta— đảm bảo rằng anh ta kiểm soát tất cả các khía cạnh và không để lại chút sai sót nào— nhưng anh ta càng nghĩ đến nỗi sợ của mình thì anh càng lo lắng hơn về nó, vì với OCD, lo lắng sinh ra lo lắng.

Thường có một yếu tố kích thích về cảm xúc gây ra cơn hoảng loạn đầu tiên. Một người có thể nhớ lại chuyện vào ngày giỗ của mẹ mình, nghe được tin về một vụ tai nạn xe hơi của đối thủ, cảm thấy đau hay có một cục u trong cơ thể anh ta, đọc được một loại hóa chất trong nguồn cung cấp thực phẩm, hoặc nhìn thấy hình ảnh bàn tay bị bỏng trong phim. Sau đó anh ta bắt đầu lo sợ rằng anh đang ở gần cái độ tuổi mà mẹ anh hồi đó đã qua đời, dù nói chung không phải mê tín, nhưng bây giờ anh có cảm giác mình sẽ chết vào ngày hôm đó; hoặc cái chết ở độ tuổi còn trẻ của đối thủ cũng đang chờ đợi anh ta; hoặc anh ta đã phát hiện ra các triệu chứng ban đầu của một căn bệnh không có thuốc chữa; hoặc rằng anh ta đã bị đầu độc vì không đủ cảnh giác với những thứ anh ta đã ăn. Tất cả chúng ta đều có những ý nghĩ như thế lướt nhanh qua đầu. Nhưng người OCD thì bám chặt vào nỗi lo âu và không thể buông thả nó. Bộ não và tâm trí của họ đi qua những tình huống đáng sợ khác nhau, và mặc dù họ cố gắng kháng cự lại việc nghĩ đến chúng, nhưng không thể làm được. Những mối đe dọa có cảm giác rất thật, họ nghĩ rằng họ phải chú ý đến chúng. Những nỗi ám ảnh điển hình là nỗi sợ mắc bệnh nan y, bị nhiễm vi trùng, bị nhiễm độc hóa chất, bị đe dọa bởi bức xạ điện từ hoặc thậm chí bị mắc bệnh bởi gen. Đôi lúc những người bị ám ảnh trở nên ám ảnh với sự đối xứng: họ thấy khó chịu khi các tấm ảnh không đạt mức hoàn hảo hay khi hàm răng của họ không đều tăm tắp, hoặc khi các đồ vật không nằm theo trật tự hoàn hảo, và họ có thể tốn hàng giờ đồng hồ để xếp chúng đúng cách. Hoặc họ trở nên mê tín về những con số nào đó và có thể cài chuông báo thức hoặc điều chỉnh âm lượng với một số chẵn.

Những ý nghĩ về tình dục hoặc xung hấn – một nỗi sợ rằng họ đã làm tổn thương những người thương yêu – có thể xâm nhập vào tâm trí họ, nhưng họ không biết những ý nghĩ đó đến từ nơi nào. Một suy nghĩ ám ảnh điển hình có thể là "Tiếng uỵch mà tôi nghe thấy khi lái xe có nghĩa là tôi có thể đã cán qua ai đó." Nếu họ theo tôn giáo, những ý nghĩ báng bổ có thể nảy sinh, gây ra cảm giác tội lỗi và lo lắng. Nhiều người mắc OCD có những nghi ngờ ám ảnh và luôn tự đoán: họ đã tắt bếp, khóa cửa chưa hoặc vô tình làm tổn thương cảm xúc của ai đó? Những nỗi lo lắng có thể kỳ quái— và vô nghĩa lý ngay cả đối với người lo lắng— nhưng điều đó không làm cho họ bớt dằn vặt đi chút nào. Một người mẹ và người vợ yêu thương hay lo rằng, "Tôi sẽ làm hại con tôi", hoặc "Tôi sẽ thức dậy trong giấc ngủ và đâm chồng tôi bằng một con dao thái thịt vào ngực khi anh ta đang ngủ." Một người chồng có suy nghĩ ám ảnh rằng có những lưỡi dao cạo gắn vào móng tay của anh ta, vì vậy anh ta không thể chạm vào con cái, làm tình với vợ hoặc vỗ về con chó của mình. Mắt anh không thấy lưỡi dao, nhưng tâm trí anh khăng khăng rằng chúng đang ở đó, và anh cứ hỏi vợ để đảm bảo rằng anh không làm tổn thương cô. 

Thường thì nguyên nhân của nỗi ám sợ về tương lai là bởi vì họ có thể từng phạm phải một số lỗi lầm trong quá khứ. Nhưng không chỉ những sai lầm đã xảy ra làm họ ám ảnh. Mà họ còn tưởng tượng ra những sai lầm mình có thể mắc phải, họ mà buông lỏng sự cảnh giác trong một khoảnh khắc thì cũng gây ra một cảm giác sợ hãi chết khiếp không thể nào dập tắt. Nỗi đau đớn của người lo lắng ám ảnh là bất cứ khi nào điều gì xấu có thể xảy ra, thì họ có cảm giác như không thể tránh khỏi.

Tôi đã có một vài bệnh nhân lo lắng về sức khỏe của họ rất mãnh liệt đến nỗi họ cảm thấy như đang ở trong vòng tử thần, mỗi ngày qua đi là sự đợi chờ bị xử tử. Nhưng vở kịch của họ không dừng ở đó. Ngay cả khi được cho biết sức khỏe của họ vẫn ổn, họ có thể cảm nhận được chút khuây khỏa ngắn ngủi trước khi họ tự chẩn bệnh cho bản thân là “điên khùng” vì tất cả những gì họ bắt bản thân phải gánh chịu.

Ngay sau khi những lo lắng ám ảnh bắt đầu, bệnh nhân OCD thường làm việc gì đó để giảm bớt lo lắng, một hành động mang tính cưỡng bách. Nếu họ cảm thấy mình đã bị nhiễm vi trùng, họ sẽ giặt giũ, tắm rửa; khi điều đó không làm cho nỗi lo lắng biến mất, họ sẽ đem giặt tất cả quần áo, sàn nhà và sau đó là các bức tường. Nếu một người phụ nữ lo sợ mình sẽ giết con ruột, cô ta bọc con dao đồ tể bằng vải, gói nó trong một cái hộp, khóa nó dưới tầng hầm, sau đó khóa cửa xuống tầng hầm. Nhà tâm thần học UCLA Jeffrey M. Schwartz mô tả một người đàn ông sợ bị nhiễm bệnh bởi axit ắc quy tràn ra trong các vụ tai nạn xe hơi. Mỗi đêm anh nằm trên giường lắng nghe tiếng còi báo động báo hiệu một vụ tai nạn gần đó. Khi nghe thấy tiếng còi, anh sẽ bật dậy, bất kể giờ nào, mang đôi giày chạy thể thao, và lái xe cho đến khi anh tìm thấy địa điểm xảy ra tai nạn. Sau khi cảnh sát rời đi, anh ta sẽ chà nhựa đường bằng bàn chải trong nhiều giờ, sau đó trốn về nhà và vứt đôi giày anh ta đã mang.

Jeffrey M. Schwartz

Những người nghi ngờ ám ảnh thường phát triển “những thói quen kiểm tra mang tính cưỡng bách.” Nếu họ nghi ngờ rằng họ chưa tắt bếp hay khóa cửa, họ sẽ quay lại để kiểm tra và kiểm tra lại thường đến hàng trăm lần trở lên. Vì sự nghi ngờ không bao giờ biến mất, nên họ có thể mất hàng tiếng đồng hồ mới ra khỏi nhà. Những người sợ hãi khi nghe thấy một tiếng uỵch trong khi đang lái xe có nghĩa là họ đã cán qua ai đó, thì họ sẽ lái xe vòng quanh khu vực đó để đảm bảo không nhìn thấy xác chết nào trên đường. Nếu nỗi sợ ám ảnh của họ là về một căn bệnh chết người thì họ sẽ kiểm tra đi kiểm tra lại cơ thể họ để tìm các triệu chứng hoặc đi khám bác sỹ hàng chục lần. Sau một thời gian, những hành vi kiểm tra mang tính cưỡng bách đó trở thành một nghi thức. Nếu họ cảm thấy mình dơ dáy bẩn thỉu, họ phải làm bản thân sạch sẽ theo quy trình nghiêm ngặt: đeo bao tay để bật vòi nước và kỳ cọ cơ thể theo một trình tự cụ thể; nếu họ có những suy nghĩ về tình dục hoặc ý nghĩ báng bổ, họ sẽ nghĩ ra một nghi thức cầu nguyện để thực hiện một số lần nhất định. Những nghi thức này có lẽ liên quan đến niềm tin vào phép màu hoặc mê tín mà đa số người bị ám ảnh hay có. Nếu họ tìm cách để tránh thảm họa, thì đó là bởi vì đích thân họ kiểm tra theo một cách thức nào đó, và hy vọng duy nhất của họ là tiếp tục kiểm tra mỗi lần theo cùng một cách.

Những người mắc ám ảnh cưỡng chế, thường có nhiều nghi ngờ, có thể trở nên khiếp sợ khi mắc phải một sai lầm và bắt đầu chỉnh sửa bản thân và người khác. Một phụ nữ đã mất hàng trăm giờ chỉ để viết những lá thư ngắn vì cô cảm thấy không thể tìm được từ ngữ nào mà không gây ra cảm giác ”hiểu nhầm”. Nhiều luận văn tiến sỹ — tác giả không phải là người cầu toàn, mà vì người viết mắc OCD không thể tìm ra những từ ngữ nào hoàn toàn không đem đến “cảm giác” sai.

Khi một người cố gắng chống lại một sự cưỡng bách thì sự căng thẳng của anh ta tăng lên đến mức cực kỳ dữ dội. Nếu anh ta hành động theo nó thì có thể tạm thời được khuây khỏa, nhưng có nhiều khả năng khiến ý nghĩ ám ảnh và thôi thúc cưỡng bách chỉ trở nên tệ hơn khi nó lại xuất hiện.

OCD rất khó điều trị. Đối với nhiều người, uống thuốc và tri liệu hành vi chỉ đỡ được phần nào. Jeffrey M. Schwartz đã phát triển một cách trị liệu hiệu quả, dựa trên tính dẻo, không chỉ giúp được cho chứng rối loạn ám ảnh cưỡng bức mà còn giúp những người gặp nhiều lo lắng hằng ngày, khi chúng ta bắt đầu lo lắng chuyện gì đó và không thể ngừng được dù ta biết chuyện đó vô nghĩa. Nó có thể giúp chúng ta khi chúng ta bị “dính mắc" về mặt tinh thần và bám chặt vào những lo lắng hoặc khi chúng ta có hành vi cưỡng bách và bị thôi thúc bởi "những thói quen xấu" như cắn móng tay, nhổ tóc, mua sắm, đánh bạc và ăn uống. Thậm chí một số hình thức ghen tuông ám ảnh, lạm dụng chất gây nghiện, hành vi tình dục cưỡng bách và quan tâm quá mức đến những gì người khác nghĩ về chúng ta, hình ảnh bản thân, cơ thể và lòng tự trọng có thể cải thiện.

Schwartz đã phát triển những hiểu biết mới về OCD bằng cách so sánh hình ảnh chụp não của những người mắc OCD với những người không bị, sau đó dùng những hiểu biết này để phát triển hình thức trị liệu mới của ông— lần đầu tiên, theo hiểu biết của tôi, việc chụp não như PET giúp bác sỹ vừa hiểu được về căn bệnh vừa phát triển một liệu pháp tâm lý cho nó. Sau đó ông kiểm tra cách điều trị mới này bằng cách chụp não các bệnh nhân của ông trước và sau khi làm trị liệu tâm lý và cho thấy bộ não của họ đã bình thường trở lại với nhờ trị liệu. Đây là một minh chứng đầu tiên khác cho thấy liệu pháp nói chuyện có thể làm thay đổi bộ não.

Thông thường khi chúng ta mắc phải một sai lầm, sẽ có ba thứ xảy ra. Trước tiên, chúng ta có một “cảm giác sai lầm”, một sự cằn nhằn vì thứ gì đó sai trái. Thứ hai, chúng ta trở nên lo lắng, và nỗi lo thúc đẩy chúng ta sửa sai. Thứ ba, khi chúng ta đã sửa lỗi, một sự chuyển số tự động trong bộ não cho phép chúng ta chuyển sang suy nghĩ hoặc hoạt động tiếp theo. Rồi cuối cùng “cảm giác sai lầm” và lo lắng biến mất.

Nhưng bộ não của người bị ám ảnh cưỡng chế không thể chuyển sang “hoạt động mới, suy nghĩ mới” được. Cho dù anh ấy đã sửa lỗi sai chính tả, đã rửa tay để diệt vi trùng hoặc đã xin lỗi vì quên ngày sinh nhật bạn, thì anh ta vẫn tiếp tục bị ám ảnh. Hộp chuyển số tự động của anh không làm việc, và cảm giác sai lầm và lo lắng ngày càng tăng.

Từ việc chụp não, bây giờ chúng ta đã biết có ba phần của bộ não liên quan đến nỗi ám ảnh.

Chúng tôi phát hiện ra những sai sót ở vùng vỏ não trán ổ mắt, một phần của thùy trán, ở mặt dưới của não, ngay sau mắt của chúng ta. Chụp não cho thấy một người càng nhiều ám ảnh thì vùng vỏ não trán ổ mắt của anh ta càng hoạt động nhiều.

Khi vỏ não trán ổ mắt kích hoạt “cảm giác sai lầm”, nó sẽ gửi tín hiệu đến hồi đai, nằm ở phần sâu nhất của vỏ não. Hồi đai gây ra lo lắng khủng khiếp rằng một chuyện tồi tệ sẽ xảy ra trừ khi chúng ta sửa chữa sai lầm và gửi tín hiệu đến cả ruột và trái tim, gây ra những cảm giác vật lý mà chúng ta gắn liền với nỗi khiếp sợ. “Chuyển số tự động”, nhân đuôi (caudate nucleus), nằm sâu trong trung tâm của não và cho phép những suy nghĩ của chúng ta chảy từ chỗ này sang chỗ khác trừ khi, như trong OCD, nhân đuôi trở nên cực kỳ "dính". 

Hình chụp não của các bệnh nhân OCD đều cho thấy cả ba vùng não này đều hoạt động thái quá. Vỏ não trán ổ mắt và hồi đai bật lên và duy trì tình trạng đó cứ như thể bị khóa mãi ở “vị trí bật” cùng với nhau— một lý do khiến Schwartz gọi OCD là "khóa não." Vì nhân đuôi không “chuyển số” tự động, nên vỏ não trán ổ mắt và hồi đai tiếp tục bắn tín hiệu của chúng, làm tăng cảm giác sai lầm và nỗi lo. Vì người đó đã sửa chữa lỗi sai, tất nhiên chúng là những báo động sai. Nhân đuôi bị trục trặc nên có thể hoạt động quá mức vì nó bị mắc kẹt và bị nhấn chìm bởi những tín hiệu từ vỏ não trán ổ mắt.

Nguyên nhân gây ra tình trạng khóa não OCD nghiêm trọng thì khác nhau. Trong nhiều trường hợp, nó xảy ra do di truyền trong gia đình, nhưng nó cũng có thể gây ra bởi bệnh nhiễm trùng làm sưng thùy đuôi. Và chúng ta sẽ thấy, học tập cũng đóng vai trò trong sự phát triển của nó. Schwartz bắt đầu phát triển một phương pháp điều trị sẽ thay đổi mạch OCD bằng cách mở khóa liên kết giữa vỏ não ổ mắt và hồi đai, và bình thường hóa chức năng của thùy đuôi. Schwartz tự hỏi liệu các bệnh nhân có thể thay đổi thùy đuôi một cách “thủ công” bằng cách liên tục tập trung, nỗ lực và chủ động chú ý đến một điều gì đó ngoài nỗi lo lắng không, chẳng hạn như một hoạt động mới, vui vẻ thú vị. Cách tiếp cận này có thể hiểu được về mặt tính dẻo thần kinh vì nó “phát triển” một mạch não mới mang lại niềm vui và kích hoạt giải phóng dopamine, như chúng ta đã thấy, tưởng thưởng cho hoạt động mới và củng cố, phát triển những liên kết thần kinh mới. Mạch não mới này cuối cùng có thể cạnh tranh lại mạch não cũ, và theo nguyên tắc sử dụng nó-hay-mất nó, các mạng lưới bệnh lý sẽ bị suy yếu. Với cách trị liệu này chúng ta không chỉ “phá bỏ” những thói quen xấu, mà còn thay thế hành vi xấu bằng những hành vi tốt hơn. 

Schwartz chia trị liệu thành một số bước, trong đó có hai bước chính. Bước đầu tiên là khi một người bị một cơn OCD tấn công thì sẽ gọi lại tên sự việc đang xảy đến với anh ta, để anh ta nhận ra những gì mà anh đang trải qua không phải là một sự tấn công của vi trùng, bệnh AIDS, hoặc axit pin, mà chỉ là một cơn OCD mà thôi. Anh ta cần nhớ rằng khóa não diễn ra ở cả ba phần của não bộ. Là một nhà trị liệu, tôi khuyến khích các bệnh nhân OCD tự nói với bản thân như sau: “Vâng, ngay bây giờ tôi đang gặp một vấn đề thực sự. Nhưng vấn đề không phải ở những con vi trùng, mà là căn bệnh OCD của tôi.” Việc gọi lại tên này cho phép họ tạo được khoảng cách với nội dung của nỗi ám ảnh và quan sát nó theo cách tương tự như đạo Phật quan sát nỗi khổ trong thiền định: họ quan sát những tác động của nó đối với họ và nhẹ nhàng tách rời bản thân khỏi nỗi khổ.

Bệnh nhân OCD cần tự nhắc bản thân rằng nguyên nhân của sự tấn công không biến mất ngay lập tức là do mạch não bị lỗi của họ. Giữa lúc bị OCD tấn công, một số bệnh nhân có thể thấy điều này hữu ích khi nhìn vào ảnh chụp bộ não bất thường của người bị OCD trong cuốn sách Brain Lock của Schwartz, và so sánh nó với ảnh chụp bộ não bình thường của các bệnh nhân được trị liệu của Schwartz, để tự nhắc bản thân rằng họ cũng có thể thay đổi mạch não của mình.

Schwartz đang dạy các bệnh nhân phân biệt giữa dạng OCD phổ biến (những ý nghĩ và thôi thúc phiền toái xâm nhập vào ý thức) và nội dung của một nỗi ám ảnh (chẳng hạn như, ám ảnh với những mầm bệnh nguy hiểm). Bệnh nhân càng tập trung vào nội dung ám ảnh thì tình trạng của họ càng tồi tệ.

Trong một thời gian dài, các nhà trị liệu đã tập trung vào những nội dung ám ảnh. Phương pháp điều trị phổ biến cho OCD được gọi là “phòng ngừa phơi nhiễm và đáp ứng”, một dạng trị liệu hành vi giúp cho khoảng một nửa số người mắc OCD đạt được một số cải thiện, dù hầu hết không cải thiện hoàn toàn. Nếu một người sợ vi trùng, anh ta sẽ được cho tiếp xúc nhiều hơn với vi trùng, nhằm giải mẫn cảm cho anh. Trong thực tế, điều này có nghĩa là yêu cầu bệnh nhân dành nhiều thời gian ở trong toilet. (Khi lần đầu tiên tôi nghe về cách trị liệu này, bác sỹ tâm thần đã yêu cầu một người đàn ông đeo quần lót bẩn lên mặt). Có thể hiểu được tại sao 30 phần trăm bệnh nhân từ chối những kiểu điều trị như vậy. Cho họ tiếp xúc với vi trùng không nhằm mục tiêu “chuyển hộp số sang” ý nghĩ tiếp theo; mà nó khiến bệnh nhân càng dính mắc nhiều hơn vào chúng— ít nhất là trong một thời gian.

Phần thứ hai của trị liệu hành vi theo tiêu chuẩn là “đáp ứng phòng ngừa”, tức là ngăn không cho bệnh nhân hành động theo sự cưỡng bách của họ. Một dạng khác của trị liệu, là Trị liệu Nhận thức, dựa trên tiền đề rằng tâm trạng có vấn đề và những trạng thái lo âu bị gây ra bởi những sự bóp méo về nhận thức – những suy nghĩ không đúng đắn hoặc bị phóng đại. Các nhà trị liệu nhận thức yêu cầu bệnh nhân OCD viết ra giấy những nỗi sợ của họ và sau đó liệt kê các lý do tại sao những nỗi sợ đó là vô lý. Nhưng phương pháp này cũng khiến bệnh nhân đắm chìm vào nội dung của chứng ám ảnh cưỡng bức của anh ta. Schwartz cho hay, "Dạy bệnh nhân nói rằng ‘Tay tôi không bẩn’ chỉ đơn giản là sự lặp lại môt điều cô ấy đã biết…sự bóp méo nhận thức không phải là một phần bản chất của căn bệnh OCD; một bệnh nhân OCD về cơ bản biết rằng không đếm đúng số lon đồ hộp trong tủ đựng thức ăn hôm nay sẽ không làm mẹ cô ấy chịu một cái chết kinh khủng vào tối nay. Vấn đề là, cô ấy không cảm thấy như vậy.” 

Các nhà phân tâm học cũng tập trung vào nội dung của các triệu chứng, nhiều nội dung liên quan đến những ý nghĩ rắc rối về xung hấn và tình dục. Họ phát hiện thấy một ý nghĩ ám ảnh, chẳng hạn như “Tôi sẽ làm tổn thương con tôi” có thể bộc lộ một cơn giận bị kìm nén trước đứa trẻ, và sự hiểu biết này có thể đủ để khiến một nỗi ám ảnh biến mất trong các trường hợp bị OCD nhẹ. Nhưng điều này thường không có hiệu quả với OCD vừa hoặc nặng. Và mặc dù Schwartz tin rằng nguồn gốc của nhiều chứng ám ảnh có liên quan đến kiểu xung đột về tình dục, sự xung hấn và tội lỗi mà Freud đã nhấn mạnh, thì những xung đột đó chỉ giải thích về nội dung chứ không phải hình thức của chứng rối loạn.

Sau khi một bệnh nhân thừa nhận rằng lo lắng là một triệu chứng của OCD, bước quan trọng tiếp theo là tập trung lại vào một hoạt động giải trí tích cực, lành mạnh, bổ ích và lý tưởng ngay khi anh ta nhận ra mình đang bị một cơn OCD tấn công. Hoạt động này có thể là làm vườn, giúp đỡ ai đó, chơi nhạc cụ, nghe nhạc, tập thể dục hoặc ném bóng rổ. Một hoạt động có liên quan đến người khác giúp bệnh nhân tập trung. Nếu OCD tấn công trong lúc bệnh nhân đang lái xe, anh nên chuẩn bị sẵn một hoạt động như một cuốn sách hay một đĩa CD. Điều thiết yếu là làm một việc gì đó, để “thay đổi” hộp số tự động.

Dù điều này có vẻ là một quá trình hành động rõ ràng và đơn giản, nhưng với người bị OCD thì không dễ thực hiện. Schwartz trấn an bệnh nhân của ông rằng dù “đường truyền thủ công” của họ vẫn còn dính lại, thì bằng sự nỗ lực, nó có thể được chuyển đổi bằng một ý nghĩ hay hành động cố gắng tại một thời điểm.

Tất nhiên, việc ‘chuyển số’ là một ẩn dụ của máy móc, và bộ não không phải là một cỗ máy; nó là một cơ quan sống và có tính dẻo. Mỗi lần bệnh nhân cố gắng ‘chuyển số’, họ bắt đầu sửa chữa “đường truyền” của chúng bằng cách phát triển những mạch não mới và thay đổi nhân đuôi. Bằng việc tái tập trung, bệnh nhân đang học cách không dính mắc vào nội dung của một chứng ám ảnh mà có thể sinh hoạt, làm việc dù có nó. Tôi khuyên các bệnh nhân của mình nghĩ đến nguyên tắc sử dụng-nó-hay-đánh mất-nó. Mỗi lúc họ dành thời gian nghĩ về triệu chứng – tin rằng họ đang bị đe dọa bởi vi trùng- họ đang làm sâu sắc thêm mạch não ám ảnh. Bằng cách phớt lờ nó đi, họ đang đi trên con đường đánh mất nó. Đối với những chứng ám ảnh và thôi thúc cưỡng bách, bạn càng làm theo sự cưỡng bách thì bạn càng muốn làm nhiều hơn nữa; bạn càng ít làm theo thì bạn sẽ ngày càng ít muốn làm việc đó.

Theo Schwartz, điều cơ bản cần hiểu là những gì bạn cảm nhận trong khi áp dụng kỹ thuật này là không quan trọng, mà quan trọng là những gì bạn làm. “Bạn đấu tranh không nhằm để khiến cảm xúc mất đi; mà bạn đang đấu tranh để không đầu hàng trước cảm xúc”— khi hành động theo một sự cưỡng bách hoặc suy nghĩ về nỗi ám ảnh. Kỹ thuật này không mang lại sự giải tỏa ngay tức thì vì sự thay đổi tính dẻo thần kinh lâu bền cần có thời gian, nhưng nó đặt nền tảng cho sự thay đổi bằng cách tập luyện bộ não theo một cách thức mới mẻ. Vì vậy, lúc đầu, bệnh nhân vẫn sẽ cảm thấy thôi thúc thực hiện hành vi cưỡng bách, và sự căng thẳng cùng lo lắng khi kháng cự lại nó. Mục tiêu là “thay đổi kênh” sang một số hoạt động mới trong 15-30 phút khi một người đang có một triệu chứng OCD. (Nếu một người không thể kháng cự trong thời gian dài, thì dù chỉ kháng cự được trong 1 phút thôi cũng mang lại ích lợi. Sự kháng cự đó, nỗ lực đó chính là cái cần để tạo ra những mạch não mới.) Bạn có thể thấy kỹ thuật của Schwartz với bệnh nhân OCD có nhiều điểm tương đồng với cách tiếp cận CI cho bệnh nhân đột quỵ của Taub. Bằng cách buộc bệnh nhân “đổi kênh” và tái tập trung vào một hoạt động mới, Schwartz đang áp đặt một sự ràng buộc. Bằng cách khiến các bệnh nhân tập trung mãnh liệt vào hành vi mới, trong các phân đoạn ba mươi phút, ông đang cho họ thực hành tập trung.

Trong chương 3, "Thiết kế lại Bộ não," chúng ta đã học được hai quy luật then chốt của tính dẻo thần kinh, và chúng cũng làm nền tảng cho phương pháp trị liệu này. Quy luật đầu tiên là những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau. Bằng cách làm điều gì đó thú vị, vui vẻ thay thế cho hành vi cưỡng bách, các bệnh nhân đang hình thành nên một mạch não mới dần dần được củng cố thay vì củng cố hành vi cưỡng bách. Quy luật thứ hai là Các tế bào thần kinh bắn điện riêng thì có những liên kết riêng. Khi không hành động theo những sự cưỡng bách của họ, bệnh nhân làm suy yếu mối liên kết giữa sự cưỡng bách và quan niệm rằng nó sẽ xoa dịu nỗi lo lắng của họ. Việc xóa bỏ mối liên kết này rất quan trọng, bởi vì như chúng ta đã thấy, trong khi hành động theo một sự cưỡng bách sẽ giúp giảm bớt nỗi lo âu trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn nó lại làm bệnh OCD trở nên trầm trọng hơn.

Schwartz đã có kết quả tốt với các trường hợp nghiêm trọng. 80% bệnh nhân của ông ấy đã khá hơn khi họ sử dụng phương pháp của ông kết hợp với thuốc - điển hình là thuốc chống trầm cảm như Anafranil hoặc thuốc loại Prozac. Các chức năng của thuốc như bánh xe phụ của một chiếc xe đạp, để giảm bớt lo lắng hoặc hạ thấp nó đủ để bệnh nhân được hưởng lợi từ liệu pháp này. Theo thời gian, nhiều bệnh nhân đã bỏ thuốc và một số người không cần dùng thuốc để bắt đầu với liệu pháp này.

Tôi thấy phương pháp khóa não có hiệu quả tốt với các vấn đề OCD điển hình như sợ vi trùng, rửa tay, sự thúc bách kiểm tra, và những nỗi sợ hãi do tưởng tượng. Khi bệnh nhân tự áp dụng, "chuyển số thủ công" sẽ ngày càng tự động hóa hơn. Các giai đoạn OCD trở nên ngắn hơn và ít thường xuyên hơn, và mặc dù bệnh nhân có thể tái phát trong những lúc gặp căng thẳng thì họ vẫn có thể sử dụng kỹ thuật mới phát hiện này để nhanh chóng lấy lại quyền kiểm soát.

Khi Schwartz và nhóm của ông chụp não của những bệnh nhân đã cải thiện, họ phát hiện thấy ba phần của não bộ từng bị “khóa lại” và bắn điện cùng với nhau một cách quá mức, thì giờ đã bắn điện riêng biệt theo cách bình thường. Khóa não đã được phá bỏ.

Tôi đang dự một buổi tiệc tối với một người bạn, tôi sẽ gọi cô ấy là Emma; và anh chồng là nhà văn của cô, Theodore; cùng nhiều nhà văn khác.

Emma đang ở độ tuổi bốn mươi. Khi cô hai mươi ba tuổi, một đột biến di truyền tự phát đã gây ra một căn bệnh gọi là viêm sắc tố võng mạc khiến các tế bào võng mạc của cô bị chết. Năm năm trước, cô bị mù hoàn toàn và bắt đầu dựa vào một con chó giống Labrador mắt sáng, tên là Matty.

Tật khiếm thị của Emma đã tổ chức lại cơ cấu bộ não và cuộc sống cô ấy. Một số người trong chúng tôi có mặt tại bữa tối quan tâm đến văn học, nhưng vì cô ấy bị mù, Emma đã đọc nhiều hơn bất kỳ ai trong chúng tôi. Một chương trình máy tính từ Hệ thống Giáo dục Kurzweil đọc sách cho cô ấy nghe với giọng đơn điệu, tạm ngưng khi có dấu phẩy, những quãng nghỉ, và lên giọng cho những câu hỏi. Giọng đọc của máy tính có tốc độ rất nhanh. Nhưng Emma đã dần dần học cách lắng nghe với tốc độ ngày càng nhanh hơn, vì vậy cô hiện đang đọc khoảng 340 từ một phút và đang đọc qua tất cả các tác phẩm kinh điển vĩ đại. " Tôi tìm một tác giả, và tôi đọc tất cả mọi thứ anh ta viết rồi sau đó tôi chuyển sang tác giả khác." Cô đã đọc Dostoyevsky (tác giả yêu thích của cô), Gogol, Tolstoy, Turgenev, Dickens, Chesterton, Balzac, Hugo, Zola, Flaubert, Proust, Stendhal, và nhiều nhà văn khác. Gần đây cô đọc ba cuốn tiểu thuyết Trollope trong một ngày. Cô ấy hỏi tôi làm sao mà cô ấy có thể đọc nhanh hơn nhiều so với trước khi cô bị mù. Tôi đưa ra giả thuyết rằng vỏ não thị giác rộng lớn của cô ấy, không còn xử lý thị giác, đã được tiếp quản để xử lý thính giác. Tối hôm đó Emma hỏi tôi có biết gì tại sao con người lại có nhu cầu kiểm tra mọi thứ rất nhiều không? Cô ấy kể với tôi rằng cô thường gặp nhiều rắc rối để ra khỏi nhà, vì cô liên tục kiểm tra bếp lò và các ổ khóa. Quay về nhà khi cô vẫn đang lái xe đi làm, cô có thể đang đi làm, đi được nửa đường rồi và phải quay lại để đảm bảo chắc chắn rằng cô đã khóa cửa đúng cách. Khi cô trở lại, cô sẽ cảm thấy bắt buộc phải kiểm tra xem bếp, thiết bị điện và nước đã tắt chưa. Cô sẽ rời đi, sau đó phải lặp lại toàn bộ chu kỳ đó nhiều lần nữa, trong lúc đang cố gắng chống lại thôi thúc kiểm tra đồ. Cô nói với tôi rằng người cha độc đoán của cô từng làm cô thấy lo lắng khi cô lớn lên. Khi cô rời khỏi gia đình, cô không còn nỗi lo lắng đó nữa nhưng lại nhận thấy bây giờ có vẻ nó được thay thế bằng thói quen kiểm tra này, và nó đang tiếp tục nghiêm trọng hơn. 

Tôi giải thích lý thuyết khóa não cho cô ấy hiểu. Tôi nói với cô ấy rằng chúng ta thường kiểm tra đi kiểm tra lại các thiết bị mà không thực sự tập trung. Vì vậy, tôi đề nghị cô ấy chỉ kiểm tra một lần, và một lần duy nhất, với sự cẩn trọng tối đa.

Lần sau gặp lại, cô ấy vui mừng cho biết. "Tôi tốt hơn rồi”. "Tôi chỉ kiểm tra một lần, và tôi tiếp tục cuộc sống. Tôi vẫn cảm thấy có thôi thúc phải kiểm tra, nhưng tôi chống lại nó, và rồi nó qua đi. Khi tôi tập luyện nhiều hơn, nó sẽ trôi qua nhanh hơn.”

Cô cau có với chồng. Anh ấy đã nói đùa rằng thật bất lịch sự khi làm phiền bác sĩ tâm thần với chứng thần kinh của cô ấy khi chúng tôi đang dự tiệc. "Theodore," cô nói, "Không phải em bị điên khùng đâu. Mà chỉ là bộ não của em không chuyển sang hoạt động khác.”

 

(Hết chương 6)

Image: by Unsplash

menu
menu