SỰ LƯU ĐÀY- Sống sót khi phải thay đổi nơi ở
 
Các triết gia Khắc kỷ sẽ ứng phó thế nào khi phải thay đổi nơi ở
 
*Phần này thuộc chương 16 cuốn Chủ nghĩa khắc kỷ - William Irvine nhưng bị biên tập lược bỏ.
 
VÀO THỜI ĐẾ CHẾ LA MÃ CỔ ĐẠI người ta bị kết án lưu đày vì nhiều tội khác nhau, cả thực tế và tưởng tượng, và dường như việc sống cuộc đời của một triết gia làm gia tăng khả năng mà người đó phải chịu bị xử phạt theo hình thức này. Thật vậy, những triết gia bị trục xuất khỏi Rome ít nhất ba lần: vào năm 161 trước Công Nguyên, một lần nữa vào thời hoàng đế Vespasian, và thời kỳ cai trị của Domitian.
 
Nếu một cuộc đời triết gia làm một người dễ bị chịu án trục xuất, thì những nhà Khắc kỷ càng có nguy cơ cao hơn. Với việc cứng đầu thực hiện những điều mà họ cho là nghĩa vụ xã hội, mặc dù điều đó có nghĩa là họ đang chống lại các thế lực và kết oán với những kẻ thù chính trị. Trong bốn triết gia Khắc kỷ nổi tiếng tại Rome, chỉ có Marcus là thoát được án trục xuất- nhưng điều đó dễ hiểu khi ông ta chính là một hoàng đế. Seneca và Epictetus đều từng bị trục xuất một lần, và Musonius bị trục xuất hai lần. Những nhà Khắc kỷ bị trục xuất đáng chú ý khác bao gồm Rutilus Rufus, Posidonius, Helvidius Pricus, và Paconius Agrippinus. Và những nhà Khắc kỷ này được cho là đã gặp may mắn. Những nhà Khắc kỷ khác đã đụng chạm đến những nhà cầm quyền đến mức thay vì bị đày ải, họ phải thụ án tử hình; đó là số phận của Thrasea Paetus và Barea Soranus. (Theo Tacius, ý chí muốn giết hai nhà Khắc kỷ này của Hoàng đế Nero có thể được hiểu là một nỗ lực để “Hủy diệt đạo đức.”)
 
Bên cạnh đó, phản ứng của Paconius đối với án trục xuất chính là một ví dụ tuyệt vời cho cách mà chủ nghĩa Khắc kỷ phản ứng lại với điều mà những người bình thường cho là một khổ ải của nhân sinh. Khi một người nói cho ông ấy biết ông ta sắp sửa phải ra chất vấn trước Viện Nguyên Lão, Paconius đã tỏ ra dửng dưng; ông ta vẫn tiếp tục những bài tập thể dục hằng ngày và tắm rửa. Khi ông ta được thông báo rằng ông đã bị kết tội, ông hỏi rằng ông bị trục xuất hay tử hình. “Ông bị trục xuất,” người kia đáp. Sau đó ông hỏi liệu tài sản của ông ấy ở Aricia có bị tịch thu hay không, và khi được bảo rằng không, ông ta đáp, “Vậy ta hãy tới Aricia và ăn tối thôi.” Epictetus cũng là một minh chứng cho hành vi Khắc kỷ này: “Đây chính là dịp để thể hiện những điều mà ta đã tập luyện từ lâu, ta phải đặt tham muốn và sự chống cự tránh khỏi những chướng ngại và biến chúng thành bằng chứng phủ định sự ngẫu nhiên. Ta phải chết. Nếu phải chết ngay bây giờ, ta sẽ chết; và nếu kéo dài thêm chút nữa, ta sẽ dùng bữa trưa, vì giờ ăn trưa đã đến, và ngay sau đó ta sẽ chết vào thời khắc đã được định sẵn.”
 
Các triết gia chắc chắn chẳng bao giờ e sợ án trục xuất. Một phần là vì những chính phủ đã sáng suốt hơn trước và một phần bởi vì triết gia đã thành công trong việc biến bản thân họ trở nên vô hình trước những chính khách và trước đa số quần chúng. Đôi khi, trong những giây phút nhàn rỗi, tôi nhận thấy bản thân mình cầu mong chính phủ của đất nước tôi sẽ xem xét việc trục xuất những triết gia- hoặc nếu không trục xuất chúng tôi thì chí ít hãy nhốt chúng tôi lại trong vài ngày để dạy cho chúng tôi một bài học. Không phải là tôi muốn mình bị trục xuất hoặc những đồng nghiệp của tôi bị trục xuất, nhưng sự thật rằng một chính quyền muốn trục xuất một tập thể nào đó chính là bằng chứng rằng tập thể đó có sức ảnh hưởng, và rằng tập thể đó tạo ra sự khác biệt trong nền văn hóa, một sự thay đổi làm cho nhà cầm quyền lo lắng. Tôi cho rằng điều mà tôi thực sự ước muốn đó là triết học quan trọng đối với nền văn hóa của tôi giống như nó đã từng trong thời kỳ La Mã cổ đại.
 
TRONG CHƯƠNG 12, tôi đã đề cập tới lời an ủi của Seneca dành cho người mẹ Helvia của ông, người đã buồn rầu trước tin ông bị trục xuất. Trong lúc an ủi, Seneca đã dỗ dành bà bằng cách nói với bà rằng án lưu đày không thực sự tệ đến thế- không tệ như người đời đồn thổi. Lưu đày, ông giải thích, chẳng khác gì thay đổi chỗ ở. Hơn nữa, ngay tại địa điểm tồi tệ nhất để nhận án, người bị lưu đày sẽ tìm được những người có ý chí tự do giống như họ.
 
Seneca nói rằng, khi bị lưu đày thì ông ấy bị tước đi tổ quốc, bạn bè, gia đình và tài sản, nhưng ông ta đã đem theo cùng chuyến lưu đày thứ mà ông ta xem trọng nhất: vị trí của ông ấy trong Tự Nhiên và đạo đức của chính mình. Ông nói thêm, “Chính nội tâm là điều làm chúng ta giàu có; nó đi cùng ta theo chuyến lưu đày, và trong những cảnh xa xôi hoang dã nhất, khi đã có được tất cả những gì cơ thể cần để duy trì sự hiện hữu, tấm thân này sẽ được đắm mình trong hỷ lạc vì những điều tốt đẹp nội tại.” Seneca rõ ràng đã dành thời gian trong chuyến lưu đày của mình để đọc, viết và nghiền ngẫm tự nhiên.
Như ta đã thấy, cuộc lưu đày của Musonius, đã là một trong những cuộc lưu đày tệ hại nhất có thể, đi đến hòn đảo “chó ăn đá, gà ăn sỏi” của Gyara. Tuy nhiên, ông nói rằng, những người đến thăm ông trong chuyến lưu đày của mình chưa bao giờ nghe ông than vãn hoặc trông thấy ông chán chường. Việc bị lưu đày có thể lấy đi tổ quốc của ông, nhưng ông nói điều đó không thể lấy đi khả năng chịu đựng chuyến lưu đày của ông. Thật vậy, Musonius nghĩ án lưu đày không thể cướp đi bất kỳ thứ gì quý giá của một người cả. Ví dụ như án lưu đày không thể ngăn ngại chúng ta trở nên dũng cảm và chính trực. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có đạo đức, cuộc lưu đày sẽ tước đi của chúng ta hầu hết những thứ ta (lầm tưởng) cho là quý giá, và do đó ta sẽ cảm thấy đau khổ.
 
Để vượt qua và thậm chí là thăng hoa trong cuộc lưu đày, Musonius nói, một người cần phải luôn nhớ rằng hạnh phúc của anh ta dựa vào những giá trị của anh ta thay vì nơi anh ta cư ngụ. Thật vậy, Musonius xem ông ta là không phải là một công dân của Rome mà là của “thành phố của Zeus, nơi cư ngụ của người và thần.” 6 Ông đã chỉ ra rằng ngay cả khi trong chuyến lưu đày ta vẫn có thể liên hệ với người khác và rằng những người bạn chân chính sẽ không từ chối liên hệ với ta chỉ bởi vì ta bị lưu đày. Ông quả quyết rằng, nếu những người bị lưu đày cảm thấy mình thiếu thốn, đó là bởi vì họ luôn muốn sống trong nhung lụa. Hơn nữa, những người bị lưu đày có những thứ mà những người trong thành Rome không có- đó chính là sự tự do để nói lên chính kiến của mình.
 
Musonius cũng nhắc chúng ta rằng việc lưu đày đã thay đổi con người theo hướng tốt hơn. Ví dụ như nó ép họ phải đoạn tuyệt với thói sống xa hoa và qua đó tăng cường sức khỏe của họ. Nó còn biến đổi những người bình thường, như Diogenes của thành Sinope, thành những triết gia. (Trước khi trở thành người theo chủ nghĩa Hoài nghi, Diogenes đã buộc phải tháo chạy khỏi Sinope bởi vì cả ông ấy và người cha chủ ngân hàng của mình đã cuỗm rất nhiều tiền ở đó; khi ai đó nhắc lại vụ việc này để làm nhục ông, Diogenes, với sự thông thái của một người theo chủ nghĩa Hoài nghi, đáp lại rằng mặc dù chuyện người dân của Sinope kết án lưu đày với ông là có thật, ông ta đổi lại đã kết án họ phải ở lại Sinope.)
 
Một điều rất rõ ràng giải thích tại sao các nhà Khắc kỷ lấy sự lưu đày làm niềm hứng thú: như chúng ta đã thấy, họ có một cơ hội rất cao bị kết vào án này. Con người chúng ta không còn sống trong nỗi sợ bị kết án lưu đày bởi chính phủ nữa, nên chúng ta có thể cho rằng những lời khuyên của chủ nghĩa Khắc kỷ về sự lưu đày chỉ mang tính giáo điều và lịch sử. Nhưng điều này không đúng. Mặc dù người đọc cuốn sách này ít có khả năng sẽ bị trục xuất bởi chính phủ của họ, họ vẫn có một nguy cơ rất lớn bị trục xuất bởi con cái của họ nếu xu hướng xã hội hiện tại vẫn tiếp diễn- chính là bị trục xuất đến viện dưỡng lão. Đó là một sự thay đổi có thể phá hoại khủng khiếp sự an lạc của họ, nếu họ để điều đó xảy ra. Thật vậy, có một mối nguy hiểm rất thực rằng sự lưu đày này sẽ khiến họ phải dành những ngày cuối cùng quý giá của mình trên quả địa cầu để than trách về cuộc đời thay vì tận hưởng nó. Trong chương kế tiếp, chúng ta sẽ hướng sự chú ý của mình sang loại lưu đày đặc biệt này và sang những vấn đề khác liên quan đến quá trình già đi.