Nguyên tác: On desire - Why we want what we want

Tác giả: William B. Irvine

PHẦN HAI

KHOA HỌC CỦA HAM MUỐN

Việc kiềm chế ham muốn đầu tiên thì dễ hơn nhiều so với việc thỏa mãn tất cả những ham muốn tiếp theo đó.

—La Rochefoucauld

CHƯƠNG BA

Vẽ sơ đồ ham muốn của chúng ta

Chúng ta có thể phân loại các ham muốn của mình theo lý do tại sao ta lại muốn thứ mình muốn. Đôi khi chúng ta muốn thứ gì đó không phải vì chính nó mà là để ta có thể thỏa mãn những ham muốn khác. Ví dụ, tôi có thể lái xe đến một nhà hàng không phải vì tôi thích lái xe—chiếc xe hơi của tôi đã có tuổi thọ 15 năm, còn radio trên xe thì đã hỏng—mà vì tôi muốn ăn tối. Quả thực, nếu tôi không muốn ăn thì tôi sẽ không có ham muốn lái xe đến nhà hàng. Chúng ta hãy gọi những ham muốn mà ta ham muốn để chúng ta có thể thỏa mãn những ham muốn khác, là ham muốn-phương tiện.

Không phải mọi ham muốn của chúng ta đều được dùng làm phương tiện. Giả sử tôi muốn A vì tôi muốn B, mà tôi muốn B vì tôi muốn C, mà tôi muốn C vì tôi muốn D, v.v... Chuỗi ham muốn này có thể rất dài, nhưng cuối cùng nó phải kết thúc ở một thứ gì đó mà tôi muốn vì chính nó. Bằng không thì sẽ có một sự thoái lui vô hạn của ham muốn, và toàn bộ chuỗi ham muốn sẽ thành không lý do, không mục đích. Do đó, bên cạnh những ham muốn-phương tiện thì phải có cái mà chúng ta gọi là ham muốn cuối cùng. Đó là những thứ mà chúng ta muốn vì chính chúng chứ không phải vì những cái khác. Chúng là những thứ mà chúng ta ham muốn thuộc về bản chất nội tại (và bởi lý do này mà đôi lúc được gọi là những ham muốn nội tại).1

Nếu ai đó hỏi tại sao tôi muốn lái xe đến nhà hàng nói trên, tôi sẽ đáp, “Vì tôi muốn ăn tối.” Nếu ai đó hỏi tại sao tôi muốn ăn tối, tôi sẽ đáp, “Vì tôi muốn hết đói bụng.” Trong trường hợp này, ham muốn lái xe đến nhà hàng và ăn tối là những ví dụ về ham muốn-phương tiện: Tôi muốn những thứ đó không phải vì chính chúng mà để tôi có thể thỏa mãn ham muốn khác. Bây giờ giả sử có ai đó hỏi tại sao tôi muốn chấm dứt cơn đói. Điều tốt nhất mà tôi có thể làm để trả lời câu hỏi ngu ngốc này là chỉ ra rằng những cơn đói bụng khiến con người ta cảm thấy tệ. Và nếu có ai đó cứ tiếp tục hỏi tại sao tôi muốn tránh cảm giác tồi tệ thì tôi chẳng biết nói gì ngoài việc đưa ra một câu trả lời lòng vòng rằng, “Vì thật tệ khi cảm thấy tệ, và tôi không muốn cảm thấy tệ. Những thứ khiến người ta cảm thấy tệ về bản chất là thứ chả ai mong muốn.” Nếu người hỏi tôi vẫn không hiểu được điều này thì tôi không biết nói gì để thuyết phục anh ta đây. Ham muốn chấm dứt cơn đói bụng của tôi do đó là một ví dụ về một ham muốn cuối cùng. Đó là thứ mà tôi muốn vì chính nó, chứ không phải vì có được nó sẽ cho phép tôi thỏa mãn những ham muốn khác.

Những ham muốn cuối cùng của tôi có thể được chia tiếp thành hai phạm trù con, đó là những ham muốn cuối cùng khoái lạcham muốn cuối cùng phi-khoái lạc. Ham muốn chấm dứt cơn đói là một ví dụ về một ham muốn cuối cùng khoái lạc. Tổng quát hơn, những ham muốn mà tôi hình thành để cảm thấy tốt và tránh cảm giác tồi tệ là ham muốn cuối cùng khoái lạc, và ở đây ý của tôi muốn nói về “cảm thấy tốt” và “cảm thấy tệ” theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm cảm giác về thể xác, chẳng hạn như cảm giác no nê sung sướng khi ăn xong hay cơn đói, mà còn những cảm xúc tinh thần như niềm vui hay sự nhục nhã.

Một ví dụ về một ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc, hãy xét đến ham muốn tặc lưỡi của tôi mà tôi đã hình thành nên ham muốn này và hành động theo mới vừa nãy thôi. Đây là ham muốn cuối cùng vì tôi hình thành nên ham muốn này không phải để tôi có thể thỏa mãn những ham muốn khác, mà vì chính nó, và nó phi-khoái lạc vì tôi “muốn vậy thôi”—tôi tặc lưỡi không phải vì tôi tin rằng làm vậy sẽ khiến tôi cảm thấy tốt hay không tặc lưỡi thì tôi sẽ cảm thấy tệ, mà chỉ đơn giản vì tôi muốn tặc lươi thôi. Như triết gia Harry Frankfurt chỉ ra, có những việc mà tôi có thể làm chỉ vì tôi quyết định làm chúng: “Những ham muốn loại này” theo ông, “không được khơi dậy trong chúng ta; chúng được hình thành hoặc tạo ra bởi ý chí của bản thân ta.” Ông nói thêm rằng chúng ta có thể hình thành nên những ham muốn ấy “tách biệt với bất kỳ trạng thái cảm xúc hay tình cảm nào.2

Điều này tôi đã nói, một số cách giải thích được đưa ra. Lúc đầu, nếu tôi tặc lưỡi vì một số ám ảnh kỳ lạ nào đó—chẳng hạn, nếu tôi cảm thấy lo lắng một cách khó hiểu khi trải qua 1 phút mà không tặc lưỡi—khi ấy ham muốn tặc lưỡi của tôi sẽ không được tính là ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc. Bởi một lẽ, nó sẽ không phải là một ham muốn cuối cùng: thay vào đó nó sẽ là ham muốn-phương tiện, vì tôi muốn tặc lưỡi không phải vì chính nó mà là để tôi có thể thỏa mãn ham muốn khác—ấy là làm cho cảm giác lo lắng đầy khó chịu của tôi biến đi. Và bởi vì ham muốn này là khoái lạc, nên ham muốn tặc lưỡi của tôi cũng sẽ là khoái lạc (một cách gián tiếp). Trong trường hợp này, tôi sẽ không tặc lưỡi “chỉ vì muốn thế”; Tôi sẽ tặc lưỡi vì tôi muốn cảm thấy tốt hơn. Cũng như vậy, nếu tôi tặc lưỡi để thắng cá cược thì ham muốn tặc lưỡi của tôi sẽ không được tính là một ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc: trái lại, tôi muốn tặc lưỡi vì tôi muốn trải nghiệm niềm vui thắng cược.

Giả sử ai đó nói với chúng ta rằng cô ấy muốn hiến một quả thận cho một người xa lạ đang bị suy thận. Liệu đây có phải là ví dụ về một ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc không? Nó còn tùy thuộc vào động cơ của cô ấy khi hình thành ham muốn này. Nếu cô tạo ra ham muốn này vì cô muốn người khác nể phục mình hay muốn cảm thấy tốt về bản thân, thì đây sẽ là một ví dụ khác về ham muốn-phương tiện khoái lạc gián tiếp. Ngược lại, giả sử cô tạo ra ham muốn này vì cô muốn thỏa mãn điều mà cô xem là một bổn phận đạo đức. Điều này càng làm dấy lên câu hỏi tại sao cô ấy lại muốn thực hiện bổn phận đạo đức của mình. Nếu vì việc thực hiện nghĩa vụ của mình sẽ khiến cô giành được sự ngưỡng mộ của người khác, làm cô cảm thấy tốt về bản thân hay nhận được một phần thưởng ở trên thiên đàng, thì một lần nữa, ham muốn này không được tính là ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc. Nhưng nếu cô muốn thực hiện bổn phận đạo đức vì cố đơn giản là quyết định làm điều đó thì ham muốn này, cũng giống như ham muốn tặc lưỡi của tôi, sẽ được tính là một ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc.  

Cần lưu ý rằng, những ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc tương đối thiếu động lực. Vì vậy, khi đối chiếu ham muốn tặc lưỡi của tôi “chỉ vì muốn vậy thôi” với ham muốn chấm dứt cơn đói, khi tôi bỏ bữa tối. Tôi không chắc mình sẽ cố hết sức để tặc lưỡi đến mức nào, và nếu đụng chuyện hay có ai ngăn không cho tôi tặc lưỡi—ví dụ vợ tôi có thể bảo tôi đừng tặc lưỡi vì nàng bị âm thanh làm phiền—có thể tôi sẽ hơi khó chịu, nhưng tôi sẽ không cảm thấy quá thất vọng. Nhưng nếu tôi đang đói và gặp chuyện hay ai đó ngăn tôi đi ăn thì tôi sẽ thất vọng và dốc sức để đi ăn. Tôi không cảm thấy thôi thúc phải tặc lưỡi giống như cái cách mà tôi thôi thúc phải xoa dịu cơn đói bụng của mình.

Ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc của tôi cũng ít động lực hơn so với nhiều ham muốn-phương tiện mà tôi hình thành. Giả sử vì tôi muốn hết đói, tôi muốn lái xe đến nhà hàng, và bởi vì tôi muốn lái xe đến nhà hàng nên tôi muốn tìm chìa khóa xe hơi. Ham muốn cuối cùng này là dùng làm phương tiện: Tôi muốn tìm chìa khóa xe không phải vì nó mà để tôi có thể thỏa mãn ham muốn lái xe đến nhà hàng. Tuy nhiên, nó sẽ là một ham muốn có động lực thúc đẩy rất mạnh—quả thực, gần như được thúc đẩy mạnh mẽ giống như ham muốn chấm dứt cơn đói của tôi. Nếu tôi không thể tìm thấy chìa khóa thì tôi sẽ vô cùng thất vọng.

Tóm lại, những ham muốn của chúng ta rơi vào 2 loại: ham muốn-dùng làm phương tiện mà chúng ta ham muốn vì để có được thứ khác, và ham muốn cuối cùng mà ta ham muốn vì chính nó. Những ham muốn cuối cùng của chúng ta có thể chia tiếp thành hai phạm trù con: ham muốn cuối cùng khoái lạc, mà chúng ta ham muốn vì ta muốn cảm thấy tốt hoặc tránh cảm giác tồi tệ, và ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc. Ham muốn cuối cùng khoái lạc của chúng ta được thúc đẩy bởi những cảm xúc của chúng ta; còn ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc, ngược lại, được thúc đẩy bởi sức mạnh ý chí của chúng ta.

Với chút nỗ lực, chúng ta có thể vẽ sơ đồ những ham muốn của ta. (Hình 1 là một ví dụ rất đơn giản về một sơ đồ như vậy.) Thỉnh thoảng trong các lớp học mà tôi dạy, tôi trình bày quá trình vẽ sơ đồ. Tôi chọn ngẫu nhiên một sinh viên và hỏi tại sao cậu ấy lại chọn tham dự buổi dạy của tôi. Một câu trả lời điển hình là: “Để em có thể qua được môn của thầy.” Và tại sao cậu lại muốn qua môn? “Để em được tốt nghiệp.” Vì sao muốn tốt nghiệp? “Để em được vào trường luật.” Tại sao cậu muốn vào trường luật? “Rõ ràng, để em được làm luật sư.” Và tại sao lại muốn trở thành luật sư? “Để em có thể mua được một chiếc Arrest-Me Red Dodge Viper RT/10, với động cơ 415 mã lực sẽ tăng từ 0 đến 60 trong vòng 5.0 giây.”

Nếu chúng ta vẽ sơ đồ ham muốn của sinh viên trên thì chúng sẽ tạo thành một chuỗi, mắt xích đứng đầu là ham muốn sở hữu được chiếc Dodge Viper, bên dưới là ham muốn trở thành luật sư, bên dưới là ham muốn vào trường luật, bên dưới nữa là ham muốn tốt nghiệp đại học, v.v... Chuỗi ham muốn có thể khá phức tạp. Ví dụ, có khả năng chuỗi mà ta vừa đề cập sẽ mở rộng thêm một mắt xích bên dưới. Cậu sinh viên trên có thể sẽ đăng ký thêm những khóa học khác ngoài khóa học của tôi, và nếu được hỏi lý do chọn chúng, cậu sẽ đáp “Để em được tốt nghiệp.” Bởi thế, trong sơ đồ của chúng ta về những ham muốn của cậu sinh viên này, một số ham muốn sẽ nằm ngay bên dưới ham muốn được tốt nghiệp—cụ thể là ham muốn qua được nhiều môn học mà hiện tại cậu đăng ký. Và tương tự như cách mà ham muốn qua được môn của tôi có một chuỗi ham muốn ở dưới nó, những ham muốn khác của cậu ấy là qua được những môn học khác cũng sẽ có các chuỗi bên dưới chúng.

Các chuỗi ham muốn cũng có khả năng đan cài vào nhau. Điều này xảy ra khi một ham muốn-dùng làm phương tiện thực hiện nhiệm vụ kép—khi thỏa mãn nó sẽ giúp người ấy thỏa mãn được hai ham muốn khác. Hãy xem xét lại ham muốn tham dự lớp học của tôi của cậu sinh viên trên. Như chúng ta thấy, cậu ấy muốn tham dự vì cậu ấy muốn qua được lớp học của tôi. Dù cũng có khả năng cậu ấy muốn tham dự lớp học vì một bạn sinh viên mà cậu tơ tưởng cũng học lớp của tôi. (Chúng ta có thể giả dụ rằng khi tôi hỏi cậu sinh viên này lý do tại sao cậu lại muốn học lớp của tôi, cậu ấy sẽ lờ đi không đề cập tới động cơ thứ hai này vì cậu không muốn làm cô gái mà cậu có tình cảm bị ngượng ngùng.) Trong trường hợp này, cậu sinh viên khi tham dự lớp của tôi, đang hoạt động theo hai chuỗi ham muốn: một ham muốn dẫn đến khả năng sở hữu được một chiếc xe Dodge Viper, và ham muốn khác dẫn đến khả năng chiếm được trái tim của một nữ sinh. Hai chuỗi ham muốn này đan cài vào nhau khi cậu ấy tham dự lớp học của tôi.

Chúng ta dừng vẽ sơ đồ ham muốn của cậu sinh viên kia khi chúng ta xác định được ham muốn sở hữu chiếc xe Dodge Viper của cậu ấy, nhưng chúng ta có thể đi xa hơn. Giả sử tôi hỏi cậu ấy tại sao lại muốn có một chiếc xe Viper. Cậu ấy có thể trố mắt nhìn tôi: vì hiển nhiên với cậu ấy thì một chiếc xe như thế rất đáng khao khát. Nhưng nếu bị thúc ép, cậu có thể chia sẻ với tôi rằng được lái một con xe như vậy sẽ mang lại rất nhiều lạc thú cho cậu ấy. Nếu tôi hỏi lý do tại sao cậu lại muốn có được lạc thú thì cậu chẳng thể nói gì thêm: lạc thú vốn dĩ đã là thứ đáng ham muốn rồi. Chuỗi ham muốn này, cũng giống như tất cả các chuỗi ham muối, sẽ kết thúc tại một ham muốn cuối cùng—ở một thứ mà cậu muốn vì chính nó, chứ không phải vì cậu có thể thỏa mãn được một số ham muốn khác. Chuỗi này sẽ kết thúc ở một ham muốn cuối cùng khoái lạc; những chuỗi khác thì kết thúc ở những ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc.

Cậu sinh viên được kể ở trên chắc chắn là có những ham muốn khác ngoài những ham muốn mà chúng ta đã thảo luận. Mỗi ham muốn trong số này có thể làm nảy sinh các chuỗi ham muốn mà lần lượt sẽ phân nhánh và đan xen vào nhau. Bởi lý do này nên cấu trúc của ham muốn ở con người là rất phức tạp. Hơn nữa, bất kỳ nỗ lực nào để vẽ sơ đồ ham muốn của chúng ta sẽ gặp phải sự thất vọng bởi bản chất dễ thay đổi của chúng: những ham muốn vào cuối quá trình vẽ sơ đồ gần như chắc chắn sẽ khác với những ham muốn lúc bắt đầu. (Quả thật, quá trình hỏi một người bằng những câu hỏi-tại sao lặp đi lặp lại nhằm vẽ sơ đồ ham muốn của anh ta có lẽ sẽ mang đến một ham muốn mới—nên chúng ta cần dừng quấy rầy anh ấy bằng những câu hỏi-tại sao.)

Ngay cả khi chúng ta có thể vượt qua những vấn đề này và vạch được một sơ đồ ham muốn của ai đó, thì có lẽ nó sẽ chẳng đáng tin: như ta sẽ thấy ở Chương 5, câu trả lời của người đó cho những câu hỏi-tại sao của chúng ta hoàn toàn không đáng tin cậy, vì con người thường không thực sự biết được lý do tại sao họ lại muốn thứ mà họ muốn. Vả lại, một sơ đồ như vậy chỉ là lý thuyết suông. Chắc chắn là người có những ham muốn mà chúng ta lập sơ đồ sẽ chẳng cần tham khảo sơ đồ của chúng ta để đưa ra các quyết định. Anh ta cũng chẳng cần giữ bản sao của sơ đồ ấy trong đầu mình. Tất cả những gì anh ta cần là ghi nhớ vài ham muốn cơ bản. Bằng cách nhắc đến chúng, anh ta có thể, nhờ suy luận nhân-quả, tạo ra những ham muốn (dùng làm phương tiện) mới khi hoàn cảnh sống yêu cầu.

Nếu chúng ta thống kê những ham muốn của mình thì chúng ta sẽ phát hiện thấy đại đa số ham muốn mà chúng ta tạo ra là những ham muốn-phương tiện. Nhìn chung, chúng ta đang nỗ lực hướng đến một số mục tiêu, và bởi lý do này mà chúng ta hình thành nên các ham muốn, mà thỏa mãn chúng sẽ cho phép chúng ta đạt được mục tiêu đó. Ví dụ, khi tôi ngồi đây, mục tiêu quan trọng nhất của tôi là viết cuốn sách này. Do đó, tôi hình thành một chuỗi ham muốn liên tục là viết câu, đọc vài cuốn sách, v.v... Xen kẽ với những ham muốn-phương tiện này là những ham muốn cuối cùng thi thoảng xuất hiện, bao gồm ham muốn cuối cùng khoái lạc, khi gần đến giờ ăn trưa, để xua đi cơn đói và ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc để tạm dừng lại khi đang viết sách để tặc lưỡi hay gõ gõ ngón tay. 

Vì những ham muốn cuối cùng khoái lạc có động lực thúc đẩy rất mạnh nên chúng thường làm nảy sinh nhiều ham muốn-phương tiện hơn ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc. Bởi lý do này, khi chúng ta xem xét những ham muốn mà ta hình thành nên trong suốt một ngày, chúng ta thấy chúng có xu hướng là những mắt xích trong những chuỗi ham muốn kết thúc ở những ham muốn khoái lạc.

Giả sử, qua một ví dụ minh họa, đó là vào lúc sáng sớm và tôi đang thay quần áo. Tôi xỏ giày trái. Tại sao tôi lại muốn mang giày? Vì tôi cảm thấy tốt khi mang giày hơn là không mang, đặc biệt là vào mùa đông. Do đó, ham muốn đi giày của tôi là một ham muốn-phương tiện khoái lạc gián tiếp. Bây giờ, giả sử sau khi xỏ xong giày trái thì tôi nhận ra mình lấy giày phải sai kích cỡ từ tủ giày. Vào lúc này, việc dễ nhất là trả lại giày phải không cùng cỡ. (Suy cho cùng, làm điều này sẽ thỏa mãn ham muốn mang giày của tôi.) Khả năng là tôi sẽ không xỏ giày phải mà thay vào đó sẽ hình thành một ham muốn là đi đến tủ giày và lấy giày cùng cỡ với giày trái mà tôi đã xỏ. Thoạt đầu ham muốn cuối cùng này có vẻ là phi-khoái lạc, nhưng khi chúng ta phân tích động cơ của tôi, chúng ta sẽ thấy nó là gì. Xét cho cùng thì tại sao tôi lại muốn đi giày cùng kích cỡ? Vì nếu tôi đi sai cỡ giày, tôi sẽ bị mất mặt khi người khác nhìn thấy chuyện này. Tôi muốn đi đúng cỡ giày vì tôi muốn tránh bị bẽ mặt, và tôi muốn tránh bị bẽ mặt vì cảm giác rất tồi tệ. Vì vậy, ham muốn đi đến tủ giày để chọn giày phải cùng cỡ là một ví dụ khác về một ham muốn-phương tiện khoái lạc gián tiếp.

Tương tự thế, nếu chúng ta phân tích những ham muốn khác mà ta hình thành nên trong suốt một ngày thì ta sẽ thấy hầu hết chúng đều là ham muốn khoái lạc. Một số, bao gồm ham muốn xua đi cơn đói của tôi, là ham muốn khoái lạc trực tiếp; còn những ham muốn khác, như ham muốn đi giày cùng kích cỡ, là ham muốn khoái lạc gián tiếp. Vì chúng nhiều hơn và có động lực thúc đẩy mạnh mẽ hơn hơn những ham muốn phi-khoái lạc của chúng ta, nên những ham muốn khoái lạc sẽ có sức ảnh hưởng đến cuộc sống của ta lớn hơn ham muốn phi-khoái lạc. Ham muốn cuối cùng phi-khoái lạc của ai đó là tặc lưỡi sẽ ít ảnh hưởng đến cuộc đời anh ta; trái lại, ham muốn cuối cùng khoái lạc của anh ta là đạt được lạc thú tình dục, có thể có một sức tác động lớn. Vì anh ta có ham muốn này nên anh ta sẽ dốc hết sức để khiến mình trông thật quyến rũ trước phụ nữ. Cũng vậy, ham muốn cuối cùng khoái lạc của anh ta là tránh bị đói bụng đồng nghĩa với việc anh ta sẽ cố hết sức để duy trì một số dư tài khoản ngân hàng nhất định. Quả thật, nếu tình dục không làm con người cảm thấy sướng và đói ăn không làm anh ta cảm thấy tệ thì anh ta sẽ tạo ra ít ham muốn-phương tiện hơn so với hiện tại, và do đó, cuộc sống của anh ta sẽ đơn giản đi nhiều. 

Hãy tưởng tượng về một người không có khả năng cảm thấy vui hay buồn, tốt hay tệ. Người này sẽ không bao giờ hình thành được những ham muốn cuối cùng khoái lạc. Trái lại, những ham muốn duy nhất mà anh ta có thể hình thành sẽ là những ham muốn phi-khoái lạc, chẳng hạn như ham muốn tặc lưỡi. Rõ ràng là người này sẽ khá thiếu động lực. Anh ta sẽ không cảm thấy thôi thúc phải ăn uống, chăm sóc bản thân hay tìm người bầu bạn, danh tiếng hay tài sản. Anh ta sẽ giống như một người bị trầm cảm nặng. Trừ khi có ai đó chăm sóc, bằng không anh ta sẽ sớm lìa đời.

Tuy nhiên, nếu một người có khả năng hưởng thụ tình dục hay biết đói bụng, thì anh ta có thể hình thành những ham muốn cuối cùng tương ứng, và khi đã hình thành ham muốn thì anh ta sẽ tạo ra những ham muốn-phương tiện, mà nhờ thỏa mãn chúng sẽ cho phép anh ta hưởng thụ tình dục và tránh những cơn đói. Hơn nữa, anh ta sẽ cảm thấy có nhiều động lực để thỏa mãn các ham muốn-phương tiện mà anh ta đã hình thành. Vì thế, ngày tháng của anh ta sẽ đầy ắp hoạt động. Như ta thấy ở Chương 6, tự nhiên đã thiết lập cho chúng ta để cảm nhận một số thứ là tốt và một số thứ khác thì làm ta cảm thấy tệ, và thành ra chúng ta không chỉ sống năng động mà còn năng động theo cách làm tăng khả năng tồn tại và sinh sản của chúng ta. 

Những ham muốn hình thành trong ta như thế nào? Để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành ham muốn, hãy xem xét lại về cậu sinh viên đang học dự bị trường luật. Giả sử cậu tìm đến người cố vấn nghề nghiệp. Người cố vấn xem các khóa học mà cậu đã tham gia và cho cậu vài lời khuyên: “Em cần đăng ký lớp logic của Giáo sư Irvine nếu muốn tốt nghiệp.” Cho đến thời điểm này, cậu sinh viên có lẽ chưa có mong muốn tham gia khóa học về logic của tôi; quả thật, cậu ấy có thể có mong muốn là không phải học môn đó, vì nghe mọi người bảo học logic khó lắm. Nhưng bây giờ cậu ấy hình thành một ham muốn mới—tham gia khóa học logic của tôi vào quý tới. Khi người cố vấn thông báo với cậu ấy rằng khóa học đã đủ sinh viên và trừ khi tôi sẵn sàng chấp nhận cho cậu vào học, cậu sẽ phải chờ đợi để được học, do đó việc tốt nghiệp sẽ bị hoãn lại, ham muốn tham gia khóa học của tôi của cậu sinh viên trở nên mãnh liệt. Chẳng mấy chốc cậu ấy đã đứng trước cửa nhà tôi, cầu xin tôi nhận cậu vào lớp logic. “Em thực sự rất muốn học,” cậu nài xin, và sau khi ngừng một lúc, cậu gian manh nói tiếp, “vì em nghe nói lớp học của thầy rất hay.”

Trong trường hợp này, quá trình hình thành ham muốn là lý trí một cách đáng tán dương: xét đến ham muốn tốt nghiệp đại học, thì hoàn toàn hợp lý khi cậu ấy muốn tham gia lớp học vì nhận ra cách duy nhất để cậu có thể đáp ứng được mục tiêu này là đăng ký học lớp logic của tôi. Hơn nữa, ham muốn mà ta đang bàn đến được hình thành một cách có ý thức—có thể nói là giữa ban ngày ban mặt. Nếu được hỏi thì cậu sinh viên có thể dễ dàng thuật lại các bước liên quan đến việc hình thành nên ham muốn này.

Trong những trường hợp khác, quá trình hình thành ham muốn khá bí ẩn. Giả sử sau khi tôi nhận cậu ta vào lớp của tôi—liệu tôi có ngoảnh mặt trước một sinh viên nghĩ rằng lớp học của tôi rất hay không?—cậu sinh viên về nhà và nằm thư giãn rồi xem tivi. Mặc dù cậu ấy đang nghỉ ngơi nhưng, quá trình hình thành ham muốn vẫn tiếp tục tiếp diễn. Dù mới ăn trưa xong cách đây 1 tiếng và không thấy đói, nhưng cậu vẫn thấy mình nghĩ đến bánh rán ở dưới bếp. Chẳng mấy chốc cậu đã đứng dậy và ăn không chỉ một mà là nửa tá bánh. Cậu trở lại đi-văng và ngả người thoải mái trên ghế, cậu nhận ra thay vì xem tivi thì cậu đang nghĩ đến cô gái mà cậu quen: “Chẳng phải sẽ tuyệt lắm sao,” cậu ta tự nhủ, “nếu nàng thích đi chơi với mình? Và chẳng phải sẽ còn tuyệt hơn nữa nếu nàng chịu lên giường với mình?” Rồi sau đó những suy nghĩ của cậu chuyển sang viễn cảnh làm thêm mùa hè: có vẻ như cậu sẽ lại làm nhân viên cứu hộ tại bể bơi. Ngược lại, cậu bạn cùng phòng thì được sắp xếp cho một vị trí thực tập được trả lương cao tại công ty riêng của cha cậu. (Người bạn cùng phòng này cũng đã có được một chiếc xe Dodge Viper: người cha đã tặng nó cho cậu như món quà tốt nghiệp phổ thông.) Trước khi biết đến nó thì cậu sinh viên đang chìm đắm trong cơn đố kỵ: cậu ta thấy mình đang tưởng tượng cảnh công ty của cha người bạn cùng phòng bị phá sản và cậu ấy buộc phải bán xe Viper, làm thêm công việc mùa hè là bán đồ ăn nhanh và dọn nhà vệ sinh tại bể bơi.

Quá trình mà cậu sinh viên hình thành những ham muốn ở trên rõ ràng là khác với quá trình cậu ấy hình thành ham muốn được tham gia lớp logic của tôi. Cậu chẳng quyết định được mấy trong việc cậu muốn ăn bánh rán, muốn hẹn hò với cô gái nào đó, và thấy người bạn cùng phòng rơi vào hoàn cảnh hèn mọn khi cậu khám phá ra những ham muốn ấy ở trong mình. Quả thực, cậu có thể kể với chúng ta rằng cậu ước gì mình không thèm ăn bánh rán, vì dạo này cậu đang cố gắng giảm cân; rằng cậu ước mình đừng ham hẹn hò với cô gái kia, vì cổ là bồ của cậu bạn cùng phòng (nhân đây, tất cả đều là những lý do để thêm đố kỵ với người bạn cùng phòng); và cậu ước gì mình đừng mong nhìn thấy bạn chung phòng lâm vào hoàn cảnh hèn mọn vì đây là một mong muốn không phù hợp với người theo đạo Cơ đốc và cậu thì đang nỗ lực để trở thành một con chiên ngoan đạo hơn. Tuy nhiên, những ham muốn ấy cứ hiện diện trong cậu một cách đáng ghét và không thể chối cãi, và cậu phải xử lý được chúng. Theo một nghĩa nào đó thì cậu không tạo ra những ham muốn ấy, dù sao đi nữa, cũng là vô thức và không tự nguyện; thay vào đó, chúng lén lút được gán vào cậu. Cậu không tài nào giải thích được làm sao chúng có mặt ở đó và tương đối bất lực trong việc làm cho chúng biến đi.

Một điều sớm lộ rõ khi chúng ta xem xét những trường hợp như vậy đó là nếu chúng ta muốn sống cuộc đời do mình lựa chọn, thay vì để cho định mệnh quyết định bởi những ham muốn mà ta không lựa chọn được, chúng ta cần học cách kiểm soát quá trình hình thành ham muốn, và để đạt mục tiêu này, chúng ta cần hiểu được lý do tại sao chúng ta hình thành những ham muốn mà ta đang có. Do đó, chúng ta hãy hướng sự chú ý của mình sang một cuộc điều tra về nguồn gốc của ham muốn trong chúng ta.

 

Dịch bởi Chó béo cute

(hết chương 3)