Mối liên hệ giữa Tâm và Não và Cách dùng Tâm để kích động Não

Trích từ cuốn sách “Khoa học não bộ & Thiền chánh niệm” của tác giả Quán Như Phạm Văn Minh
 
Neurons fire together, wire together
Những tế bào bắn thông tin trao đổi, kết hợp và tăng cường sức mạnh cho nhau
- Donald Hebb -
 
Dùng Tâm thay đổi não và dùng não để thay đổi Tâm Dựa trên giả định của Hebb rằng các hoạt động của Tâm tạo ra những cấu trúc não bộ, tình cảm có thể để lại dấu ấn và ‘nặn hình’ (sculpt) tế bào não bộ. Khi bạn vui vẻ, sung sướng thì phần bên trái của PFC (Prefrontal Cortex) hoạt động nhiều hơn, khi buồn bã và lo lắng, phần bên phải của PFC lại tăng gia hoạt động.
 
Các thông tin do sóng não chuyển đi trong đầu sẽ ảnh hưởng cấu trúc của não. Do đó nếu chúng ta biết cách thức hoạt động của não, chúng ta sẽ tự chỉ đạo để làm thay đổi các sóng não truyền đạt thông tin và làm sinh sản các tế bào khiến não tốt hơn. Chúng ta có thể dùng tâm kích động các làn sóng não và có thể dần dần biến đổi hệ thống sóng não một cách toàn diện (rewire our whole brain).
 

Câu chuyện trái tim và khối óc

Thông thường chúng ta cho trái tim là nơi phát khởi tình cảm, tương phản với khối óc tượng trưng cho lý trí. Chúng ta vẽ vời bao nhiêu nét lãng mạn cho trái tim, cho tình yêu giây phút thành thiên thu. Khi còn trẻ và khi thất tình, chúng ta vẽ một mũi tên xuyên qua trái tim với hàng chú thích “hận tình đen bạc” v.v... Chúng ta còn tuyên bố những câu như “con tim có những lý lẽ mà lý trí không bao giờ hiểu được.” Tình cảm và tình yêu là độc quyền của con tim và khối óc khô khan không ăn nhằm gì tới tình cảm. Để diễn tả con người toàn vẹn ‘thuận tình hợp lý’, Tây phương cũng có một thành ngữ “hearts and minds”, khi bạn chinh phục hearts and minds của người khác, họ không những ‘khẩu phục’ mà còn ‘tâm phục’.
 
Nhưng đó là lúc khoa học não bộ còn non yếu, và khi khoa sinh học có những máy nội soi thân thể và nhất là từ khi có các máy chụp não bộ bằng computer như fMRI, CT Scan, kiến thức về não bộ trong vòng 30 năm trở lại đây đã tăng gấp đôi. Vai trò của con tim trong sinh học càng ngày càng xuống cấp và các bác sĩ ngày nay chỉ còn xem ‘tim’ là một bắp thịt bơm máu, chuyển oxy nuôi cơ thể và não bộ, không hơn không kém. Từ vị thế tượng trưng cho thế giới tình yêu, con tim càng ngày càng bị ‘coi thường’. Và hiện nay các chuyên viên pháp y chỉ ký giấy chứng nhận cho một người chính thức từ giã cõi đời, không phải khi tim ngừng đập, mà là khi não ‘chết’. Tim có thể tự mình vẽ một một mũi tên xuyên qua với chú thích ‘hận não đen bạc’, không có tim bơm máu thì não không sống được hay một người sẽ bị đột tử ngay tức khắc, nhưng khoa học là khoa học!
 
Nhưng làm sao hận não được! Nhờ não mà chúng ta có văn hóa, văn minh, khoa học, triết lý và nhất là tình yêu. Não nuôi dưỡng tình cảm gia đình nhờ hóa chất Oxytocin, não sáng tác những tấu khúc symphony, não chế tạo phi thuyền không gian (và cả hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Nagasaki và Hiroshima!). Nhờ não mà Trịnh Công Sơn sáng tác những bài tình ca tuyệt hảo và chính Trịnh Công Sơn cũng thú nhận là nhiều khi ‘con tim mù lòa’. Mượn tựa một cuốn phim, chúng ta hay ‘Romancing the stone’, vẽ vời những chuyện mà tim không thể làm, nhưng khoa học hiện nay phủ nhận tất cả những huyễn tượng mà chúng ta có về tim và xác quyết là tim chỉ là một bắp thịt bơm máu nuôi cơ thể! Hận tình đen bạc!
 
Phần liên hệ với lý trí trong não là phần PreFrontal CortexPFC (phần Cortical) và phần phát sinh tình cảm thuộc phần Limbic (hay là phần sub-cortical). Từ thời đại đồ đá cũ và đồ đá mới đến thời con người hiện đại, trọng lượng não con người tăng gấp ba lần, khi con người sống thành đoàn thể, nuôi gia đình, con cái để hoàn thành hệ thống chức năng tình cảm xã hội Attaching. Không có phần này trong khối óc thì không có tình yêu, không có tình gia đình, nghĩa là trong canh bạc sinh học, trái tim thua trắng túi! Hận não đen bạc!
 

Não và genes

Sinh học Di truyền đã làm một cuộc cách mạng trong Y khoa và đối với quần chúng gene được xem trong bộ Genome là những nhà độc tài mới. Ví dụ nếu chúng ta có một gene gây ra một bệnh di truyền huyết thống, thế hệ kế tiếp thế nào cũng mắc một bệnh tương tự, chạy trời không khỏi nắng! Một số bác sĩ cũng tin vào di truyền tất định (Genetic determinism). Nhưng vấn đề không đơn giản như thế vì có sự can thiệp của Não. Ví dụ như trong bộ Genome có một gene ảnh hưởng và gây ra stress có tên là CY P17. Chúng ta nghĩ là trong máu của những người này đầy dẫy Cortisol, một hóa chất đồng nghĩa với Stress, ý nghĩ này không hoàn toàn đúng.
 
Trong cơ thể, không có bộ phận nào hoàn toàn biệt lập. Não (Tâm), Thân và Genome là một bộ ba liên minh. Bộ phận này kiểm soát hai bộ phận kia và ngược lại. Một gene chỉ có tác động khi có hiệu lệnh ‘mở’ hay ‘đóng’ từ hai bộ phận kia. Gene muốn biến đổi phải được não bật công tắc mở (unwrap) mới có thể biểu hiện (gene expression) và có tác động được. Cortisol được đồng hóa với stress nhưng tất cả các bộ phận trong cơ thể đều cần chất này dù cortisol làm giảm hệ thống miễn nhiễm, ảnh hưởng xấu đến các vận hành cơ thể. Nghĩa là cortisol vừa chất độc mà cũng là chất bổ dưỡng nuôi cơ thể, tùy cách can thiệp của não.
 
Stress thường do những biến cố bên ngoài gây ra (thi cử, thất tình...) do não tiếp nhận và lượng giá. Não có thể ra lệnh cho các nội tuyến tiết ra epinephrine và norepinephrine, làm tim đập nhanh hơn và bơm máu vào bắp thịt nhiều hơn. Gene chỉ đóng một vai trò điều hướng, không trực tiếp tác động lên hành vi của chúng ta. Ai là người chủ đạo trong việc tiết các stress hormone này? Không ai cả, mà bộ ba gene, não và tâm cùng nhau hợp tác kiểm soát. Hệ thống liên hệ hữu cơ này không có trung tâm điều khiển. Đây là kết luận của thuyết psycho/neuro/immunology (PNI) mà tôi có giới thiệu trong TCN. Kết luận của khoa này là đảo lộn sự hiểu biết thông thường của chúng ta về vai trò ‘quyết định’ của gene và nguyên nhân của một vài chứng bệnh. Ví dụ bác sĩ thường cho các người bị bệnh tim mạch vì họ có nhiều chất HDL (High Density Lipo-Protein). Các cuộc thử nghiệm rộng rãi cho biết ngoài nguyên nhân vật lý hay sinh lý mà cũng có thể do các yếu tố xã hội, như cấp bậc hành nghề trong bậc thang xã hội: cấp càng cao càng ít bị tim mạch (4 lần) so với những người làm những công việc cấp dưới, như kết quả trong một cuộc thăm dò thử nghiệm công chức Anh và một triệu công nhân của hãng Bell Telephone vào năm 1960.
 
Kết luận này ngược lại hiểu biết thông thường của chúng ta về bệnh tim mạch: các yếu tố rủi ro (risk factors) như chế độ ăn uống, hút thuốc, cao máu trước đây được xem là những nguyên nhân chính gây ra bệnh tim mạch. Nhưng theo PNI các nguyên nhân vật lý chỉ là nguyên nhân bậc hai gây ra bệnh, tòng phạm chứ không phải chính phạm! Không nói ra nhưng quý vị có thể đoán chính phạm là ai. Nói như Matt Ridley trong tác phẩm Genome (p 159), nguyên nhân tâm lý đi trước nguyên nhân vật lý. Tâm ảnh hưởng cơ thể và sau đó điều khiển hệ thống genome. Lại thêm một lý do để chúng ta thực hành Chánh niệm để điều hướng tâm. Sau huyền thoại tim bị sụp đổ, tới phiên huyền thoại di truyền tất định cũng không còn. Nếu có một gene mang bệnh di truyền không nhất thiết quý vị mắc bệnh đó mà còn tùy thuộc vào sự can thiệp của não và tâm.
 

CHÂN DUNG NÃO BỘ

Não chỉ nặng khoảng một ký rưỡi, nhìn từ bên ngoài giống như một bông cải, các mô phần lớn sền sệt giống như đậu hũ, có chừng 1.1 ức (Trillion), trong đó có 100 tỷ tế bào não. Trung bình mỗi tế bào não ‘bắn nhau’ (fire) để truyền đạt thông tin qua các làn sóng não hay các hóa chất (neuro-transmitters), xuyên qua các phần ở gần đuôi tế bào gọi là synapse (mỗi lần bắn gọi là một synapse). Phối hợp tổng số bắn nhau giữa các synapses là 10 lũy thừa một triệu con số không (100 ngàn Trillion), ngoài khả năng khái niệm hóa của chúng ta.
 
Khi bị bắn, một synapse trong tế bào não nhận được một tín hiệu qua sự bùng vỡ của các neurotransmitters. Tùy tín hiệu này tế bào đó sẽ quyết định có nên bắn ‘trả lời’ hay không.
 
Trung bình một tế bào ‘bắn’ từ 5 đến 50 lần trong một giây. Đó là thời gian đủ để quý vị đọc một đoạn nhỏ trong bài viết này. Các nhà khoa học não bộ định nghĩa Các hoạt động của não là Tâm (cộng thêm với một vài yếu tố khác như đặc tính cá nhân, hy vọng, ước mơ và văn hóa...).
 
Các tế bào não trao đổi thông tin với nhau có thể kết hợp thành những dòng điện sóng não lâu dài, tăng cường sức mạnh của các tế bào liên kết và có thể thay đổi những hoạt động của Tâm. Đây là một giả định chính cho việc thực tập Let in.
 
Não và Tâm hoạt động như một tổng thể duy nhất, như hai mặt của một đồng tiền: không có não thì cũng không có tâm, tâm và não không thể hiện hữu biệt lập mà là một mối liên hệ hữu cơ, tương tức tương hiện. Có thì cả hai đều có, không thì cả hai đều không, một câu mà bạn đã nghe nhiều lần trong thuyết duyên khởi.
 
Não liên hệ mật thiết với các hệ thống khác của cơ thể, điều hướng cơ thể sau đó liên hệ và đối ứng với thế giới bên ngoài, và ngược lại thế giới bên ngoài cũng đối ứng với cơ thể và góp phần trong việc hình thành tâm. Theo một nghĩa rộng, Tâm hình thành nhờ não, văn hóa và thế giới tự nhiên bên ngoài. Cứ tưởng tượng có hai bé sinh đôi và cho hai gia đình làm con nuôi, một ở Phi châu, một ở Bắc Mỹ, thì ‘Tâm’ của hai cháu này khác nhau tới mức nào! Hay tưởng tượng có một bi kịch khác, từ lúc lọt lòng một đứa bé được nuôi dưỡng ở một nơi biệt lập với con người, cháu bé này có thể không có một Tâm ‘con người’ như các cháu được nuôi dưỡng bình thường khác! Chúng ta thường nghĩ là ý tưởng, lập trường, nguyên tắc đạo đức... là của chúng ta, thực ra những ý tưởng này chúng ta đã tập nhiễm từ Thánh hiền. Văn hóa là một phần quan trọng mà người Tây phương gọi là phần tác động của môi trường (nurture), trái với phần bẩm sinh (nature).
 
Giai đoạn phát triển thứ nhất qua não loài bò sát và cá. Giai đoạn thứ hai là não của loài có vú và chim. Giai đoạn thứ ba là não của loài khỉ vượn và não của con người.
 
Vì nhu cầu sống hợp đoàn, tuyển lựa bạn đôi lứa và nuôi nấng con cái, có trọng lượng não bộ của loài Linh trưởng và Người lớn hơn não bộ của các loài vật khác (so với trọng lượng cơ thể). Trọng lượng não của con người đã tăng trưởng gấp ba lần để não có thể đáp ứng nhu cầu này. Bạn có thể cho ý tưởng này là ‘duy vật’, nhưng khoa học là khoa học, chẳng duy vật mà cũng chẳng duy tâm. Nói một cách khác tâm giác ngộ hiện diện trong một não giác ngộ. Biết được cơ sở vận hành của não, chúng ta có thể tìm ra một lộ đồ giác ngộ (awakening path) cho cả Tâm và Não.
 
Đây là một giả định khoa học có chứng nghiệm, tuy nhiên trong tinh thần khoa học, chúng ta cũng phải giữ một mối hoài nghi lành mạnh như trong bất cứ một giả định khoa học nào khác.
 
Trong quá trình tiến hóa, não bộ qua hệ thống SNS đã làm chúng ta căng thẳng. Nếu não là một nguyên nhân làm chúng ta khổ, khi biết nguyên nhân, chúng ta có thể chuyển hóa não để làm hết khổ. Rick Hanson tin rằng nếu chúng ta dùng phương pháp tự điều khiển và khích động các làn sóng não để làm não tốt hơn và do đó làm tâm tốt hơn. Chúng ta có thể chuyển hóa thân-tâm của mình để có một đời sống hạnh phúc hơn, từ ái hơn và thấy được ánh sáng bên trong tâm và não của chúng ta.
 

Dùng Tâm kích động não

Nụ cười của Đức Phật trên các pho tượng phản ảnh cho tâm an nhiên, tự tại. Cũng thế, các vị đại sư dành hết cuộc đời mình tu tập trong các hang động trên Hy Mã Lạp Sơn hay trong các rừng sâu ở Thái Lan có thể đạt tới mức an nhiên tự tại, còn những cư sĩ bình thường vẫn còn bận bịu với gia đình và đời sống như chúng ta thì sao?
 
Dựa trên các khám phá mới, các nhà khoa học não bộ đề nghị phương pháp dùng tâm để tự kích động não để thay đổi não theo một chiều hướng tốt hơn, nói tắt là Letting in the Good, nói cho đầy đủ là Self directed neuroplasticity. Chúng ta có thể dùng các tình cảm, tư tưởng từ các trải nghiệm tích cực trong đời sống hàng ngày hay trong các trải niệm trong đời để tăng sức mạnh một số synapses của tế bào não bộ, mỗi ngày chọn một niềm vui nho nhỏ để làm giảm bớt những tình cảm, tư tưởng tiêu cực như oán giận, trầm cảm, lo âu và lâu ngày chúng ta có thể làm thay đổi các vận hành và cả cấu trúc của não.
 
Chú trọng đến tình trạng tích cực lâu ngày, chúng ta dần dần thay đổi nhãn quan về đời sống, không còn chỉ để ý ‘tin xấu’ nữa, mà quan tâm về những ‘tin vui’. Thay vì lúc nào cũng cảm thấy sầu thảm ‘hữu thân hữu khổ’ dù đây là sự thực, chúng ta chú ý đến những tin vui như lòng biết ơn, thỏa nguyện không còn ham muốn, nuối tiếc những thú vui, chúng đến thì hưởng thụ những tình cảm này, nhưng đừng bám víu tham luyến không chịu thả ra. Vì tham luyến là bắt đầu đau khổ. Chúng ta nhớ hình ảnh cô gái tặng đức Phật một ly sữa. Tôi tin rằng Đức Phật thích thú ‘hưởng’ ly sữa sau bao nhiêu năm sống khổ hạnh.
 
Nếu chú trọng đến những yếu tố tích cực, não bộ của chúng ta sẽ ‘nghỉ’ ở các synapses tích cực, tăng cường sức mạnh với các synapses khác (wire together). Biết đâu một ngày nào đó chúng ta có thể rewire toàn thể não bộ, thành một tập thể ‘người’ mà tâm lúc nào cũng an lạc, hạnh phúc và khi an bình hạnh phúc chúng ta thường có khuynh hướng đối xử tử tế, đầy từ ái với những người chung quanh. Nếu đó không phải là tịnh độ thì là gì?
 
Nhờ các dụng cụ đo lường não bộ như fMRI, chúng ta có thể biết được những gì xảy ra trong não khi các hành giả thực hành chánh niệm hay đạt tới mức ‘định’ và chúng ta có thể áp dụng những kỹ thuật ngược chiều để làm tâm thay đổi theo chiều hướng tích cực. Dĩ nhiên hành trình tỉnh thức là một chuyến viễn du, có nghĩa là hành giả cần chánh tinh tấn, quyết tâm để hoàn thành mục đích của mình.
 
Những sự kiện đã được chứng nghiệm giữa tâm và não
 
1. Khi sinh vật tiến hóa tới mức độ nào đó, não sẽ được hình thành để điều hướng các hoạt động thân thể, nghĩa là không có não sẽ không có tâm. Nói theo thuật ngữ Phật giáo, não duyên khởi tâm và tâm duyên khởi não.
 
2. Nếu não thay đổi thì tâm cũng thay đổi, theo hướng xấu hay tốt hơn. Nếu bị stress chẳng hạn, não ra lệnh cho các tuyến tiết ra chất cortisol và stress hormones, các tế bào não bị chết dần trong hippocampus, kho chứa ký ức hoạt động (working memory) để não quy chiếu và phản ứng khi phải đối phó với những hoàn cảnh về sau. Thông thường mỗi ngày có chừng 10 ngàn tế bào não bị héo tàn, nhưng vì não có tới 1.1 tỷ tế bào nên nếu sống tới 80 tuổi, chúng ta ‘mới’ chỉ mất chừng 4% tổng số tế bào não và nếu không có bệnh tật gì đáng kể, ký ức cũng được xem là bình thường. Tuy nhiên nếu các tế bào não bị héo tàn và không được tế bào mới thay thế, chúng ta không thể hình thành ký ức mới.
 
3. Liên hệ giữa tâm và não là một liên hệ hai chiều: não làm tâm thay đổi thì tâm cũng có thể làm não thay đổi. Điều này dựa trên nền tảng khoa học để chúng ra dùng chánh niệm và các liệu pháp tâm lý khác để biến đổi các tế bào não tiêu cực như stress, lo âu, trầm cảm, sân hận... thành các tế bào tích cực như từ, bi, hỷ xả và lâu dần chúng ta có thể thay đổi toàn bộ cấu trúc của não, từ một não luôn luôn bất an, thành tâm tỉnh thức của Phật.
 
4. Sự thay đổi này đã được chứng nghiệm trong nhiều thử nghiệm khác nhau, như các tài xế tắc xi ở Luân Đôn vì phải nhớ đường đi chằng chịt như mắc cửi nên phần não bộ liên hệ cũng dày ra, vì chúng được sử dụng nhiều và được não chuyên chở oxy và các chất bổ dưỡng khác để ‘bồi dưỡng’ làm chúng ‘dày’ thêm. Một số các nhạc sĩ chơi dương cầm được yêu cầu chơi một bài nhạc mà họ chưa biết, 10 phút một ngày trong vòng 6 tuần lễ cho thấy phần não bộ liên hệ đến vận động các ngón tay dày thêm và thú vị hơn nữa là có một số nhạc sĩ khác chỉ được yêu cầu tưởng tượng chơi dương cầm trong cùng một thời gian, cũng đạt đến kết quả tương tự. Các tế bào não nào không được sử dụng thì lần lần héo hắt và chết đi theo quy luật không dùng thì mất.
 
5. Một bằng chứng nữa là các nhà sư Tây tạng dành nhiều thì giờ để thực tập Thiền nên không bị một hiện tượng ‘teo não’ vì tuổi tác của những người bình thường.
 
6. Những phần não bộ liên hệ đến Thiền Chánh Niệm như phần Insular (sử dụng khi chúng ta thực hành body scan). Phần Insular là khả năng biết các tình cảm, tư tưởng, cảm giác bên trong; phần PFC là phần giúp chúng ta duy trì chánh niệm cũng dày thêm ra. Phần hippocampus có thể mất tới 1 phần tư nếu chúng ta bị stress. Thay vì để tế bào ‘tự’ sinh sản để bù vào, các nhà khoa học não bộ khuyến cáo chúng ta tích cực can thiệp để làm tăng quá trình sinh sản. Nếu tế bào não không được sinh sản thêm thì quý vị cũng có thể đoán chuyện gì có thể xảy ra khi chúng ta về già: mất trí nhớ, một chứng bệnh sẽ thay thế bệnh ung thư trong các thập niên tới gây ra tử vong cho các người lớn tuổi theo một báo cáo mới nhất của WHO. Lại thêm một lý do khác để thực hành chánh niệm!
 
7. Những thực tập đề nghị để dùng tâm thay đổi não dựa trên những bằng chứng thực nghiệm từ ba lĩnh vực khoa học não bộ, tâm lý hiện đại và truyền thống nội tĩnh của Phật giáo, nghĩa là từ những bằng thực nghiệm có thể chứng minh được, không phải chỉ bằng những suy diễn triết lý.
 
8. Một kết quả về lâu về dài cũng đáng được nhắc nhở ra đây. Nếu chúng ta tiếp tục thực hành các phương pháp làm sinh sản tế bào não bộ như Chánh niệm, chúng ta có thể gây ra những kết quả về di truyền. Các genes có thể được tháo gỡ (unwrap) và chuyển hóa (transform) và truyền thừa các genes mới này cho các thế hệ tương lai. Cũng giống như chúng ta cloning (dòng sinh vô tính) Đức Phật, sẽ có nhiều người đạt tới mức tỉnh thức. Quá lý tưởng? Khoa học não bộ còn là một khoa học non trẻ, tất nhiên chúng ta phải giữ thái độ khiêm cung, nghi ngờ lành mạnh, nhưng đồng thời cũng kính trọng về những khả thể có thể xảy ra trong khoa học. Chỉ mới 30 năm trước đây không ai biết có dụng cụ nào có thể làm thay đổi não, ngoại trừ chuyện phẫu thuật!
 
Nếu chúng ta trồng hoa trong vườn, thì đến một lúc não luôn luôn nghỉ ngơi ở các liên minh tế bào não tích cực, an lạc, hạnh phúc, biết ơn, tử tế với mọi người. Trái lại, nếu não ‘nằm nghỉ’ ở các tế bào tiêu cực, tâm chúng ta tràn đầy những tình cảm oán hận, lo âu, sầu não. Tâm buồn, lo âu, sân hận thì não tiết ra các hóa chất độc hại và stress hormones giết các tế bào não. Trong hiệu ứng vòng tròn lẩn quẩn, stress ngày hôm qua làm não nhạy cảm hơn khi gặp stress trong ngày mai và cứ thế mà tiếp tục.
 
Nếu chúng ta chịu để ý tới những hạnh phúc nho nhỏ của đời sống và tâm ‘nghỉ ngơi’ ở tình cảm an lạc như khi ngắm trời xanh mây trắng, nụ cười trẻ thơ, mái tóc người thương... Đây là nguyên tắc chính của phương pháp dùng tâm thay đổi não. Chúng ta thấy cuộc đời có cả đau khổ lẫn hạnh phúc, trăm lần vui lẫn vạn lần buồn. Chúng ta không đeo kính màu hồng hay màu đen chỉ nhìn đời như chúng là, một ý niệm chúng ta có thể thực hiện được khi đạt đến mức định và tuệ nhờ thực tập Chánh niệm. Phương pháp Taking-In giúp chúng ta quân bình lại thái độ thiên vị đối với tình cảm tiêu cực mà não đã bị điều kiện hóa trong quá trình tiến hóa.
 
Trong phương cách để Tâm và Não tránh khỏi bị căng thẳng (Stress-Proof Brain), Hanson đề nghị chúng ta chú ý nhiều hơn và lâu hơn (từ 10--20 giây để hippocampus có thì đủ thì giờ ghi lại trong ký ức tình cảm đến các kết quả tích cực, thuận lợi, tin vui của cuộc đời để kích thích các tế bào não cho chúng tăng cường các synapses tích cực. Các synapses có thể nối kết hay tạo ra các synapses mới trong vòng ¼ giây hay tạo các synapses mới trong vòng một vài phút. Đây là phương pháp chủ động dùng tâm để thay đổi não theo chiều hướng tích cực hơn) và phương pháp này đã được hầu hết các khoa tâm lý trị liệu hiện nay chấp nhận.