[Sách dịch] Bộ Não tự thay đổi chính nó (chương 5.1]

sach-dich-bo-nao-tu-thay-doi-chinh-no-chuong-5-1

Liệu pháp CI giúp bệnh nhân bị đột quỵ phục hồi.

Bộ Não tự thay đổi chính nó

THE BRAIN THAT CHANGES ITSELF

Tác giả: Norman Doidge

Năm xuất bản: 2007

Độ dài: 11 chương

Dịch bởi: TLHTP

 

Chương 5.

Bệnh nhân đột quỵ học cách di chuyển và nói lại

 

Bác sỹ Michael Bernstein, một bác sĩ phẫu thuật mắt và người chơi tennis sáu lần một tuần, bị đột quỵ khi đang ở giai đoạn đỉnh cao của cuộc đời, ở độ tuổi 54, đã lập gia đình với bốn đứa con. Anh ấy vừa hoàn thành một liệu pháp tính dẻo thần kinh mới, bình phục và trở lại làm việc khi tôi gặp anh ấy tại văn phòng của anh ở Birmingham, Alabama. Vì có nhiều phòng trong văn phòng của anh ấy, tôi đoán anh hẳn là có một số bác sỹ hỗ trợ anh. Không, anh giải thích, anh có rất nhiều phòng vì anh có nhiều bệnh nhân cao tuổi, và thay vì bắt họ di chuyển, anh đến tận phòng của họ. 

"Những bệnh nhân cao tuổi này, một vài người trong số họ bị đột quỵ, nên đi không vững." Anh cười.  

Vào buổi sáng hôm bị đột quỵ, bác sỹ Bernstein đã làm phẫu thuật cho bảy bệnh nhân, thực hiện phẫu thuật đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp và phẫu thuật khúc xạ thông thường - các thủ thuật khó trong mắt. 

Sau đó, khi bác sỹ Bernstein tự thưởng cho bản thân bằng một buổi chơi tennis, đối thủ của anh nói rằng anh không giữ được cân bằng và không chơi tennis như ngày thường của anh. Sau khi chơi tennis. Anh lái xe đến ngân hàng làm chút việc vặt, và khi anh cố đưa chân ra khỏi chiếc xe hơi thể thao gầm thấp thì không thể. Khi quay trở lại văn phòng, thư ký của anh nói rằng trông anh không được ổn. Bác sỹ gia đình của anh, Bác sỹ Lewis, người làm việc trong tòa nhà này, biết Bernstein mắc bệnh tiểu đường loại nhẹ, có vấn đề về cholesterol và mẹ anh nhiều lần bị đột quỵ, khiến anh trở thành ứng cử viên có nguy cơ bị đột quỵ sớm. Bác sĩ Lewis đã tiêm cho bác sĩ Bernstein một mũi heparin để làm máu không bị vón cục, và vợ của bác sĩ Bernstein đã đưa anh đến bệnh viện. 

Trong mười hai đến mười bốn giờ tiếp theo, cơn đột quỵ trở nên trầm trọng hơn và toàn bộ phần bên trái của cơ thể anh bị tê liệt hoàn toàn, dấu hiệu cho thấy một phần đáng kể của vỏ não vận động đã bị tổn thương. 

Hình ảnh chụp não MRI đã xác nhận chẩn đoán này — các bác sĩ đã nhìn thấy một khiếm khuyết ở phần bên phải của não điều khiển chuyển động ở bên trái cơ thể. Anh được chăm sóc đặc biệt trong một tuần, và phục hồi được một chút. Sau một tuần tập vật lý trị liệu, liệu pháp lao động và trị liệu ngôn ngữ trong bệnh viện, anh được chuyển đến cơ sở phục hồi chức năng trong hai tuần, sau đó được đưa về nhà. Anh có thêm ba tuần phục hồi chức năng như một bệnh nhân ngoại trú và được cho biết việc điều trị đã kết thúc. Anh còn nhận được sự chăm sóc sau đột quỵ đặc trưng. 

Nhưng sự phục hồi của anh chưa trọn vẹn. Anh vẫn cần đến một cây gậy. Tay trái của anh hầu như không hoạt động. Anh không thể đặt ngón tay cái và ngón tay đầu tiên của mình vào nhau trong một chuyển động gọng kìm. Dù anh là người thuận tay phải bẩm sinh, anh từng là người thuận cả hai tay và trước khi bị đột quỵ, anh có thể phẫu thuật đục thủy tinh thể bằng tay trái. Bây giờ anh không thể dùng được tay trái. Anh không thể cầm nĩa, đưa thìa lên miệng hoặc cài nút áo. Có lần trong quá trình phục hồi, anh được đến sân tennis và được đưa một cây vợt để xem thử anh có thể cầm nó được không. Anh không thể và bắt đầu tin rằng mình sẽ không bao giờ chơi tennis được nữa. Dù được cho biết là anh không thể lái chiếc xe Porsche nữa, anh đã chờ cho tới khi không còn ai ở nhà, "để leo lên chiếc xe trị giá $50,000 và lùi nó ra khỏi gara. Tôi lái xe đến tận cuối lối đi vào nhà, tôi quan sát cả hai hướng, và trông tôi như một thằng nhóc tuổi teen đang ăn trộm xe hơi. Khi tôi chạy đến ngõ cụt, chiếc xe bị chết máy. Trong xe Porsche, chìa khóa nằm ở bên trái của cột vô lăng. Tôi không thể xoay chìa khóa bằng tay trái của mình. Tôi phải dùng tay phải với qua và xoay chìa khóa để khởi động xe, vì tôi không có cách nào khác để ra khỏi xe và phải gọi điện về nhà nhờ người thân đến giúp tôi. Và tất nhiên, chân trái của tôi bị hạn chế và đạp côn không dễ dàng.” 

Bác sỹ Bernstein là một trong những người đầu tiên đến Phòng khám Trị liệu Taub, để tham gia liệu pháp vận động hạn chế (CI) của Edward Taub, khi chương trình này vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu. Anh cho rằng mình không còn gì để mất. Sự tiến bộ của anh với liệu pháp CI diễn ra rất nhanh. Anh mô tả về nó như sau: “Nó diễn ra liên tục. Chương trình bắt đầu lúc tám giờ sáng và làm không ngừng nghỉ cho đến khi bạn hoàn thành lúc bốn giờ ba mươi. Nó thậm chí còn tiếp tục vào bữa trưa. Chỉ có hai chúng tôi, bởi vì đó là giai đoạn đầu của trị liệu. Một bệnh nhân khác là một y tá, trẻ hơn tôi, khoảng bốn mươi mốt hoặc bốn mươi hai tuổi. Cô ấy đã bị đột quỵ sau khi sinh con. Và vì một số lý do, cô ấy đã thi đua với tôi” anh cười - "nhưng chúng tôi rất hợp nhau, và chúng tôi đã đút cho nhau ăn. Họ sẽ yêu cầu bạn làm rất nhiều nhiệm vụ nhỏ nhặt, như nâng lon từ kệ này sang kệ khác. Vì cô ấy rất thấp, nên tôi sẽ xếp các lon lên cao nhất có thể. 

Họ lau mặt bàn và lau cửa sổ phòng thí nghiệm để mở rộng cánh tay theo chuyển động tròn. Để tăng cường mạng lưới não cho bàn tay của họ và phát triển sự kiểm soát, họ kéo căng các dải cao su dày bằng các ngón tay yếu. "Sau đó tôi sẽ phải ngồi đó và viết chữ ABC bằng tay trái của tôi." Trong hai tuần anh ta học cách viết chữ in hoa và sau đó viết bằng tay trái bị ảnh hưởng của anh. Đến cuối thời gian của liệu pháp, anh có thể chơi Scrabble, nhặt những viên gạch nhỏ bằng tay trái và đặt chúng lên tấm bảng một cách thích hợp. Kỹ năng vận động tinh của anh đã trở lại. Khi về nhà, anh tiếp tục thực hành các bài tập và tiếp tục cải thiện. Và anh ta có một phương pháp điều trị khác, kích thích điện trên cánh tay, để kích hoạt tế bào thần kinh. 

Bây giờ anh ấy đã trở lại điều hành văn phòng bận rộn của mình. Anh ấy cũng đang chơi tennis ba ngày một tuần. Anh vẫn gặp một số khó khăn khi chạy và đang cố gắng khắc phục điểm yếu ở chân trái chưa được điều trị đầy đủ tại phòng khám Taub - từ đó đã bắt đầu một chương trình đặc biệt dành cho những người bị liệt chân. 

Anh ấy còn sót lại một vài vấn đề. Tay trái của anh không có cảm giác như bình thường, đó là điều thường thấy sau trị liệu CI. Chức năng cơ thể quay trở lại, nhưng không hoàn toàn về mức cũ. Tuy nhiên, khi tôi bảo anh ấy viết ABC bằng tay trái, chúng trông rất đẹp và tôi không bao giờ đoán được anh ấy từng bị đột quỵ hay anh ấy thuận tay phải.

Mặc dù anh ấy trở nên tốt hơn bằng việc tại tạo bộ não của anh và sẵn sàng quay lại với công việc bác sỹ phẫu thuật, anh vẫn quyết định không làm, chỉ vì nếu ai đó kiện anh tội sơ suất, thì điều đầu tiên mà các luật sư sẽ nói đó là anh ấy từng bị đột quỵ và không nên làm công việc phẫu thuật. Ai có thể tin rằng Bác sĩ Bernstein có thể phục hồi hoàn toàn như trước?

Đột quỵ là một cú đánh bất ngờ, một tai họa. Bộ não bị tấn công từ bên trong. Một cục máu đông hoặc bị chảy máu trong động mạch não sẽ cắt oxy đến các mô của não, giết chết chúng. Nạn nhân đau khổ nhất của đột quỵ kết cục trở thành cái bóng của chính mình, bị mắc kẹt trong cơ thể của họ, được nuôi dưỡng như đứa trẻ, không thể tự chăm sóc, di chuyển hoặc nói chuyện. Đột quỵ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật ở người lớn. Mặc dù nó thường ảnh hưởng đến người cao tuổi, nhưng nó cũng có thể xảy ra ở những người trong độ tuổi bốn mươi hoặc trẻ hơn. Các bác sĩ trong phòng cấp cứu có thể ngăn không để đột quỵ trở nên tồi tệ hơn bằng cách mở khóa cục máu đông hoặc cầm máu, nhưng một khi tổn thương đã xảy ra thì y học hiện đại gần như bó tay - hoặc cho đến khi Edward Taub phát minh ra phương pháp điều trị dựa trên tính dẻo thần kinh. Cho đến khi trị liệu CI, các nghiên cứu về bệnh nhân đột quỵ mãn tính bị liệt cánh tay đã kết luận rằng hiện tại chưa có phương pháp điều trị nào hiệu quả. Có những báo cáo giai thoại hiếm hoi về sự phục hồi của bệnh nhân đột quỵ, giống như báo cáo về cha của Paul Bach-y-Rita (ở chương 1). Một số người tự phục hồi được, nhưng một khi họ ngừng tiến bộ, thì các liệu pháp truyền thống không giúp được gì nhiều. 

Cách điều trị của Taub thay đổi tất cả những điều này bằng cách giúp bệnh nhân đột quỵ thiết lập lại bộ não của họ. Những bệnh nhân bị liệt trong nhiều năm và được cho biết họ sẽ không bao giờ phục hồi được đã bắt đầu đi đứng trở lại. Một số người còn lấy lại khả năng nói. Trẻ em bị bại não đã kiểm soát các cử động của chúng. Phương pháp điều trị tương tự mang lại hy vọng những bệnh nhân bị chấn thương tủy sống, Parkinson, đa xơ cứng và thậm chí viêm khớp. 

Tuy nhiên, rất ít người biết đến những đột phá của Taub, mặc dù lần đầu tiên ông ta nghĩ ra và đặt nền móng cho chúng hơn một phần tư thế kỷ trước, vào năm 1981. Ông chần chừ chia sẻ chúng vì ông từng là một trong những nhà khoa học tàn nhẫn nhất thời đại của chúng ta. Những con khỉ mà ông làm nghiên cứu trở thành những động vật thí nghiệm nổi tiếng nhất lịch sử, không phải vì những thứ mà các thí nghiệm của ông chứng minh mà vì những cáo buộc về chuyện chúng bị ngược đãi — những cáo buộc này khiến ông không được làm thí nghiệm trong nhiều năm. Những cáo buộc này có vẻ hợp lý bởi vì Taub đã vượt xa các đồng nghiệp của mình bằng tuyên bố những bệnh nhân bị đột quỵ mãn tính có thể chữa được bởi liệu pháp dựa trên tính dẻo thần kinh nghe có vẻ khó tin. 

Edward Taub

Edward Taub là một người đàn ông gọn gàng, tận tâm và hay chú ý đến tiểu tiết. Ông đã ngoài bảy mươi, dù vẻ ngoài của ông trông trẻ hơn, ăn mặc tinh tế. Trong cuộc trò chuyện Taub có giọng nói nhỏ nhẹ, tự sửa lỗi chính mình để đảm bảo những điều ông ấy nói là chính xác. Ông ấy sống ở Birmingham, Alabama, nơi có trường đại học mà cuối cùng ông được quyền phát triển phương pháp trị liệu của ông dành cho các bệnh nhân đột quỵ. Vợ ông, Mildred, là một ca sỹ hát giọng nữ cao, được thu âm với Stravinsky, và hát cùng Metropolitan Opera. Bà ấy vẫn là một mỹ nhân dịu dàng nữ tính. 

Taub sinh ra ở Brooklyn vào năm 1931, học ở trường công và tốt nghiệp phổ thông khi mới mười lăm tuổi. Tại Đại học Columbia, ông nghiên cứu "chủ nghĩa hành vi" với Fred Keller. Chủ nghĩa hành vi bị thống trị bởi nhà tâm lý học Harvard B. F. Skinner, và Keller là người thay thế trí tuệ của Skinner. Các nhà hành vi thời đó tin rằng tâm lý học phải là một môn khoa học "khách quan" và chỉ nên xem xét những gì có thể nhìn thấy và đo lường được: những hành vi có thể quan sát. Chủ nghĩa hành vi là một phản ứng chống lại tâm lý học tập trung vào tâm trí vì theo các nhà hành vi, những suy nghĩ, cảm xúc và những ham muốn chỉ đơn thuần là trải nghiệm “chủ quan” không thể đo lường được một cách khách quan. Họ không hứng thú với bộ não vật lý, cho rằng nó giống như tâm trí, là một “chiếc hộp đen.” Người cố vấn của Skinner, John B. Watson, đã viết một cách chế nhạo, "Phần lớn các nhà tâm lý học bàn luận khá sôi nổi về việc hình thành những con đường mòn thần kinh mới trong bộ não, như thể có một nhóm người hầu nhỏ bé của Vulcan chạy qua hệ thần kinh mang theo búa và đục để đào những con đường mới và đào sâu những con đường cũ." Đối với các nhà hành vi, chuyện gì diễn ra bên trong tâm trí hoặc bộ não đều không quan trọng. Người ta có thể khám phá ra các quy luật của hành vi chỉ bằng cách gây ra một kích thích lên một con vật hoặc một người và quan sát phản ứng. Tại Columbia, các nhà hành vi đã làm thí nghiệm chủ yếu với chuột. Khi còn là một nghiên cứu sinh, Taub đã phát triển cách thức quan sát chuột và ghi lại các hoạt động của chúng bằng cách sử dụng một "nhật ký chuột” phức tạp. 

Nhưng khi ông sử dụng phương pháp này để kiểm tra một lý thuyết nào đó của người cố vấn của ông, Fred Keller, ông đã kinh hoàng bác bỏ nó. Taub yêu thích Keller và ngại ngần thảo luận các kết quả thực nghiệm với ông ấy, nhưng Keller đã phát hiện ra và bảo Taub rằng ông phải luôn luôn "trung thực với dữ liệu.”

Chủ nghĩa hành vi thời đó, bằng việc khăng khăng cho rằng mọi hành vi đều là một đáp ứng trước một kích thích, mô tả con người là thụ động và đặc biệt yếu kém trong việc giải thích tại sao chúng ta có thể làm những công việc tình nguyện. Taub nhận ra tâm trí và bộ não phải tham gia vào việc khởi xướng nhiều hành vi, và việc loại bỏ tâm trí và não bộ của chủ nghĩa hành vi là một lỗ hổng chết người. Dù là một sự lựa chọn không thể tưởng tượng nổi cho một nhà hành vi trong thời đại đó, ông ta đã nhận công việc trợ lý nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thần kinh thực nghiệm, để hiểu rõ hơn về hệ thần kinh. Trong phòng thí nghiệm họ đang thực hiện các thí nghiệm “chặn xung động thần kinh tới” với những con khỉ. 

Chặn xung động thần kinh tới (Deafferentation) là một kỹ thuật cổ, được dùng bởi người từng đoạt giải Nobel Sir Charles Sherrington năm 1895. Một "dây thần kinh hướng tâm", trong bối cảnh này, có nghĩa là "dây thần kinh cảm giác", truyền tải các xung cảm giác đến cột sống và sau đó là não. Chặn xung động thần kinh tới là một phương pháp phẫu thuật trong đó các dây thần kinh cảm giác đến bị cắt để không có thông tin đầu vào nào của chúng có thể thực hiện chuyến đi này. Một con khỉ bị chặn xung động thần kinh tới không thể cảm nhận được các chi bị chặn xung thần kinh tới của nó đang ở đâu trong không gian, hoặc không cảm nhận được bất kì cảm giác hoặc đau đớn nào trong chúng khi được chạm vào. Chiến công tiếp theo của Taub - khi còn là một nghiên cứu sinh - là lật đổ một trong những quan điểm quan trọng nhất của Sherrington và nhờ thế đặt nền móng cho việc điều trị đột quỵ của ông.   

Sherrington ủng hộ quan điểm cho rằng tất cả các chuyển động của chúng ta xảy ra nhằm đáp ứng lại một số kích thích và chúng ta di chuyển, không phải vì bộ não của chúng ta điều khiển nó, mà bởi vì phản xạ cột sống của chúng ta làm cho chúng ta di chuyển.

Quan điểm này được gọi là "thuyết phản xạ" và đã từng thống trị khoa học thần kinh.

Một phản xạ cột sống không liên quan đến não bộ. Có nhiều phản xạ cột sống nhưng ví dụ đơn giản nhất là phản xạ đầu gối. Khi bác sĩ gõ nhẹ vào đầu gối của bạn, một thụ thể cảm giác bên dưới da nhấc vòi và truyền một xung dọc theo nơ-ron cảm giác ở đùi và vào cột sống, truyền nó đến một nơ-ron vận động trong cột sống, nó gửi một xung trở lại cơ bắp đùi của bạn, khiến nó co lại và làm cho chân bạn giật về phía trước một cách không tự nguyện. Khi đi bộ, chuyển động ở một chân kích hoạt chuyển động của chân kia, theo phản xạ.   

Lý thuyết này đã sớm được sử dụng để giải thích tất cả các chuyển động. Sherrington dựa trên niềm tin của mình rằng phản xạ là nền tảng của mọi chuyển động trong một thí nghiệm về Chặn xung động thần kinh tới mà ông làm với F. W. Mott. Họ chặn xung động thần kinh cảm giác ở cánh tay của một con khỉ, cắt chúng trước khi chúng đi vào tủy sống, vì vậy không có tín hiệu cảm giác nào có thể truyền đến não của con khỉ và phát hiện ra rằng con khỉ đã ngừng sử dụng chi. Điều này có vẻ lạ, bởi vì họ đã cắt dây thần kinh cảm giác (truyền cảm giác), chứ không phải dây thần kinh vận động từ não đến cơ bắp (kích thích chuyển động). Sherrington hiểu lý do tại sao con khỉ không có cảm giác nhưng không hiểu tại sao chúng không thể di chuyển được.

Để giải quyết vấn đề này, ông đề xuất rằng sự chuyển động dựa trên và được khởi xướng bởi phần cảm giác của phản xạ cột sống và những con khỉ của ông ta không thể di chuyển vì ông ta đã phá hủy phần cảm giác của phản xạ của chúng bằng cách Chặn xung động thần kinh tới. Các nhà tư tưởng khác đã sớm khái quát hóa ý tưởng của ông, lập luận rằng tất cả các chuyển động, và thực sự mọi thứ chúng ta làm, ngay cả hành vi phức tạp, đều được xây dựng từ các chuỗi phản xạ. Ngay cả những chuyển động tự nguyện như viết lách cũng đòi hỏi vỏ não vận động phải sửa đổi các phản xạ có từ trước. Mặc dù các nhà hành vi phản đối nghiên cứu về hệ thần kinh, nhưng họ thừa nhận quan điểm rằng tất cả các chuyển động đều dựa trên phản xạ đáp ứng với các kích thích trước đó, bởi vì nó loại tâm trí và bộ não ra khỏi hành vi. Điều này đến lượt nó lại ủng hộ quan điểm rằng tất cả các hành vi được xác định trước bởi những gì đã xảy ra với chúng ta trước đó và ý chí tự do đó là một ảo tưởng. Thực nghiệm của Sherrington trở thành tiêu chuẩn giảng dạy trong các trường y và các trường đại học. 

Taub, làm việc với một bác sĩ phẫu thuật thần kinh, A. J. Berman, muốn xem liệu ông có thể sao chép thí nghiệm của Sherrington trên một số con khỉ hay không, và ông ta mong đợi có được kết quả như của Sherrington. Đi thêm một bước xa hơn Sherrington, ông quyết định không chỉ Chặn xung động thần kinh tới ở một trong hai cánh tay của con khỉ mà còn bó cánh tay khỏe mạnh của khỉ trong một cái địu để hạn chế cử động của nó. Taub nhận ra những con khỉ có thể không dùng đến cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới của chúng bởi vì chúng có thể sử dụng cánh tay còn khỏe mạnh một cách dễ dàng. Việc bó cánh tay còn khỏe vào cái địu buộc con khỉ phải sử dụng cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới để tự ăn và di chuyển. 

Nó có hiệu quả. Những con khỉ, khi không thể sử dụng cánh tay khỏe mạnh của chúng đã bắt đầu dùng đến cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới. Taub nói, "Tôi nhớ lại nó một cách sống động. Tôi nhận ra tôi đã nhìn thấy những con khỉ sử dụng tay của chúng trong vài tuần, và tôi không thốt nên lời vì tôi chưa từng mong chờ điều này.”

Taub biết phát hiện của mình có ý nghĩa lớn. Nếu những con khỉ có thể cử động cánh tay bị chặn xung thần kinh tới của chúng mà không có cảm giác trong chúng thì khi đó lý thuyết của Sherrington và các giáo viên của Taub là sai lầm. Trong não bộ phải có các chương trình vận động độc lập, có thể khởi xướng chuyển động tự nguyện; chủ nghĩa hành vi và khoa học thần kinh đã đi vào ngõ cụt trong bảy mươi năm. Taub cũng nghĩ rằng phát hiện của mình có thể có ý nghĩa đối với việc phục hồi đột quỵ vì những con khỉ, giống như bệnh nhân đột quỵ, dường như không thể cử động cánh tay. Có lẽ một số bệnh nhân đột quỵ, như khỉ, cũng có thể cử động chân tay nếu bị ép buộc. 

Taub đã sớm nhận ra rằng không phải tất cả các nhà khoa học đều khoan dung tử tế khi lý thuyết của họ bị bác bỏ giống như Keller. Những tín đồ sùng bái Sherrington bắt đầu soi lỗi với thí nghiệm, phương pháp luận và cách giải thích của Taub. Các cơ quan cấp phép thì tranh luận về việc có nên cấp thêm tiền cho nghiên cứu sinh trẻ tuổi không. Giáo sư của Taub tại Columbia, Nat Schoenfeld, đã xây dựng một lý thuyết hành vi nổi tiếng trên cơ sở các thí nghiệm Chặn xung động thần kinh tới của Sherrington. Khi Taub bảo vệ luận án tiến sỹ của mình, hội trường mọi khi vắng tanh thì nay chật cứng. Keller, người cố vấn của Taub, vắng mặt, và Schoenfeld đã có mặt. Taub trình bày dữ liệu của mình và giải thích về nó. Schoenfeld tranh cãi với ông và bỏ ra ngoài. Rồi đến kì thi cuối kì. Taub, vào thời điểm này, đã nhận được nhiều khoản trợ cấp hơn nhiều giảng viên giảng dạy và đã chọn làm việc cho hai hồ sơ xin cấp tài trợ trong tuần chung kết, kỳ vọng được chấp nhận. Khi ông bị từ chối và thất bại vì “sự ngạo ngược”, ông quyết định hoàn thành bằng tiến sỹ tại trường đại học New York. Đa số các nhà khoa học trong lĩnh vực của ông không tin vào những phát hiện của ông. Ông bị công kích trong các cuộc họp khoa học và không nhận được sự công nhận hay giải thưởng khoa học nào. Tuy nhiên, tại NYU Taub rất hạnh phúc. "Tôi đang ở trên thiên đường. Tôi đang làm nghiên cứu. Tôi không còn mong gì hơn thế.” 

Taub là người tiên phong trong một loại khoa học thần kinh mới, hợp nhất những thứ tốt nhất của chủ nghĩa hành vi, quét sạch những giáo điều của nó, và khoa học não bộ. Trên thực tế, đó là một sự hợp nhất được dự đoán bởi Ivan Pavlov, người sáng lập chủ nghĩa hành vi, mặc dù nó không được nhiều người biết đến - đã cố gắng trong những năm cuối đời để tích hợp những phát hiện của mình với khoa học não bộ, và thậm chí còn cho rằng bộ não có tính dẻo. Trớ trêu thay, chủ nghĩa hành vi đã có một cách chuẩn bị cho Taub để thực hiện những khám phá quan trọng về tính dẻo thần kinh. Bởi vì các nhà hành vi không hứng thú với cấu trúc bộ não, nên họ chưa kết luận, giống như phần lớn các nhà khoa học thần kinh, rằng bộ não thiếu tính mềm dẻo. Nhiều người tin rằng họ có thể huấn luyện một con vật làm hầu hết mọi thứ, và mặc dù họ không nói về "tính dẻo dai", họ tin vào tính dẻo của hành vi.

Mở ra cho ý tưởng về tính dẻo thần kinh, Taub tiếp tục với phương pháp chặn xung động thần kinh tới. Ông lập luận rằng nếu cả hai cánh tay đều bị chặn xung động thần kinh tới thì một con khỉ sẽ sớm cử động được cả hai tay, vì nó buộc phải sống sót. Vì vậy ông đã chặn xung động thần kinh tới ở cả hai tay, và trên thực tế các con khỉ đã cử động được chúng.

Phát hiện này thật nghịch lý: nếu một cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới, con khỉ không thể sử dụng nó. Nhưng nếu cả hai cánh tay đều bị chặn xung động thần kinh tới, con khỉ có thể sử dụng cả hai!

Sau đó Taub chặn xung động thần kinh tới toàn bộ tủy sống, do đó không còn một phản xạ cột sống nào trong cơ thể và con khỉ không thể nhận được đầu vào cảm giác từ bất kỳ chi nào. Nhưng nó vẫn dùng được chân tay của nó. Lý thuyết phản xạ của Sherrington đã chết. Sau đó Taub có sự giác ngộ khác, sẽ làm biến đổi cách điều trị đột quỵ. Ông cho rằng lý do con khỉ không sử dụng cánh tay của nó sau khi một chi bị chặn xung động thần kinh tới là vì nó đã học được không sử dụng nó trong giai đoạn ngay sau khi phẫu thuật khi tủy sống vẫn còn "sốc cột sống" từ cuộc phẫu thuật. Sốc cột sống có thể kéo dài từ hai đến sáu tháng, giai đoạn các tế bào thần kinh gặp khó khăn trong việc bắn điện. Một con vật bị sốc cột sống sẽ cố gắng di chuyển cánh tay bị ảnh hưởng của nó và thất bại nhiều lần trong những tháng đó.

Không có sự củng cố tích cực, con vật bỏ cuộc và thay vào đó sử dụng cánh tay còn khỏe của mình để tự ăn, nhận được sự củng cố tích cực mỗi khi nó thành công. Và do đó, bản đồ vận động cho cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới - bao gồm các chương trình cử động cánh tay thông thường - bắt đầu suy yếu và teo đi, theo nguyên tắc của tính dẻo là sử dụng nó hoặc mất nó. Taub gọi hiện tượng này là "sự không dùng đến do học được” (learned nonuse) Ông lập luận rằng những con khỉ bị chặn xung động thần kinh tới ở cả hai cánh tay có thể sử dụng/cử động được chúng là bởi vì chúng không bao giờ có cơ hội để biết rằng cánh tay của chúng không hoạt động tốt; chúng phải sử dụng các cánh tay của mình để tồn tại. 

Nhưng Taub nghĩ rằng ông chỉ mới có được bằng chứng gián tiếp cho lý thuyết ‘sự không dùng đến do học được’ của ông, vì vậy, trong một loạt các thí nghiệm khéo léo tiếp theo, ông cố gắng ngăn ‘sự không dùng đến do học được’ ở những con khỉ. Trong một thí nghiệm, ông chặn xung động thần kinh tới ở một cánh tay của con khỉ; sau đó, thay vì bó cánh tay còn khỏe vào trong cái địu để hạn chế nó, ông đã bó cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới. Theo cách đó, con khỉ sẽ không thể “học được” rằng nó không thể dùng được cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới trong giai đoạn bị sốc cột sống. Và quả thật, khi ông ấy gỡ bỏ sự hạn chế ở tháng thứ ba, rất lâu sau khi cú sốc cột sống đã biến mất, con khỉ đã sớm có thể dùng được cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới. Taub tiếp tục xem xét cách dạy những con vật vượt qua ‘sự không dùng đến do học được’. Sau đó ông kiểm tra xem thử liệu có thể thay đổi ‘sự không dùng đến do học được’ đã kéo dài nhiều năm sau khi nó phát triển không, bằng cách buộc con khỉ sử dụng cánh tay bị chặn xung động thần kinh tới. Nó có hiệu quả và dẫn đến những sự tiến bộ kéo dài suốt phần đời còn lại của con khỉ. Taub hiện có một mô hình động vật vừa bắt chước những ảnh hưởng của đột quỵ khi tín hiệu thần kinh bị gián đoạn và tay chân không thể di chuyển, và một cách khả thi để xử lý vấn đề. 

Taub tin rằng những khám phá này có nghĩa là những người từng bị đột quỵ hoặc bị những loại tổn thương não khác, thậm chí nhiều năm trước đó, có thể mắc phải ‘sự không dùng đến do học được’. Ông biết bộ não của một số bệnh nhân đột quỵ với tổn thương rất nhỏ đi vào một cú sốc cột sống tương đương, "sốc vỏ não," có thể kéo dài trong vài tháng. Trong giai đoạn này, mỗi lần cố gắng di chuyển bàn tay đều gặp phải thất bại, có thể dẫn đến ‘sự không dùng đến do học được’. 

Những bệnh nhân đột quỵ với tổn thương não rộng trong khu vực vận động đã không cải thiện trong một thời gian dài và khi họ cử động, chỉ hồi phục được phần nào. Taub lập luận rằng bất kì phương pháp điều trị đột quỵ nào sẽ cần phải giải quyết tổn thương não bộ và ‘sự không dùng đến do học được’. Vì ‘sự không dùng đến do học được’ có thể che giấu khả năng phục hồi của bệnh nhân, chỉ bằng cách vượt qua ‘sự không dùng đến do học được’ thì ta mới có thể thực sự đánh giá được triển vọng của bệnh nhân. Taub tin rằng ngay cả sau khi đột quỵ, có khả năng cao là các chương trình vận động cho cử động vẫn tồn tại trong hệ thần kinh. Do đó cách thức để phơi bày khả năng vận động là làm với con người như những gì ông đã làm với các con khỉ: hạn chế sử dụng chi còn khỏe mạnh và buộc chân/tay bị ảnh hưởng phải cử động.

Trong khoảng thời gian đầu làm việc với khỉ, Taub đã học được một bài học quan trọng. Nếu ông chỉ đơn giản trao cho chúng một phần thưởng vì sử dụng cánh tay yếu của chúng để với lấy thức ăn— nếu ông ta cố gắng thực hiện điều mà các nhà hành vi gọi là “điều kiện hóa” – thì những con khỉ không có tiến bộ. Ông đã chuyển sang một kỹ thuật khác gọi là "tạo hình," tạo ra một hành vi bằng những bước rất nhỏ. Theo đó, con vật bị chặn xung động thần kinh tới sẽ nhận được một phần thưởng không chỉ nhờ hành động với được đến chỗ thức ăn mà vì đã thực hiện một động tác nhỏ, khiêm tốn nhất đầu tiên.

Vào tháng 5 năm 1981 Taub đã bốn mươi chín tuổi, đứng đầu phòng thí nghiệm của riêng mình, Trung tâm Sinh học Hành vi ở Silver Spring, Maryland, với kế hoạch lớn để biến nghiên cứu ông đang làm với khỉ thành một phương pháp điều trị đột quỵ. Alex Pacheco, một sinh viên theo học ngành khoa học chính trị 22 tuổi, tại trường đại học George Washington, ở Washington, D.C., tình nguyện làm việc trong phòng thí nghiệm của ông. Pacheco nói với Taub rằng anh ta đang muốn trở thành một nhà nghiên cứu y khoa. Taub thấy anh ta là người cá tính và muốn giúp đỡ. Nhưng Pacheco không cho ông ấy biết rằng anh ta là đồng sáng lập và chủ tịch của People for the Ethical Treatment of Animals (PETA) (Những người tranh đấu cho sự đối xử có đạo đức với động vật), nhóm bảo vệ quyền động vật. Người đồng sáng lập PETA khác là Ingrid Newkirk, ba mươi mốt tuổi. Newkirk và Pacheco yêu nhau và cùng điều hành PETA từ căn hộ ở Quận Columbia của họ.

PETA đã và đang chống lại tất cả các nghiên cứu y tế liên quan đến động vật, thậm chí nghiên cứu để chữa bệnh ung thư, bệnh tim và AIDS (một khi nó được phát hiện). PETA phản đối việc con người (chứ không phải những con vật khác) ăn thịt động vật, việc sản xuất sữa và mật ong (được mô tả là "bóc lột" những con bò và ong), và việc nuôi thú cưng (được xem như "nô lệ"). Khi Pacheco tình nguyện làm việc với Taub, mục đích của anh ta là giải thoát mười bảy “chú khỉ Silver Spring" và biến chúng thành lời kêu gọi cho một chiến dịch bảo vệ quyền động vật. 

Mặc dù việc chặn xung động thần kinh tới không gây đau đớn thể xác, nhưng vẫn thật khó coi. Vì những con khỉ bị chặn xung động thần kinh tới không thể cảm nhận được sự đau đớn ở cánh tay của chúng nên khi chúng va vào thứ gì đó, chúng có thể tự làm mình bị thương. Khi cánh tay bị thương của chúng bị băng bó, những con khỉ có lúc phản ứng như thể cánh tay của chúng là vật xa lạ và cố gắng nhai cắn nó. Vào năm 1981, khi Taub đi nghỉ hè ba tuần, Pacheco đã đột nhập vào phòng thí nghiệm và chụp những bức ảnh có vẻ cho thấy những chú khỉ đang sống trong cảnh khổ sở, bị thương và bị bỏ bê khi chúng buộc phải ăn từ những cái cháo dính phân bẩn của chúng. Với những bức ảnh, Pacheco đã thuyết phục chính quyền và cảnh sát Maryland đột kích vì, không giống như luật pháp ở các tiểu bang khác, đạo luật Maryland về hành vi tàn ác đối với động vật có thể được xem là không ngoại lệ đối với nghiên cứu y học. 

Khi Taub trở về phòng thí nghiệm, ông choáng váng vì được giới truyền thông chào đón và những hậu quả đi cùng. Cách đó vài dặm, các nhà quản lý của Viện Sức khỏe quốc gia (NIH), tổ chức nghiên cứu y học hàng đầu của quốc gia, hay tin về cuộc tấn công của giới truyền thông và cảm thấy sợ hãi. Các phòng thí nghiệm NIH thực hiện nhiều thí nghiệm y sinh trên động vật hơn bất kỳ tổ chức nào khác trên thế giới và rõ ràng có thể trở thành mục tiêu tiếp theo của PETA. NIH đã phải quyết định có nên bảo vệ Taub hay không và đồng tình với PETA và cho rằng Taub là một quả táo hư và nên cách ly. Họ đang quay sang chống lại Taub.   

PETA đóng vai trò là người bảo vệ tuyệt vời của pháp luật, mặc dù Pacheco vin vào lý lẽ rằng việc đốt phá, hủy hoại tài sản và trộm cắp là có thể chấp nhận được “khi họ đang trực tiếp làm giảm bớt nỗi đau đớn và khổ sở của một con vật." Trường hợp của Taub trở nên nổi tiếng khắp xã hội Washington. Tờ Washington Post đưa tin về cuộc tranh cãi và các nhà bình luận thì bêu riếu Taub. Taub bị mô tả như con ác quỷ bởi các nhà hoạt động bảo vệ quyền động vật trong một chiến dịch phác họa ông như kẻ tra tấn giống với tiến sỹ Đức quốc xã Mengele. Việc công khai hình ảnh của “những con khỉ Silver Spring" gây ra ảnh hưởng cực lớn và biến PETA trở thành tổ chức bảo vệ quyền động vật lớn nhất ở Hoa Kỳ và Edward Taub trở thành một nhân vật đáng ghét.

 

(còn tiếp)

menu
menu