Bộ não tự thay đổi chính nó (chương 9) - Phân tâm học là một liệu pháp khả biến thần kinh

bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-9-phan-tam-hoc-la-mot-lieu-phap-kha-bien-than-kinh

Tâm lý trị liệu hoạt động bằng cách đi sâu vào não bộ và tế bào thần kinh của nó và thay đổi cấu trúc của chúng bằng cách bật các gen phù hợp

Chương 9

Phân tâm học là một liệu pháp khả biến thần kinh

Anh L. đã bị trầm cảm tái phát trong hơn 40 năm và gặp khó khăn trong mối quan hệ với phụ nữ. Khi anh ấy tìm sự trợ giúp từ tôi, anh đang ở độ tuổi cuối năm mươi và gần đây mới nghỉ hưu.

Vào đầu những năm 1990, rất ít bác sĩ tâm thần vào thời đó hiểu được bộ não có tính dẻo, và người ta thường tin rằng những người gần sáu mươi tuổi thì “có thói quen quá cứng nhắc" để hưởng lợi từ một liệu pháp nhằm không chỉ giải thoát họ khỏi các triệu chứng mà còn thay đổi những khía cạnh trong tính cách của họ một cách dài lâu.   

Anh L. là người luôn luôn khách sáo và lịch sự. Anh ấy thông minh, tinh tế, và nói một cách ngắn gọn, sơ sài, không có nhiều cảm xúc trong giọng nói của anh ta. Anh ngày càng trở nên cách biệt khi nói về cảm xúc của mình.

Ngoài những cơn trầm cảm nặng, vốn chỉ đáp ứng phần nào với thuốc chống trầm cảm, anh còn có một kiểu tâm trạng kỳ lạ thứ hai. Anh thường bị tấn công bởi một cảm giác bí ẩn - dường như không biết từ đâu đến - của sự tê liệt, chết lặng và vô mục đích, như thể thời gian đã ngừng lại. Anh cũng cho biết là mình uống rượu rất nhiều.

Anh đặc biệt cảm thấy khó chịu về mối quan hệ của mình với phụ nữ. Ngay khi anh hẹn hò yêu đương, anh sẽ bắt đầu rút lui, với cảm giác rằng “có một phụ nữ tốt hơn ở nơi khác mà tôi đang bị từ chối.” 

Anh ta đã nhiều lần không chung thủy với vợ và hệ quả là cuộc hôn nhân tan vỡ, một kết quả mà anh thấy rất hối hận. Tệ hơn là anh ta không chắc tại sao mình lại thiếu chung thủy, vì anh rất tôn trọng vợ. Anh đã cố gắng nhiều lần để quay lại với cô, nhưng cô từ chối.

Anh ta không biết rõ tình yêu là gì, chưa bao giờ biết ghen hay có tâm lý sở hữu người khác, và lúc nào cũng cảm thấy phụ nữ muốn “sở hữu” anh. Anh tránh cả cam kết và xung đột với phụ nữ. Anh hết lòng vì con cái nhưng cảm thấy gắn bó với con vì ý thức trách nhiệm hơn là tình cảm vui vẻ. Cảm giác này làm anh đau lòng bởi lũ trẻ rất yêu thương cha

Khi Anh L. được hai mươi sáu tháng tuổi, mẹ anh qua đời khi sinh hạ em gái anh. Anh không tin rằng cái chết của bà đã ảnh hưởng nhiều đến mình. Anh có bảy anh chị em, và bây giờ người chu cấp duy nhất của họ là cha, một nông dân, người điều hành trang trại biệt lập mà họ sống không có điện nước, ở một quận nghèo trong cuộc Đại khủng hoảng. Một năm sau, Anh L. bị bệnh kinh niên về đường tiêu hóa cần được chú ý liên tục. Khi anh lên bốn tuổi, cha anh không thể chăm sóc cho cả anh và các anh chị anh, nên đã gửi anh đến sống cùng vợ chồng người dì đã lập gia đình nhưng không có con cách nhà một ngàn dặm. Trong hai năm, mọi thứ trong cuộc đời ngắn ngủi của Anh L. đã thay đổi. Anh ta đã mất mẹ, cha, anh chị em, sức khỏe, ngôi nhà, ngôi làng và tất cả những thứ quen thuộc — mọi thứ anh ta quan tâm và từng gắn bó. Và bởi vì anh ta lớn lên với những người đã quen cắn răng chịu khổ và tỏ ra mạnh mẽ, nên cả cha anh lẫn gia đình nhận nuôi anh không nói gì nhiều về những mất mát của anh với anh. 

Anh L. cho biết anh không có ký ức từ bốn tuổi trở về trước và rất ít ký ức về thời niên thiếu. Anh không cảm thấy buồn về những gì đã xảy ra với mình và không bao giờ khóc, ngay cả khi đã trưởng thành - về bất cứ điều gì. Thật vậy, anh ta nói như thể chẳng có chuyện gì xảy ra với anh. Tại sao tôi phải nhận ra? anh hỏi. Chẳng phải tâm trí của trẻ em còn chưa hình thành đầy đủ để ghi lại những sự kiện đầu đời? 

Tuy nhiên, có một số mang mối cho thấy những mất mát của anh đã biểu lộ. Khi anh kể lại câu chuyện đời mình, trông anh cứ như thể vẫn còn đang sốc sau ngần ấy năm. Anh cũng bị ám ảnh bởi những giấc mơ mà ở đó anh luôn tìm kiếm thứ gì đó. Như Freud đã phát hiện ra, những giấc mơ lặp đi lặp lại, với cấu trúc tương đối không thay đổi, thường chứa đựng những mảnh ký ức của sang chấn đầu đời.

Anh L. mô tả về một giấc mơ điển hình như sau:

Tôi đang tìm kiếm thứ gì đó, tôi không biết nó là gì, một vật thể không xác định, có thể là một món đồ chơi, nằm ngoài lãnh thổ quen thuộc...Tôi muốn nó trở lại một lần nữa.

Nhận xét duy nhất của anh là giấc mơ đại diện cho "một mất mát khủng khiếp". Nhưng điều đáng chú ý là anh đã không liên kết nó với sự mất mát của mẹ hoặc gia đình.

Nhờ hiểu được giấc mơ này, anh L. sẽ học cách yêu thương, thay đổi các khía cạnh quan trọng trong tính cách của mình và loại bỏ các triệu chứng đã tồn tại suốt 40 năm của mình, trong liệu pháp phân tâm) kéo dài từ độ tuổi 58 đến 62. Sự thay đổi này có thể xảy ra là bởi vì phân tâm học trên thực tế là một liệu pháp khả biến thần kinh.

Trong nhiều năm nay, cách chữa trị theo truyền thống từ nhiều phía cho rằng phân tâm học--phương pháp "chữa trị bằng cách nói chuyện," và những liệu pháp tâm lý khác không phải là những cách nghiêm túc để điều trị các triệu chứng tâm thần và các vấn đề về tính cách. Các phương pháp điều trị "Nghiêm trọng" đòi hỏi thuốc chứ không chỉ có mỗi “nói chuyện về những suy nghĩ và cảm xúc”, bởi không thể ảnh hưởng đến bộ não hoặc thay đổi tính cách-những thứ ngày càng được coi là sản phẩm của gen chúng ta.

Nghiên cứu của bác sĩ tâm thần và nhà nghiên cứu Eric Kandel là thứ đầu tiên lôi cuốn tôi trong lĩnh vực khả biến thần kinh khi tôi thuộc về Khoa Tâm thần học của Đại học Columbia, nơi ông dạy và có một sức ảnh hưởng lớn đến tất cả mọi người có mặt. Kandel là người đầu tiên chỉ ra rằng khi chúng ta học tập, các tế bào thần kinh cá nhân của chúng ta thay đổi cấu trúc của chúng và và tăng cường các kết nối khớp thần kinh giữa chúng. Ông cũng là người đầu tiên chứng minh rằng khi chúng ta hình thành ký ức dài hạn, các nơ-ron thay đổi hình dạng giải phẫu và tăng số lượng các kết nối synap mà chúng có với các nơ-ron khác—công trình mà ông đã giành giải thưởng Nobel năm 2000.

Eric Kandel

Kandel trở thành bác sĩ và bác sĩ tâm thần, với hy vọng được thực hành phân tâm học. Nhưng nhiều người bạn (là nhà phân tâm học) đã khuyên ông nghiên cứu về não bộ, việc học và trí nhớ, những thứ mà người ta ít biết đến, để hiểu sâu hơn về lý do tại sao trị liệu tâm lý lại có hiệu quả và làm sao cải thiện nó. Sau một số khám phá ban đầu, Kandel quyết định trở thành một nhà khoa học thí nghiệm toàn thời gian, nhưng ông chưa bao giờ đánh mất hứng thú trong việc tìm hiểu cách tâm trí và bộ não thay đổi trong phân tâm học. 

Ông bắt đầu nghiên cứu một con ốc biển khổng lồ, được gọi là Aplysia, chúng có những tế bào thần kinh lớn bất thườngcác tế bào của nó rộng một milimet và có thể nhìn thấy bằng mắt thường— có thể cho ta một cánh cửa đi vào thế giới của những chức năng của mô thần kinh ở con người. Sự tiến hóa có tính bảo thủ, và các hình thức học tập cơ bản hoạt động theo cùng một cách cả ở động vật có hệ thần kinh đơn giản và ở người.

Hy vọng của Kandel là "bẫy" một phản ứng học hỏi ở nhóm tế bào thần kinh nhỏ nhất mà ông có thể tìm thấy, và nghiên cứu nó. Ông ta tìm thấy một mạch đơn giản trong con ốc, mà ông có thể loại bỏ một phần khỏi con vật bằng cách mổ xẻ và giữ cho nó còn sống và còn nguyên vẹn trong nước biển. Bằng cách này, ông ta có thể nghiên cứu nó, trong khi nó còn sống và trong khi nó học.

Hệ thần kinh đơn giản của ốc biển có các tế bào cảm giác phát hiện nguy hiểm và gửi tín hiệu đến các tế bào thần kinh vận động của nó, hoạt động theo phản xạ để bảo vệ nó. Ốc sên biển thở bằng mang của chúng, được bao phủ bởi một mô thịt gọi là siphon. Nếu các tế bào thần kinh cảm giác trong siphon phát hiện ra một kích thích lạ hoặc nguy hiểm, chúng sẽ gửi một thông điệp tới sáu tế bào thần kinh vận động bắn điện, khiến các cơ xung quanh mang kéo cả siphon và mang trở lại an toàn vào ốc, nơi chúng được bảo vệ. Đây là mạch mà Kandel nghiên cứu bằng cách đặt các vi điện cực vào tế bào thần kinh.

Ông có thể chỉ ra rằng khi con ốc học cách tránh chấn động và thu mang của nó vào, hệ thống thần kinh của nó đã thay đổi, tăng cường các kết nối khớp thần kinh giữa các tế bào thần kinh cảm giác và vận động và phát ra các tín hiệu mạnh hơn được phát hiện bởi các vi điện cực. Đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy việc học dẫn đến việc tăng cường khả biến (tính dẻo) thần kinh của các kết nối giữa các tế bào thần kinh.

Nếu ông ta lặp lại những cú sốc trong một thời gian ngắn, những con ốc trở nên "nhạy cảm", do đó chúng phát triển "nỗi sợ do học được" và xu hướng phản ứng thái quá ngay cả với những kích thích lành tính hơn, cũng như con người bị chứng rối loạn lo âu. Khi những con ốc sên phát triển ‘nỗi sợ do học được’, các tế bào thần kinh tiền synap giải phóng nhiều chất truyền tin hóa học vào khớp thần kinh, phát ra tín hiệu mạnh hơn. Sau đó, ông cho thấy những con ốc sên có thể được dạy để nhận ra một kích thích là vô hại. Khi siphon của ốc sên được chạm nhẹ nhàng lặp đi lặp lại và không bị sốc, các khớp thần kinh dẫn đến phản xạ thu mang đã yếu đi và cuối cùng con ốc đã bỏ qua cú chạm. Cuối cùng, Kandel đã có thể chỉ ra rằng ốc sên cũng có thể học cách liên kết hai sự kiện khác nhau và hệ thống thần kinh của chúng thay đổi trong quá trình này. Khi ông ta gây cú sốc ở đuôi ốc, rồi ngay lập tức sau đó ông cho ốc sên một kích thích lành tính, chẳng mấy chốc tế bào thần kinh cảm giác của ốc sên đã phản ứng lại với kích thích lành tính như thể nó là kích thích nguy hiểm, phát ra tín hiệu rất mạnh- ngay cả khi không bị sốc.

Kandel, làm việc với Tom Carew, một nhà tâm lý học sinh lý, tiếp theo cho thấy những con ốc sên có thể phát triển cả những ký ức ngắn hạn và ký ức dài hạn. Trong một thí nghiệm, nhóm nghiên cứu đã huấn luyện một con ốc sên rút lại mang của nó sau khi họ chạm vào nó 10 lần. Những thay đổi trong tế bào thần kinh vẫn duy trì trong vài phúttương đương với trí nhớ ngắn hạn. Khi họ chạm vào mang mười lần, trong bốn buổi huấn luyện khác nhau, cách nhau vài giờ đến một ngày, sự thay đổi của các tế bào thần kinh kéo dài chừng ba tuần. Con vật đã phát triển những ký ức dài hạn nguyên thủy.

Kandel đã làm việc với đồng nghiệp của mình, nhà sinh vật học phân tử James Schwartz và các nhà di truyền học để hiểu rõ hơn về các phân tử riêng lẻ có liên quan đến việc hình thành ký ức dài hạn ở ốc sên. Họ đã chỉ ra rằng ở những con ốc, để những ký ức ngắn hạn trở thành dài hạn, một loại protein mới phải được tạo ra trong tế bào. Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trí nhớ ngắn hạn sẽ trở thành dài hạn khi một chất hóa học trong tế bào thần kinh, được gọi là protein kinase A, di chuyển từ cơ thể của tế bào thần kinh vào nhân của nó, nơi lưu trữ gen. Protein bật một gen để tạo ra 1 protein làm thay đổi cấu trúc của đầu mút thần kinh, để nó phát triển các kết nối mới giữa các tế bào thần kinh. Sau đó, Kandel, Carew và các đồng nghiệp Mary Chen và Craig Bailey đã chỉ ra rằng khi một tế bào thần kinh duy nhất phát triển trí nhớ dài hạn cho sự nhạy cảm, nó có thể đi từ 1.300 đến 2.700 kết nối synap, một lượng thay đổi khả biến thần kinh đáng kinh ngạc.

Quá trình tương tự cũng xảy ra ở con người. Khi chúng ta học, chúng ta làm thay đổi những gen nào đó trong tế bào thần kinh của chúng ta được "biểu hiện" hoặc được bật lên.

Gen của chúng ta có hai chức năng. Đầu tiên, "chức năng khuôn mẫu", cho phép các gen của chúng ta nhân bản, tạo ra các bản sao của chính chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chức năng khuôn mẫu nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.

Thứ hai là "chức năng sao chép”. Mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta chứa tất cả các gen của chúng ta, nhưng không phải tất cả các gen đó đều được bật hoặc biểu hiện. Khi một gen được bật, nó tạo ra một loại protein mới làm thay đổi cấu trúc và chức năng của tế bào. Đây được gọi là chức năng sao chép vì khi gen được bật, thông tin về cách tạo ra các protein này được "sao chép" hoặc đọc từ gen cá nhân. Chức năng sao chép này bị ảnh hưởng bởi những điều mà chúng ta nghĩ và làm.

Hầu hết mọi người cho rằng gen của chúng ta định hình chúng ta - hành vi và giải phẫu não của ta. Nhưng nghiên cứu của Kandel cho thấy khi chúng ta học hỏi thì tâm trí của ta cũng ảnh hưởng đến những gen nào đó trong các nơ-ron sẽ được sao chép. Do đó, chúng ta có thể định hướng các gen của mình, và đến lượt nó sẽ định hình giải phẫu vi mô cho bộ não của ta.

Kandel cho rằng khi trị liệu tâm lý làm thay đổi con người, "Người ta cho rằng nó làm được điều đó thông qua việc học, bằng cách tạo ra những thay đổi trong biểu hiện gen, làm thay đổi sức mạnh của các kết nối synap, và những thay đổi về cấu trúc sẽ làm thay đổi mô hình liên kết giải phẫu giữa các tế bào thần kinh của não bộ." Tâm lý trị liệu hoạt động bằng cách đi sâu vào não bộ và tế bào thần kinh của nó và thay đổi cấu trúc của chúng bằng cách bật các gen phù hợp. Bác sĩ tâm thần Susan Vaughan cho rằng phương pháp trị liệu bằng lời nói có hiệu quả bằng cách "nói chuyện với các tế bào thần kinh," và một nhà trị liệu tâm lý hoặc nhà phân tâm học giỏi là một "bác sĩ vi phẫu thuật của tâm trí" giúp bệnh nhân tạo ra những thay đổi cần thiết trong mạng lưới thần kinh của họ.

Những khám phá về học tập và trí nhớ ở cấp độ phân tử bắt nguồn từ chính quá khứ của Kandel.

Kandel sinh năm 1929 tại Vienna, một thành phố giàu có về văn hóa và trí tuệ. Nhưng Kandel là người Do Thái, và Áo tại thời điểm đó là một quốc gia kịch liệt chống Do Thái. Vào tháng 3 năm 1938, khi Hitler tiến quân vào Vienna, sáp nhập Áo vào Đức, ông ta được đám đông chào đón, tôn sùng, và tổng giám mục Công giáo Vienna đã ra lệnh cho tất cả các nhà thờ treo cờ Đức quốc xã. Ngày hôm sau, tất cả bạn cùng lớp của Kandel - ngoại trừ một cô gái, người Do Thái duy nhất khác trong lớp - đã ngừng nói chuyện với ông và bắt đầu bắt nạt ông ta.

Đến tháng Tư, tất cả trẻ em Do Thái đều bị đuổi khỏi trường. Vào ngày 9 tháng 11 năm 1928— Kristallnacht, "đêm thủy tinh" (ngụ ý là các cửa kính thủy tinh bị đập vỡ) khi Đức quốc xã phá hủy tất cả các giáo đường ở Reich Đức, bao gồm cả Áo - họ đã bắt cha của Kandel. Người Do Thái ở Áo bị đuổi ra khỏi nhà của họ, và 30 ngàn đàn ông Do Thái bị gửi đến các trại tập trung vào ngày hôm sau.

Kandel viết, "Hơn 60 năm trôi qua nhưng đến tận ngày nay tôi vẫn còn nhớ đến Kristallnacht, cứ như nó mới chỉ là ngày hôm qua. Nó rơi vào đúng 2 ngày sau sinh nhật lần thứ chín của tôi, khi đó tôi còn đang ngập chìm với các món đồ chơi  từ cửa hàng của cha tôi. Khi chúng tôi trở về căn hộ của mình một tuần sau khi bị đuổi, tất cả những thứ có giá trị đều bị mất, kể cả đồ chơi của tôi...

Ngay cả đối với một người được đào tạo về phân tâm học như tôi, có lẽ là vô ích khi cố gắng chỉ ra rằng những mối quan tâm và hành động phức tạp của cuộc sống về sau này của tôi do một vài trải nghiệm được lựa chọn của tuổi trẻ của tôi. Tuy nhiên, tôi không thể nào không tin rằng những trải nghiệm về năm cuối cùng của tôi ở Vienna giúp quyết định mối quan tâm sau này của tôi đối với tâm trí, về cách con người hành xử, tính khó đoán của động cơ và sự dai dẳng của ký ức… Tôi bị hành hạ, giống như những người khác, trước những sự kiện gây ra sang chấn của thời thơ ấu của tôi bị ghim chặt như thế nào trong ký ức.” 

Ông ta bị cuốn hút vào phân tâm học, vì ông tin rằng "cho đến nay nó vẫn là trường phái đưa ra quan điểm chặt chẽ, nhất quán, thú vị và đa sắc thái nhất về tâm trí con người" và, trong tất cả các trường phái tâm lý học, có sự hiểu biết toàn diện nhất về những mâu thuẫn, xung đột của hành vi con người, về cách mà những xã hội văn minh có thể đột ngột phóng thích "sự dã man tàn bạo ở quá nhiều người," và về một đất nước tưởng chừng văn minh như Áo lại có thể trở nên "tách rời hoàn toàn.” 

Phân tâm học (hay "phân tích") là một phương pháp điều trị giúp những người đang gặp rắc rối không chỉ bởi các triệu chứng mà còn bởi các khía cạnh trong tính cách của họ. Những vấn đề này xảy ra khi chúng ta có những xung đột nội tâm mạnh mẽ mà trong đó, như Kandel nói, những phần trong bản thân ta trở nên “tách rời” hoàn toàn hoặc cắt đứt với phần còn lại của chúng ta.

Trong khi sự nghiệp của Kandel đưa ông ta từ phòng khám đến phòng thí nghiệm khoa học thần kinh, thì Sigmund Freud bắt đầu sự nghiệp với tư cách là một nhà thần kinh học trong phòng thí nghiệm, nhưng vì ông quá nghèo nên không thể tiếp tục hành nghề, ông đã đi theo hướng ngược lại và trở thành một nhà thần kinh học trong thực hành tư nhân, để có được thu nhập đủ nuôi sống gia đình. Một trong những nỗ lực đầu tiên của ông là hợp nhất những gì ông đã học được về bộ não với tư cách là một nhà thần kinh học với những gì ông đang học hỏi về tâm trí trong khi điều trị cho bệnh nhân. Là một nhà thần kinh học, Freud sớm trở nên bất mãn với chủ nghĩa cục bộ thời bấy giờ-- nó dựa trên nghiên cứu của Broca và những người khác, và nhận ra rằng quan điểm về bộ não được lập trình không đủ để giải thích về những hoạt động tinh thần phức tạp, do văn hóa đòi hỏi, chẳng hạn như đọc và viết lại có thể làm được. Năm 1891, ông đã viết một cuốn sách có tựa đề On Aphasia, trong đó cho thấy những sai sót trong các bằng chứng hiện có về "một chức năng, một vị trí," và cho rằng các hiện tượng tinh thần phức tạp như đọc và viết không bị giới hạn ở những vùng vỏ não riêng biệt, và quan điểm của những người theo chủ nghĩa cục bộ cho rằng có một “trung tâm” não bộ dành cho khả năng biết đọc-biết viết là bất hợp lý, vì khả năng đọc viết không phải là điều bẩm sinh. Thay vào đó, bộ não trong quá trình sống của mỗi cá nhân chúng ta phải linh động tổ chức lại bản thân nó để thực hiện các chức năng do văn hóa đòi hỏi.

Năm 1895 Freud đã hoàn thành "Dự án Tâm lý học Khoa học", một trong những mô hình khoa học thần kinh toàn diện đầu tiên để hợp nhất bộ não và tâm trí, vẫn còn được nhiều người ngưỡng mộ bởi sự công phu của nó. Ở đây Freud nói đến "synapse," trước Sir Charles Sherrington vài năm. Trong "Dự án" Freud thậm chí còn mô tả về cách synapses, mà ông gọi là "các rào cản liên lạc," có thể thay đổi bởi những gì chúng ta học được, dự đoán về nghiên cứu của Kandel. Ông cũng bắt đầu đề xuất về ý tưởng khả biến thần kinh. 

Khái niệm tính dẻo (khả biến thần kinh) đầu tiên mà Freud phát triển là định luật cho rằng những tế bào thần kinh nào dùng sóng điện liên lạc với nhau thì sẽ kết hợp và tăng cường cho nhau, thường được gọi là định luật Hebb, mặc dù Freud đã đề xuất nó vào năm 1888, trước Hebb sáu mươi năm. Freud tuyên bố rằng khi hai nơ-ron đồng loạt bắn điện, việc bắn điện này tạo điều kiện thuận lợi cho sự liên kết giữa chúng. Freud nhấn mạnh rằng thứ liên kết các tế bào thần kinh chính là chúng cùng bắn điện cùng một lúc, và ông gọi hiện tượng này là quy luật liên kết bằng tính đồng thời. Quy Luật kết hợp giải thích tầm quan trọng của ý tưởng "liên tưởng tự do" của Freud, mà trong đó các bệnh nhân tham gia trị liệu phân tâm học nằm trên chiếc trường kỷ và "Liên tưởng-tự do," hoặc nói ra bất cứ thứ gì xuất hiện trong tâm trí họ, bất kể chúng có vẻ khó chịu , không thoải mái hoặc vặt vãnh thế nào. Nhà phân tích ngồi phía sau bệnh nhân, khuất tầm nhìn của bệnh nhân và thường nói rất ít. Freud nhận thấy rằng nếu ông ta không can thiệp, nhiều cảm xúc khó chịu và các kết nối thú vị sẽ xuất hiện trong liên tưởng của bệnh nhân — những ý nghĩ và cảm xúc mà bình thường bệnh nhân muốn xua đuổi. 

Liên tưởng tự do dựa trên nhận định rằng tất cả các liên tưởng tinh thần của chúng ta, ngay cả những liên tưởng có vẻ như xuất hiện “ngẫu nhiên” chẳng có ý nghĩa gì, là những biểu hiện của các liên kết được hình thành trong mạng lưới trí nhớ của chúng ta. Quy luật liên tưởng bằng tính đồng thời của ông ngụ ý những mối liên kết thay đổi trong mạng lưới thần kinh với những thay đổi trong mạng lưới trí nhớ của chúng ta, vì thế các nơ-ron bắn điện cùng nhau nhiều năm trước khi kết nối với nhau, và những liên kết gốc (ban đầu) này thường vẫn còn tồn tại và biểu lộ trong những liên tưởng tự do của bệnh nhân. 

Ý tưởng thứ hai về khả biến thần kinh của Freud đó là về giai đoạn tâm lý quan trọng và ý tưởng liên quan đến tính dẻo (khả biến thần kinh) về tình dục. Như ta đã thấy ở chương 4, Thị hiếu học được và Tình yêu," Freud là người đầu tiên cho rằng tính dục ở con người và khả năng yêu thương có những thời kỳ quan trọng trong thời kỳ thơ ấu mà ông gọi là "những giai đoạn tổ chức." Những gì xảy ra trong suốt giai đoạn quan trọng này có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng yêu thương và quan hệ của chúng ta sau này trong cuộc sống. Nếu có điều gì đó đi sai hướng, dù sau này ta có thể tạo ra những thay đổi trong cuộc sống, nhưng ta sẽ khó mà đạt được sự thay đổi về tính dẻo (khả biến thần kinh) sau khi giai đoạn quan trọng đã đóng

Ý tưởng thứ ba của Freud đó là quan điểm về tính dẻo (khả biến thần kinh) về trí nhớ. Ý tưởng Freud được kế thừa từ các giáo viên của ông đó là các sự kiện mà chúng ta trải nghiệm có thể để lại dấu vết ký ức vĩnh viễn trong tâm trí chúng ta. Nhưng khi ông bắt đầu làm việc với bệnh nhân, ông quan sát thấy các ký ức không phải được ghi lại chỉ duy nhất một lần, hoặc “khắc ghi” mãi mãi không thay đổi. Mà chúng có thể được thay đổi bởi các sự kiện tiếp theo và được sao chép lại. Freud quan sát thấy rằng các sự kiện có thể thay đổi ý nghĩa đối với bệnh nhân nhiều năm sau khi chúng đã xảy ra, và sau đó các bệnh nhân ấy đã thay đổi những ký ức của họ về các sự kiện đó. Những đứa trẻ từng bị lạm dụng tình dục khi còn rất bé và không thể hiểu được người khác đã gây ra chuyện gì với chúng thì không phải lúc nào cũng nổi giận vào thời điểm đó, và những ký ức ban đầu của chúng không phải lúc nào cũng tiêu cực. Nhưng khi họ trưởng thành về mặt tình dục và nhìn nhận lại vụ việc và trao cho nó ý nghĩa mới, và kí ức của họ về chuyện lạm dụng tình dục đã thay đổi.

 Vào năm 1896, Freud đã viết rằng thỉnh thoảng, những dấu vết ký ức phải chịu sự sắp xếp lại cho phù hợp với những hoàn cảnh mới.-và được sao chếp lại Do đó, điều mới mẻ về lý thuyết của tôi đó là luận điểm cho rằng ký ức không chỉ hiện diện một lần mà là nhiều lần." Các ký ức liên tục được sửa lại, "trong mọi phương diện tương tự như quá trình mà một quốc gia xây dựng nên những huyền thoại về lịch sử ban đầu của nó." Freud cho rằng, để thay đổi, các ký ức phải được nhận thức và trở thành trung tâm chú ý của chúng ta, như các nhà khoa học thần kinh đã chỉ ra. Thật không may, đối với trường hợp của Anh L, những ký ức sang chấn tâm lý của các sự kiện đã xảy ra thời thơ ấu không dễ dàng tiếp cận được đến ý thức, bởi thế mà chúng không thay đổi.

Ý tưởng về khả biến thần kinh thứ tư của Freud giúp lý giải làm thế nào ta có thể khiến những ký ức sang chấn trong vô thức trồi lên bề mặt ý thức và biên tập lại chúng. Ông quan sát thấy Trong sự thiếu hụt cảm giác nhẹ được tạo ra bởi việc ông ngồi khuất tầm nhìn của bệnh nhân, và chỉ bình luận khi ông hiểu rõ vấn đề của họ, bệnh nhân bắt đầu xem ông như nhân vật quan trọng trong quá khứ của họ, thường là cha mẹ của họ, đặc biệt là trong thời kỳ tâm lý quan trọng của họ. Cứ như thể các bệnh nhân đang sống lại những ký ức trong quá khứ mà không nhận ra điều đó. Freud gọi hiện tượng vô thức này là “sự chuyển dịch” vì bệnh nhân đang chuyển những kịch bản và cách nhìn nhận từ quá khứ sang hiện tại. Họ đã "làm sống lại" chúng thay vì "nhớ lại" chúng.

Một nhà phân tâm đứng khuất khỏi tầm nhìn và nói rất ít, trở thành một cái màn hình trống mà bệnh nhân bắt đầu phóng chiếu sự chuyển dịch của anh ta. Freud phát hiện thấy những bệnh nhân này không chỉ phóng chiếu những “chuyển dịch” này sang ông ta mà còn sang cả những người khác trong cuộc sống của họ, và họ không ý thức được mình đang làm điều này, và cách nhìn nhận méo mó về người khác thường khiến họ vướng phải rắc rối. Giúp bệnh nhân hiểu được sự chuyển dịch của họ cho phép họ cải thiện các mối quan hệ của họ. Điều quan trọng nhất là, Freud phát hiện ra sự chuyển dịch của những cảnh sang chấn tâm lý đầu đời có thể thay đổi được nếu ông ta chỉ cho bệnh nhân thấy điều gì đang diễn ra khi sự chuyển dịch bị kích hoạt và bệnh nhân chú ý kỹ đến chúng. Do đó các mạng nơ-ron thần kinh bên dưới, và các ký ức liên tưởng, có thể được ghi lại và được thay đổi. 

Anh L. mất mẹ lúc 26 tháng tuổi. Độ tuổi mà sự thay đổi tính dẻo của đứa trẻ đạt mức đỉnh điểm; các hệ thống não mới đang hình thành và tăng cường các kết nối thần kinh, và các bản đồ não đang phân hóa và hoàn thiện cấu trúc cơ bản của chúng với sự trợ giúp của kích thích và tương tác với thế giới. Bán cầu não phải thì vừa mới hoàn thành sự tăng trưởng bứt phá, và bán cầu não trái đang bắt đầu bứt phá.

Bán cầu não phải thường xử lý giao tiếp phi ngôn ngữ; nó cho phép chúng ta nhận diện khuôn mặt và đọc được các biểu cảm trên khuôn mặt, và nó kết nối chúng ta với người khác. Do đó, nó xử lý các tín hiệu thị giác phi ngôn ngữ giữa người mẹ và đứa bé. Nó cũng xử lý yếu tố cảm xúc ẩn chứa trong lời nói, hoặc giọng nói, mà qua đó chúng ta truyền đạt cảm xúc. Trong giai đoạn tăng trưởng bứt phá của bán cầu não phải từ khi sinh ra đến năm 2 tuổi, các chức năng này trải qua những giai đoạn quan trọng.

Bán cầu não trái thường xử lý các yếu tố ngôn ngữ của lời nói, trái ngược với các yếu tố cảm xúc của lời nói, và phân tích vấn đề bằng cách xử lý ý thức. Em bé có bán cầu não phải lớn hơn, cho đến cuối năm thứ hai, và bởi vì bán cầu não trái mới chỉ bắt đầu phát triển, cho nên bán cầu não phải của chúng ta thống trị não bộ trong ba năm đầu đời.

Đứa bé 26 tháng tuổi là một sinh vật cảm xúc phức tạp thiên về "não phải" nhưng không thể nói về những trải nghiệm của chúng, vì đó là một chức năng của não trái. Quét não cho thấy trong hai năm đầu đời, người mẹ chủ yếu giao tiếp phi ngôn ngữ để chạm được đến bán cầu não phải của đứa con cô ấy.

Một giai đoạn quan trọng đặc biệt kéo dài từ khoảng 10-12 tháng đến 16-18 tháng, trong đó một khu vực quan trọng của thùy trán phải đang phát triển và định hình các mạch não sẽ cho phép trẻ sơ sinh duy trì những mối gắn bó của con người và điều chỉnh cảm xúc. Khu vực trưởng thành này, phần não phía sau mắt phải của chúng ta, được gọi là hệ thống trán ổ mắt bên phải. (Hệ thống vỏ não trán ổ mắt có khu vực trung tâm của nó nằm ở vỏ não trán ổ mắt, đã được thảo luận trong chương 6, nhưng "hệ thống" bao gồm các liên kết đến hệ viền limbic, xử lý cảm xúc.) Hệ thống này cho phép chúng ta đọc được những biểu cảm cảm trên khuôn mặt người, và do đó cũng là những cảm xúc của họ, và cũng hiểu và kiểm soát được những cảm xúc của chúng ta. Ông L khi mới 26 tháng tuổi đã hoàn thành sự phát triển vùng trán ổ mắt nhưng sẽ không có cơ hội củng cố nó.  

Một người mẹ ở bên con trong giai đoạn quan trọng để phát triển cảm xúc và sự gắn bó, liên tục dạy cho trẻ cảm xúc là gì bằng cách sử dụng lời nói đầy cảm xúc và những cử chỉ không lời. Khi bà ấy nhìn con mình nuốt nhiều không khí cùng với sữa khi bú, bà ấy có thể nói: "Đây, đây, cục cưng, trông con khó chịu quá”, đừng sợ, bạn bị đau bụng vì bạn bú quá nhanh. Để Mẹ vỗ vỗ cho bạn ợ, và ôm ấp bạn khiến bạn cảm thấy mọi chuyện đều ổn. Bà ấy đang nói cho đứa trẻ biết tên của cảm xúc (sợ hãi), rằng nó có một yếu tố kích hoạt (cô bé bú quá nhanh), rằng cảm xúc được truyền đạt bằng biểu cảm trên khuôn mặt ("trông con khó chịu quá"), rằng nó có liên quan đến cảm giác cơ thể (đau quặn bụng) và tìm đến người khác để được an ủi thường sẽ có ích ("Để mẹ vỗ vỗ cho bạn ợ và ôm bạn"). Người mẹ đó đã cho đứa con một khóa huấn luyện về nhiều khía cạnh của cảm xúc được truyền tải không chỉ bằng lời nói mà còn bằng cảm xúc yêu thương trong giọng nói của bà và sự trấn an từ cử chỉ điệu bộ của bà. 

Để đứa trẻ hiểu được và điều chỉnh được cảm xúc của chúng và và biết kết nối xã hội, chúng cần được trải nghiệm kiểu tương tác này hàng trăm lần trong thời kỳ quan trọng và sau đó củng cố nó sau này trong cuộc sống. 

Anh L. mất mẹ chỉ vài tháng sau khi hoàn thành việc phát triển hệ thống trán ổ mắt của mình. Vì vậy nó phụ thuộc vào người khác, mà bản thân họ cũng đang buồn khổ và do đó kém nhạy cảm, ít quan tâm đến anh bằng mẹ, để giúp anh ta sử dụng và thực hành hệ thống trán ổ mắt của mình, nếu không nó sẽ bắt đầu bị suy yếu. Những trẻ mồ côi mẹ lúc bé gần như luôn luôn bị đập bởi hai trận đòn tàn khốc: cái chết cướp mất mẹ của cậu ta và bệnh trầm cảm thì cướp đi người bố của cậu. Nếu những người khác không thể giúp anh ta xoa dịu bản thân và điều chỉnh cảm xúc của mình như cách mẹ anh ta đã làm, thì anh sẽ học cách "tự động-điều chỉnh" bằng cách dập tắt cảm xúc của mình. Khi Anh L đi điều trị tâm lý, anh vẫn có xu hướng dập tắt cảm xúc này và gặp khó khăn trong việc duy trì những mối gắn bó. 

Rất lâu trước khi có công nghệ quét hình ảnh của vỏ não trán ổ mắt, các nhà phân tâm học đã nhận thấy những đặc điểm của những đứa trẻ thiếu thốn tình mẹ trong giai đoạn quan trọng đầu đời. Trong Thế chiến II, Rene Spitz đã nghiên cứu những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi chính mẹ của chúng trong tù, so với những trẻ được nuôi ở một trại trẻ mồ côi, nơi một y tá chịu trách nhiệm chăm sóc bảy đứa trẻ. Những đứa trẻ ở trại mồ côi đã ngừng phát triển trí tuệ, không thể kiểm soát được cảm xúc của chúng và làm những động tác tay kỳ quặc. Chúng cũng bước vào trạng thái “tắt nguồn" và vô cảm với thế giới, không phản ứng với những người cố gắng trấn an chúng. Trong các bức ảnh, những đứa trẻ này có một cái nhìn xa xăm, ám ảnh trong mắt chúng. Trạng thái tắt nguồn hay "tê liệt" xảy ra khi trẻ từ bỏ mọi hy vọng tìm lại được người cha người mẹ đã mất của mình. Nhưng làm sao Anh L , người từng trải qua trạng thái tương tự, lại có thể ghi nhận được những trải nghiệm đầu đời đó trong trí nhớ của anh? 

Các nhà thần kinh học nhận ra có hai hệ thống trí nhớ chính. Cả hai đều thay đổi về tính dẻo (thần kinh) trong tâm lý trị liệu.

Hệ thống trí nhớ được phát triển tốt ở đứa trẻ 26 tháng tuổi được gọi là trí nhớ “ẩn tàng” hay trí nhớ "tiến trình". Những thuật ngữ này thường được Kandel sử dụng thay thế cho nhau. Trí nhớ ẩn tàng hoạt động khi chúng ta học một tiến trình hoặc một nhóm các hành động tự động, diễn ra bên ngoài sự tập trung chú ý của chúng ta, mà nhìn chung là không yêu cầu về từ ngữ. Những tương tác phi ngôn ngữ của chúng ta với mọi người và nhiều ký ức cảm xúc của chúng ta là một phần của hệ thống trí nhớ tiến trình. Kandel nói, "Trong 2-3 năm đầu đời, khi tương tác của trẻ sơ sinh với mẹ đặc biệt quan trọng, trẻ sơ sinh chủ yếu dựa vào hệ thống trí nhớ tiến trình của nó." Những ký ức tiến trình nhìn chung là thuộc về vô thức. Đạp xe đạp phụ thuộc vào trí nhớ tiến trình, và hầu hết mọi người đạp xe một cách dễ dàng sẽ cảm thấy lúng túng, khó khăn để giải thích chính xác cách họ thực hiện việc đó. Hệ thống trí nhớ tiến trình xác nhận rằng chúng ta có những ký ức vô thức, như đề xuất của Freud. 

Hình thức khác của trí nhớ được gọi là trí nhớ "rõ ràng" hay trí nhớ "quy nạp”, mới bắt đầu phát triển ở độ tuổi 26 tháng. Trí nhớ rõ ràng hồi tưởng lại những sự kiện và tình tiết cụ thể. Đó là trí nhớ chúng ta sử dụng khi ta mô tả và làm rõ những gì ta đã làm vào cuối tuần, và với ai, và trong bao lâu. Nó giúp chúng ta sắp xếp ký ức của mình theo thời gian và địa điểm. Trí nhớ rõ ràng được hỗ trợ bởi ngôn ngữ và trở nên quan trọng hơn một khi trẻ có thể nói chuyện.

Những người đã bị sang chấn trong 3 năm đầu đời của họ có thể được cho là nếu có thì cũng chỉ có rất ít ký ức rõ ràng về sang chấn của họ. (Anh L. nói rằng anh không có một ký ức nào trong 4 năm đầu đời của mình.) Nhưng những ký ức tiến trình/ẩn tàng về những chấn thương này vẫn còn đó và thường được gợi lên hoặc kích hoạt khi con người gặp phải những tình huống giống với sang chấn tâm lý. Những ký ức như vậy thường bỗng dưng ở đâu tìm đến ta và dường như không được phân loại theo thời gian, địa điểm và bối cảnh, giống như đa số ký ức rõ ràng. Những ký ức tiến trình về tương tác tình cảm thường lặp đi lặp lại trong cơ chế chuyển dịch, hoặc trong cuộc sống.

Ký ức rõ ràng được phát hiện thông qua quan sát một trường hợp về trí nhớ nổi tiếng nhất trong khoa học thần kinh - một thanh niên tên H.M., bị động kinh nặng. Để điều trị, các bác sĩ đã cắt một phần não của anh có kích thước bằng ngón tay cái của con người, hồi hải mã. (Trên thực tế có tới hai "hồi hải mã," ở mỗi bên bán cầu não, và cả hai đều bị cắt bỏ.). Sau khi phẫu thuật H.M. lúc đầu trông có vẻ bình thường. Anh ấy nhận ra gia đình và có thể giao tiếp trò chuyện. Nhưng chẳng bao lâu sau khi làm phẫu thuật, anh ta không thể học thêm bất kì sự kiện mới nào. Khi các bác sĩ đến thăm và trò chuyện với anh, và rời đi, rồi sau đó quay lại, anh ấy không có ký ức gì về cuộc gặp trước đó. Chúng ta học được từ trường hợp của H.M, rằng hồi hải mã biến các ký ức rõ ràng, trong ngắn hạn của chúng ta thành ký ức rõ ràng, dài hạn, về con người, sự việc và nơi chốn—những ký ức mà chúng ta có thể truy cập được (về ý thức). 

Phân tâm học giúp bệnh nhân đưa những ký ức tiến trình và hành động vô thức của họ thành từ ngữ/lời nói và đặt vào bối cảnh, để họ có thể hiểu rõ hơn về chúng. Trong quá trình họ ghi lại những ký ức tiến trình này, để họ trở nên ý thức về các ký ức tiến trình, đôi lúc, lần đầu tiên trong đời, và bệnh nhân không cần phải “sống lại" hoặc "tái diễn lại" chúng, đặc biệt nếu chúng là sang chấn tâm lý.  

Anh L. đã nhanh chóng làm trị liệu phân tâm học và làm liên tưởng tự do và bắt đầu phát hiện thấy, giống như nhiều bệnh nhân khác, những giấc mơ từ đêm hôm trước thường xuất hiện trong đầu. Chẳng mấy chốc, anh bắt đầu thông báo về giấc mơ cứ tái diễn, trở đi trở lại của mình về việc tìm kiếm một đồ vật không xác định, nhưng bổ sung thêm nhiều chi tiết mới— "đồ vật đó" có thể là một con người: 

Vật thể bị mất có thể là một phần của tôi, có thể không, có thể là đồ chơi, vật sở hữu hoặc một người. Tôi nhất định phải có nó. Tôi sẽ nhận ra nó khi tôi tìm thấy nó. Nhưng đôi lúc tôi cũng không chắc chắn liệu nó có tồn tại hay không, và do đó tôi không chắc về thứ bị mất.

Tôi chỉ cho anh thấy một kiểu mẫu đang xuất hiện. Anh thông báo không chỉ có những giấc mơ đó mà còn cả những cơn trầm cảm và cảm giác tê liệt của anh sau những kỳ nghỉ cũng làm gián đoạn công việc của chúng tôi. Lúc đầu, anh ta không tin tôi, nhưng những cơn trầm cảm và giấc mơ mất mát - có thể là về một ngườivẫn tiếp tục xuất hiện vào những lúc nghỉ ngơi. Sau đó anh ấy nhớ lại rằng sự gián đoạn trong công việc cũng dẫn đến những cơn trầm cảm bí ẩn.

Những ý nghĩ trong giấc mơ tìm kiếm tuyệt vọng của anh được liên kết, trong trí nhớ của anh, với sự chăm sóc bị gián đoạn, ngắt quãng, và các tế bào thần kinh mã hóa những ký ức này có lẽ được kết nối với nhau trong quá trình phát triển đầu đời của anh ta. Nhưng anh không còn ý thức được mối liên kết quá khứ này. “Đồ chơi bị mất" trong giấc mơ là manh mối cho thấy nỗi khổ hiện tại của anh ta được tô màu bởi những mất mát thời thơ ấu. Nhưng giấc mơ ngụ ý rằng sự mất mát đang xảy ra ngay bây giờ. Quá khứ và hiện tại đã được trộn lẫn với nhau, và một sự chuyển dịch đã được kích hoạt. Và ngay lúc đó, tôi, với tư cách là một nhà phân tâm, đã làm việc mà một bà mẹ nhạy cảm vẫn hay làm, khi bà ấy phát triển hệ thống trán ổ mắt của anh, bằng cách chỉ ra những cảm xúc cơ bản — giúp anh gọi tên những cảm xúc của mình, cái gì kích hoạt chúng, và chúng ảnh hưởng như thế nào đến trạng thái thể chất và tâm lý của anh. Chẳng mấy chốc, anh ấy đã có khả năng phát hiện được yếu tố kích hoạt và các cảm xúc của mình.

Những sự gián đoạn gợi lên ba kiểu ký ức tiến trình khác nhau: một trạng thái lo lắng, trong đó anh ta đang mòn mỏi chờ đợi và tìm kiếm người mẹ và gia đình đã mất của mình; một trạng thái chán nản, trong đó anh ta tuyệt vọng tìm thấy điều mà anh ta đang tìm; và một trạng thái tê liệt, khi anh dập tắt và thời gian như đứng lại, có lẽ bởi vì anh cảm thấy hoàn toàn bị choáng ngợp.

Bằng cách nói về những trải nghiệm ấy, lần đầu tiên trong đời trưởng thành của mình, anh có thể kết nối cuộc tìm kiếm tuyệt vọng của mình với yếu tố kích hoạt thực sự của nó, sự mất mát của một người, và nhận ra tâm trí và bộ não của anh vẫn hợp nhất quan điểm về sự ly biệt với ý tưởng về cái chết của mẹ anh. Khi tạo ra những kết nối này, và cũng nhận ra rằng anh không còn là một đứa trẻ bất lực, anh cảm thấy đỡ choáng ngợp.

Theo thuật ngữ khả biến thần kinh, kích hoạt và chú ý kỹ đến mối liên kết giữa những lần xa cách hằng ngày và phản ứng thảm họa của anh trước chúng cho phép anh ngắt mối liên kết và thay đổi mô hình. 

Khi Anh L. trở nên ý thức rằng anh ta đang phản ứng trước những lần xa cách (trong thời gian ngắn) của chúng tôi như thể chúng là những mất mát lớn, anh có một giấc mơ như sau:

Tôi cùng với một người đàn ông đang di chuyển một chiếc hộp bằng gỗ lớn có đựng một quả cân bên trong.

Khi anh liên tưởng tự do đến giấc mơ, nhiều ý nghĩ xuất hiện trong tâm trí. Chiếc hộp khiến anh nhớ đến hộp đồ chơi của mình nhưng cũng là một cỗ quan tài. Giấc mơ dường như đang nói bằng những hình ảnh mang tính biểu tượng rằng anh ta đang mang theo gánh nặng của cái chết của mẹ mình. Sau đó, người đàn ông trong giấc mơ nói: "Hãy nhìn vào cái giá bạn đã trả cho chiếc hộp này". Tôi bắt đầu bị bóc trần, và chân tôi đang trong tình trạng thê thảm, đầy sẹo, đóng đầy vảy, và được chữa lành bằng một cục u là một phần đã chết của tôi. Tôi không biết cái giá phải trả sẽ đắt như thế này

Những lời như "Tôi không biết cái giá (phải trả) sẽ đắt như thế này" được liên kết trong tâm trí anh cùng với việc anh càng ngày càng nhận ra mình vẫn bị ảnh hưởng bởi cái chết của mẹ. Anh từng bị thương và vẫn còn “vết sẹo”. Ngay sau khi nói lên suy nghĩ đó, anh dần chìm vào im lặng và có được một trong những sự giác ngộ lớn của cuộc đời anh. "Bất cứ khi nào tôi ở bên một người phụ nữ," anh nói, "Tôi liền nghĩ rằng cô ấy không phải người dành cho mình, và tôi tưởng tượng rằng đâu đó ngoài kia sẽ có một vài người phụ nữ lý tưởng khác, đang đợi tôi." Sau đấy, nghe có vẻ sốc, anh nói, "Tôi chợt nhận ra rằng những người phụ nữ khác đó dường như là một thứ cảm giác mơ hồ về mẹ mà tôi có khi còn bé, và bà ấy là người mà tôi phải chung thủy, nhưng cũng là người mà tôi không bao giờ tìm thấy. Người phụ nữ mà tôi đang ở bên trở thành mẹ nuôi của tôi, và yêu cô ấy tức là đang phản bội lại người mẹ ruột của tôi.” 

Anh ta đột nhiên nhận ra thôi thúc lừa dối (vợ) xảy ra khi anh gần gũi hơn với vợ, đang đe dọa sự ràng buộc giấu kín của anh với mẹ anh. Sự không chung thủy của anh ta luôn luôn phục vụ cho một sự chung thủy “cao hơn” trong vô thức. Tiết lộ này cũng là dấu vết đầu tiên cho thấy anh đã ghi nhận một vài kiểu gắn bó với mẹ anh.

Khi tôi tiếp tục tự hỏi liệu anh ta có thể coi tôi với tư cách là người đàn ông (trong giấc mơ của anh ta), người nói rằng anh ta cảm thấy bị tổn thương như thế nào, lần đầu tiên trong quãng đời trưởng thành của anh, Anh L đã bật khóc. 

Anh L. không khá hơn ngay lập tức. Trước tiên anh ấy phải trải qua các chu kỳ tách biệt, những giấc mơ, trầm cảm và bừng ngộ - sự lặp đi lặp lại, hay "nỗ lực" là cần thiết để thay đổi khả biến thần kinh về lâu dài. Những cách liên kết mới phải được học, kết nối các nơ-ron mới lại với nhau, và những cách phản ứng cũ phải bị gạt bỏ, quên đi để làm suy yếu các liên kết thần kinh. Vì Anh L đã liên kết các ý tưởng về sự biệt ly và cái chết, nên chúng đã được kết nối với nhau trong mạng lưới thần kinh của anh ta. Bây giờ anh ta đã nhận ra mối liên kết của mình thì anh ta có thể gỡ bỏ nó. 

Tất cả chúng ta đều có cơ chế phòng vệ, các kiểu phản ứng, nhằm che giấu những tư tưởng, cảm xúc và ký ức đau đớn không thể chịu đựng nổi, không cho chúng trồi lên bề mặt ý thức. Một trong những phòng vệ này được gọi là sự phân ly (dissociation) giữ cho các ý tưởng hoặc cảm giác gây đe dọa tách biệt với phần còn lại của tâm lý. Trong phân tâm, Anh L bắt đầu có cơ hội tái trải nghiệm những ký ức tự thuật đau đớn về việc tìm kiếm mẹ bị đóng băng bởi thời gian và phân lý/tách ra khỏi những ký ức có ý thức của anh ta. Mỗi lần anh làm vậy, anh cảm thấy toàn vẹn hơn khi các nhóm nơ-ron mã hóa các ký ức của anh từng bị mất kết nối thì giờ đây được kết nối lại. 

Các nhà phân tâm học kể từ Freud đã lưu ý rằng một số bệnh nhân trong khi làm phân tâm đã phát triển những cảm xúc mạnh mẽ đối với nhà phân tâm. Điều này đã xảy ra trong trường hợp của Anh L.   Một cảm giác thân thiết tích cực và ấm áp được phát triển giữa chúng tôi. Freud cho rằng những cảm xúc tích cực, mạnh mẽ được chuyển dịch đó đã trở thành một trong nhiều động cơ thúc đẩy việc chữa lành. Theo thuật ngữ khoa học thần kinh, điều này có thể giúp ích vì cảm xúc và mô hình chúng ta biểu lộ trong các mối quan hệ là một phần của hệ thống trí nhớ tiến trình. Khi các mô hình như vậy được kích hoạt trong trị liệu, nó cho bệnh nhân cơ hội nhìn vào chúng và thay đổi chúng, như chúng ta đã thấy trong chương 4, "Những thị hiếu do học được và tình yêu," những mối quan hệ, gắn bó tích cực dường như tạo điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi về tính dẻo thần kinh bằng cách kích hoạt sự gỡ bỏ và làm tan biến những mạng thần kinh đang tồn tại, vì vậy bệnh nhân có thể thay đổi ý định hiện có của mình.

"Không còn nghi ngờ gì nữa", Kandel viết, "trị liệu tâm lý có thể dẫn đến những thay đổi có thể tìm thấy trong não." Quét não gần đây được thực hiện trước và sau khi trị liệu tâm lý cho thấy cả não bộ tự tổ chức lại bản thân nó (về tính dẻo) trong trị liệu và việc trị liệu càng thành công thì sự thay đổi càng lớn. Khi bệnh nhân sống lại những sang chấn tâm lý của họ và có những hồi ức và cảm xúc không thể kiểm soát, dòng máu chảy đến thùy trước trán và thùy trán-- giúp điều chỉnh hành vi của chúng ta--bị suy giảm, cho thấy những khu vực này ít hoạt động, kém tích cực. Theo nhà phân tâm học-thần kinh Mark Solms và nhà khoa học thần kinh Oliver Turnbull, "Mục đích của phương pháp trị liệu bằng cách trò chuyện...từ quan điểm của sinh học thần kinh  [là] để mở rộng phạm vi ảnh hưởng của thùy trước trán.” 

Một nghiên cứu trên bệnh nhân trầm cảm được điều trị bằng liệu pháp tâm lý liên cá nhân -- một liệu pháp ngắn hạn, một phần dựa trên nghiên cứu lý thuyết của hai nhà phân tâm học, John Bowlby và Harry Stack Sullivancho thấy hoạt động của não trước trán được bình thường hóa khi điều trị. (Hệ thống trán ổ mắt phải, rất quan trọng trong việc nhận biết và điều chỉnh cảm xúc và các mối quan hệmột chức năng đã bị xáo trộn ở Anh Llà một phần của vỏ não trước trán.) Một nghiên cứu quét não bộ fMRI gần đây về bệnh nhân lo âu với rối loạn hoảng sợ cho thấy hệ viền limbic của họ có xu hướng bị kích hoạt một cách bất thường bởi kích thích đe dọa tiềm tàng, đã giảm sau khi trị liệu phân tâm học.

Khi Anh L. bắt đầu hiểu các triệu chứng sau-sang chấn tâm lý của mình, anh ta bắt đầu “điều chỉnh” cảm xúc của bản thân tốt hơn. Anh thông báo rằng bên ngoài phòng trị liệu phân tâm, anh đã có khả năng kiểm soát bản thân nhiều hơn. Trạng thái tê liệt bí ẩn của anh giảm đi. Khi anh có những cảm xúc đau đớn, anh không còn mượn rượu giải sầu như trước đây. Bây giờ Anh L bắt đầu bớt cảnh giác và ít phòng thủ hơn. Anh cảm thấy thoải mái hơn khi bộc lộ sự tức giận và cảm thấy gần gũi hơn với các con của anh. Anh ngày càng sử dụng các buổi trị liệu để đối mặt với nỗi đau của mình thay vì dập tắt nó. Bây giờ Anh L rơi vào những khoảng lặng kéo dài có một tác động sâu sắc đến anh. Vẻ mặt của anh cho thấy anh đang vô cùng đau đớn, đang cảm nhận một nỗi buồn khủng khiếp, mà anh không thể nói nên lời. 

Bởi vì những cảm xúc của anh ấy về sự ra đi của người mẹ không được nói đến khi anh còn bé, và cả gia đình xử lý với nỗi đau bằng cách cứ tiếp tục sinh hoạt như bình thường, và vì anh ấy đã im lặng quá lâu, tôi đánh liều và thử diễn đạt bằng lời những cử chỉ phi ngôn ngữ của anh ấy. Tôi nói, "Như thể anh đang nói với tôi, có lẽ anh từng muốn nói với gia đình anh rằng, Mọi người có thấy không, sau mất mát khủng khiếp này, tôi phải trầm cảm ngay bây giờ?'“ 

Anh bật khóc lần thứ hai trong trị liệu phân tâm. Lúc đang khóc, anh bắt đầu lè lưỡi một cách bản năng và nhịp nhàng, làm anh trông giống một đứa bé bị tước khỏi bầu vú mẹ và đang thè lưỡi để tìm nó. Sau đó anh che mặt, đưa tay vào miệng như một đứa trẻ hai tuổi, và khóc nức nở. Anh nói, "Tôi muốn được an ủi vì những nỗi đau và mất mát của mình, nhưng đừng đến quá gần để an ủi tôi. Tôi muốn được ở một mình với nỗi đau của tôi. Anh không thể hiểu được đâu, vì ngay cả tôi cũng chẳng hiểu nổi. Đó là nỗi đau quá lớn.” 

Nghe điều này, cả hai chúng tôi đều biết rằng anh ấy thường giữ lập trường "từ chối sự an ủi" và nó góp phần gây ra sự “cách biệt” trong tính cách của anh ấy. Anh trải qua một cơ chế phòng vệ từng tạo nên từ thời bé và điều đó giúp anh phong tỏa nỗi mất mát to lớn của mình. Sự phòng thủ đó, bằng cách lặp đi lặp lại hàng ngàn lần, đã được củng cố về mặt tính dẻo thần kinh. Đây là điểm rõ ràng nhất trong tính cách của anh ấy, sự cách biệt của anh ấy, vốn không bị quy định về mặt di truyền, mà đó là do học được, và bây giờ nó đang được gỡ bỏ.

Có thể việc Anh L. khóc lóc và thè lưỡi ra như một đứa bé trông thật khác thường, nhưng nó là trải nghiệm đầu tiên trong nhiều trải nghiệm “trẻ con” mà anh ấy sẽ có trên trường kỷ. Freud quan sát thấy các bệnh nhân từng bị sang chấn tâm lý hồi bé thì thường sẽ, vào những khoảnh khắc then chốt, "thoái lui" (dùng thuật ngữ của ông ấy) và không chỉ nhớ những ký ức đầu đời mà còn trải nghiệm chúng theo cách giống như trẻ con. Điều này hoàn toàn hợp lý từ quan điểm khả biến thần kinh. Anh L vừa từ bỏ một cơ chế phòng vệ mà anh ta từng dùng khi bé—sự phủ nhận tác động cảm xúc của nỗi mất mát của anh — và nó đã phơi bày những ký ức và nỗi đau cảm xúc mà người bào chữa đã che giấu. Hãy nhớ lại về Bach-y- Rita đã mô tả một điều tương tự xảy ra ở những bệnh nhân đang trải qua quá trình tổ chức lại bộ não. Nếu một mạng lưới não bộ được thiết lập bị chặn lại thì những mạng lưới não bộ cũ hơn, đã tồn tại từ lâu trước mạng lưới được thiết lập, phải được sử dụng. Ông gọi điều này là "lột trần" những con đường thần kinh cũ hơn và cho rằng nó là một trong những cách chính mà bộ não tự tổ chức lại bản thân. Sự thoái lui trong phân tâm học ở cấp độ thần kinh, tôi tin rằng, là một ví dụ của sự bóc trần, thường xuất hiện trước việc tái tổ chức về mặt tâm lý. Đó là điều xảy ra với Anh L. 

Trong buổi trị liệu tiếp theo, anh thông báo rằng giấc mơ hay tái diễn của anh đã thay đổi. Lần này anh đến thăm ngôi nhà cũ của mình, đang tìm kiếm "những đồ vật của người lớn." Giấc mơ báo hiệu rằng một phần đã chết của anh ta sẽ hồi sinh lại: 

Tôi đi thăm một ngôi nhà cũ. Tôi không biết chủ nhà là ai, nhưng nó không phải của tôi. Tôi đang tìm kiếm thứ gì đó - bây giờ không phải là đồ chơi, mà là những đồ vật của người trưởng thành. Đó là vào đầu mùa xuân băng đang tan, cuối mùa đông. Tôi bước vào nhà, và đó là ngôi nhà nơi tôi sinh ra. Tôi nghĩ rằng ngôi nhà trống rỗng, nhưng vợ cũ của tôi - người mà tôi cảm thấy giống như một người mẹ tốt đối với tôixuất hiện từ phòng đằng sau, đang bị ngập lụt. Cô ấy chào đón tôi và vui vẻ khi gặp tôi, và tôi cảm thấy phấn chấn. Anh hiện lên từ cảm giác bị cô lập, bị cắt đứt khỏi mọi người và từ những bộ phận của chính mình. Giấc mơ là về "mùa xuân tan băng" đầy cảm xúc của anh ấy và một người giống như mẹ xuất hiện cùng anh trong ngôi nhà nơi anh từng trải qua thời thơ ấu của mình. Cuối cùng thì ngôi nhà không còn trống rỗng. Những giấc mơ tương tự tiếp theo, mà trong đó anh biến đổi quá khứ của mình, ý thức về bản thân anh, và cảm giác rằng anh từng có một người mẹ.

Một ngày nọ, anh đề cập đến một bài thơ về một người mẹ Ấn Độ đói khát, người đã cho đứa con của mình ăn miếng thức ăn cuối cùng trước khi chết. Anh không thể hiểu tại sao bài thơ lại khiến anh xúc động như vậy. Sau đó, anh dừng lại và khóc than, "Mẹ tôi đã hy sinh cuộc đời bà cho tôi!" Anh rên rỉ, toàn thân run rẩy, im lặng, rồi hét lên: "Tôi muốn mẹ tôi!

Anh L không bị chứng cuồng hysteria, nhưng hiện tại đang trải nghiệm tất cả những đau đớn cảm xúc mà các cơ chế phòng vệ của anh ta từng hất hủi, làm sống lại những suy nghĩ và cảm xúc mà anh có khi còn là một đứa trẻ— anh đang thoái lui và lột trần những mạng lưới trí nhớ cũ, thậm chí cả những cách nói chuyện. Nhưng một lần nữa điều này được theo sau bởi sự sắp xếp lại tâm lý ở cấp độ cao hơn.

Sau khi thừa nhận cảm giác vô cùng nhớ mẹ, anh đã đi viếng mộ bà lần đầu tiên trong đời. Giống như là một phần trong tâm tưởng của anh còn giữ khư khư lấy cái ý tưởng mầu nhiệm rằng bà còn sống. Bây giờ anh đã có thể chấp nhận, trong tận tâm can anh, rằng bà đã chết. 

Năm sau, Anh L lần đầu tiên trong quãng đời trưởng thành, đã yêu sâu đậm một người phụ nữ. Anh cũng trở nên chiếm hữu người yêu và có cảm giác ghen tuông như người bình thường, đó cũng là lần đầu tiên. Bây giờ anh đã hiểu được tại sao phụ nữ lại tức giận vì thái độ xa cách và thiếu cam kết của anh, và cảm thấy buồn và tội lỗi. Anh cũng cảm thấy mình đã khám phá ra một phần của bản thân anh từng liên kết với người mẹ và đã mất đi khi bà qua đời. Tìm thấy cái phần đó của bản thân từng yêu thương một người phụ nữ cho phép anh lại rơi vào lưới tình một lần nữa. Sau đó anh đã có giấc mơ cuối cùng của mình trong trị liệu phân tâm: 

Tôi thấy mẹ mình đang chơi piano, và sau đó tôi đi gặp người khác và khi tôi quay lại bà ấy đang nằm trong cỗ quan tài. 

Khi liên tưởng đến giấc mơ, anh giật mình khi thấy hình ảnh mình nhìn thấy mẹ anh đang nằm trong cỗ quan tài đang mở ta, chạm vào bà, và chết lặng khi nhận ra bà không đáp lại. Anh khóc lóc thảm thiết, và vượt qua nỗi đau ban sơ, toàn thân anh co giật trong mười phút. Khi anh dịu xuống, anh nói, "Tôi tin rằng đây là một ký ức về sự tỉnh dậy của mẹ tôi, được tiến hành với cỗ quan tài mở.” 

Anh L. đã cảm thấy tốt hơn, và khác xưa. Anh ta có mối quan hệ tình cảm ổn định với một người phụ nữ, mối quan hệ của anh với con cái trở nên sâu sắc hơn, và anh không còn giữ thái độ xa cách nữa. Trong buổi trị liệu cuối cùng của mình anh thông báo rằng anh đã nói chuyện với một người chị lớn tuổi, chị ấy xác nhận rằng trong đám tang mẹ mà anh có mặt, họ đã để mở quan tài. Khi chúng tôi chia tay, Anh L cảm thấy buồn nhưng không còn trầm uất hay tê liệt trước cái ý nghĩ ly biệt mãi mãi. Đã mười năm trôi qua kể từ khi anh hoàn thành trị liệu phân tâm, anh đã thoát khỏi những cơn trầm cảm nặng và nói rằng phân tâm học “đã thay đổi cuộc đời tôi và cho tôi nắm quyền kiểm soát nó.”

Nhiều người trong chúng ta, vì chứng mất trí nhớ ở trẻ sơ sinh, có thể không tin rằng người lớn có thể nhớ lại được những ký ức đã xảy ra quá lâu như Anh L. Sự nghi ngờ này từng phổ biến tới mức chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để xem xét về vấn đề này, nhưng các nghiên cứu mới cho thấy những trẻ sơ sinh trong 1 và 2 năm đầu đời có thể lưu giữ được những sự kiện, bao gồm cả những sự kiện sang chấn tâm lý. Mặc dù hệ thống trí nhớ rõ ràng không mạnh trong mấy năm đầu đời, nghiên cứu của Carolyn Rovee Collier và những người khác cho thấy nó thực sự tồn tại, ngay cả ở những trẻ sơ sinh chưa thể giao tiếp bằng lời nói. Trẻ em có thể nhớ được những sự kiện từ những năm đầu đời nếu chúng được nhắc. Những đứa trẻ lớn hơn có thể nhớ được các sự việc từng xảy ra trước khi chúng biết nói và một khi chúng học nói được thì chúng có thể diễn đạt thành lời những ký ức đó. Có những lúc Anh L đang làm điều này, lần đầu tiên diễn đạt bằng lời nói những sự việc mà anh ta từng trải qua. Những lần khác, khi anh bỏ chặn những sự kiện từng tồn tại trong ký ức rõ ràng của anh bấy lâu, chẳng hạn như ý nghĩ Mẹ đã hy sinh cuộc đời bà vì tôi, hoặc ký ức của anh ấy về sự thức giấc của mẹ, chúng được kiểm tra độc lập. Và những lần khác, anh "sao chép lại" những trải nghiệm từ hệ thống trí nhớ tiến trình của anh sang hế thống trí nhớ rõ ràng. Và thật thú vị, giấc mơ cốt lõi của anh ấy dường như ghi nhận rằng anh đang gặp 1 vấn đề lớn với trí nhớ của mình — anh đang tìm kiếm một thứ gì đó nhưng không thể nhớ được đó là gì—mặc dù anh cảm nhận được anh sẽ nhận ra nó nếu anh tìm thấy.

Tại sao các giấc mơ lại quá quan trọng trong phân tâm học, và nó có mối quan hệ gì với sự thay đổi tính dẻo thần kinh? Các bệnh nhân thường bị ám ảnh bởi những giấc mơ tái diễn về sang chấn tâm lý của họ và tỉnh dậy với nỗi kinh hoàng. Chừng nào họ vẫn còn ốm yếu (về tâm lý) thì những giấc mơ đó không thay đổi cấu trúc cơ bản của họ. Mạng lưới thần kinh đại diện cho sang chấn—chẳng hạn như giấc mơ của Anh L rằng anh ta đang bỏ quên một thứ gì đó — được kích hoạt lại liên tục.  Những bệnh nhân từng chịu sang chấn đó chỉ trở nên tốt hơn, những cơn ác mộng này dần ít đáng sợ hơn, cho đến khi cuối cùng bệnh nhân mơ thấy điều gì đó kiểu như Lúc đầu tôi nghĩ sang chấn đang tái phát, nhưng không phải vậy; bây giờ nó đã kết thúc rồi, tôi đã sống sót. Loạt giấc mơ theo tiến trình này cho thấy tâm trí và não bộ đang từ từ thay đổi, khi bệnh nhân biết rằng hiện tại anh ta đang an toàn. Để điều này xảy ra, các mạng lưới thần kinh phải gỡ bỏ được những mối liên kết nào đó - như Anh L đã gỡ bỏ mối liên kết giữa sự biệt ly và cái chết - và thay đổi các kết nối synap hiện có để mở đường cho những học hỏi mới. Có bằng chứng vật lý nào cho thấy các giấc mơ cho thấy bộ não của chúng ta đang trong quá trình thay đổi tính dẻo (thần kinh), thay đổi những ký ức có ý nghĩa về cảm xúc, đang bị che giấu cho đến nay, như trong trường hợp của Anh L? 

Các hình ảnh quét não mới nhất cho thấy rằng khi chúng ta mơ, phần não bộ xử lý cảm xúc, và các bản năng tình dục, sinh tồn và gây hấn của chúng ta hoạt động khá tích cực. Đồng thời hệ thống vỏ não trước trán, chịu trách nhiệm ức chế cảm xúc và bản năng, cho thấy hoạt động kém tích cực hơn.  Khi các bản năng được bật lên và những ức chế bị giảm xuống, bộ não đang mơ mộng có thể tiết lộ những thôi thúc, xung lực thường bị chặn khỏi nhận thức.

Kết quả của các nghiên cứu cho thấy rằng giấc ngủ giúp chúng ta củng cố việc học tập và trí nhớ và ảnh hưởng đến sự thay đổi tính dẻo thần kinh. Khi chúng ta học được một kỹ năng vào ban ngày, chúng ta sẽ giỏi hơn vào ngày hôm sau nếu chúng ta có một giấc ngủ ngon.

Một nhóm do Marcos Frank dẫn đầu cũng đã chỉ ra rằng giấc ngủ giúp tăng cường khả biến thần kinh trong giai đoạn quan trọng khi hầu hết sự thay đổi tính dẻo thần kinh diễn ra. Hãy nhớ lại chi tiết  Hubel và Wiesel đã chặn một mắt của một con mèo con trong giai đoạn quan trọng và cho thấy bản đồ não cho con mắt bị chặn đã bị chiếm bởi con mắt tốt— đây là trường hợp của việc sử dụng nó hay đánh mất nó. Nhóm của Frank đã làm thí nghiệm tương tự với hai nhóm mèo con, một nhóm bị thiếu ngủ và một nhóm khác thì ngủ đủ giấc. Họ phát hiện ra rằng mèo con càng được ngủ nhiều thì sự thay đổi tính dẻo thần kinh càng lớn trong bản đồ não bộ của chúng.

Trạng thái mơ cũng tạo điều kiện cho sự thay đổi tính dẻo thần kinh. Giấc ngủ được chia thành hai giai đoạn và hầu hết giấc mơ của chúng ta xảy ra ở một trong hai giai đoạn đó, được gọi là giấc ngủ REM (mắt chuyển động rất nhanh). Trẻ sơ sinh dành nhiều giờ trong giấc ngủ REM hơn người lớn và trong giai đoạn thơ ấu này, sự thay đổi tính dẻo thần kinh diễn ra ở tốc độ nhanh nhất. Trên thực tế, giấc ngủ REM là cần thiết cho sự phát triển tính dẻo của não bộ ở thời thơ ấu.

Một nhóm do Gerald Marks dẫn đầu đã thực hiện một nghiên cứu tương tự như Frank, xem xét tác động của giấc ngủ REM đối với mèo con và cấu trúc não của chúng. Marks nhận thấy ở những chú mèo con bị thiếu giấc ngủ REM, các tế bào thần kinh trong vỏ thị giác của chúng thực sự nhỏ hơn, vì vậy giấc ngủ REM dường như cần thiết cho các tế bào thần kinh phát triển bình thường. Giấc ngủ REM cũng được chứng minh là đặc biệt quan trọng để tăng cường khả năng lưu giữ ký ức cảm xúc của chúng ta và cho phép hồi hải mã biến những ký ức ngắn hạn của ngày hôm trước thành những ký ức dài hạn (nghĩa là nó giúp ký ức trở nên lâu dài hơn, dẫn đến thay đổi cấu trúc trong não). 

Mỗi ngày, trong trị liệu phân tâm, Anh L đã làm việc với những xung đột, ký ức và sang chấn cốt lõi của mình, và vào ban đêm, có bằng chứng về giấc mơ không chỉ của những cảm xúc bị chôn giấu của anh ấy mà còn bộ não của anh đang củng cố việc học và gỡ bỏ những điều mà anh từng học. 

Chúng ta hiểu được tại sao Anh L, lúc đầu làm trị liệu phân tâm, lại không có ký ức ý thức về bốn năm đầu đời: hầu hết những ký ức của anh ta về thời kỳ này là những ký ức tiến trình trong vô thứcnhững chuỗi tương tác cảm xúc tự động - và một vài ký ức rõ ràng mà anh có thì rất đau đớn, chúng bị kìm nén. Trong trị liệu, anh đã tiếp cận được đến ký ức tiến trình và ký ức rõ ràng của 4 năm đầu đời. Nhưng tại sao anh ta không thể hồi tưởng được những ký ức tuổi mới lớn của mình? Một khả năng là anh ta đã kìm nén một số ký ức thời thiếu niên; thông thường khi chúng ta kìm nén một điều gì đó, chẳng hạn như một sự mất mát bi kịch đầu đời, thì chúng ta cũng kìm nén những sự kiện khác hơi liên quan đến nó, để ngăn chặn ý thức tiếp cận được sự kiện gốc.

Nhưng cũng có một nguyên nhân khác. Gần đây người ta đã phát hiện ra sang chấn thời thơ ấu gây ra sự thay đổi lớn về tính dẻo thần kinh ở hồi hải mã, thu nhỏ nó, khiến cho những ký ức rõ ràng, dài hạn mới không thể hình thành được. Những động vật bị tách khỏi mẹ chúng phát ra tiếng kêu tuyệt vọng, rồi sau đó bước vào một trạng thái “tắt nguồn”— giống như những đứa trẻ sơ sinh của Spitz — và giải phóng một loại hormone gây căng thẳng có tên là "glucocorticoid." Glucocorticoids tiêu diệt các tế bào ở vùng hải mã để nó không thể tạo ra các kết nối synap trong các mạng thần kinh giúp cho việc học và trí nhớ dài hạn rõ ràng. Những căng thẳng đầu đời này khiến cho những con vật bị mất mẹ mắc phải các bệnh liên quan đến stress trong suốt quãng đời còn lại. Khi chúng trải qua quá trình ly biệt kéo dài, các gen bắt đầu sản xuất ra glucocorticoids được bật lên và duy trì trong thời gian dài. Sang chấn tâm lý ở trẻ sơ sinh dường như dẫn đến một sự siêu mẫn cảm - một sự biến đổi tính dẻo thần kinh - của các nơ-ron não bộ điều chỉnh glucocorticoids. Nghiên cứu gần đây ở người trưởng thành sống sót qua nạn bạo hành trẻ em cũng cho thấy những dấu hiệu của siêu mẫn cảm glucocorticoid kéo dài đến tận tuổi trưởng thành. 

Việc hồi hải mã co lại là một khám phá quan trọng về khả biến thần kinh và có thể giúp giải thích tại sao Anh L. có quá ít ký ức rõ ràng từ thời niên thiếu. Trầm cảm, căng thẳng cao và sang chấn thời thơ ấu đều giải phóng glucocorticoids và tiêu diệt các tế bào ở vùng hải mã, dẫn đến mất trí nhớ. Con người càng trầm cảm kéo dài thì hồi hải mã của họ càng teo nhỏ lại. Hồi hải mã của những người lớn bị trầm cảm từng bị sang chấn tâm lý thời thơ ấu trước tuổi dậy thì nhỏ hơn 18 phần trăm so với những người lớn bị trầm cảm nhưng chưa từng bị sang chấn tâm lý thời thơ ấu — một bất lợi của bộ não ni-lông: chúng ta thực sự bị mất đi ‘bất động sản’ vỏ não thiết yếu để đáp lại bệnh tật.

Nếu căng thẳng stress chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì sự suy giảm kích thước hồi hải mã chỉ là tạm thời. Nhưng nếu căng thẳng kéo dài quá lâu thì tổn hại sẽ là lâu dài. Khi người ta phục hồi khỏi chứng trầm cảm, những ký ức của họ quay lại, và nghiên cứu cho thấy hồi hải mã của họ có thể phát triển trở lại. Trên thực tế, hồi hải mã là một trong hai khu vực nơi các nơ-ron mới được tạo ra từ các tế bào gốc của chúng ta như là một phần của chức năng bình thường. Như Anh L từng bị tổn thương vùng hải mã, khi anh ấy phục hồi ở tuổi đôi mươi khi anh ta bắt đầu hình thành những ký ức rõ ràng trở lại.

Thuốc chống trầm cảm làm tăng số lượng tế bào gốc trở thành những tế bào thần kinh mới trong vùng hồi hải mã. Những con chuột được cho uống Prozac trong ba tuần đã tăng 70% số lượng tế bào trong vùng hải mã của chúng. Thông thường phải mất từ 3 đến 6 tuần để thuốc chống trầm cảm có hiệu lực ở người có lẽ là trùng hợp, cùng một khoảng thời gian để các tế bào thần kinh mới được sinh ra ở vùng hải mã trưởng thành, mở rộng (quy mô) của chúng và kết nối với các tế bào thần kinh khác. Vì vậy chúng ta có thể giúp người khác (mà không biết điều đó) thoát khỏi bệnh trầm cảm bằng cách sử dụng các loại thuốc giúp tăng cường tính dẻo của não bộ. Khi những người có tiến bộ trong trị liệu tâm lý cũng phát hiện thấy trí nhớ của họ cũng cải thiện, có thể nó cũng kích thích sự tăng trưởng tế bào thần kinh ở vùng hải mã của họ.

Nhiều thay đổi của Anh L có thể gây bất ngờ cho Freud, khi biết độ tuổi mà Anh L tham gia trị liệu phân tâm. Freud sử dụng thuật ngữ "độ dẻo tinh thần" để mô tả khả năng thay đổi của con người và nhận ra khả năng thay đổi nói chung ở con người dường như khác nhau. Ông cũng nhận thấy "sự suy giảm của tính dẻo" có xu hướng xảy ra ở nhiều người lớn tuổi, khiến họ trở nên “cứng nhắc, đứng yên và không thể thay đổi." Ông quy kết điều này là do "sức mạnh của thói quen " và viết, "Tuy nhiên, có một số người vẫn giữ được độ dẻo dai về tinh thần vượt xa giới hạn tuổi tác thông thường, và những người khác thì đánh mất nó từ rất sớm." Những người như vậy, theo quan sát của ông, gặp khó khăn lớn hơn để thoát khỏi các chứng rối loạn tâm thần của họ trong trị liệu phân tâm. Họ có thể kích hoạt sự chuyển dịch nhưng lại khó mà thay đổi chúng. Anh L. chắc chắn là có một cấu trúc tính cách cố định suốt hơn 50 năm. Vậy làm thế nào mà anh ta lại có khả năng thay đổi? 

Câu trả lời là một phần của câu đố lớn hơn mà tôi gọi là "nghịch lý của tính dẻo thần kinh" và tôi coi đó là một trong những bài học quan trọng nhất của cuốn sách này. Nghịch lý của tính dẻo thần kinh là các tính chất khả biến thần kinh tương tự cho phép chúng ta thay đổi bộ não và tạo ra nhiều hành vi linh hoạt hơn cũng có thể cho phép chúng ta tạo ra các đặc tính, hành vi cứng nhắc hơn. Tất cả mọi người đều bắt đầu với tiềm năng tính dẻo thần kinh. Một số người trong chúng ta phát triển thành những đứa trẻ ngày càng linh hoạt và sống theo cách đó trong suốt cuộc đời trưởng thành của mình. Còn những người khác, tính tự phát, sáng tạo và không thể đoán trước của thời thơ ấu nhường chỗ cho sự tồn tại của những hành vi quen thuộc lặp đi lặp lại và biến chúng ta thành những bức tranh biếm họa cứng nhắc về bản thân. Bất cứ điều gì bao gồm sự lặp đi lặp lại không có sự thay đổi - sự nghiệp của chúng ta, những kỹ năng, những hoạt động văn hóa và các chứng rối loạn tâm thần - có thể dẫn đến sự cứng nhắc. Thật vậy, đó là bởi vì chúng ta có một bộ não khả biến thần kinh mà chúng ta có thể phát triển những hành vi cứng nhắc đó ngay từ đầu. Như phép ẩn dụ của Pascual-Leone minh họa, khả biến thần kinh cũng giống như những đám tuyết mềm mại trên một quả đồi. Khi chúng ta trượt xuống đồi trên một chiếc xe trượt tuyết, chúng ta có thể linh hoạt bởi vì chúng ta có tùy chọn mỗi lần đi những con đường khác nhau qua tuyết mềm. Nhưng khi chúng ta chọn đi cùng một con đường lần thứ hai hoặc thứ ba, thì con đường mòn sẽ bắt đầu hình thành, phát triển, và chẳng mấy chốc chúng ta sẽ có xu hướng bị mắc kẹt trong một lối mòn — con đường của chúng ta lúc này sẽ trở nên khá cứng nhắc, vì các mạch thần kinh, một khi được thiết lập, có xu hướng trở nên tự duy trì

Bởi vì tính dẻo thần kinh của chúng ta có thể mang lại cả sự linh hoạt lẫn sự cứng nhắc về tinh thần, cho nên chúng ta có xu hướng đánh giá thấp tiềm năng trở nên linh hoạt của mình, điều mà phần lớn chúng ta chỉ trải nghiệm một cách chớp nhoáng.

Freud đã đúng khi nói rằng sự vắng mặt của tính dẻo thần kinh dường như có liên quan đến sức mạnh của thói quen. Các chứng rối loạn tâm thần có xu hướng được hằn sâu bởi sức mạnh của thói quen vì chúng bao gồm những kiểu mẫu lặp đi lặp lại mà chúng ta không ý thức được, khiến cho ta gần như không thể ngắt được và chuyển hướng chúng nếu như không có các kĩ thuật can thiệp đặc biệt. Khi Anh L có thể hiểu được nguyên nhân của những thói quen phòng vệ của mình, và quan điểm của anh ta về bản thân và thế giới, thì anh ta có thể tận dụng được tính dẻo thần kinh bẩm sinh của mình, bất chấp tuổi tác. 

Khi Anh L bắt đầu làm trị liệu phân tâm, anh coi mẹ mình như một bóng ma mà anh không thể nhìn thấy; hiện hữu cả còn sống lẫn lúc chết; một người mà anh trung thành nhưng lại không biết chắc có tồn tại không. Khi chấp nhận rằng bà ấy thực sự đã chết rồi, anh đã mất đi cái cảm giác về bà như một bóng ma và thay vào đó có được cảm giác mà anh thực sự từng có về một người mẹ có thật, bà là một người tốt, cũng yêu thương anh chừng nào bà vẫn còn sống. Chỉ khi nào bóng ma của anh ấy chuyển thành một tổ tiên yêu thương thì anh mới có được tự do hình thành một mối quan hệ thân mật hơn với một người phụ nữ còn sống. 

Phân tâm học thường liên quan đến việc biến những bóng ma của chúng ta thành tổ tiên, ngay cả đối với những bệnh nhân không bị cái chết cướp đi người thân yêu của họ. Chúng ta thường bị ám ảnh bởi các mối quan hệ quan trọng từ quá khứ ảnh hưởng đến ta (vô thức) trong hiện tại. Khi chúng ta làm việc với chúng, chúng chuyển từ nỗi ám ảnh chúng ta sang một phần quá khứ của ta. Chúng ta có thể biến những bóng ma của mình thành tổ tiên vì chúng ta có thể chuyển hóa những ký ức ẩn tàng — thứ mà ta thường không nhận thức được sự tồn tại của nó cho đến khi chúng bị gợi lên và bỗng nhiên ở đâu tìm đến với ta—thành những ký ức rõ ràng mà bây giờ ta đã có được một bối cảnh rõ ràng, khiến ta dễ dàng hồi tưởng lại chúng và trải nghiệm như một phần của quá khứ. 

Ngày nay, HM, trường hợp nổi tiếng nhất trong tâm lý học thần kinh, vẫn còn sống, đang ở độ tuổi 70, nhưng tâm trí ông thì đã bị khóa ở những năm 1940, vào thời điểm trước khi ông được phẫu thuật và bị mất cả hai hồi hải mã, cảnh cổng mà qua đó các ký ức phải đi qua nếu chúng muốn được lưu giữ và đạt được sự thay đổi về tính dẻo thần kinh dài hạn. Không thể chuyển đổi những ký ức ngắn hạn thành dài hạn, cấu trúc của bộ não và trí nhớ của ông, cùng với hình ảnh bản thân ông về tinh thần và cơ thể, bị đóng băng ở nơi mà khi ông được phẫu thuật. Đáng buồn thay, ông thậm chí còn chẳng nhận ra được bản thân mình trong gương. Eric Kandel, người được sinh ra ở cùng thời điểm, tiếp tục thăm dò vùng hồi hải mã và tính dẻo thần kinh của trí nhớ, xuống đến những thay đổi trong các phân tử dạng đơn lập. Ông đã tiếp tục xử lý những ký ức đau đớn của mình của những năm 1930 bằng cách viết một cuốn hồi ký sâu sắc, đầy thông tin, In Search of Memory. Còn Anh L. — hiện giờ đang ở độ tuổi 70 — không còn bị khóa chặt về cảm xúc trong những năm 1930 vì anh ta có thể mang những sự kiện đã xảy ra cách đây 60 năm lên bề mặt ý thức, viết lại chúng, và trong quá trình làm mới bộ não ni-lông của anh.

(hết chương 9)

menu
menu