Nguyên tác: Getting The Love You Want
Tác giả: Harville Hendrix, Ph.D
Dịch giả: Phan Linh Lan và Phan Lưu Ly

LỜI MỞ ĐẦU

Xã hội ngày nay khuyến khích chúng ta coi hôn nhân như một chiếc hộp đen. Trước tiên bạn chọn một người bạn đời. Rồi bạn bước vào cái hộp đó. Khi đã ổn định chỗ ngồi đâu đấy, bạn mới lần đầu tiên thật sự nhìn kỹ người chia sẻ cái hộp đó với bạn. Nếu bạn hài lòng với những gì bạn khám phá, bạn sẽ ở lại. Nếu không, bạn lại chui ra khỏi cái hộp đó và đi tìm một kẻ khác để cặp đôi. Nói cách khác, hôn nhân được coi là một tình trạng không thay đổi, và nó tốt hay xấu là do bạn có khả năng hấp dẫn được một người bạn đời sáng giá hay không. Giải pháp chung cho một cuộc hôn nhân bất hạnh, mà hơn 50% các cặp vợ chồng lựa chọn, là ly dị và bắt đầu lại từ đầu với một người mới với hy vọng sẽ tốt hơn người cũ.

Vấn đề lớn nhất của giải pháp này là sự đau đớn khi phải thay đổi ngôi đổi chủ. Sự xót xa khi phải chia những đứa trẻ, những món đồ, và gạt bỏ những giấc mơ quý giá. Và còn sự miễn cưỡng khi phải mạo hiểm trong một mối quan hệ thân thiết mới, lo sợ rằng rồi nó cũng sẽ đổ vỡ… Và còn cả những tình cảm bị hủy hoại của những cư dân khác trong chiếc hộp đó – những đứa trẻ lớn lên với cảm giác có lỗi trong vụ ly dị và nỗi nghi ngờ về sự tồn tại của một tình yêu bền vững.

Đáng buồn thay, sự lựa chọn thứ hai và cũng là cuối cùng của những người sắp sửa ly dị là ở lại, cài chặt nắp hộp, và gồng mình chịu đựng mối quan hệ đầy thất vọng đó cho đến cuối đời. Họ tìm cách lấp đầy cuộc hôn nhân trống rỗng bằng thức ăn, rượu, ma túy, các hoạt động khác, công việc, ti-vi, và những tưởng tượng lãng mạn, cam chịu với niềm tin là ước mong một tình yêu sâu sắc sẽ không bao giờ thành hiện thực.

Trong cuốn sách này, tôi xin đề nghị một quan điểm nhiều hy vọng hơn, và tôi tin là cũng xác đáng hơn, về những quan hệ tình cảm. Hôn nhân không phải là một trạng thái tĩnh lặng giữa hai con người không thay đổi. Hôn nhân là một hành trình tinh thần và tâm lý bắt đầu từ trạng thái ngây ngất của sự hấp dẫn, quanh co theo những con đường đầy đá sỏi của sự khám phá bản thân, và lên đến đỉnh cao trong sự sáng tạo ra một quan hệ hợp nhất, thân thiết và suốt đời. Việc bạn có nhận thức được hay không tiềm năng của quan điểm này không phụ thuộc vào khả năng thu hút một người bạn đời sáng giá, mà phục thuộc vào sự sẵn sàng tự nhận thức những phần ẩn giấu của bạn thân bạn.

ĐÔI DÒNG TỰ THUẬT

Khi tôi bắt đầu nghề bác sĩ tâm lý, tôi đã tư vấn cho cả các cá nhân lẫn các cặp vợ chồng. Tôi thích tiếp những bệnh nhân chỉ đi một mình hơn. Tôi được đào tạo theo hướng điều trị từng cá nhân, và khi tiếp những bệnh nhân đến một mình, tôi cảm thấy công việc trôi chảy và hiệu quả. Nhưng khi một cặp vợ chồng bước vào văn phòng của tôi thì không được như vậy. Mối quan hệ hôn nhân đưa ra hàng loạt những biến dạng phức tạp mà tôi không được đào tạo để đối phó. Rốt cuộc, tôi cũng hành động như đa số các bác sĩ tâm lý khác: chủ yếu là tư vấn về mâu thuẫn tính cách và các vấn đề cụ thể. Khi cách đó không tác dụng, tôi tách hai người ra và đưa họ vào các nhóm khác nhau, hoặc tư vấn cho riêng từng người,

Năm 1967, sự bối rối của tôi trước vấn đề tâm lý hôn nhân càng tăng lên khi tôi bắt đầu gặp rắc rối trong hôn nhân của chính mình. Tôi và vợ tôi đã từng có quan hệ rất sâu đậm và có hai đứa con, vì vậy chúng tôi đã xem xét cẩn thận cuộc hôn nhân trong 8 năm, đến gặp nhiều nhà tâm lý trị liệu. Tất cả đều vô ích, và đến năm 1975, chúng tôi quyết định ly hôn.

Khi ngồi trong tòa án chờ đến lượt mình gặp quan tòa, tôi cảm thấy thất bại của tôi nhân lên gấp đôi: thất bại của người chồng, và thất bại của một nhà tâm lý trị liệu. Ngay chiều hôm đó, tôi có kế hoạch giảng bài về đề tài hôn nhân và gia đình, và ngày hôm sau tôi sẽ phải tư vấn cho vài cặp vợ chồng như thường lệ. Bấp chất những năm được rèn luyện, lúc đó tôi cũng cảm thấy thất bại và chán nản như những người đàn ông và đàn bà ngồi bên cạnh tôi chờ được gọi tên. Nhiều năm sau cuộc ly hôn, mỗi sáng tôi thức dậy với cảm giác mất mát chua xót. Khi vào giường đi ngủ mỗi buổi tối, tôi nằm nhìn chòng chọc lên trần nhà, cố gắng tìm lời giải thích cho cuộc hôn nhân thất bại. Hẳn nhiên là tôi và vợ tôi đều có hàng chục lý do để ly dị nhau. Hẳn nhiên là tôi và vợ tôi đều có hàng chục lý do để ly dị nhau, tôi không thích điều này ở cô ấy, cô ấy không thích điều kia ở tôi, chúng tôi có những mối quan tâm và mục đích khác hẳn nhau. Nhưng bên dưới bản trường ca than phiền đó, tôi cảm thấy còn có một nỗi thất vọng căn bản, là nguyên nhân sâu xa của đổ vỡ bất hạnh mà sau tám năm cố gắng hàn gắn, chúng tôi đã không tìm ra.

Thời gian qua đi, và nỗi thất vọng của tôi biến thành một khao khát, thôi thúc tôi làm cho các kinh nghiệm đắng cay trở nên có ý nghĩa. Tôi sẽ không đứng lên từ đống đổ nát của cuộc hôn nhân đó mà không thấu suốt mọi sự từ bên trong. Tôi bắt đầu tập trung nỗ lực vào việc học hỏi những lý thuyết điều trị tâm lý hôn nhân. Khi nghiên cứu những cuốn sách và tạp chí chuyên ngành, tôi kinh ngạc nhận thấy rằng có rất ít chuyên đề về hôn nhân, và những tư kiệu mà tôi thu nhặt được luôn luôn bị lệch về phía tâm lý cá nhân và gia đình. Dường như không có một lý thuyết toàn diện nào về những rắc rối phức tạp của quan hệ nam nữ. Không có lời giải thích thỏa đáng cho những cảm xúc mạnh mẽ có thể hủy hoại một cuộc hôn nhân. Và không có gì giải thích trọn vẹn cảm giác mất mát cay đắng trong cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi.

Để hoàn tất những lỗ hổng tư liệu, tôi đã làm việc với hàng trăm cặp vợ chồng tại văn phòng của tôi và hàng ngàn cặp khác trong các bệnh viện và các hội thảo. Từ những quan sát trong quá trình điều trị và những nghiên cứu cá nhân, tôi đã dần dần phát triển được một lý thuyết về điều trị tâm lý trong hôn nhân gọi là Liệu pháp Quan hệ Hình mẫu. Đường lối của tôi là sự chiết trung. Tôi đã kết hợp tâm lý chiều sâu, các khoa học về hành vi ứng xử, truyền thống tinh thần phương Tây và một vài yếu tố của trường phái Phân tích hành vi tâm lý dây chuyền, trường phái Gestalt, lý thuyết hệ thống và liệu pháp tâm lý ý thức. Theo quan điểm của tôi, mỗi trường phái tâm lý học trên đều đóng góp một phần quan trọng không thể thay thế cho môn tâm lý học cá nhân, nhưng chỉ khi tất cả những trường phái đó được hòa trộn trong một lý thuyết tổng hợp mới thì bí ẩn của quan hệ tìn yêu mới được phản ánh.

Khi tôi bắt đầu thực hành lý thuyết này, công việc tư vấn hôn nhân cho các cặp vợ chồng của tôi đã được đền bù vô giá. Tỷ lệ ly hôn của các thân chủ của tôi giảm đột ngột và các cặp chắp nối lại quan hệ cho biết họ tìm thấy sự thỏa mãn sâu sắc hơn nhiều trong cuộc hôn nhân của mình. Khi các ý tưởng đã cụ thể và mạch lạc hơn, tôi bắt đầu các bài thuyết trình với các khách hàng độc thân cũng như các cặp vợ chồng. Năm 1981, tôi bắt đầu mở các khóa huấn luyện cho những người có chuyên môn về khoa tâm lý. Ngày nay, hơn ba mươi ngàn người đã tiếp xúc với các ý tưởng của tôi qua các cuộc tư vấn hôn nhân, các đợt điều trị tâm lý và các cuộc hội thảo.

VỀ CUỐN SÁCH NÀY

Hai mục đích của tôi khi viết cuốn sách này là chia sẻ với mọi người sự hiểu biết của tôi về tâm lý tình yêu, và giúp người đọc biến quan hệ tình cảm của mình thành một suối nguồn vô tận của tình yêu và tình bạn. Nói ngắn gọn, đây là cuốn sách về lý thuyết và thực hành để trở thành những người bạn đời lý tưởng.

Cuốn sách được chia làm ba phần. Trong Phần Một, tôi ghi chép lại những điều tất yếu của đa số các quan hệ tình cảm: sự hấp dẫn, tình yêu lãng mạn, và cuộc tranh chấp quyền lực. Khi tôi mô tả những chi tiết quen thuộc của một đời sống hôn nhân, tôi mong muốn độc giả hãy coi đó như một tấn kịch tâm lý nổi cộm nhất. Tôi gọi đó là “Hôn nhân Vô thức”, có nghĩa là một cuộc hôn nhân bao gồm những mong ước ẩn giấu và những hành vi ứng xử tự phát có nguồn gốc từ thời thơ ấu và dẫn các cặp vợ chồng đến sự xung đột không thể tránh khỏi.

Trong Phần Hai, tôi khai phá một loại hôn nhân hoàn toàn khác, “Hôn nhân Ý thức”, một cuộc hôn nhân giúp bạn thỏa mãn những nhu cầu thiếu thốn từ thời thơ ấu bằng những cung cách tích cực. Trước hết, tôi sẽ giải thích một kỹ thuật nhen nhóm lại tình yêu lãng mạn. Quá trình này làm hồi phục tinh thần hợp tác và đem lại cho bạn động cơ để giải quyết những vấn đề còn tồn tại lẩn khuất. Sau đó, tôi sẽ giúp bạn cách thay thế sự đối đầu và thói quen chỉ trích đựơc tiếp thu từ thưở nhỏ bằng một quá trình xoa dịu để tương trợ và cùng phát triển. Cuối cùng, tôi sẽ mô tả cách biến nỗi thất vọng bị dồn nén thành sự thông cảm và hiểu biết.

Phần Ba sẽ thâu tóm tất cả những ý tưởng trên, gói gọn trong một khóa điều trị tâm lý độc đáo trong mười tuần lễ. Qua một hệ thống bài tập đã được thử nghiệm thành công có thể tự thực hiện ở nhà, bạn đọc sẽ không chỉ thấy suốt những vấn đề trong cuộc hôn nhân của mình mà còn có thể giải quyết được chúng – có lẽ không cần đến việc tư vấn hôn nhân của các chuyên gia tâm lý.

Cuốn sách này giúp bạn xây đắp một quan hệ tình yêu sâu sắc và chính trong cuộc hôn nhân được phục sinh đó, bạn sẽ tìm thấy bình an và hạnh phúc.

Chương 1

DÒ TÌM NHỮNG ĐÁY SÂU CỦA VÔ THỨC

Để biết sự chọn lọc ở mức độ cao này có ý nghĩa gì, chúng ta phải hiểu được vai trò của vô thức trong việc lựa chọn bạn đời. Trong thời kỳ hậu-Freud, đa số mọi người đã trở nên lão luyện trong việc lục lọi vô thức để tìm những lời giải thích cho các sự kiện hàng ngày. Chúng ta bàn luận một cách hiểu biết về những “nhầm lẫn được giải thích theo Freud”, phân tích những giấc mơ, và tìm kiếm những cung cách mà vô thức tác động lên hành vi ứng xử hàng ngày của chúng ta. Tuy vậy, đa số chúng ta còn đánh giá rất thấp tầm ảnh hưởng của vô thức. Một phép so sánh sau đây có thể giúp bạn đánh giá đúng ảnh hưởng rộng lớn của vô thức. Ban ngày chúng ta không thể thấy được những ngôi sao, chúng ta nói như thể chúng chỉ “mọc ra” vào ban đêm, nhưng thực ra chúng vẫn luôn ở đó, trên bầu trời. Chúng ta cũng ước lượng quá thấp con số chính xác các ngôi sao. Chúng ta nhìn lên bầu trời, thấy những đám sao lác đác mờ tỏ, và cứ tưởng rằng đó là tất cả. Khi đã đi xa khỏi ánh đèn thành phố, chúng ta nhìn thấy bầu trời khảm đầy sao, và chúng ta bị ngập chìm trong sự rực rỡ của thiên hà. Nhưng chỉ khi nghiên cứu thiên văn học, chúng ta mới biết hết sự thật: hàng trăm ngàn ngôi sao chúng ta thấy trong một đêm không trăng và trời trong chỉ là một phần rất nhỏ của số sao trong vũ trụ, và rất nhiều những đốm sáng mà chúng ta tưởng là một ngôi sao thực ra là cả một thiên hà. Với vô thức cũng vậy, những suy nghĩ có luận lý và trật tự của tư duy ý thức chỉ là một tấm màn mỏng phủ lên vô thức là khu vực vẫn hoạt động mãnh liệt và có hiệu lực trong mọi lúc mọi nơi.

Hãy nhìn sơ qua cấu trúc của bộ não, cơ quan bí ấn và phức tạp với rất nhiều thành phần. Để đơn giản hóa, tôi sử dụng mô hình của nhà thần kinh học Paul Mc Lean và chia bộ não làm ba lớp đồng tâm.

Lõi của não bộ, lớp trong cùng và thô sơ nhất, là phần quản lý việc sinh sản, tự bảo toàn và các chức năng sống còn khác như tuần hoàn, hô hấp, giấc ngủ, và sự co cơ đáp ứng lại những kích thích từ bên ngoài. Nằm ở đáy sọ, phần não bộ này đôi khi được gọi bằng cái tên “não bò sát”, vì mọi loài có xương sống từ bò sát đến loài có vú đều có chung phần não bộ này. Để phục vụ mục đích khảo sát, chúng ta hãy coi lõi của não bộ này là nguồn gốc của các hoạt động thể chất.

Vươn ra như một chạc xương đòn trên lõi não bộ là phần não gọi là hệ thần kinh vành, chức năng chủ yếu là phát sinh những xúc cảm mãnh liệt. Các nhà khoa học có thể kích thích hệ thần kinh vành ở các động vật thí nghiệm bằng phương pháp phẫu thuật và tạo ra những cơn sợ hãi và gây hấn tự phát.

Trong cuốn sách này tôi dùng từ “tâm thức cũ” để chỉ tâm thức xuất phát từ vùng não bộ bao gồm lõi não và hệ thần kinh vành. Ta hãy ghi nhớ rằng “tâm thức cũ” quyết định phần lớn những phản ứng tự động của chúng ta.

Vùng cuối cùng của não bộ là vỏ não, một đám mô não lớn xoắn quanh hai lớp não trong và chính nó cũng được chia làm bốn vùng nhỏ (còn gọi là thùy não). Vùng não này, được phát triển cao nhất ở Homo sapiens (Người hiện đại), là nơi cư trú của phần lớn các chức năng nhận thức. Tôi sẽ gọi phần tâm thức xuất phát từ vỏ não là “tâm thức mới”, bởi vì nó xuất hiện muộn nhất trong lịch sử tiến hóa của động vật. Tâm thức mới là tâm trí có ý thức, tỉnh táo, và tiếp xúc với môi trường xung quanh hàng ngày. Nó là tâm thức mà chúng ta dùng để suy nghĩ, ra quyết định, quan sát, lập kế hoạch, suy đoán, trả lời, sắp xếp thông tin, và tạo ra những ý tưởng. Tâm thức mới có đặc điểm cố hữu là có trật tự luận lý, nó luôn tìm tòi nguyên nhân của mọi kết quả và hậu quả của mội nguyên nhân. Ở mức độ nào đó, nó có thể điều hòa một số phản ứng bản năng của tâm thức cũ. Rộng lớn và luôn kề cận, tâm trí biết phân tích, điều tra, hay thắc mắc này chính là những gì mà chúng ta tưởng là “cái tôi” của mình.

Luận lý của tâm thức cũ

Hoàn toàn trái ngược với tâm thức mới, ta hầu như không biết gì về các chức năng của tâm thức cũ. Những nỗ lực để hiểu được phần thực thể này của chúng ta là một nhiệm vụ làm điên đầu, vì bạn sẽ phải lật ngược tâm trí có ý thức của mình để nhìn vào đáy sâu bên dưới nó. Những nhà khoa học đã quy phục được tâm thức cũ đã cho ta biết rằng mối quan tâm chủ yếu của tâm thức cũ là tự bảo toàn. Luôn cảnh giác cao độ, tâm thức cũ liên tục đặt ra câu hỏi hàng đầu: “Có an toàn không?”

Khi thực hiện công việc của mình là đảm bảo sự an toàn, tâm thức cũ hoạt động theo một phong cách cơ bản khác biệt với tâm thức mới. Một trong những điểm khác biệt chủ yếu là tâm thức cũ dường như chỉ có một nhận thức rất lờ mờ về thế giới bên ngoài. Không giống như tâm thức mới, dựa vào tri giác trực tiếp từ các hiện tượng bên ngoài, tâm thức cũ rút tỉa dữ liệu từ các hình ảnh, biểu tượng, và suy nghĩ mà tư duy mới tạo ra. Điều đó làm giảm mật độ dữ liệu nhập của nó vào những phạm trù rất rộng. Ví dụ, trong khi tâm thức mới có thể phân biệt dễ dàng các cá nhân, tâm thức cũ gộp tất cả mọi người thành 6 loại cơ bản. Điều duy nhất mà nó quan tâm là một nhân vật cụ thể nào đó thuộc về lọai nào trong loại sau: 1. nuôi dưỡng, 2. được nuôi dưỡng, 3. có quan hệ tình dục, 4. phải tránh xa, 5. chịu phục tùng, 6. tấn công. Các khái niệm phân biệt như “hàng xóm”, “anh em họ”, “mẹ tôi” hay “vợ tôi” bị gạt sang một bên.

Tâm thức cũ và tâm thức mới, khác nhau ở nhiều điểm như vậy, liên tục trao đổi và diễn giải các thông tin. Điều này xảy ra như sau. Giả sử bạn đang ngồi trong nhà một mình, đột ngột nhân vật A là một bà dì của bạn bước vào cửa. Tâm thức mới lập tức tạo ra một hình ảnh của nhân vật này và gửi đến tâm thức cũ để nghiên cứu. Tâm thức cũ nhận được hình ành và so sánh nó với các hình ảnh khác được lưu trữ. Ngay lập tức có nhận xét đầu tiên: “Người này không phải người lạ”. Rõ ràng những cuộc gặp gỡ với nhân vật này đã được ghi nhận từ trước. Một phần triệu giây sau đã có nhận xét thứ hai: “Không có tình tiết nguy hiểm nào liên hệ với hình ảnh này”. Trong vô số giao tiếp đã xảy ra giữa bạn và người khách bí ẩn, không có lần nào đe dọa đến sự sống của bạn. Sau đó, rất nhanh là nhận xét thứ ba: “Có rất nhiều tình tiết dễ chịu liên quan đến hình ảnh này”. Trong thực tế, các dữ liệu lưu trữ đã cho rằng A là một người nuôi dưỡng. Đi đến kết luận này, hệ thần kinh vành gửi một tín hiệu đèn xanh đến “não bò sát”, và bạn sẽ thấy mình bước về phía kẻ mới xâm nhập với đôi tay mở rộng. Vận dụng tâm thức mới, bạn nói: “Kìa dì, thật vui khi dì đến chơi!”

Tất cả những điều đó xảy ra ngoài nhận thức của bạn trong một phần ngàn giây đồng hồ. Trong tâm trí có ý thức của bạn, những gì xảy ra là bà dì yêu quý của bạn vừa bước vào cửa. Trong khi đó, trong cuộc thăm hỏi của bà dì, quá trình thu thập dữ liệu vẫn tiếp tục. Lần gặp gỡ sau cùng này tạo ra thêm những suy nghĩ, cảm xúc và hình ảnh, những tài liệu ấy được gửi tới hệ thần kinh vành để lưu trữ trong ngăn não bộ dành cho bà dì. Những thông tin mới đó sẽ được tâm thức cũ truy cập lại khi bà dì đến thăm bạn lần sau.

Hãy thử xem xét một hoàn cảnh khác. Giả sủ người bước vào cửa không phải là bà dì thân yêu ấy mà là bà chị của bà, bà dì thứ hai, và thay vì đón khách với đôi tay mở rộng, bạn thấy mình bực bội vì bị gián đoạn công việc. Tại sao một phản ứng rất khác biệt như vậy lại xảy ra với hai chị em? Hãy giả sử là hồi 18 tháng tuổi, bạn đã phải ở một tuần với bà dì thứ hai vì mẹ bạn đang nằm bệnh viện để sinh một đứa em khác. Cha mẹ bạn, cố gắng chuẩn bị trước cho sự kiện này, đã giải thích với bạn rằng “Mẹ sẽ tạm xa con để đi đến bệnh viện mang về một em bé mới.” Những từ như “bệnh viện”, “em bé” không có nghĩa gì đối với bạn, nhưng những từ như “mẹ” và “đi xa” chắc chắn là có. Mỗi khi họ nhắc đến hai từ này liền nhau là bạn lại cảm thấy lo lắng và mút ngón tay. Vài tuần sau, khi mẹ bạn bắt đầu ở cữ, bạn được nhấc khỏi nôi trong giấc ngủ say và mang đến nhà bà dì thứ hai. Bạn tỉnh dậy một mình trong căn nhà lạ, và người chạy đến với bạn khi bạn khóc không phải là cha hay mẹ bạn mà là bà dì thứ hai này.

Bạn sống trong lo âu suốt mấy ngày sau đó. Mặc dù bà dì thứ hai rất trìu mến và tốt bụng, bạn vẫn cảm thấy bị bỏ rơi. Nỗi sợ ban đầu này được liên hệ với bà dì thứ hai, và nhiều năm liền, hình ảnh của bà, hay mùi nước hoa của bà, khiến bạn bỏ chạy khỏi phòng. Trong những năm sau đó, có thể bạn đã trải qua nhiều kỷ niệm thú vị với bà dì thứ hai, tuy vậy, 30 năm sau khi bà bước vào phòng, bạn vẫn cảm thấy thôi thúc bỏ chạy. Chỉ nhờ một kỷ luật ứng xử nghiêm khắc mà bạn đứng lên chào bà.

Không có thời nào là thời Hiện tại

Câu chuyện này còn minh họa cho một nguyên tắc quan trọng khác của tâm thức cũ: nó không có khái niệm về tuyến thời gian. Ngày hôm nay, ngày mai, và hôm qua không tồn tại; những gì đã từng có vẫn còn đó. Hiểu được sự thật cơ bản này về bản chất của vô thức, có thể giải thích tại  sao trong cuộc hôn nhân của mình, đôi khi bạn nhận thấy những cảm xúc hoàn toàn không tương xứng với những sự kiện tạo ra chúng. Ví dụ hãy tưởng tượng rằng bạn là một phụ nữ 35 tuổi, là một luật sự trong một công ty có uy tín. Một ngày kia, bạn ngồi trong văn phòng và nảy ra những suy nghĩ trìu mến ấm áp về chồng mình, và bạn quyết định gọi điện thoại cho anh ta. Bạn quay số, và thư ký báo cho bạn biết rằng anh ta đã đi khỏi sở làm và không thể gọi được. Đột ngột, mọi suy nghĩ trìu mến của bạn biến mất, và bạn cảm thấy một đợt sóng lo âu ập đến: “Anh ấy ở đâu?”. Lý trí bảo cho bạn biết rằng anh ấy có thể đang nói chuyện với khách hàng hoặc đang ăn bữa trưa muộn, nhưng một phần của con người bạn – hãy trung thực – cảm thấy bị bỏ rơi. Bạn ở đó, một phụ nữ khôn ngoan và có năng lực, nhưng chỉ vì chồng bạn không có sẵn ở đầu dây điện thoại, bạn lập tức cảm thấy dễ tổn thương như cái ngày mà mẹ bạn đã bỏ bạn lại với cô trông trẻ hoàn toàn xa lạ. Tâm thức cũ của bạn bị giam giữ trong một viễn cảnh xa xưa.

Hoặc giả sử bạn là một người đàn ông trung niên, một nhà quản lý bậc trung trong một công ty lớn. Sau một ngày say sưa với công việc, bạn đã xoa dịu được những khách hàng quan trọng, và hoàn tất động tác cuối cùng trên một tài khoản nhiều triệu đô-la, bạn về nhà, háo hức được chia sẻ thành công với vợ. Khi bước vào cửa, bạn thấy một tờ giấy của vợ nhắn rằng cô sẽ đi làm về muộn. Bạn đứng chết lặng tại chỗ. Bạn đã tin tưởng rằng cô ấy sẽ chờ bạn ở đó! Bạn có vượt ra được khỏi nỗi thất vọng và tự giải trí trong thời gian ấy không? Bạn có dùng nó vào việc kiểm tra lại lần cuối chương trình làm việc? Có. Nhưng đó là sau khi bạn đã đi thẳng đến tủ lạnh và ngốn sạch hai chén kem sữa to tướng, chất liệu thay thế gần nhất với sữa mẹ mà bạn có thể tìm thấy. Quá khứ và hiện tại sống bên nhau trong tâm trí bạn.

Bây giờ đã suy nghĩ ít nhiều về bản chất của vô thức, ta hãy trở lại với cuộc luận bàn trước đây về việc chọn lựa bạn đời. Những thông tin về tư duy cũ đó sẽ giúp gì cho ta trong việc hiểu được sự hấp dẫn lãng mạn? Hiện tượng kỳ lạ mà tôi đã ghi nhận trước đây trong khi khảo sát là chúng ta dường như có xu hướng chọn lọc cao trong việc tìm bạn đời. Thực ra, chúng ta chỉ tìm một người “có một không hai” với một tập hợp những nét cá tính bao gồm cả tích cực lẫn tiêu cực.

Những điều chúng ta làm, theo như tôi đã khám phá sau nhiều năm ròng nghiên cứu lý thuyết và quan sát thực hành, là tìm kiếm một người có những nét cá tính nổi trội của người đã nuôi dưỡng chúng ta. Tâm thức cũ, bị giam giữ trong cái hiện tại vĩnh cửu và chỉ có một nhận thức lờ mờ về thế giới bên ngoài, đang cố gắng dựng lại môi trường thời thơ ấu. Và lý do mà tâm thức cũ cố phục sinh lại quá khứ không phải là vấn đề thói quen hay sự cưỡng bức mù quáng mà là một nhu cầu khẩn thiết để hàn gắn lại những vết thương thời thơ ấu.

Cái lý do cơ bản nhất khiến bạn si mê người bạn đời của mình, theo tôi, không phải vì người ấy trẻ đẹp, có sự nghiệp gây ấn tượng, có “điểm giá trị” tương đương với bạn, hay có tâm tính tốt. Bạn yêu người ấy bởi vì tâm thức cũ của bạn đã lẫn lộn người ấy với người đã nuôi dưỡng bạn! Tâm thức cũ tin rằng cuối cùng nó đã tìm được ứng viên lý tưởng để đền bù cho những chấn thương tâm lý và tình cảm mà bạn đã trải qua trong thời thơ ấu.

Chương 2

NHỮNG THƯƠNG TỔN TUỔI THƠ

Tuổi già không có gì hơn tuổi trẻ để đảm nhận chức năng dẫn đường, vì những gì mà tuổi già đem lại không nhiều bằng những gì nó lấy đi.

--HENRY DAVID THOREAU

Khi nghe nói đến “những thương tổn tâm lý và tình cảm tuổi thơ”, chắc bạn nghĩ ngay đến những chấn thương tâm lý nghiêm trọng như lạm dụng tình dục, bị ngược đãi hành hạ hay những thương tổn tinh thần do cha mẹ ly dị, chết hoặc nghiện rượu. Đối với một số người thì đây đúng là những thương tổn mà họ phải chịu từ thời thơ ấu. Tuy nhiên, cho dù bạn có may mắn được lớn lên trong một môi trường an toàn và tràn ngập tình thương, bạn vẫn phải chịu đựng những nỗi đau khổ không thấy được từ thời thơ ấu, bởi vì ngay từ giây phút cất tiếng khóc chào đời, bạn đã  là một tạo vật phức tạp và phụ thuộc, với những nhu cầu, đòi hỏi không bao giờ ngưng. Nhà phân tâm học Freud đã định nghĩa rất chính xác loài người là “những sinh vật không biết thỏa mãn”. Và không một bậc sinh thành nào, dù họ có tuyệt vời, xuất sắc đến đâu đi nữa, có thể đáp ứng tất cả những nhu cầu luôn thay đổi này.

Trước khi chúng ta tìm hiểu một số cách thức khó nhận thấy đã làm bạn tổn thương từ nhỏ và vẫn còn tác động đến cuộc hôn nhân của bạn, hãy xem cái sinh vật, chính là bạn, khi vừa mở mắt chào đời như thế nào. Bởi vì lúc đó, bạn là một “tổng thể nguyên vẹn” và từ đây bạn có thể lần theo những dấu vết quan trọng để khám phá ra những ước muốn sâu kính mà bạn hy vọng cuộc hôn nhân sẽ làm thỏa mãn.

Tổng thể nguyên vẹn

Không có một đứa bé sơ sinh nào có cái khả năng kỳ diệu kể lại cho chúng ta nghe về cuộc sống khi còn trong bụng mẹ, nhưng chúng ta vẫn biết được một vài điều về đời sống sinh lý của một bào thai. Chúng ta biết rằng nhu cầu sinh lý của một bào thai là được chăm sóc bằng cách trao đổi dưỡng chất giữa nó và người mẹ. Ta biết rằng bào thai không có nhu cầu ăn, thở hay tự bảo vệ khỏi những nguy hiểm, và nó được xoa dịu bởi nhịp tim của người mẹ. Từ những hiểu biết này và nhờ quan sát các đứa trẻ sơ sinh, chúng ta có thể phỏng đoán rằng bào thai sống một cuộc sống bình lặng và không phải nổ lực gì khi còn trong bụng mẹ. Nó không có ý thức về giới hạn, về bản thân, cũng chẳng có ý niệm gì về việc nó đang nằm trong một cái bọc trong cơ thể mẹ nó. Nhiều người tin rằng khi một đứa bé còn ở trong tử cung của người mẹ, nó có cảm giác về sự hợp nhất, một cảm giác thiên đường, hoàn toàn không vương vấn chút ham muốn trần thế nào. Martin Buber một giáo sư thần học người Israel đã mô tả như sau: “Khi còn là bào thai, chúng ta được nối kết với toàn thể vũ trụ”.

Nhưng cuộc sống bình lặng của bào thai bị cắt ngang đột ngột khi tử cung của người mẹ co thắt để đẩy đứa bé ra. Tuy vậy, trong vài tháng đầu, được gọi là “giai đoạn ảo tưởng”, đứa bé vẫn không phân biệt được nó với thế giới xung quanh. Gần đây, tôi có thêm một cháu bé, và tôi còn nhớ thời kỳ đứa con gái của tôi đang ở giai đoạn này. Khi những nhu cầu vật chất của nó được thỏa mãn, nó rúc đầu vào vòng tay chúng tôi và nhìn ra xung quanh với vẻ hài lòng hoàn toàn. Cũng như những đứa trẻ khác, nó không hề ý thức được rằng mình là một thực thể riêng biệt và cũng không có khả năng phân biệt rõ ràng các ý nghĩ, tình cảm và hành động. Trong mắt tôi, nó đang trải qua tình trạng tinh thần sơ khai, một thế giới duy nhất, không hề có ranh giới phân chia. Mặc dù nó còn chưa trưởng thành và hoàn toàn phụ thuộc vào cha mẹ, nó vẫn là một con người hoàn chỉnh, đầy sức sống – và về một phương diện nào đó, nó còn hoàn chỉnh hơn so với toàn bộ phần còn lại của cuộc đời nó.

Khi đã trưởng thành, chúng ta thường chỉ giữ được những kỷ niệm rất mơ hồ về giai đoạn phát triển này, như một giấc mơ rất khó nắm bắt. Chúng ta chỉ nhớ lại được quãng thời gian khi chúng ta đã trở nên độc lập hơn và có liên hệ nhiều hơn với thế giới xung quanh. Vì thế, cảm giác toàn vẹn ở thời kỳ này đã được mô tả trong những huyền thoại của tất cả các dân tộc, như thể cảm giác đó sẽ vay mượn được một chút hiện thực từ câu chữ. Nhưng nó chỉ là một câu chuyện vườn Địa Đàng, và nó lôi cuốn chúng ta bằng hấp lực mạnh mẽ của hoài niệm.

Nhưng điều này có liên quan gì tới hôn nhân? Vì lý do nào đó, chúng ta mong đợi người bạn đời của chúng ta mang lại cho chúng ta cảm giác toàn vẹn ấy như một phép mầu. Điều này giống như thể người bạn đời của chúng ta có trong tay chiếc chìa khóa huyền diệu dẫn về vương quốc xa xưa và tất cả những gì chúng ta làm chỉ là chờ đợi người bạn đời mở cho ta cánh cửa ấy. Việc họ không thực hiện được điều này cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho cuộc hôn nhân, đối với chúng ta, không thật sự hạnh phúc.

Bạn và tôi, chúng ta là một

Cảm giác hợp nhất mà một đứa trẻ có được từ khi ở trong bụng mẹ và mấy tháng sau khi chào đời sẽ dần dần nhạt phai, mở đường cho ý thức rằng mình là một thực thể tách biệt với thế giới xung quanh. Cảm giác về sự hợp nhất vẫn còn đó, những một ý niệm mơ hồ về thế giới bên ngoài dần dần hiện rõ. Chính trong giai đoạn này mà đứa trẻ có một khám phá vĩ đại rằng mẹ nó, sinh vật khổng lồ và dịu dàng vẫn thường bế nó và cho nó ăn, không phải luôn luôn hiện diện cạnh nó. Đứa bé vẫn có cảm giác nối kết với mẹ nó, nhưng đã nhận thức khởi đầu về bản ngã của mình.

Khi đứa bé còn ở trong giai đọan sống cộng sinh này, những nhà tâm lý học cho rằng nó khao khát được liên kết với những người nuôi dưỡng nó. Đây là bước khởi đầu dẫn đến tình cảm quyến luyến, gắn bó sau này giữa cha mẹ và con cái. Toàn bộ năng lượng sống của đứa bé hướng tới mẹ nó, trong nỗ lực tìm lại cảm giác về một sự hợp nhất trên cả hai phương diện tinh thần và vật chất mà nó đã có trước đây. Danh từ để chỉ nỗi khao khát này là “eros”, một từ Hy Lạp mà sau này chúng ta thường đánh đồng với tình cảm luyến ái nam nữ. Nhưng thực chất, từ này nguyên thủy có một nghĩa rộng hơn nhiều, đó là “sinh lực” hay “năng lượng sống”.

Việc đứa bé cảm thấy vừa tách biệt lại vừa liên kết với mẹ nó có một tác động sâu sắc đến tất cả mọi mối quan hệ của nó sau này.

Khi đứa trẻ lớn lên, “eros” sẽ không chỉ hướng tới mẹ nó, mà còn hướng tới cha nó, anh chị em nó và cả thế giới xung quanh nữa. Tôi còn nhớ lúc con gái Leah của tôi được ba tuổi, muốn khám phá mọi vật xung quanh. Nó tràn đầy sức sống đến nỗi nó có thể chạy nhảy suốt ngày mà không biết mệt. “Chạy với con đi ba!”. Nó quay tròn đến khi chóng mặt ngã xuống đất và cười như nắc nẻ. Nó đuổi theo chuồn chuồn, nói chuyện với lá cây, đu bám vào những cành cây thấp và chơi với mọi con chó nó gặp. Cũng như Adam ngày xưa, nó cũng thích gọi tên sự vật và rất háo hức nghe người khác nói chuyện. Khi tôi nhìn Leah, tôi thấy nguồn sinh lực phun trào trong con người nó. Tôi ghen tị với nó và khao hát có lại được những gì mình đã đánh mất.

Helen, vợ tôi và tôi cố gắng giữ cho nguồn năng lượng này sống động mãi trong Leah, cho ánh long lanh còn mãi trong đôi mắt nó, và cho tiếng cười của nó mãi hồn nhiên. Nhưng dù đã cố gắng hết sức, chúng tôi vẫn không đáp ứng được mọi nhu cầu của nó. Đôi khi, dường như chính cuộc sống đang đòi lại năng lượng của mình. Một lần, nó hoảng sợ vì một con chó to và từ đó, nó đã biết cảnh giác trước những con vật lạ. Một lần khác, nó bị ngã vào hồ nước và nó bắt đầu sợ nước. Đôi khi chính chúng tôi phải chịu trách nhiệm về những gì xảy ra. Ngoài Leah, chúng tôi còn có năm đứa con khác, và có những lúc chúng tôi đã bỏ quên Leah vì phải lo cho năm đứa kia. Có những ngày, khi đi làm về, chúng tôi đã quá mệt mỏi không lắng nghe những gì nó nói, quá bận trí không hiểu được nó muốn gì.

Chúng tôi làm thương tổn nó mà không biết, vì chúng tôi cũng từng bị thương tổn như vậy trong thời thơ ấu; đó là di sản cảm xúc mà thế hệ này lại truyền lại cho thế hệ sau. Chúng tôi cố gắng bù đắp cho nó những gì chúng tôi không nhận được từ cha mẹ mình nhưng đồng thời có những lúc cũng gây cho nó những thương tổn tương tự ngoài ý muốn.

Cho dù vì lý do gì đi nữa, khi mong muốn của Leah không được thỏa mãn, một nét ngỡ ngàng thoáng qua trên mặt nó; nó khóc; nó sợ hãi. Nó không còn nói chuyện với lá cây và cũng không còn để ý tới những con chuồn chuồn đang lượn lờ quanh bụi cây. “Eros” đã bị bào mòn và mất dần trong con người nó.

Cuộc hành hương nguy hiểm

Những gì xảy ra cho Leah cũng là những gì đã xảy ra cho tôi và cho cả bạn. Tất cả chúng ta đều khởi đầu cuộc sống với cảm giác toàn vẹn và đầy sức sống, háo hức tìm tới những cuộc phiêu lưu để khám phá thế giới. Nhưng tất cả chúng ta đều phải trải qua một thời thơ ấu đầy nguy hiểm. Trên thực tế, có khi chúng ta đã phải chịu thương tổn ngay từ những tháng đầu của cuộc đời. Những đòi hỏi của một đứa bé là không ngừng. Khi nó thức dậy, nó khóc đòi ăn. Rồi tã lót ướt và nó khóc để mẹ nó tới thay tã cho nó. Và rồi nó muốn mẹ nó bế nó, một khao khát thể chất cũng mãnh liệt nhu cầu được cho ăn. Thế rồi nó lại đói, và lại khóc đòi ăn. Nó bị đầy hơi, và nó khóc vì đau đớn. Nó thông báo cho mẹ nó biết những nhu cầu của nó, nó sẽ được cho ăn, thay tã, bế ẵm hoặc ru ngủ và sẽ có được sự thỏa mãn nhất thời. Nhưng nếu mẹ nó không nhận ra nó muốn gì, hoặc cố ý không thỏa mãn nhu cầu của nó vì sợ làm hư nó, đứa bé sẽ trải qua mối lo sợ đầu tiên trong đời: Nó nhận thấy thế giới không phải là một nơi an toàn. Vì nó không thể tự chăm sóc cho bản thân và cũng không ý thức được rằng nhu cầu của nó sẽ được thỏa mãn nhưng không phải ngay lập tức, nó cho rằng để thế giới bên ngoài kia đáp lại những nhu cầu của nó là một vấn đề sống còn.

Mặc dù tôi và bạn đều không còn nhớ gì về những tháng đầu của cuộc đời, tâm thức cũ của chúng ta vẫn giữ lại những suy luận của tuổi thơ. Dù bây giờ chúng ta đã lớn, đã có thể giữ cho bản thân được no ấm và khô ráo, một phần sâu kín trong con người chúng ta vẫn mong đợi thế giới xung quanh phải quan tâm săn sóc mình. Khi người bạn đời của ta tỏ ra không thân thiện, hay đơn giản là không giúp đỡ ta, một hồi chuông báo động lặng lẽ vang lên sâu trong tâm trí và làm ta hoảng sợ trước cái chết, như ngày còn thơ ấu. Như bạn sẽ thấy, hệ thống báo động này đóng một vai trò chủ chốt trong hôn nhân.

Khi đứa trẻ đã vượt qua thời thơ ấu, những nhu cầu mới lại xuất hiện, và mỗi nhu cầu là một khả năng tạo ra tổn thương nếu nó không được thỏa mãn. Thí dụ như khi đứa trẻ đã được mười tám tháng tuổi, nó nhận thức rõ ràng hơn về ranh giới phân chia giữa nó và những người xung quanh. Đây là giai đoạn phát triển được mô tả là giai đoạn “tự trị và độc lập”. Trong giai đoạn này, đứa trẻ có một ham muốn ngày càng mãnh liệt được khám phá thế giới, xa hơn ngoài vòng tay cha mẹ. Nếu một đứa bé chập chững biết đi có thể nói lưu loát, nó sẽ nói rằng: “Con muốn ra ngoài kia chơi một lúc. Con đã có thể rời vòng tay mẹ và đi một mình. Con cảm thấy vẫn an toàn khi rời khỏi lòng mẹ, nhưng con sẽ quay trở lại ngay để được đảm bảo là mẹ không biến mất”.

Nhưng vì đứa bé chỉ biết bập bõm vài từ, nó sẽ chỉ trèo xuống khỏi lòng mẹ nó, và lẫm chẫm đi ra khỏi phòng. Nếu người mẹ hiểu con thì bà sẽ mỉm cười và nói: “Chào con yêu! Đi chơi vui nhé! Mẹ sẽ ở ngay đây bất cứ khi nào con cần mẹ”. Đó là những phản ứng lý tưởng. Và khi đứa bé quay lại vào phút sau, chợt nhận ra mình hãy còn phụ thuộc vào mẹ như thế nào, người mẹ sẽ nói: “Chào con! Con đi chơi có vui không? Hãy tới để mẹ bế con một lúc nào”. Người mẹ đã để cho đứa bé hiểu rằng nó có thể rời khỏi bà và đi thám hiểm thế giới xung quanh một mình, nhưng bà vẫn luôn ở đó khi nó cần tới. Đứa bé học được một điều rằng thế giới là một nơi an toàn và thú vị để nó khám phá.

Cầu chì và Sứ cách điện

Rất nhiều đứa trẻ đã phải thất vọng ngay từ giai đoạn quyết định này của quá trình phát triển. Một số đứa bé bị cha mẹ ngăn trở khi muốn được độc lập. Chính cha mẹ nó mới là người cảm thấy không an toàn khi nó ra khỏi tầm mắt họ. Vì lý do nào đó – có lẽ đã thừa hưởng từ khi còn nhỏ – cha mẹ nó muốn nó phải lệ thuộc vào mình. Khi đứa bé đi ra khỏi phòng, người mẹ cảm thấy bất an và có thể sẽ nói với nó: “Đừng đi sang phòng bên, không khéo lại ngã đau bây giờ”. Đứa bé vâng lời quay lại với mẹ nó. Nhưng dưới vẻ ngoài vâng lời ấy, nó đang cảm thấy sợ hãi. Mong muốn được tự quản của nó không được chấp nhận. Nó sợ rằng nếu nó cứ luôn luôn chạy trở lại với mẹ nó, nó sẽ bị nhận chìm trong sự hiện hữu của mẹ nó; nó có thể bị trở thành một sinh vật cộng sinh với mẹ nó mãi mãi.

Nỗi sợ bị hòa tan, nhận chìm này trở thành tính cách chủ yếu của đứa bé mà nó không ý thức được. Và vài năm sau, nó sẽ trở thành kiểu người mà tôi gọi là “sứ cách điện”, một dạng người luôn đẩy những người khác ra xa một cách vô thức. Nó giữ những người khác cách xa nó vì nó cần một khoảng không rộng rãi quanh mình, nó muốn được tự do đến và đi theo ý thích, nó không muốn bị ghim chặt trong một mối quan hệ nào đó. Và tất cả những gì ẩn giấu phía dưới lớp vỏ xa cách ấy là một đứa trẻ không được thỏa mãn nhu cầu tự nhiên đòi được độc lập. Khi đứa trẻ lớn lên và lập gia đình, nó sẽ đặt nhu cầu được là một “cá thể” tách biệt lên hàng đầu.

Một số đứa trẻ khác lại có những bậc cha mẹ trái ngược hoàn toàn với mẫu cha mẹ nói trên: những người luôn xua đuổi con mình ra xa khi chúng tìm đến với họ để được an ủi: “Đi chỗ khác chơi, mẹ đang bận”, “Ra chơi với đống đồ chơi của con đi”, hoặc “Đừng có bám nhằng nhẵng theo mẹ như thế!”. Những người như vậy không biết thỏa mãn nhu cầu của con mình mà chỉ biết thỏa mãn nhu cầu của chính mình. Những đứa con của họ sẽ lớn lên với cảm giác bị bỏ rơi về mặt tình cảm. Cuối cùng, chúng sẽ trở thành kiểu người mà tôi gọi là “cầu chì”, những người luôn có nhu cầu vô tận được gần gũi người khác. Những “cầu chì” luôn muốn “nối kết mọi vật lại với nhau”. Nếu người khác lỡ hẹn với họ, họ sẽ có cảm giác bị bỏ rơi. Ý nghĩ ly dị khiến họ kinh hoàng. Họ khao khát tình thương và sự đảm bảo, và họ thường có nhu cầu luôn luôn giữ mối liên hệ thường trực với bạn bè. Và phía dưới thái độ phụ thuộc này là một đứa trẻ muốn được cha mẹ ôm ấp nhiều hơn nữa.

Vì những lý do tôi sẽ nói trong những chương sau, những người dạng “cầu chì” và dạng “sứ cách điện” lại có khuynh hướng lấy nhau, và vì thế mở đầu cho một trò chơi đuổi bắt giằng co mà cả hai bên không ai hài lòng cả.

Trong quá trình đi qua tuổi thơ, bạn đã trải qua nhiều giai đoạn này kế tiếp nhau, và thái độ cha mẹ bạn đáp ứng lại những nhu cầu luôn thay đổi của bạn sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tình cảm sau này của bạn. Thông thường, họ đáp ứng những nhu cầu của bạn trong giai đoạn này tốt hơn những giai đoạn khác. Họ có thể chăm sóc bạn một cách tuyệt vời khi bạn còn là một đứa bé, nhưng lại lúng túng khi phải đối phó với phản ứng bất bình đầu tiên trong đời bạn. Hoặc họ có thể thấy vui thích vì tính hiếu kỳ tự nhiên của bạn khi bạn chập chững biết đi nhưng lại hoảng sợ vì tình trạng bị cuốn hút đối với cha hoặc mẹ khi bạn năm nay sáu tuổi. Cha mẹ bạn có thể đáp ứng hầu hết những nhu cầu của bạn, hay chỉ đáp ứng một vài điều, nhưng, cũng như những đứa trẻ khác, sớm muộn gì bạn cũng phải trải qua những đau khổ khi nhu cầu của bạn không được đáp ứng. Những nhu cầu này sẽ theo đuổi bạn mãi về sau và gây ảnh hưởng nặng nề đến cuộc hôn nhân của bạn.

Bản ngã bị mất

Tới đây, chúng ta đã tìm hiểu một đặc điểm quan trọng của cái thế giới bí ẩn mà tôi gọi là “hôn nhân vô thức”, đó là nơi lưu trữ những nhu cầu không được thỏa mãn của tuổi thơ, những đòi hỏi được chăm sóc bảo vệ và được trưởng thành, nhưng đã không được đáp ứng. Bây giờ, chúng ta sẽ nghiên cứu một loại thương tổn tuổi thơ khác, loại thương tổn tâm lý còn khó nhận thấy hơn với tên gọi “sự xã hội hóa”. Đó là tất cả những thông điệp mà ta nhận được từ cha mẹ và từ xã hội, cho ta biết ta là ai và ta phải xử sự như thế nào. Những thương tổn này cũng đóng một vài trò quan trọng trong cuộc hôn nhân sau này.

Lúc đầu, có thể bạn thấy lạ khi tôi đặt sự xã hội hóa ngang với những thương tổn tâm lý. Để giải thích tại sao, tôi muốn kể lại câu chuyện của một trong những thân chủ của tôi.

Sarah là một phụ nữ hấp dẫn và duyên dáng ở độ tuổi trên ba mươi. Mối bận tâm chính của cô là sự bất lực không thể suy nghĩ một cách rõ ràng và hợp lý. Cô nhắc đi nhắc lại với tôi: “Tôi không suy nghĩ được. Tôi không sao suy nghĩ được”. Cô là một quản lý cấp thấp của một công ty máy tính, nơi cô đã làm việc cần cù suốt mười lăm năm qua. Nếu có có khả năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, có lẽ cô đã tiến xa. Nhưng mỗi khi đối diện với một khó khăn nào đó, cô lại hoảng sợ và chạy tới cầu cứu cấp trên. Họ cho cô những lời khuyên khôn ngoan và điều đó càng củng cố thêm niềm tin của Sarah rằng cô chẳng có chút khả năng tự quyết định nào.

Tôi không mất nhiều công sức khám phá ra lý do của tình trạng này. Ngay từ khi còn thơ dại, mẹ Sarah đã tuyên bố thẳng thừng với cô là cô chẳng thông minh gì cho lắm. Mẹ cô thường nói: “Con chẳng được thông minh sáng láng như anh con đâu” và “Con nên lấy một anh chàng thông minh, vì con phải nhờ vả anh ta rất nhiều. Nhưng mẹ không biết liệu một đứa thông minh có chịu lấy con không”. Những nhận xét này chẳng phải do mẹ cô nhận thấy cô thực sự không thông minh mà chỉ thể hiện một quan điểm thông thường của thập niên 50: rằng các cô gái thì phải dịu dàng, xinh đẹp, biết phục tùng và không được phép thông minh đặc biệt. Những cô gái cùng học với Sarah mơ ước trở thành những người vợ, những y tá, giáo viên, chứ không phải là những bác sĩ, phi hành gia hay nhà doanh nghiệp.

Một tác động khác ảnh hưởng đến Sarah là việc chính mẹ cô cũng thiếu tự tin vào khả năng phán đoán hợp lý của mình. Bà trông nom nhà cửa và chăm sóc con cái, nhưng luôn dành cho chồng quyền quyết định trong mọi vấn đề quan trọng. Lối xử sự thụ động và lệ thuộc này đã tạo nên “nữ tính” của Sarah.

Khi Sarah mười lăm tuổi, cô may mắn gặp được một giáo viên đã nhận ra khả năng tự nhiên của cô và động viên cô chăm chỉ học tập. Lần đầu tiên trong đời, Sarah trở về nhà với một bài kiểm tra có số điểm gần như tuyệt đối. Và cô đã không bao giờ quên được thái độ của mẹ mình khi đón nhận tin này: “Làm sao lại như vậy được? Mẹ đánh cuộc là con sẽ chẳng thể đạt được điều này lần nữa”. Và quả thật Sarah đã không làm được, bởi vì rốt cuộc cô đã đầu hàng và để cho khả năng suy nghĩ bình tĩnh và hợp lý ngủ quên trong đầu.

Nhưng bi kịch không chỉ là Sarah mất khả năng suy nghĩ hợp lý mà còn là cô có một niềm tin vô thức rằng suy nghĩ là một việc nguy hiểm. Tại sao lại như vậy? Vì mẹ Sarah đã phủ nhận hoàn toàn khả năng suy nghĩ của cô nên cô tin rằng nếu cô cứ tiếp tục suy nghĩ hợp lý, cô sẽ thách thức mẹ mình, sẽ chối bỏ những nhận xét của mẹ về mình. Cô không thể liều lĩnh làm cho mẹ giận ghét được, bởi vì cô vẫn còn lệ thuộc vào bà để sống. Do đó, đối với Sarah, biết được rằng mình cũng có trí thông minh là một điều nguy hiểm. Nhưng cô vẫn không thể chối bỏ hoàn toàn trí thông minh của mình. Cô ghen tị với những người có thể suy nghĩ, và khi kết hôn, cô đã chọn một người thông minh đặc biệt. Đó là một việc làm vô thức để bù đắp cho những thương tổn tâm lý của tuổi thơ.

Cũng như Sarah, chúng ta đều có những phần trong con người mà chúng ta giấu kín trong vô thức. Tôi gọi những yếu tố lẩn khuất này là “bản ngã bị mất”. Bất cứ khi nào ta than phiền rằng “không thể suy nghĩ” hay ta “không cảm thấy gì” hay “không thể khiêu vũ” hoặc “không có khả năng sáng tạo”, chúng ta đang xác định những khả năng tự nhiên, những ý nghĩ hoặc những cảm xúc mà ta đã bị tước đoạt khỏi nhận thức. Tất cả những khả năng, ý nghĩ hay cảm xúc đó không bị biến mất; ta vẫn còn sở hữu chúng. Chúng chỉ bị chìm xuống phần vô thức và đối với ta, chúng dường như không còn tồn tại.

Như trong trường hợp của Sarah, phần bản ngã bị mất của chúng ta đã xảy ra từ khi chúng ta còn nhỏ – thông thường đó là do những người nuôi dưỡng ta đã cố gắng có chủ ý dạy cho ta cách hòa hợp với những người khác. Mỗi xã hội đều có những luật lệ, xác tín và những thang giá trị mà đứa trẻ cần phải nắm được, và cha mẹ chính là đường dẫn truyền những quy tắc luật lệ đó tới đứa trẻ. Quá trình truyền thục này xảy ra trong mọi gia đình, mọi xã hội. Dường như, toàn thể xã hội cho rằng nếu một cá nhân nào đó không bị những quy tắc luật lệ trói buộc thì cá nhân đó sẽ trở nên nguy hiểm cho cộng đồng. Nhà phân tâm học Freud đã viết, “Mong muốn có một cái tôi tự do và đầy quyền lực đối với chúng ta là điều dễ hiểu, nhưng trong thời đại mà ta sống, đó lại là cảm thức sâu kín nhất đối kháng với văn minh”.

Nhưng cho dù cha mẹ chúng ta luôn muốn những điều tốt nhất cho chúng ta, những thông điệp truyền đến chúng ta đều là những thông điệp làm giảm nhiệt tình. Có những ý nghĩ và cảm xúc mà ta không được phép có, những hành vi cư xử tự nhiên mà chúng ta phải từ bỏ, những năng khiếu mà ta phải dập tắt. Với hàng ngàn phương cách, cả ám chỉ lẫn công khai, cha mẹ chúng ta khiến cho chúng ta hiểu rằng chỉ một phần nào đó trong con người chúng ta là được chấp nhận. Nói một cách ngắn gọn, chúng ta được bảo cho biết rằng chúng ta không thể sống với toàn bộ bản ngã mà tồn tại được trong xã hội.

Những cấm kỵ thân xác

Một trong những vùng chúng ta bị cấm đoán nhiều nhất là thân thể của chúng ta. Ngay từ khi còn rất nhỏ, chúng ta đã được dạy phải che phủ cơ thể và không được nói tới hay chạm vào bộ phận sinh dục. Những cấm đoán này phổ biến đến nỗi chúng ta chỉ nhận ra chúng khi có ai đó vi phạm. Một người bạn của tôi đã kể cho tôi nghe một câu chuyện cho thấy việc cha mẹ không truyền đạt lại cho con cái những cấm kỵ bất thành văn này sẽ gây sốc như thế nào. Người bạn gái của bạn tôi tên là Chris cùng đứa con trai mười một tháng tuổi, một hôm ghé lại thăm cô bạn tôi. Cô bạn tôi, Chris và đứa bé ngồi ở sân thượng phía sau nhà và uống trà. Vì nắng tháng Năm rất ấm, Chris cởi bỏ quần áo của đứa bé để cho nó phơi nắng. Hai người phụ nữ ngồi tán gẫu với nhau trong khi đứa bé bò quanh sân, sung sướng chọc ngón tay vào đất xốp trong chậu cây. Khoảng nửa tiếng sau, đứa bé thấy đói bụng, và Chris bế nó lên để cho bú. Khi đứa bé bú, dương vật của nó có tình trạng cương cứng nhẹ. Rõ ràng, bú mẹ làm nó cảm thấy vui sướng khắp toàn thân. Theo bản năng, đứa bé đưa tay xuống sờ vào dương vật. Không như những bà mẹ khác, Chris không kéo tay con ra. Con cô được phép cảm nhận ánh nắng mặt trời ấm áp bằng toàn bộ bề mặt da của cơ thể, được phép bú sữa từ bầu vú mẹ, được phép có sự cương cứng dương vật và cộng thêm vào tất cả những sự thích thú đó, nó được phép tuân theo bản năng và chạm vào dương vật.

Đối với một đứa bé thì mong muốn được hưởng những cảm giác thú vị này là điều bình thường và tự nhiên. Nhưng chúng ta không mấy khi để điều đó xảy ra. Mẹ của đứa bé đó, khi cho phép con mình hưởng những cảm giác thú vị ấy, đã phá vỡ khá nhiều quy tắc xã hội. Quy tắc đầu tiên mà cô đã phá vỡ là nếu muốn cho con bú, người phụ nữ phải làm việc đó ở nơi kín đáo để người khác không nhìn thấy được bộ ngực trần của người mẹ. Điều thứ hai, trẻ con lúc nào cũng phải mặc quần áo, ít ra thì cũng đựơc quấn tã, cho dù chúng đang chơi ngoài trời dưới ánh nắng ấp áp. Điều thứ ba, những cậu bé và cô bé không được phép có bất kỳ hình thức nào của khoái lạc nhục dục, nhưng nếu vì lý do nào đó chúng có tình trạng đó, thì chúng cũng không được phép hưởng thụ. Bằng việc cho phép con cảm nhận tất cả những thích thú đó, Chris đã vi phạm vào ba điều cấm kỵ của xã hội.

Ở đây, tôi không có ý định đả kích những cấm đoán thân xác của xã hội. Việc đó phải cả một cuốn sách mới nói hết. Nhưng để hiểu được những ước vọng sâu kính ảnh hưởng tới cuộc hôn nhân của bạn, bạn cần phải biết điều này: Khi còn nhỏ, có rất nhiều lần bạn đã bị ngăn cấm khi muốn hưởng thụ điều gì đó. Cũng như phần lớn những đứa trẻ khác, bạn có thể đã bị những tác động khiến cho bạn cảm thấy ngượng ngùng hoặc có tội khi bạn có một thân thể có khả năng cảm nhận những khoái lạc tinh tế. Để trở thành một cô bé hoặc cậu bé “ngoan”, bạn phải phủ nhận hoặc chối bỏ phần con người này của bạn.

Những cảm xúc bị cấm đoán

Cảm xúc của bạn cũng là một trong những nguyên liệu thô cần xử lý qua quá trình xã hội hóa. Đương nhiên, một số cảm xúc khác không chỉ được phép có mà còn được khuyến khích. Cha mẹ bạn đã cố gắng biết bao để bạn nở nụ cười khi bạn còn là một đứa trẻ! Và một vài tuần sau, khi bạn đã biết cười to, cả nhà thật là vui. Nhưng giận dỗi lại là chuyện khác. Những cơn phẫn nộ đều gây ồn ào khó chịu và các bậc cha mẹ đều cố hết sức dập tắt chúng. Họ làm điều này bằng nhiều cách. Một số người trêu chọc con họ: “Con trông mới đáng yêu làm sao lúc con nổi khùng lên như thế này. Mẹ thấy con sắp cười rồi kìa. Cười đi, cười lên đi nào”. Những người khác lại la mắng con: “Con có im ngay đi không! Đi vào phòng ngay. Mẹ không muốn nói lại chuyện này nữa đâu”. Còn những người mềm yếu lại vội nhượng bộ: “Thôi được rồi. Con cứ làm theo ý con đi. Nhưng lần sau, đừng có làm những chuyện như vậy nữa”.

Hiếm có bậc cha mẹ nào cho phép con mình giận dữ. Hãy thử tưởng tượng xem một cô bé đang giận dỗi sẽ trả lời như thế nào nếu cha cô bé nói như sau: “Bố biết là con rất giận. Con không muốn làm những điều bố yêu cầu. Nhưng bố là bố của con, do đó con phải nghe lời bố”. Biết rằng cha mẹ thừa nhận cơn giận dữ của mình, đứa trẻ sẽ vững tin hơn vào bản ngã của nó. Nó sẽ tự nhủ: “Ta tồn tại. Cha mẹ ta đã biết đến cảm xúc của ta. Có thể không phải lúc nào ta cũng đạt được ý muốn nhưng ít ra ta cũng được cha mẹ lắng nghe và tôn trọng”. Nó được phép giận dữ và được phép giữ lại một phần quan trọng con người nó.

Nhưng đó không phải là trường hợp của phần lớn những đứa trẻ khác. Có lần tôi đang ở trong một cửa hàng bách hóa và đã tình cờ chứng kiến cảnh cơn giận của một đứa trẻ bị dập tắt nhanh chóng đến thế nào – đặc biệt là khi cơn giận đó lại hướng tới người sinh ra nó. Một phụ nữ đang mua sắm quần áo trong khi đứa con trai khoảng bốn tuổi của cô ta lẽo đẽo theo sau. Cô ta đang mải mê lựa chọn quần áo, không để ý gì đến đứa bé, còn cậu bé thì cứ tiếp tục độc thoại để cố lôi kéo sự chú ý của mẹ. Nó nói: “Con không thể đọc được những chữ này, mẹ ơi”, đồng thời chỉ tay vào tấm biển đề “M.A.D.E”. Mẹ nó không có phản ứng gì. “Mẹ có còn thử thêm nhiều quần áo nữa không mẹ?”. Vẫn không có câu trả lời. Trong suốt thời gian tôi quan sát họ, người phụ nữ chỉ chú ý đến con mình trong một vài giây và khi đó, cô ta tỏ vẻ khó chịu và bực bội. Cuối cùng tôi nghe thấy đứa bé nói to và rõ ràng với người bán hàng: “Mẹ cháu bị tai nạn ô tô. Bà ấy chết rồi”. Câu tuyên bố này lập tức thu hút được chú ý của mẹ nó. Cô ta túm lấy hai vai thằng bé lắc mạnh, tát nó một cái và giận dữ giúi nó ngồi xuống một chiếc ghế. “Con nói cái quỷ gì thế? Mẹ không bị tai nạn. Bỏ cái kiểu ăn nói láo lếu ấy đi. Ra đằng kia ngồi yên ở đấy và câm miệng lại. Mẹ không muốn nghe thấy con nói gì nữa”. Mặt thằng bé trắng bệch ra. Nó ngoan ngoãn ngồi xuống không nói thêm câu nào cho tới khi mẹ nó mua sắm xong.

Trong đầu thằng bé, cơn giận dữ của nó với mẹ nó đã chuyển thành một câu chuyện tưởng tượng nhầm báo thù mẹ nó. Trong câu chuyện đó, mẹ nó đã bị chết trong một tai nạn xe cộ. Nó không thể làm gì mẹ nó được. Mới bốn tuổi, nó đã được dạy phải chối bỏ mọi ý nghĩ và tình cảm giận dữ. Thay vào đó, nó đã tưởng tượng rằng mẹ nó đã va phải một chiếc xe hơi và chết.

Khi bạn còn trẻ, chắc cũng có nhiều lần bạn giận dữ với cha mẹ bạn. Đó là thứ cảm xúc ít được chấp nhận nhất. Sự giận dữ, khoái lạc nhục dục và rất nhiều những ý nghĩ hay tình cảm mang tính “phản xã hội” khác bị đẩy xuống dưới sâu trong con người bạn và bạn không bao giờ được để lộ ra.

Một số bậc cha mẹ đã đầy việc phủ nhận bản ngã của con mình đến cực điểm. Họ không chỉ phủ nhận tình cảm và cách cư xử của con, mà còn phủ nhận chính sự tồn tại của đứa trẻ. “Mày không là cái thá gì trong gia đình này. Mọi nhu cầu, tình cảm hay ước muốn của mày đối với chúng tao đều chẳng có giá trị gì”. Tôi đã từng chữa trị cho một phụ nữ trẻ tên là Carla. Cha mẹ cô đã phủ nhận sự tồn tại của cô đến mức họ làm cô có cảm giác mình vô hình. Mẹ cô là một người nội trợ không chê vào đâu được và bà luôn nhắc nhở con gái phải “dọn dẹp sạch sẽ mọi thứ sau khi đã dùng xong để không ai có thể nói là con đang ở đây”. Carla chỉ được phép bước lên những tấm plastic đặt trên thảm. Trong nhà có một khoảng sân được trang trí rất đẹp nhưng không có chỗ để chạy xe, hay tập thể dục. Carla hãy còn nhớ như in, có làn cô đã ngồi trong bếp suốt cả ngày, cảm thấy chán nản và chỉ muốn chết. Lúc đó, cô khoảng mười tuổi. Cha mẹ cô đi lại trong bếp nhiều lần mà thậm chí không hề biết đến sự có mặt của Carla. Từ đó, Carla bắt đầu có cảm giác mình không có cả một cơ thể hữu hình. Không có gì đáng ngạc nhiên là khi cô mười ba tuổi, cô trở nên biếng ăn, nói một cách khác, cô có ý tuyệt thực để không phải tồn tại nữa.

Những công cụ đàn áp

Trong cố gắng muốn đè nén những ý nghĩ tình cảm hay hành vi nào đó, cha mẹ thường sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Có khi họ đưa ra những mệnh lệnh rõ ràng: “Con không được nghĩ như thế”. “Con trai lớn rồi ai lại khóc”. “Bố không muốn nghe con nói như vậy nữa đâu!”, “Trong nhà nhày không ai được phép cư xử như vậy!”. Hoặc giống như bà mẹ mà tôi thấy trong cửa hàng, họ rầy la, dọa dẫm hoặc đánh đứa trẻ. Thông thường thì họ uốn nắn đứa trẻ bằng nhiều cách khác tinh vi hơn, đơn giản là họ cố ý không nhận thấy hoặc không tán thành những hành động mà họ không thích. Ví dụ như, nếu cha mẹ đứa trẻ không coi trọng lắm các giá trị tinh thần như kiến thức hoặc sự phát triển trí tuệ chẳng hạn, thì họ sẽ chỉ đưa cho đứa trẻ những thứ đồ chơi hay dụng cụ thể thao thay vì sách vở hay đồ dùng học tập. Nếu họ tin rằng con cái phải nhu mì nữ tính, còn con trai thì phải mạnh mẽ và quyết đoán, họ sẽ chỉ tỏ ra tán thành con khi nó có những hành động đúng theo ý họ muốn. Ví dụ, nếu đứa con trai nhỏ của họ mang một món đồ chơi nặng vào phòng, họ sẽ nói: “Con trai tôi mới khỏe làm sao!”. Nhưng nếu đó lại là đứa con gái mang món đồ chơi ấy thì họ lại nhắc nhở: “Coi chừng con làm rách cái áo đẹp bây giờ”.

Tuy nhiên, cha mẹ ảnh hưởng tới con cái nhiều nhất bằng cách nêu gương cho đứa trẻ. Trẻ con, theo bản năng, luôn quan sát cách cha mẹ chúng hành xử. Cha mẹ chọn lựa điều gì, nghỉ ngơi và giải trí ra sao, phát huy những khả năng nào và tuân theo những quy tắc nào, tất cả những điều ấy, trẻ con đều để ý và đều có những ảnh hưởng sâu sắc đối với chúng. Chúng sẽ tâm niệm rằng: “Đây là cung cách mà ta phải theo”. Cho dù trẻ con chấp nhận hay phản đối lối sống của cha mẹ chúng, những ảnh hưởng của lối sống ấy vẫn tác động đến quá trình chọn lựa bạn đời của chúng sau này và như chúng ta sẽ thấy, đó cũng là nguyên nhân sâu kính gây ra những điều rắc rối trong hôn nhân.

Phản ứng của một đứa trẻ trước những quy tắc xã hội thường là theo một số giai đoạn có thể đoán trước được. Thông thường, những phản ứng đầu tiên của đứa trẻ sẽ là che giấu cha mẹ những hành vi bị cấm đoán. Nếu nó có giận dữ cha mẹ, nó cũng không để lộ điều đó ra. Nó khám phá thân thể mình trong phòng riêng, nơi nó có thể làm tất cả những gì nó muốn. Nó trêu chọc em nó khi cha mẹ vắng nhà. Cuối cùng, đứa trẻ kết luận rằng có một số ý nghĩ và tình cảm không thể chấp nhận được, do đó cần phải loại bỏ. Vì thế, nó sẽ tự tạo nên một vị quan tòa tưởng tượng trong đầu để xét đoán những hành vi và ý nghĩ của nó. Những nhà tâm lý học gọi vị quan toàn tưởng tượng này là “siêu ngã”. Bây giờ, mỗi khi đứa trẻ có một ý nghĩ sai trái hay có những hành động “không thể chấp nhận được”, nó sẽ cảm thấy vô cùng lo lắng vì nó tự cảm thấy có lỗi. Điều này đối với nó khó chịu đến nỗi nó quyết định để những phần bản ngã bị cấm đoán này vào góc sâu kính nhất trong con người nó và lãng quên chúng đi – theo như thuật ngữ của Freud, nó đã dồn nén chúng. Cái giá phải trả cho sự vâng lời này là đứa trẻ đã bị mất tính toàn vẹn.

Bản ngã giả tạo

Để lấp vào chỗ trống do những phần bản ngã bị mất, đứa trẻ tạo ra một “bản ngã giả”, một hệ thống những tính cách phục vụ cho hai mục đích: ngụy trang phần bản ngã bị mất và tránh cho nó khỏi bị thương tổn thêm nữa. Ví dụ như một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi người mẹ lạnh nhạt và bị ức chế về mặt tình dục, khi lớn lên, nó sẽ trở thành một “anh chàng lãnh đạm”. Anh ta tự nhủ: “Mình chẳng quan tâm đến chuyện mẹ mình sống có tình cảm không. Mình chẳng thiết những thái độ sướt mướt ủy mị vớ vẩn. Mình có thể sống mà chẳng cần đến ai. Hơn nữa, chuyện tình dục thật dơ bẩn!”. Cuối cùng, anh ta áp dụng kiểu suy nghĩ này cho mọi trường hợp. Bất kỳ ai muốn lại gần anh ta, anh ta đều dựng lên một bức tường ngăn cách. Sau này, khi đã gạt bỏ được ác ảm đối với tình yêu và chọn được cho mình một cô bạn, anh ta có khuynh hướng kết tội cô vì cô luôn mong muốn có sự thân mật giữa hai người: “Tại sao cô lại nhiễu sự đến thế, lúc nào cũng muốn cận kề nhau, gần gũi nhau. Điều này thật không bình thường!”

Nhưng đứa trẻ ấy cũng có thể phát triển tính cách theo chiều hướng khác. Nó phóng đại những nỗi khổ nó phải chịu, hy vọng rằng sẽ có ai đó đến với nó để cứu giúp nó: “Tôi thật đáng thương! Tôi khổ sở quá! Tôi bị tổn thương sâu sắc. Tôi cần có ai đó quan tâm chăm sóc tôi”. Đứa khác lại có thể trở thành một kẻ tích trữ tình thương, cố gắng cóp nhặt từng chút tình cảm của người như thể bao nhiêu tình cảm trên thế gian dành cho nó cũng vẫn không đủ. Nhưng dù bản ngã giả tạo có như thế nào đi nữa, mục đích của nó vẫn là giảm thiểu sự mất mát của phần bản ngã bị dồn nén đã làm mất đi tính toàn vẹn nguyên thủy.

Bản ngã bị chối bỏ

Tuy nhiên, tới một lúc nào đó, những phương cách tự vệ khéo léo này sẽ trở thành lý do để đứa trẻ bị buộc tội là có những tính xấu. Những người khác lên án nó vì no lạnh nhạt quá hoặc ủy mị quá hoặc ích kỷ hoặc keo kiệt. Những người đó không thấy được rằng nó đang cố tự bảo vệ để tránh bị tổn thương và họ cũng không nhận ra sự khôn ngoan trong phản ứng tự vệ của nó: Tất cả những gì họ thấy chỉ là khía cạnh dễ bị kích động trong tính cách đứa trẻ. Người ta cho rằng nó là đứa trẻ không tốt, không ngoan.

Bây giờ đứa trẻ bị kẹt giữa hai làn đạn. Nó cần những tính cách mới này vì chúng phục vụ cho những mục đích có ích, nhưng nó cũng không muốn bị xã hội tẩy chay. Giải pháp duy nhất là phủ nhận hoặc lật ngược lại những lời buộc tội: “Tôi không phải là người lạnh lùng xa cách”. Nó tự bào chữa cho mình: “Thực ra, tôi là người mạnh mẽ và độc lập”. Hoặc: “Tôi không phải là người mếm yếu và dựa dẫm, mà là người nhạy cảm”. Hoặc “Tôi không phải là kẻ tham lam và ích kỷ, mà là người tiết kiệm và thận trọng”. Nói cách khác nữa là: “Tôi không phải người như vậy. Các người chỉ biết nhìn tôi với con mắt thành kiến và ác cảm”.

Trên phương diện nào đó thì nó đúng. Những tính cách đó không có sẵn trong con người nó. Chúng đã hình thành từ những đau khổ nó đã trải qua và trở thành một phần nhân cách, trở thành vũ khí giúp nó tồn tài trong thế giới phức tạp và đầy thù địch này. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là nó không có những tính cách đó. Có rất nhiều người có thể làm chứng rằng, nó quả là có những tính xấu đó. Nhưng để bảo vệ hình ảnh tốt đẹp của bản thân và tạo cơ hội sống còn, nó buộc phải phủ nhận chúng. Những tính xấu này trở thành phần “bản ngã bị chối bỏ”, những tính cách thuộc về bản ngã giả tạo mà nó không muốn biết tới.

Ta hãy tạm dừng tại đây và sắp xếp lại sự hình thành của những phần bản ngã khác nhau. Hiện nay, chúng ta đã phân chia bản ngã của con người thành ba thực thể:

1. “Bản ngã bị mất”, phần bản ngã mà bạn phải trấn áp theo yêu cầu của xã hội.

2. “Bản ngã giả tạo”, vẻ bề ngoài bạn dựng lên để lấp chỗ trống tạo ra bởi bản ngã bị mất và bởi cung cách giáo dục sai lầm.

3. “Bản ngã bị chối bỏ”, những phần tiêu cực của bản ngã giả tạo không được xã hội chấp nhận và vì vậy bị chối bỏ.

Phần duy nhất của bức tranh cắt dán này mà bạn ý thức được, hoàn toàn là những phần vẫn còn nguyên vẹn thuộc về bản chất nguyên thủy của bạn, và một vài khía cạnh thuộc về bản ngã giả tạo. Tất cả những gì tạo nên bức tranh cắt dán này cũng là những gì tạo nên “nhân cách” của bạn, hình ảnh mà bạn sẽ dùng để mô tả chính mình. Phần bản ngã bị mất hầu như hoàn toàn nằm ngoài khả năng ý thức của bạn, bạn đã cắt đứt mọi mối dây liên hệ với nó. Còn phần bản ngã bị chối bỏ, những mặt tiêu cực của bản ngã giả tạo thì lượn lờ ngay dưới bề mặt của ý thức và luôn nơm nớp lo sợ bị lôi ra ánh sáng. Để che giấu nó, bạn tìm mọi cách phủ nhận nó hoặc chụp nó lên đầu người khác. “Tôi không ích kỷ”, bạn sẽ giận dữ nói như vậy hoặc la lên: “Anh nói gì? Tôi lười nhác ấy à? Chính anh mới là kẻ lười nhác”.

Chuyện ngụ ngôn của Plato

Có một chuyện ngụ ngôn trong tác phẩm Bữa tiệc đêm của Plato đã đưa ra một lời giải thích hoang đường cho tình trạng phân ly của loài người. Câu chuyện kể rằng, từ xa xưa, con người là những tạo vật ghép có cả hai giới tính nam và nữ. Mỗi người đều có một đầu với hai khuôn mặt, bốn chân, bốn tay và hai bộ phận sinh dục, nam và nữ. Vì được hợp nhất toàn vẹn nên tổ tiên của loài người có một sức mạnh lớn lao. Trên thực tế, những sinh vật lưỡng tính này hùng mạnh đến độ họ dám cả gan tấn công các thần linh. Dĩ nhiên là các thần chẳng để yên, nhưng họ không biết phải trừng phạt con người như thế nào. Họ nói với nhau: “Nếu ta giết chúng, sẽ chẳng còn ai tôn thờ và tế lễ ta nữa”. Thần Zeus đã cân nhắc rất lâu trước khi đưa ra một giải pháp: “Con người sẽ vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng chúng sẽ bị tách đôi. Ta sẽ lấy đi bớt một phần sức mạnh của chúng và ta sẽ không phải lo sợ vì chúng nữa”.

Sau đó, thần Zeus tách mỗi con người làm đôi và sai thần Aplollo làm kín miệng vết thương. Hai nữa người được bỏ ở hai nơi cách xa nhau và phải sử dụng phần đời còn lại để tìm kiếm điên cuồng nửa kia của mình, tìm kiếm sự hợp nhất với phần nửa sẽ đem tới cho mình sự toàn vẹn.

Cũng như tạo vật hoang đường của Plato, con người chúng ta phải trải qua cuộc sống cũng bị cắt thành hai nửa. Chúng ta tìm mọi cách làm lành vết thương rướm máu, nhưng mặc cho những cố gắng vô vọng ấy, một nỗi cô đơn vẫn tràn ngập trong ta khiến ta phải lấp đầy bằng thức ăn, bằng ma túy và bằng hoạt động. Nhưng những gì chúng ta thật sự khao khát là trạng thái toàn vẹn nguyên thủy, là tất cả những cung bậc tình cảm, là tính hiếu kỳ bẩm sinh, là niềm vui thuần khiết mà ta được hưởng khi còn rất nhỏ. Nó trở thành một niềm khao khát tinh thần, và như trong truyện thần thọai của Plato, chúng ta có một niềm tin sâu thẳm rằng nếu tìm được đúng người – nửa kia còn thiếu – chúng ta sẽ đạt được sự đầy đủ toàn vẹn. Con người đặc biệt này không phải bất kỳ ai, không phải là người đàn ông hay đàn bà đầu tiên chúng ta thấy có một nụ cười quyến rũ hay có tính tình dễ chịu. Đó phải là con người làm cất lên trong ta một tiếng nói bí mật, bảo ta rằng: “Đây chính là người ta đã tìm kiếm bấy lâu! Đây chính là người sẽ hàn gắn vết thương từ trong quá khứ!”. Và vì những lý do tôi sẽ đưa ra trong chương kế tiếp, người đó luôn là người có cùng tính cách cả tốt lẫn xấu giống tính cách của cha mẹ chúng ta!

Chương 3

Hình mẫu của bạn

Trong văn học, cũng như trong tình yêu, sự lựa chọn của người khác thường làm ta phải ngạc nhiên.

ANDRÉ MAUROIS

Nhiều người không dễ dàng chấp nhận rằng bao lâu nay họ đã tìm kiếm người trong mộng có những đặc điểm, tính cách tương tự như người đã nuôi dưỡng mình. Trên phương diện ý thức, họ tìm kiếm người có những tính cách tích cực, những người tốt bụng, tình cảm, ưa nhìn, thông minh và sáng tạo. Trên thực tế, nếu họ có một tuổi thơ bất hạnh, họ sẽ tìm những người có tính cách hoàn toàn trái ngược với tính cách của người đã nuôi dưỡng mình. Họ tự nhủ: “Ta sẽ chẳng bao giờ lấy một gã bợm rượu như cha ta”, hoặc: “Đừng hòng ta lấy một người lắm điều như mẹ ta”. Nhưng dù ý thức của họ có vạch sẵn dự định, kế hoạch gì đi nữa, họ vẫn bị cuốn hút bởi những người có đủ những đặc điểm tính cách tích cực và tiêu cực ấy, và thường thì tích cách tiêu cực lại đóng vai trò quyết định.

Tôi đã rút ra được kết luận bất ngờ này sau khi lắng nghe hàng trăm cặp vợ chồng nói về người bạn đời của họ. Trong quá trình điều trị, gần như mọi người đều có lúc nào đó chợt giận dữ quay sang nói với vợ hoặc chồng mình: “Cô đối xử với tôi y như mẹ tôi ngày xưa!” hoặc “Anh luôn làm tôi thấy thất vọng chẳng khác gì cha dượng tôi cả!”. Ý kiến này càng trở nên có giá trị khi tôi yêu cầu các thân chủ của tôi so sánh những đặc điểm tính cách của người nuôi dưỡng họ. Phần lớn các trường hợp, tính cách của người bạn đời và của người nuôi dưỡng rất giống nhau. Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, nét tương đồng dễ thấy nhất lại là những tính cách tiêu cực (Tất cả bài tập đều có ở Phần Ba của cuốn sách này. Theo tôi, bạn nên đọc hết cuốn sách trước khi làm bài tập).

Tại sao những đặc điểm tiêu cực lại có sức quyến rũ đến vậy? Nếu người ta chọn bạn đời trên cơ sở lôgic, người ta hẳn phải tìm kiếm những người có những phẩm chất bù đắp lại cho những thiếu sót của cha mẹ mình hơn là bản sao những tính xấu của họ. Nếu cha mẹ bạn làm bạn tổn thương vì tỏ ra không đáng tin cậy chẳng hạn, thì đúng lý ra bạn phải kết hôn với một người có thể che chở bạn, một người có thể giúp bạn khắc phục được nỗi sợ bị bỏ rơi. Ngược lại, nếu cha mẹ bạn can thiệp quá nhiều vào cuộc sống riêng tư của bạn thì bạn sẽ có khuynh hướng kết hôn với người cho phép bạn có nhiều tự do tinh thần để có thể vượt qua nỗi sợ bị hòa nhập. Nhưng phần tâm thức chỉ đạo việc tìm kiếm bạn đời không phải là tâm thức mới, hợp lý mà là tâm thức cũ hay lầm lẫn và không hợp thời. Và điều mà tâm thức cũ của bạn đang cố gắng thực hịên là tái tạo lại môi trường sống của bạn trong suốt quá trình phát triển để sửa đổi sai sót. Bạn đã được nuôi dưỡng tới khi có thể sống độc lập nhưng vẫn còn những khiếm khuyết về mặt tinh thần, do đó tâm thức cũ của bạn cố gắng quay lại những trường hợp gây tổn thương tinh thần cho bạn để bạn có thể hoàn tất công việc còn dở dang.

Đi tìm bản ngã đã mất

Còn về kẻ hướng đạo vô thức cũng như nhu cầu khôi phục lại phần bản ngã bị mất, những ý nghĩ, tình cảm và hành vi mà bạn đã phải dồn nén để thích nghi với gia đình và xã hội thì sao? Mẫu người nào sẽ giúp bạn tìm lại được sự toàn vẹn? Người đó có phải là người khuyến khích bạn tìm lại phần bản ngã bị mất? Liệu đó có phải là người có những nhược điểm như bạn và vì thế làm bạn thấy đỡ lạc lõng hơn? Hoặc ngược lại, người đó có tất cả những phẩm chất bạn còn thiếu? Để tìm ra câu trả lời, hãy xác định những gì bạn cho là nhược điểm của mình. Có thể bạn cho rằng mình thiếu óc thẩm mỹ, lạnh lùng hoặc thiếu khả năng suy nghĩ hợp lý và rõ ràng, như Sarah chẳng hạn. Nhiều năm về trước, khi những người xung quanh đều mạnh ở các mặt này, bạn càng nhận thức được sự yếu kém của mình rõ hơn. Nhưng nếu bạn làm thân với một trong những “thiên tài” ấy, bạn sẽ có những phản ứng khác hẳn. Thay vì cảm thấy hoảng sợ hoặc ghen tị, bạn sẽ thấy mình hoàn thiện hơn. Gắn bó tình cảm với người ấy sẽ biến những thuộc tính của họ thành một phần bản ngã của bạn. Việc đó giống như thể bạn hòa trộn mình với người khác và trở nên toàn vẹn.

Hãy nhìn xung quanh, bạn sẽ thấy không ít người đã chọn bạn đời với những tính cách bổ khuyết cho tính cách của chính họ. Dan là người lém lỉnh và nhiều chuyện, trong khi Gretchen vợ anh ta lại cả nghĩ và sống có chiều sâu. Janice sống dựa trên trực giác rất nhiều, còn Patrick chồng cô thì lại rất duy lý. Rena là một vũ công, bạn trai của cô là Mathew lại rất vụng về lóng ngóng. Thực chất của chuyện này là con người cố gắng đòi lại phần bản ngã bị mất một cách tượng trưng.

Hình mẫu

Bạn dựa trên hình ảnh của một người khác phái do vô thức tạo ra trong suốt khoảng thời gian dài từ khi bạn mới ra đời, để tìm kiếm người bạn đời lý tưởng, người vừa có nét giống với người nuôi dưỡng bạn lại vừa bổ khuyết cho những phần bản ngã bị mất của bạn. Tôi đã gọi hình ảnh này là Hình mẫu (Imago). Hình mẫu – đó là hình ảnh tổng hợp những nét tính cách của những người đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến bạn trong buổi bình minh của cuộc đời. Những người đó có thể là cha mẹ hay anh chị, hoặc người giữ trẻ hoặc một người họ hàng gần gũi. Là ai cũng vậy, một phần tâm thức bạn sẽ ghi lại mọi đặc điểm của người đó – giọng nói của họ, phản ứng của họ khi bạn khóc, màu da của họ lúc nổi giận, nụ cười của họ khi hạnh phúc, hình dáng của đôi vai, những cử động của cơ thể, tính khí, tài năng và sở thích của họ. Cùng với những dữ liệu này, bộ não của bạn còn ghi lại tất cả những tác động qua lại giữa bạn và họ. Não bộ không diễn giải những dữ liệu này mà chỉ cất nó vào một góc sâu trong ký ức.

Bạn có thể không tin rằng những chi tiết nhỏ nhặt như vậy về những người nuôi dưỡng bạn lại có thể in sâu trong ký ức, trong khi bạn lại chỉ nhớ lờ mờ về những năm đầu của cuộc đời. Thực thế, nhiều người không thể nhớ được những gì xảy ra cho họ từ khi còn nhỏ tới năm lên năm hoặc sáu tuổi, kể cả những sự kiện quan trọng đáng lẽ đã để lại những ấn tượng sâu sắc. Nhưng các nhà khoa học nói rằng, chúng ta cất giữ một khối lượng thông tin ẩn giấu rất lớn trong não bộ. Những nhà giải phẫu thần kinh đã khám phá ra điều này khi họ giải phẫu não cho những bệnh nhân đã được gây mê cục bộ. Họ kích thích một phần não bằng xung điện, cường độ yếu, và bệnh nhân đó bỗng dưng có thể nhớ lại đến từng chi tiết nhỏ hàng trăm sự kiện bị quên lãng từ thời thơ ấu. Ký ức của chúng ta là một nhà kho khổng lồ chứa đầy những thông tin bị quên lãng. Có những người đã đề xuất ý kiến cho rằng tất cả những gì chúng ta đã trải qua đều trú ngụ ở đâu đó trong những ngóc ngách sâu thẳm và mịt mùng của bộ não.

Không phải sự kiện nào cũng được ghi lại trong ký ức sâu đậm như nhau. Dường như những ấn tượng rõ ràng nhất chúng ta có được là từ những người nuội dưỡng ta thưở nhỏ. Và trong số những tác động qua lại giữa chúng ta và những người này, những sự kiện khắc sâu nhất trong ký ức là những sự kiện làm ta đau đớn nhiều nhất vì đó là những cuộc đọ sức có thể đe dọa đến sự sống còn của ta. Dần dần, hàng trăm hàng ngàn mẫu thông tin về người nuôi dưỡng hòa trộn với nhau tạo thành một hình ảnh duy nhất. Tâm thức cũ, vì không có khả năng phân biệt rõ ràng, đã ghi lại tất cả những dữ liệu này dưới cùng một tiêu đề: Những người quyết định sự sống còn. Bạn có thể coi Hình mẫu đó như một hình ảnh chỉ có một vài đặc điểm bề ngoài để nhận diện nhưng lại có những nét tính cách kết hợp từ tính cách của tất cả những người nuôi dưỡng bạn.

Việc bạn có yêu một người nào đó hay không phụ thuộc vào mức độ giống nhau giữa người đó và Hình mẫu do vô thức đưa ra. Một phần sâu kín của tâm thức sẽ quan sát và lạnh lùng phân tích các đặc điểm của người đó, và rồi so sánh chúng với ngân hàng dữ liệu phong phú trong đầu. Nếu người đó có ít điểm tương đồng với Hình mẫu, bạn sẽ không thấy cảm xúc nào với người đó. Người đó là một trong hàng ngàn người tới rồi lại đi trong cuộc đời bạn mà không để lại ấn tượng sâu sắc nào. Nếu có nhiều nét tương đồng giữa người đó và Hình mẫu, bạn thấy người đó thật quyến rũ.

Quá trình so sánh này khá giống với cách quân lính được huấn luyện để phân biệt các loại máy bay ở Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Người ta đưa cho họ một quyển sách có đầy những hình vẽ các loại máy bay của quân địch và của quân ta. Khi một chiếc máy bay chưa được nhận dạng bay vào tầm quan sát, họ sẽ vội vã so sánh đặc điểm của nó với đặc điểm của những hình vẽ trong sách. Nếu đó là một chiếc máy bay của “phe ta”, họ sẽ thở phào và trở về chỗ cũ. Còn nếu đó là một chiếc máy bay địch, họ sẽ lập tức vào vị trí chiến đấu. Một cách vô thức, bạn so sánh tất cả những người đàn ông, hoặc phụ nữ mà bạn gặp với Hình mẫu của bạn. Khi bạn tìm được một người khớp với Hình mẫu, bạn cảm thấy người đó có một hấp lực cuốn hút bạn mạnh mẽ.

Cũng như đối với những hoạt động khác của vô thức, bạn không hề biết gì về cơ cấu phân loại phức tạp này. Bạn chỉ có thể thoáng thấy Hình mẫu của bạn trong giấc mơ. Nếu bạn có thể gợi nhớ lại giấc mơ của mình bạn sẽ nhận thấy một điều là tâm thức cũ của bạn trộn lẫn người này với người kia một cách tùy tiện. Trong giấc mơ, một người đang đóng vai trò này bỗng trở thành một người khác. Nguyên nhân là vì vô thức không phân bịêt giữa các cá nhân. Có thể bạn đã từng có một giấc mơ mà trong đó, bỗng dưng người bạn đời của bạn lại biến thành cha hoặc mẹ bạn, hoặc giấc mơ trong đó cha mẹ và người bạn đời của bạn đối xử với bạn theo cùng một cách đến nỗi hầu như bạn không phân biệt được ai với ai. Đây là con đường duy nhất để bạn có cơ hội so sánh những nét tính cách chủ yếu giữa người bạn đời và người nuôi dưỡng bạn, bạn sẽ thấy những điểm tương đồng giữa họ là không thể lầm lẫn được.

Hình mẫu và Tình yêu

Để minh họa cho ý kiến về sự tác động của Hình mẫu đối với tình yêu, tôi sẽ đưa ra một ví dụ. Đó là trường hợp của Lynn, một trong những thân chủ của tôi. Lynn đã bốn mươi tuổi và có ba con đang đi học. Cô sống trong một thành phố ở New England và làm việc ở cơ quan chính quyền thành phố. Peter, chồng cô là một nhà thiết kế đồ họa.

Trong những buổi chữa trị đầu tiên với Lynn và Peter, tôi được biết cha của Lynn đã có ảnh hưởng sâu sắc tới cô. Ông quả là một người cha chu đáo, không bao giờ tiếc cô một khoản chi tiêu nào. Nhưng ông cũng là một người “không cảm xúc”. Những lúc ông như vậy, Lynn cảm thấy bực bội và sợ hãi. Cô kể cho tôi nghe, ông thường cù cô một cách không thương xót dù biết rằng cô ghét bị cù. Đến khi cô bật khóc thì ông lại chế giễu cô là “mít ướt”. Cô không thể quên có lần ông đã ném cô xuống sông để “dạy cho cô biết bơi”. Khi Lynn kể cho tôi chuyện này, cổ họng cô thắt lại, hai tay nắm chặt thành ghế. Cô luôn tự hỏi: “Làm sao ông ấy lại có thể làm như thế? Lúc đó tôi chỉ mới bốn tuổi đầu! Tôi còn nhớ lúc con tôi bốn tuổi, lúc nhìn nó, tôi cảm thấy kinh ngạc là làm sao ông ấy lại làm được như vậy. Bốn tuổi, đứa trẻ hãy còn đầy tin tưởng và dễ bị tổn thương”.

Dù Lynn không nhận thức được điều này nhưng thực ra, có rất nhiều sự kiện liên quan đến cha cô ẩn giấu sâu trong vô thức của cô, những sự kiện đã tác động đến cô sâu sắc nhất. Chẳng hạn như, giả dụ cha cô không buồn hâm nóng chai sữa trước khi cho cô bú lúc cô còn nhỏ, cô sẽ hình thành dần chuỗi liên tưởng giữa việc nằm trong lòng cha với cảm giác khó chịu khi phải uống sữa lạnh. Hoặc, lúc cô được mấy tháng, cha cô tung cô lên cao, hiểu lầm tiếng khóc thét sợ hãi của cô là tiếng kêu thích thú. Cô không còn nhớ được những chuyện như thế, nhưng tất cả đều được ghi lại ở đâu đó trong ký ức.

Mẹ của Lynn cũng có rất nhiều ảnh hưởng đối với cô. Mẹ cô bỏ nhiều thời gian quan tâm đến cô hơn và có kỷ luật nghiêm khắc. Không như cha cô, mẹ cô quan tâm đến tình cảm của con gái mình nhiều hơn. Khi đặt cô vào giường, mẹ cô bao giờ cũng hỏi cô ngày hôm đó như thế nào và lắng nghe cô kể về những cảm giác, những vui buồn của cô. Nhưng bà cũng rất hay phê phán. Không có điều gì Lynn nói hay làm mà bà hài lòng. Bà luôn sửa lỗi ngữ pháp cho cô, chải tóc cho cô và kiểm tra lại bài tập ở nhà của cô. Lynn cảm thấy bị xét nét khi cô ở bên bà.

Một điều quan trọng nữa là mẹ Lynn không cảm thấy thoải mái với bản năng giới tính của mình. Lynn nhớ mẹ cô luôn mặc áo tay dài, cài nút đến cổ và khoác ngoài những chiếc áo len dài và rộng thùng thình. Bà không bao giờ để ai cùng ở trong phòng tắm, dù cả nhà chỉ có một phòng tắm. Khi Lynn đến tuổi dậy thì, bà không bao giờ nói với con gái về những vấn đề giới tính. Không lạ gì là Lynn sau này bị ức chế tình dục.

Những người khác cũng có ảnh hưởng nhiều đến Lynn và một trong số đó là chị cô, Judith. Judith chỉ lớn hơn Lynn mười bốn tháng, nhưng cô xem chị mình là thần tượng. Cao lớn và thông minh, Judith dường như thành công trong bất cứ việc gì cô làm. Lynn ngưỡng mộ chị mình hết mức và tìm mọi cách được ở bên chị. Nhưng mỗi lần như vậy, cô đều cảm thấy mình thấp kém.

Dần dần, các tính cách của những nhân vật chủ chốt trong thời thơ ấu của Lynn, mẹ cô, cha cô và chị cô, kết hợp lại trong vô thức của Lynn và tạo ra một hình ảnh duy nhất, Hình mẫu của cô. Đó là hình ảnh của một người trìu mến, nhiệt tình, không nhạy cảm, hay phê phán, trịch thượng và rộng lượng. Nhưng những điểm có tính quyết định lại là những tính xấu: hay phê phán, không nhạy cảm, và trịch thượng, bởi vì đây là những điều đã làm cô thương tổn. Trong cuộc đời, Lynn gặp Peter lần đầu tiên ở nhà một người bạn. Điều cô nhớ rõ nhất là khi cô được giới thiệu với Peter, cô có cảm giác đã quen biết anh từ lâu. Đó là một cảm giác thật lạ. Tuần lễ tiếp sau, cô tìm mọi cớ để đến nhà người bạn đó và cô thấy vui sướng nếu Peter cũng có mặt. Dần dần, cô nhận thấy mình bị cuốn hút đến bên Peter và thật sự hạnh phúc nếu được ở gần bên anh. Trong những lần gặp mặt đầu tiên này, Lynn không so sánh Peter với bất kỳ người nào cô biết, kể cả cha mẹ hay chị cô. Cô chỉ thấy Peter là người vô cùng quyến rũ và có vẻ dễ nói chuyện.

Trong quá trình chữa trị cho Lynn và Peter, tôi đã thấy rõ ở Peter có những đặc điểm nào trùng hợp với Hình mẫu của Lynn. Anh là người vượt trội hơn cô và tự tin, những đặc điểm trùng với cha và chị cô. Anh cũng là người hay phê phán, giống mẹ cô. Anh luôn bảo cô cần phải giảm cân, phải nhiệt tình, vui vẻ hơn và phải quyết đoán trong công việc. Nhưng đặc điểm nổi bật nhất của Peter là anh cũng thiếu quan tâm đến tình cảm của Lynn như cha cô. Lynn thường có những cơn phiền muộn, và lời khuyên của Peter dành cho cô là: “Nói ít thôi và làm nhiều hơn. Anh mệt mỏi với những lời than vãn của em lắm rồi!”. Anh ta lúc nào cũng vậy, luôn luôn đối phó với những tình cảm tiêu cực của chính mình  bằng cách lao đầu vào công việc.

Một lý do nữa khiến Lynn bị lôi cuốn là Peter rất tự nhiên ngay từ trong bản chất. Khi tôi nhìn họ, tôi luôn nhớ lại lời của một trong những giáo sư đã dạy tôi: “Nếu muốn biết người đó kết hôn với mẫu người nào, hãy tưởng tượng mẫu người đối lập với chính người đó”. Lynn thường ngồi bắt chéo chân và tay, còn Peter thì duỗi dài người trong ghế với vẻ vô cùng thoải mái. Đôi khi anh bỏ giày ra, ngồi vắt chân chữ ngũ, hoặc vắt chân qua thành ghế. Lynn mặc bộ đồ may đo cài kín đến nút cuối cùng hoặc một bộ đồ đi làm với một khăn quàng lụa quấn quanh cổ. Còn Peter thì mặc quần nhung kẻ rộng thùng thình, áo sơ mi hở cổ và đi giày thể thao mà không mang tất.

Bây giờ ta đã biết tại sao Lynn bị lôi cuốn bởi Peter. Còn Peter thì sao? Một trong những lý do đó là tính dễ xúc động của Lynn. Cha mẹ Peter chấp nhận anh, nhưng bác bỏ cảm xúc của anh. Khi anh ở bên Lynn, anh cảm thấy mình tới gần những xúc cảm bị dồn nén của chính anh hơn; cô giúp anh lấy lại được mối liên hệ với phần bản ngã bị mất. Ngoài ra, cô có rất nhiều đặc điểm giống cha mẹ anh. Óc khôi hài của cô làm anh nhớ tới mẹ anh và bản tính phụ thuộc, khiêm tốn của cô nhắc anh nhớ tới cha mình. Vì Lynn có nhiều điểm tương đồng với Hình mẫu của Peter và anh cũng có nhiều điểm tương đồng với Hình mẫu của cô và vì cả hai có khá nhiều tính cách bổ khuyết, Peter và Lynn đã “yêu nhau”.

Câu hỏi mà tôi thường đặt ra khi nói tới những yếu tố vô thức trong quá trình chọn bạn đời là: Tại sao người ta lại có thể nhận biết nhau nhanh chóng đến thế? Mặc dù một số tính cách của con người khá nổi bật, như tính phóng túng của Peter hoặc khiếu hài hước của Lynn chẳng hạn, nhưng có những tính cách khác không dễ nhận thấy đến như vậy.

Lý do khiến ta có thể nhận biết tính cách của người khác ngay lập tức như vậy là do ta dựa trên cái mà Freud gọi là “tri giác vô thức”. Chúng ta hiểu về người khác bằng trực giác nhiều hơn ta tưởng. Khi ta gặp một người lạ, ta lập tức ghi nhận cách họ cử động, cách họ tìm kiếm hay tránh ánh mắt của ta, quần áo họ mặc, những biểu hiện đặc thù, kiểu chải tóc, mức độ thoải mái khi cười, khả năng lắng nghe, tốc độ nói, khoảng thời gian từ sau khi được hỏi đến lúc trả lời. Chúng ta ghi lại tất cả những đặc điểm này và hàng trăm điều khác chỉ trong vài phút.

Chỉ bằng cách nhìn vào người khác, chúng ta đã có thể thu nhập được khối lượng thông tin khổng lồ về người đó. Khi tôi đi bộ trên đường đến chỗ làm mỗi buổi sáng, tôi thường đánh giá người qua kẻ lại trên vỉa hè một cách máy móc. Nhận xét của tôi về người nào đó xuất hiện ngay lập tức: Người này tôi ước ao được làm quen, còn người kia, tôi không thấy có gì thú vị. Tôi cảm thấy mình bị lôi cuốn hoặc bị dội ra chỉ qua một cái nhìn sơ. Khi tôi bước vào một bữa tiệc chỉ cần đảo mắt một vòng là tôi tìm thấy ngay người khiến tôi để ý. Những người khác cũng nói như vậy về khả năng đánh giá bằng trực giác của họ. Một tài xế xe tải nói với tôi, anh ta có thể quyết định tức khắc việc có dừng lại đón một người vẫy xe xin đi nhờ hay không, dù anh ta đang phóng với vận tốc sáu mươi lăm dặm một giờ. Anh ta thêm: “Và tôi ít khi nhầm người”.

Và khả năng quan sát của chúng ta càng nhạy bén hơn khi ta tìm kiếm nửa kia bị mất, vì lúc đó chính là ta tìm kiếm người có thể thõa mãn những đòi hỏi căn bản của vô thức. Chúng ta đặt mọi người dưới sự xem xét kỹ lưỡng: Liệu người này có bảo bọc ta và giúp ta tìm lại bản ngã bị mất? Khi ta gặp người có vẻ đáp ứng được những yêu cầu này, tâm thức cũ lập tức biểu lộ sự quan tâm. Trong những lần gặp mặt kế tiếp, vô thức đã được đánh động nên tìm kiếm những dấu hiệu chứng tỏ người này có thể là người bạn đời hoàn hảo. Nếu người đó giống với Hình mẫu trong vô thức, sự quan tâm ta dành cho người đó sẽ tăng lên. Nhưng nếu người đó chỉ có vẻ giống với Hình mẫu trong vô thức trên bề mặt, sự quan tâm của ta sẽ lụi tắt, và ta tìm cách giảm bớt tầm quan trọng của mối quan hệ.

Tuy họ không biết nhưng đó là diễn biến tâm lý xảy ra với Lynn và Peter khi họ gặp nhau lần đầu tiên ở nhà người bạn, vì Peter có vẻ giống với Hình mẫu của Lynn, cô đã tìm mọi cách gặp lại anh. Ngược lại Lynn cũng có vẻ khá giống với Hình mẫu của Peter nên anh cũng quan tâm đến cô không kém. Tình yêu của họ không đơn phương. Sau vài tuần, Peter và Lynn đã tích lũy đủ dữ liệu về người kia để cuối cùng nhận ra rằng họ yêu nhau.

Không phải ai cũng tìm được người phù hợp với Hình mẫu của mình. Đôi khi, chỉ có một hoặc hai điểm chủ chốt là tương đồng và sức hút khi gặp nhau lần đầu chỉ ở mức độ vừa phải. Những mối quan hệ như vậy kém đam mê nhưng cũng ít rắc rối hơn những mối quan hệ có sự tương đồng lớn giữa đối tượng với Hình mẫu. Nguyên nhân là vì tâm thức cũ vẫn tiếp tục cuộc tìm kiếm “đối tượng” lý tưởng nên ít đam mê hơn vì những đấu tranh nội tâm thời thơ ấu ít bị gợi lại nên ít rắc rối hơn. Khi hai người có ít sự tương đồng với Hình mẫu của nhau cắt đứt mối quan hệ, đó không phải vì họ gây đau đớn cho nhau quá nhiều, mà vì họ không thực sự quan tâm tới nhau. Họ nói: “Đó không phải là tất cả lý do” hoặc đơn giản là: “Tôi cảm thấy không yên. Tôi biết là còn có điều gì khác tốt hơn mà tôi cần tìm kiếm”.

Tới giờ thì các bạn chắc đã hiểu rõ hơn về sự bí ẩn của tình yêu. Ngoài những lý thuyết sinh học, lý thuyết trao đổi và lý thuyết nhân dạng đã bàn đền ở Chương Một, chúng ta đã nghiên cứu thêm được yếu tố nữa trong quá trình hình thành tình yêu, đó là sự tương hợp giữa đối tượng và Hình mẫu của mỗi người. Động cơ bên trong khiến ta tìm kiếm một người giống như Hình mẫu của ta chính là mong muốn mãnh liệt được hàn gắn các thương tổn tuổi thơ. Đó cũng là nguyên nhân gây nên những bất hòa trong hôn nhân: Nếu lý do khiến ta chọn ai đó làm bạn đời là vì họ giống người nuôi dưỡng của ta thì chuyện họ khơi lại nững vết thương nhức nhối là điều không tránh khỏi. Nhưng trước khi bàn đến lĩnh vực này, ta hãy tìm hiểu trạng thái ngây ngất của tình yêu xảy ra trong những tháng hoặc những năm đầu mới yêu nhau, khi viễn cảnh hiện thực hóa ước mơ còn tràn ngập trong ta.

Chương 4

TÌNH YÊU LÃNG MẠN

Hai chúng ta kết hợp lại tạo thành một đám đông.
OVID

Từ kinh nghiệm của chính mình và từ lời kể của những người khác, tôi biết rằng những người đang yêu luôn tin chắc thời gian họ sống bên nhau là rất đặc bịêt và có một không hai. Đây là quãng thời gian họ thường gợi lại trong ký ức, nhấm nháp từng kỷ niệm một. Khi tôi yêu cầu họ kể về những ngày thần tiên này, họ mô tả một thế giới hoàn toàn mới. Mọi người đều thân thiện hơn, màu sắc tươi sáng hơn và thức ăn cũng ngon hơn. Mọi vật xung quanh họ đều tỏa sáng với một vẻ mới mẻ ban sơ, giống như khi họ còn trẻ.

Nhưng sự thay đổi lớn nhất là cách họ nghĩ về chính bản thân họ. Bỗng dưng, họ nhìn cuộc sống với ánh mắt nhiệt tình và lành mạnh hơn. Họ thấy mình dí dỏm hơn, vui vẻ hơn và lạc quan hơn. Khi họ nhìn vào gương, họ có một tình yêu mới đối với con người đang nhìn lại họ, có lẽ họ xứng đáng với tình cảm người kia dành cho họ. Một số người thấy mình tốt đẹp hơn lên. Họ không còn phải ăn kẹo cao su, chích ma túy, uống rượu, hoặc trói mình trước màn hình TV để giải khuây. Làm việc ngoài giờ cũng mất đi sức lôi cuốn và những cuộc săn lùng tiền bạc hay quyền lực cũng trở nên lạc lõng. Cuộc sống có ý nghĩa và có giá trị, và cuộc sống ở ngay bên cạnh họ.

Khi tình yêu của họ đạt tới đỉnh cao, họ hướng những tình cảm nồng nhiệt của mình tới những người xung quanh. Họ thấy yêu thương và chấp nhận người khác nhiều hơn một số người còn may mắn có được một sự nhận thức tinh thần cao độ, một cảm giác toàn vẹn và ý thức về sự nối kết với tự nhiên mà họ chưa từng đạt được kể từ thời thơ ấu. Trong một khoảng thời gian, họ nhìn thế giới không qua lăng kính rạn nứt của tình trạng không toàn vẹn mà qua lăng kính thuần nhất và nhẵn bóng của bản chất nguyên thủy của họ.

Lynn và Peter, cặp vợ chồng tôi đã giới thiệu với các bạn ở cuối chương trước, kể với tôi rằng hồi mới yêu nhau, họ đã có lần dành cả một ngày để đi dạo chơi khắp thành phố New York. Sau khi ăn tối, họ cùng nhau leo lên đỉnh tòa nhà Empire State ngắm mặt trời lặn. Họ nắm tay nhau và cùng nhìn xuống hàng ngàn con người bé xíu ở dưới đang bận rộn đi lại, lòng cảm thấy thương hại. Tại sao những người này lại có thể không chia sẻ trạng thái ngây ngất của họ chứ?

Tình yêu dưới góc độ hóa học

Điều gì đã tạo ra cơn lốc những cảm xúc tốt đẹp mà người ta gọi là tình yêu? Những nhà nghiên cứu tâm thần – dược lý đã nhận thấy rằng những người yêu nhau có lượng chất kích thích cao – các loại hormon tự nhiên và chất hóa học làm toàn bộ cơ thể tràn ngập trong hạnh phúc. Trong suốt thời kỳ đầu của tình yêu, não bộ tiết ra các chất dopamin và norepinephrin, hai trong số rất nhiều các chất dẫn truyền thần kinh. Những chất này tạo ra cảm giác hưng phấn trong cuộc sống, tăng nhanh nhịp tim, cung cấp nguồn năng lượng dồi dào và tạo khả năng nhận thức cao. Trong thời gian này, khi những người yêu nhau muốn được ở bên nhau từng giây từng phút, não sản xuất ra nhiều endorphin và enkephalin hơn. Đó là những chất ma túy tự nhiên, tạo cảm giác an toàn và thoải mái. Bác sĩ Michael R.Liebowitz, giáo sư trợ giảng của khoa tâm thần lâm sàng Đại học Columbia, đã tiến xa hơn một bước và đưa ra ý kiến rằng cảm giác toàn vẹn bí ẩn của những người yêu nhau có thể gây ra bởi lượng chất dẫn truyền thần kinh setoronin tiết ra nhiều hơn.

Nhưng dù việc nghiên cứu tình yêu dưới góc độ được lý học rất kích thích sự tò mò, các nhà khoa học vẫn không lý giải được nguyên nhân tại sao những chất hóa học đó lại giảm. Tất cả những gì họ có thể làm là ghi nhận rằng tình yêu là một hiện tượng tự nhiên được tạo ra bởi các thành phần sinh học rõ ràng. Để có thể hiểu thêm về vấn đề này, ta cần quay trở lại lĩnh vực tâm lý học và quay lại với quan điểm rằng tình yêu là sản phẩm của vô thức.

Ngôn ngữ chung của tình yêu

Trong chương trước, tôi đã đưa ra một lời giải thích về tình yêu. Tôi xin nhắc lại rằng, lý do chúng ta có những tình cảm tốt đẹp như vậy vào giai đoạn đầu của tình yêu là do một phần tâm thức tin rằng tình yêu sẽ đem lại cho ta sự an toàn và sự trọn vẹn nguyên thủy. Nếu chúng ta tìm đúng chỗ, chúng ta sẽ thấy rất nhiều chứng cứ rằng điều này là đúng. Một trong những nơi chúng ta nên để ý là ngôn ngữ chung của tình yêu. Khi lắng nghe những ca khúc phổ biến, đọc những bài thơ tình, những vở kich, những cuốn tiểu thuyết và lắng nghe hàng trăm cặp tình nhân mô tả tình yêu của họ, tôi đã đi đến kết luận rằng tất cả những lời trao đổi giữa hai người yêu nhau từ thưở khai thiên lập địa tới giờ gồm có bốn câu chính, còn những câu khác chỉ là phát triển từ bốn câu này. Và bốn câu nói chính này đã cho ta thấy lờ mờ yếu tố vô thức của tình yêu.

Câu đầu tiên trong số bốn câu này được nói ra từ khi mới quen nhau, có lẽ ở lần gặp đầu tiên hoặc lần gặp thứ hai gì đó. Nó đại loại như sau: “Tôi biết chúng ta chỉ mới quen nhau, nhưng tôi có cảm giác như tôi đã biết cô từ trước rồi”. Đây không phải là những câu sáo ngữ. Vì lý do nào đó không giải thích được, họ cảm thấy dễ chịu khi ở bên nhau. Họ cảm nhận được một sự công hưởng dễ chịu, như thể họ đã quen nhau nhiều năm rồi. Tôi gọi đây là “hiện tượng nhận diện”.

Không lâu sau, người ta bắt đầu chuyển sang câu thứ hai: “Điều này thật lạ, nhưng dù ta gặp nhau chưa bao lâu, anh không thể nhớ nổi quãng thời gian mình chưa quen nhau”. Dù họ chỉ mới gặp nhau vài ngày hay vài tuần trước, dường như họ đã luôn ở bên nhau, mối quan hệ giữa họ không có ranh giới về thời gian. Tôi gọi đây là “hiện tượng phi thời gian”.

Khi mối quan hệ đã đến lúc chín muồi, người ta thường nhìn vào mắt nhau và tuyên bố câu thứ ba đầy ý nghĩa: “Khi anh ở bên em, anh không còn cảm thấy cô đơn nữa; anh cảm thấy mình đầy đủ và hoàn thiện”. Một trong những thân chủ của tôi, Patrick, đã diễn tả như thế này: “Trước khi tôi biết Diane, tôi có cảm giác mình suốt ngày chỉ quanh quẩn trong ngôi nhà rộng lớn với những căn phòng trống trải. Khi tôi gặp nàng, tôi có cảm tưởng mình mở cánh cửa ra và thấy có ai đó ở nhà”. Được ở bên người yêu, Patrick đã dừng cuộc tìm kiếm không ngơi nghỉ sự hoàn thiện. Anh cảm thấy đầy đủ thỏa mãn. Tôi gọi đây là “hiện tượng hợp nhất”.

Cuối cùng, tới một lúc nào đó, những người yêu nhau tiến tới câu nói thứ tư và cũng là cuối cùng của tình yêu: “Anh yêu em rất nhiều. Anh không thể sống thiếu em”. Họ đã dấn sâu vào tình yêu đến mức không thể hình dung được chia ly. Tôi gọi đây là “hiện tượng tất yếu”.

Cho dù người ta có thực sự nói ra lời hay chỉ có những tình cảm đó, họ đều là những minh chứng cho những gì tôi vừa nói về tình yêu và về bản chất vô thức của nó.

Câu nói đầu tiên mà người ta diễn tả lại một cảm giác kỳ lạ như gặp lại người quen, đã mất đi sự bí ẩn của nó khi ta nhớ lại rằng lý do người ta “chọn” người yêu là vì người đó giống người nuôi dưỡng mình. Không lạ gì là họ có cảm giác thân thuộc với nhau. Trong vô thức, họ đã một lần nữa liên hệ lại với người nuôi dưỡng mình. Chỉ tới lúc này, họ mới tin rằng những khao khát sâu kín nhất, căn bản nhất và ấu trĩ nhất sắp được thỏa mãn. Có người chăm sóc, hô không còn cô đơn nữa.

Câu thứ hai là một bằng chứng rằng tình yêu là một hiện tượng do tâm thức cũ tạo ra. Khi người ta yêu, tâm thức cũ sẽ nối kết hình ảnh của người yêu với hình ảnh của người nuôi dưỡng và thế là họ lạc vào vương quốc bất diệt. Đối với vô thức, được đắm chìm trong một tình cảm thân thiết rất giống với thời thơ ấu được ở trong vòng tay của mẹ. Người ta thấy cùng một ảo giác được an toàn, yên ổn, cùng một cảm xúc say mê.

Trên thực tế, nếu chúng ta có thể quan sát một cặp tình nhân ở thời điểm này trong mối quan hệ của họ, ta sẽ thấy được một điều thú vị: Cả hai người đang cùng tham gia một tiến trình ràng buộc bản năng, giống hệt như các bà mẹ ràng buộc với những đứa bé sơ sinh. Họ thủ thỉ nói với nhau những chuyện linh tinh, vô nghĩa, gọi nhau bằng những cái tên âu yếm mà họ sẽ ngượng không dám gọi trước mặt người khác. Họ vuốt ve và khám phá cơ thể của nhau như cách bà mẹ yêu tha thiết con mình. Cùng lúc, họ lại có cảm giác họ là những người cha, người mẹ thứ hai của người yêu bằng câu nói: “Anh sẽ yêu em như chưa ai từng yêu đến thế”, câu nói vô thức sẽ được diễn dịch lại là “nhiều hơn cả cha và mẹ”. Chắc không cần nói thêm là tâm thức cũ rất mê thích thái độ ứng xử này. Những người đang yêu tin rằng họ sẽ hàn gắn được vết thương – không phải bằng cách làm việc cực nhọc hay sự tự nhận thức đau đớn – mà bởi một hành động đơn giản là hòa nhập với một người mà tâm thức cũ lẫn lộn với người nuôi dưỡng.

Còn câu thứ ba, rằng người ta chìm ngập trong cảm giác về một sự toàn vẹn đầy đủ, thì sao? Khi nói câu này, họ biết rằng họ đã chọn (trong vô thức) người có những phần bản ngã họ bị mất khi còn thơ ấu; họ đã hồi phục lại bản ngã bị mất của mình. Một người thường dồn nén tình cảm sẽ chọn một người hay biểu lộ tình cảm, ham thích tình dục. Khi hai người với hai tính cách bổ khuyết yêu nhau, họ có cảm giác họ bất chợt được giải thoát khỏi sự dồn nén. Giống như những thực thể lưỡng tính bị cắt đôi của Plato, mỗi người bọn họ là một nửa của một người; bây giờ họ đã nối kết với nhau và trở nên toàn vẹn.

Và câu nói cuối cùng, rằng họ sẽ chết nếu họ phải sống chia ly? Điều này có thể cho ta biết gì về bản chất của tình yêu lãng mạn? Đầu tiên, nó cung cấp tư liệu rằng những người yêu nhau đã chuyển giao trách nhiệm về sự sống còn của mình từ cha mẹ sang người yêu mà không nhận thức được. Cũng chính thực thể kỳ diệu đã thức tỉnh “eros” (năng lượng sống) trong họ, bây giờ sẽ bảo vệ họ khỏi nỗi sợ hãi muôn đời trước cái chết. Qua việc quan tâm đến những nhu cầu tuổi thơ không được đáp ứng, người yêu của họ đã trở thành đồng minh trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Nếu suy xét xa hơn thì câu nói này đã tiết lộ nỗi sợ hãi rằng, nếu bị chia lìa, họ sẽ mất đi trạng thái toàn vẹn vừa tìm lại được. Họ sẽ một lần nữa trở thành những tạo vật gẫy vỡ, không hoàn chỉnh, bị tách khỏi sự toàn vẹn của cuộc sống. Nỗi cô đơn và sự lo lắng sẽ tràn ngập lòng họ và họ không còn có cảm giác nối kết với thế giới xung quanh nữa. Cuối cùng, nếu để mất người kia, họ sẽ mất luôn ý thức mới về bản thân họ.

Một chuyển đoạn ngắn

Tuy nhiên, những nỗi sợ hãi này bị đẩy lùi trong một thời gian và đối với những người đang yêu, dường như tình yêu lãng mạn đang thực sự chữa lành vết thương cho họ và làm họ trở nên toàn vẹn, chỉ tình bạn thôi cũng đã là một niềm an ủi dịu êm. Bởi vì họ ở bên nhau phần lớn thời gian, họ không còn cảm thấy cô đơn, lẻ loi. Và càng tin tưởng nhau, họ càng thân thiết với nhau hơn. Thậm chí họ có thể kể hết cho nhau nghe những đau khổ, những nỗi buồn thời thơ ấu. Và nếu họ làm như vậy, họ sẽ nhận được phần thưởng cho sự cởi mở, đó là sự thông cảm chân thành của người họ yêu “Ôi, anh rất buồn vì em phải trải qua những chuyện như vậy.” hoặc “Thật khủng khiếp là anh phải chịu đựng nhiều đến thế!”. Họ cảm thấy không một ai, kể cả cha mẹ họ lại quan tâm đến thế giới nội tâm của họ như vậy. Vì họ chia sẻ sự thân thiết này, họ cũng có thể có thế giới của người kia. Trong những khoảnh khắc hiếm hoi đó, họ không phán xử nhau, hoặc suy diễn những điều người kia nói, hoặc so sánh với những kinh nghiệm họ đã trải qua. Họ còn làm nhiều hơn thế: Trong một thời gian ngắn, họ đã giải tỏa được nỗi đam mê suốt đời của họ và cùng chia sẻ sự xác thực của một con người khác.

Nhưng tình yêu lãng mạn còn đem lại nhiều điều hơn là những lời nói ngọt ngào và những khoảnh khắc thông cảm để hàn gắn vết thương lòng. Với giác quan thứ sáu (thường thiếu một cách thảm hại ở những giai đoạn sau của mối quan hệ), những người đang yêu như đoán được chính xác người họ yêu thiếu điều gì. Nếu người yêu của họ cần được bảo bọc, họ sẽ vui lòng đóng vai một ông bố hay bà mẹ. Nếu người đó cần tự do, họ để người đó được riêng tư. Nếu người đó cần sự an toàn, họ sẽ bảo vệ người đó. Họ trút xuống người mình yêu những hành động chăm sóc tự phát, những hành động dường như xóa đi được những mất mát tổn thương trong thời thơ ấu. Yêu và được yêu không khác gì đột nhiên trở thành đứa con cưng trong gia đình lý tưởng.

Ấp ủ một ảo giác

Những người đang yêu bám lấy ảo giác của một tình yêu lãng mạn trong một khoảng thời gian. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi rất nhiều hoạt động vô thức. Một trong những hành vi thuyết phục mà hầu hết chúng ta đều có là cố tỏ ra đa cảm hơn con người thực của mình. Chẳng hạn, nếu bạn tỏ ra ít có nhu cầu riêng, người yêu bạn có thể tưởng rằng mục đích trong đời bạn là bảo bọc người khác chứ không phải được bảo bọc và thực sự điều này làm bạn trở nên đáng thèm muốn trong mắt người yêu của bạn. Một phụ nữ tên Louise đã kể lại cho tôi nghe những nổ lực của cô để tỏ ra là một người bạn đời hoàn hảo cho người chồng tương lai là Steve. Một vài tuần sau khi họ gặp nhau, Luise mời Steve tới nhà cô ăn tối. Cô nói: “Tôi muốn chứng tỏ tài nội trợ của mình. Steve đã thấy tôi như một phụ nữ có nghề nghiệp và tôi muốn anh ấy thấy tôi còn có thể nấu ăn ngon nữa? Để làm cuộc sống của mình có vẻ đơn giản hết mức, cô gửi đứa con trai mười một tuổi của người chồng trước sang ngủ nhà bạn – không có lý do gì để tiết lộ tất cả những sự phức tạp này ngay từ đầu. Cô lau sạch bóng căn nhà, chọn thực đơn gồm hai món duy nhất cô nấu được khá ngon và bày hoa tươi trong tất cả các phòng. Khi Steve bước vào nhà, bữa tối đã sẵn sàng, mặt cô trang điểm nhẹ và máy quay đĩa đang chơi một bản nhạc giao hưởng. Đến lượt Steve, anh cũng đến với thái độ quyến rũ và sẵn sàng giúp đỡ. Khi bữa tối kết thúc, anh giúp Louise rửa chén bát và sửa ngọn đèn ngoài hành lang bị cháy. Họ bắt đầu yêu nhau từ đêm đó và trong suốt mấy tháng tiếp theo, họ cố gắp sắp xếp cuộc sống sao cho có ít nhu cầu riêng nhất.

Thái độ quên mình này rất phổ biến. Hầu hết mọi người, ai cũng đụng phải rất nhiều rắc rối khi cố tỏ ra mình là người bạn đời lý tưởng. Lúc mới quen nhau trong một số trường hợp, thái độ này đã biến thành một sự lừa dối nghiệm trọng.

Một thân chủ của tôi, Jessica, đã từng có quan hệ với một người đàn ông không thể tin cậy được. Cô đã trải qua hai cuộc hôn nhân đổ vỡ và rất nhiều mối quan hệ không đi đến đâu. Mối quan hệ đã làm Jessica rốt cuộc phải đi chữa trị tâm lý liên quan tới Brad, một người ban đầu tỏ ra hết lòng vì cô, khi anh ta đã chiếm được lòng tin của cô rồi, cô bèn kể hết cho anh ta nghe những trục trặc của cô khi quan hệ với người khác phái. Brad tỏ ra thông cảm và đoan chắc sẽ không bỏ rơi cô. Anh ta nói: “Nếu như có người nào ra đi, đó sẽ là em. Còn anh, anh sẽ mãi mãi bên em”. Anh ta tỏ ra là một người bạn đời kiên định và đáng tin cậy.

Họ yêu nhau như vậy đã sáu tháng, và Jessica yên tâm sống trong sự an toàn của mối quan hệ. Thế rồi, một ngày kia, khi đi làm về, cô tìm thấy một lời nhắn của Brad đính ở cửa. Trong đó, anh ta giải thích rằng người ta đã mời anh làm việc ở một chỗ lương khá hậu ở một thành phố khác và anh ta không thể bỏ lỡ cơ hội. Anh ta muốn được đích thân báo cho cô biết, nhưng anh ta sợ cô sẽ quá đau khổ. Anh ta hy vọng cô hiểu cho anh ta.

Khi Jessica vượt qua được cú sốc, cô gọi điện cho người bạn thân nhất của Brad và yêu cầu anh ta kể cho cô nghe tất cả những gì anh ta biết. Qua câu chuyện anh ta kể về Brad, một chân dung hoàn toàn khác hẳn về Brad bắt đầu lộ ra. Rõ ràng anh ta chưa bao giờ ở đâu lâu. Trong mười lăm năm qua anh ta đã chuyển chỗ ở sáu lần và kết hôn ba lần. Tất cả những chuyện này Jessica không hề hay biết. Cảm nhận được Jessica đang cần sự an toàn, Brad đã cố hết sức để trở thành một người tình đáng tin cậy. Đây là một tiến trình tâm lí được biết dưới tên gọi “sự đồng nhất xạ ảnh”. Anh ta đã đồng nhất mình với ảo ảnh về một người đàn ông lý tưởng hoàn toàn trong vô thức của Jessica. Tôi không nghi ngờ việc anh ta giả dối như vậy là có chủ tâm. Có lẽ anh ta làm quen Jessica không phải với mục đích chiếm được lòng tin và tình cảm của cô rồi sau đó sẽ bỏ rơi cô; mà có lẽ chỉ vì anh ta không thể đóng trọn vai trò người bảo vệ của mình thêm nữa.

Khi Brad bỏ rơi cô, Jessica có đủ mọi lý do để nổi cơn thịnh nộ, nhưng thay vào đó, cô lại dựng lên ảo tưởng rằng anh ta sẽ gọi cô đến khi anh ta đã dành dụm đủ tiền. Cô ở lì bên máy điện thoại hàng giờ để chờ anh ta gọi điện về và lo lắng đợi thư của anh ta. Nhưng anh ta vẫn biệt vô âm tín. Rồi một ngày kia, cô kể với tôi: “Tôi mừng là đã không nhận được tin tức gì của anh ta, nếu không, chắc tôi sẽ lại đón anh ta quay trở lại, dù anh ta đã đối xử với tôi thế nào đi nữa. Tôi cần đến anh ta nhiều như vậy đấy”.

Jessica là một thí dụ điển hình của những trường hợp từ chối chấp nhận sự thật. Cô không chấp nhận Brad trên thực tế là một người đàn ông chưa trưởng thành và không thể tin cậy được. Kỷ niệm về vai diễn sốt sắng mà anh ta đã đóng vẫn hiện thực đối với cô hơn là sự thật về hành vi anh ta.

Sự từ chối

Ở một mức độ nào đó, chúng ta ai cũng sử dụng sự từ chối như một công cụ che đỡ. Mỗi khi chúng ta phải đối mặt với một khó khăn hay một tình huống đau lòng, chúng ta đều có khuynh hướng tảng lờ sự thật và tạo ra một hình ảnh tưởng tượng dễ chấp nhận hơn. Nhưng không lúc nào trong đời, cơ cấu phủ nhận của ta lại vận hành tối đa như trong những giai đoạn đầu của tình yêu.

John, một người đàn ông ở độ tuổi ba mươi là người đặc biệt giỏi trong lĩnh vực này. John tới tìm tôi để xin một lời khuyên. Anh ta là một lập trình viên máy tính, đã từng lập trình một phần mềm thành công đến mức anh ta đã dùng nó để khởi đầu sự nghiệp với công ty riêng của mình. Trong khoảng mười đến mười lăm phút đầu của mỗi buổi chữa trị, anh ta đều kể về công ty của mình và nói rằng nó hoạt động rất hiệu quả. Rồi cuộc đối thoại đi tới một đoạn dừng, anh ta sẽ đưa mắt đi chỗ khác và đi dần tới chủ đề của cuộc nói chuyện, đó là Cheryl, người anh ta yêu. Anh ta say cô như điếu đổ và sẽ cưới cô ngay lập tức nếu cô đồng ý. Nhưng Cheryl vẫn từ chối.

Khi John gặp Cheryl, cô dường như có tất cả những gì anh cần ở một người đàn bà. Cô quyến rũ, thông minh và rất nhạy cảm. Nhưng sau vài tháng quen nhau, anh bắt đầu thấy những mặt xấu trong tính cách của cô. Ví dụ khi họ cùng đi ăn tối, anh để ý thấy thế nào cô cũng sẽ phàn nàn về chất lượng món ăn hay cung cách phục vụ, dù thực ra chúng hoàn hảo. Anh cũng để ý thấy cô thường than phiền không ngớt về công việc của mình nhưng lại không làm gì để cải thiện điều kiện làm việc cả.

Để tránh bị thất vọng bởi những tính xấu này, John bắt đầu óc mình làm việc cật lực để cố tình không nhận thấy sự thật. Khi anh đi ăn tối với cô, anh tập nghĩ về khả năng phân biệt ngon dở của cô chứ không phải thái độ phàn nàn khó chịu. Khi cô nói huênh hoang và say sưa về công việc của mình, anh nghĩ cô đã phải cố gắng đến thế nào để trụ lại được trong điều kiện làm việc tồi đến như vậy. Anh ta tuyên bố với vẻ tự hào: “Nếu là người khác thì họ đã nghỉ việc lâu rồi!”

Điều duy nhất khiến anh thực sự cảm thấy khó xử là thái độ của Cheryl. Lúc nào cô cũng có vẻ như xua đuổi anh. Tình thế trở nên tệ hại khi hai người đã quen nhau sáu tháng. Cheryl yêu cầu anh không gặp cô trong một tuần để cô có thể “thở hít khí trời một chút”. John miễn cưỡng đồng ý với đề nghị của cô dù anh biết rằng một trong những lý do cô muốn có thời gian thoát khỏi anh là để có thể hò hẹn với người khác. Cô cho anh thấy rõ là anh không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc để cô có nhiều thời gian tự do hơn.

Để bù lại, John bắt đầu đến với một người phụ nữ tên là Patricia, một người khác hẳn với Cheryl. Tận tụy, phục tùng và kiên nhẫn, cô yêu anh đến phát điên. “Cô ấy sẽ cưới tôi ngay, cũng như tôi sẽ cưới Cheryl ngay lập tức. Nhưng tôi lại không quan tâm nhiều đến Patricia. Dù ở bên cô ấy, tôi thấy dễ chịu hơn, nhưng khi xa cô ấy, tôi không bao giờ nghĩ về cô. Cứ như thể cô ấy không tồn tại vậy. Đôi khi tôi có cảm giác mình đang lợi dụng cô ấy, nhưng tôi không muốn bị cô đơn. Cô ấy lấp đầy sự trống trải trong tôi”. Trong khi đó, Cheryl lại chiếm hết tâm trí của John dù cô hay phê phán và không chấp nhận anh. “Mỗi khi tôi không nghĩ về công việc thì tôi lại mơ về Cheryl”.

Tại sao John lại không bị quyến rũ trước vẻ hấp dẫn của Patricia và lại sẵn sàng bỏ qua những khuyết điểm của Cheryl? Có lẽ điều này không làm ai ngạc nhiên, rằng mẹ John cũng có tính tình xa cách và hay phê phán rất giống Cheryl. Một thoáng lo lắng hiện lên trên nét mặt mẹ John và thế là bà quên đi sự hiện diện của John. Anh không biết những lúc đó bà nghĩ gì trong đầu. Cũng như những đứa trẻ khác, anh không biết và cũng không thấy thích thú muốn biết tâm trạng của mẹ mình. Tất cả những gì anh biết là bà thường có vẻ không phải để dành cho anh và điều này làm anh hết sức lo lắng. Khi anh thấy ánh mát lơ đãng của bà, anh sẽ giận dữ và tìm cách gây sự chú ý. Bà sẽ đẩy anh ra và bắt anh về phòng mình. Nếu anh tỏ ra tức giận, bà sẽ phát cho anh một cái và không nói với anh nữa trong hàng giờ.

Cuối cùng, John đã học được cách chịu đựng trong im lặng. Anh nhớ rõ ngày anh phải học cách chấp nhận và giữ thái độ kiên cường. Mẹ anh la mắng anh và dùng bàn chải tóc đánh vào mông anh. Anh không nhớ cái gì đã làm bà giận dữ đến thế. Tất cả những gì anh nhớ là lúc đó anh cảm thấy mình bị phạt oan và chạy về phòng khóc nức nở. Khi về đến phòng mình, anh chạy vào buồng vệ sinh và đóng cửa lại. Ở đó, phía sau cánh cửa có gắn một tấm gương. Anh nhớ lúc đó mình bật đèn lên rồi nhìn chằm chằm vào gương mặt nhòe nhoẹt nước mắt trong gương.

Anh tự nhủ: “Có ai buồn để ý đến chuyện mình đang khóc ở đây đâu, vậy khóc có ích gì? Sau một lúc, anh nín khóc và lau nước mắt. Từ đó anh không bao giờ khóc nữa. Đó chính là ngày anh đã học cách che đậy nỗi buồn và cơn giận với một cái mặt nạ không thay đổi.

Những điều John đã trải qua trong thời thơ ấu giải thích vì sao anh lại bị cuốn hút bởi Cheryl. Khi Cheryl tảng lờ thái độ theo đuổi của anh để đi chơi với người đàn ông khác hoặc đề nghị anh đừng gọi điện cho cô trong vài ngày, anh thấy sự khao khát được gần gũi thuở nào lại tràn ngập trong anh, thứ tình cảm anh từng có với mẹ mình. Trên thực tế, có rất nhiều điều giống nhau giữa hai người đàn bà trên đến nỗi trong vô thức, anh không thể phân biệt người này với người kia. Sự lạnh lùng của Cheryl khơi lại trong anh niềm khao khát cháy bỏng anh đã có với mẹ mình. Và trong giới hạn nhận thức của tâm thức cũ, Cheryl là mẹ anh, và những nỗ lực để chiếm được tình yêu của cô là một hình thức khác thay thế cho việc khóc lóc và la hét của anh hồi nhỏ để thu hút sự chú ý của mẹ. Thuật ngữ tâm lý học chỉ sự lầm lẫn này là “sự chuyển di”, lấy những thuộc tính của người này gán ghép cho người khác.

Người ta rất hay gán ghép những tình cảm của mình có với cha mẹ sang cho người bạn tình, bởi vì qua quá trình lựa chọn của vô thức, họ đã chọn một người giống với người nuôi dưỡng họ. Tất cả những gì họ phải làm là phóng đại sự giống nhau giữa hai người ấy và giảm bớt sự khác biệt.

John còn có những nguyên nhân khác khiến anh yêu Cheryl ngoài việc cô giống mẹ anh. Một trong số đó là cô rất có tâm hồn nghệ sĩ. Vì anh là một “doanh nhân khô khan” (theo cách anh tự nhận xét), khiếu thẩm mỹ của cô đã mở ra một thế giới mới cho anh. Anh kể : “Chúng tôi đang lái xe và khi tôi bận bịu với những kế hoạch kinh doanh của mình, bất chợt Cheryl chỉ cho tôi thấy một kiến trúc đẹp hoặc một cái cây đẹp, và nó bỗng hiện ra trước mắt tôi. Dường như chính cô đã tạo ra nó. Một mình tôi, có lẽ tôi đã không để ý đến chúng. Không có cô, thế giới của tôi thật ảm đạm và khô cứng”.

Một lý do nữa khiến anh bị cô hớp hồn, dù anh phản đối kịch liệt, đó là vì cô có tính hay châm chọc, hay phê phán. Mặt tiêu cực này trong tính cách của cô lôi cuốn anh vì hai lý do. Thứ nhất, như ta đã nói đến, nó nhắc anh nhớ lại mẹ anh, một người cục cằn và dễ xúc động. Lý do thứ hai, có lẽ quan trọng hơn, là thói xấu của Cheryl làm anh nối lại sự liên hệ với những tình cảm bị chối bỏ của chính anh. Mặc dù anh cũng thấy giận dữ không kém Cheryl, nhưng anh đã học cách che giấu thái độ thù địch dưới vẻ bề ngoài phục tùng và chấp nhận. Khi còn nhỏ, đây là một cách thích ứng hữu dụng, vì nó bảo vệ anh khỏi tính khí của mẹ anh. Nhưng giờ đây, khi anh đã trưởng thành, sự dồn nén này làm anh chỉ còn là một nửa của một con người. Không còn khả năng cảm nhận hay thể hiện những cảm xúc mạnh, anh cảm thấy trong lòng trống trải. Anh khám phá ra rằng khi ở bên Cheryl, anh có được cảm giác phấn chấn anh rất cần. Anh không phải giận dữ, điều làm thức tỉnh siêu ngã của anh. Thay vào đó anh vẫn có ảo tưởng được hoàn chỉnh, trở thành một con người toàn vẹn chỉ bằng việc kết hợp với Cheryl.

Cuốn phim gia đình

“Phép chiếu” hay “xạ ảnh”, là thuật ngữ mô tả cách John lấy phần cảm xúc bị che giấu của anh – sự giận dữ – để gắn nó với Cheryl. Anh nhìn thấy sự giân dữ bị dồn nén của mình được thể hiện qua cơn giận dữ của Cheryl. Cũng như John, chúng ta biểu lộ phần con người bị dồn nén của ta bằng cách gán một phần lên người khác. Chúng ta thực hiện phép chiếu này mọi lúc, chứ không phải chỉ trong những quan hệ yêu đương. Tôi nhớ có lần ở Dallas, tôi ở chung với một bác sĩ tâm thần tên là James. Chúng tôi còn dư một phòng và tìm thêm một người ở chung. James có một người bạn vừa tốt nghiệp trường y và đang định mở phòng mạch tư. Anh đề nghị mời người đó đến ở chung. Để tôi có thể gặp anh bạn này, James đồng ý mời anh ta tới chơi.

Vài ngày sau, tôi mở cửa căn phòng của mình và tình cờ thấy một người đàn ông đang đi dọc hành lang. Anh ta đang đi xa dần nên tôi chỉ nhìn thấy lưng anh ta, nhưng dáng đi của anh ta có vẻ gì đó khiến tôi cảm thấy khó chịu. Anh ta lắc hông và đầu một cách oai vệ như thể anh ta sở hữu cả thế giới. Anh ta nện gót chứ không phải đi bình thường. “Đây có lẽ là người kiêu ngạo nhất thế giới”. Tôi tự nhủ. “Không biết anh ta là ai? Có lẽ là thân chủ của James”.

Tôi quay lại phòng mình và quên bằng chuyện vừa xảy ra. Một lúc sau, có tiếng gõ cửa phòng. Đó là James, và đi cùng với anh ta chính là người đàn ông tôi thấy lúc trước. James nói : “Đây là Robert Jenkins. Anh ấy là người mà tôi đã nói với anh. Anh ấy muốn thuê chung với chúng ta căn phòng đó. Tôi nghĩ hai người có thể đi ăn trưa với nhau”.

Tôi nhìn Robert và thấy một anh chàng với gương mặt tươi cười dễ mến! Anh ta có mái tóc cắt khéo, bộ râu muối tiêu chải chuốt, cặp kính gọng sừng và đôi mắt nâu to. Anh ta đưa tay ra và nói : “Chào anh, tôi đã nghe nhiều về anh. Nghe nói anh đang nghiên cứu những đề tài rất thú vị. Tôi rất muốn được nói chuyện với anh về đề tài đó.”

Tôi nhủ thầm : “Thật là một câu nói dễ chịu và khiêm tốn. Làm sao người này lại có thể chính là người mình cảm thấy khó chịu khi nãy?” Robert và tôi cùng đi ăn trưa và chúng tôi đã có một cuộc nói chuyện thú vị. Chiều tối hôm ấy, tôi nói với James có lẽ Robert sẽ là một người thuê chung nhà tuyệt vời. Cuối cùng Robert đã thành một người bạn tốt và một đồng nghiệp đáng tin cây. Dù anh cũng có những lúc tỏ ra kiêu ngạo – cũng như tôi và tất cả những người tôi quen biết – thì vẻ kiêu ngạo làm tôi khó chịu lúc nhác thấy anh lần đầu tiên cũng có trong nét tính cách của tôi. Tôi đã lấy một trong những thói xấu của tôi, thói xấu không phù hợp với hình ảnh của một bác sĩ nhạy cảm và ân cần, để chụp lên Robert.

Những người đang yêu là những chuyên gia trong hành động này. Một vài cặp vợ chồng sống bên nhau mà như những người lạ cùng ngồi trong bóng tối của rạp chiếu phim, người này ghép những hình ảnh không rõ ràng lên người kia. Họ thậm chí không tắt máy chiếu của mình đủ lâu để thấy người đóng vai màn ảnh của cuốn phim gia đình thật sự là ai. Cũng cùng một cách như vậy, John gán ghép cảm xúc giận dữ bị dồn nén của mình lên Cheryl. Mặc dù cô quả thực là một người hay nổi giận, anh cũng thấy phần bản tính của mình trong cô, phần thực thể làm hỏng cái tôi của anh, nghĩa là, không phù hợp với hình ảnh anh mong muốn.

Tình yêu lãng mạn đã được xác định

Nếu chúng ta diễn dịch tình yêu của John dành cho Cheryl bằng những thuật ngữ tâm lý học khô khan, thì đó là một sự hòa trộn giữa sự phủ nhận thực tế, sự chuển di và phép chiếu. John “yêu” Cheryl là bởi vì:

1. Anh đã chuyển những tình cảm của anh đối với mẹ mình sang cho cô.

2. Anh đã “chiếu” sự giận dữ bị che giấu của mình lên sự giận dữ mà cô bộc lộ ra.

3. Anh có khả năng phủ nhận những đau đớn cô gây ra cho anh.

John nghĩ anh đang yêu một con người, trong khi trên thực tế anh đang yêu một hình ảnh mà anh gán ghép lên người đó. Đối với John, Cheryl không hải là một con người thật với những nhu cầu và mơ ước của riêng cô ; cô chỉ là một nguồn thỏa mãn những khao khát vô thức của tuổi thơ của John. Anh yêu với ý nghĩ được thỏa nguyện và giống như Narcissus – với một phần bản ngã của chính anh được phản chiếu lại.

Psyche và Eros

Bản chất ảo tưởng của tình yêu được minh họa tuyệt vời trong truyện thần thoại về Psyche và Eros ; một truyền thuyết được ghi lại từ thế kỷ thứ hai sau Công nguyên. Theo như truyền thuyết này kể thì nữ thần Aphrodite ghen tị với một thiếu nữ phàm trần trẻ tuổi và xinh đẹp tên là Psyche và phật ý trước sự ngưỡng mộ của dân chúng đối với Psyche. Trong cơn giận dữ, Aphrodite đã ra lệnh đưa Psyche lên đỉnh một ngọn núi, nơi cô sẽ phải lấy một con quái vật kinh khủng (ở một vài dị bản của truyền thuyết này, con quái vật được gọi là Death – cái chết).

Cha mẹ của Psyche và dân làng buồn bã đi theo cô lên đỉnh núi, xích cô vào tảng đá và phó mặc cô cho số phận định đoạt. Nhưng trước khi Psyche bị con quái vật bắt, gió Tây thương hại cô đã nhẹ nhàng đưa cô xuống núi tới một thung lũng tình cờ lại là nơi ở của con trai Aphrodite là Eros, vị thần tình yêu.

Psyche và Eros yêu nhau ngay từ khi mới nhìn thấy nhau, nhưng Eros không muốn Psyche biết mình là một vị thần nên giữ kín bí mật của mình bằng cách chỉ đến với nàng trong đêm tối. Đầu tiên Psyche đồng ý điều kiện kỳ lạ này và hạnh phúc với tình yêu mới, trong một lâu đài tuyệt đẹp và một khung cảnh thơ mộng. Thế rồi, một ngày kia, hai chị gái của Psyche tới thăm nàng và ghen tị với số phận may mắn của Psyche, tò mò hỏi về Eros. Khi Psyche không trả lời được, họ reo rắc trong đầu nàng sự ngờ vực, rằng người tình của nàng có thể là một con quỷ xấu xa kiên nhẫn theo đuổi để ám hại nàng.

Đêm đó trước khi Eros lại tới với Psyche, nàng đã giấu một ngọn đèn và một con dao dưới giường. Nếu người tình của nàng đúng là một con quỷ, Psyche quyết định sẽ giết chết hắn. Nàng đợi đến khi Eros đã ngủ say mới khẽ khàng thắp đèn lên. Nhưng khi nàng cúi người tới trước để nhìn kỹ hơn, một giọt sáp nóng tơi từ ngọn đèn xuống vai Eros. Chàng tỉnh dậy ngay lập tức và khi thấy ngọn đèn cùng con dao trong tay Psyche, chàng bay qua cửa số mở đi mất, thề sẽ trừng phạt Psyche vì nàng đã khám phá ra sự thật, bằng cách vĩnh viễn từ bỏ nàng. Đau khổ, Psyche chạy theo Eros, gọi tên chàng, nhưng nàng không bắt kịp chàng, nàng hụt chân ngã. Ngay khi đó, tòa lâu đài và khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp biến mất, và một lần nữa nàng lại bị xích và một tảng đá trên đỉnh núi cô quạnh và dốc đứng.

Cũng như những truyện thần thoại khác, câu chuyện này bao hàm một phần sự thật. Tình yêu lãng mạn quả thực phát triển trên cơ sở “không biết” và trí tưởng tượng. Chừng nào những người đang yêu còn ôm ấp một hình ảnh lý tưởng và không đầy đủ về người mình yêu thì họ còn được hạnh phúc như ở vườn Địa Đàng, Nhưng huyền thoại này cũng có những chi tiết hư cấu. Khi Psyche thắp ngọn đèn lên và nhìn kỹ Eros lần đầu tiên, nàng phát hiện ra chàng là một vị thần đẹp tuyệt trần với đôi cánh bằng vàng. Còn khi bạn và tôi thắp đèn lên để lần đầu tiên quan sát kỹ người mình yêu một cách khách quan, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng họ chẳng phải thần thánh gì cả, họ cũng là những con người chưa hoàn thiện, đầy những khiếm khuyết, những ngược điểm, những tính xấu mà chúng ta nhất định không chịu thấy.

Chương 5

Tranh chấp

Anh không thể sống nổi dù ở bên em hay xa em.

OVID.

 

Đến bao giờ thì tình yêu lãng mạn kết thúc và xung đột mở màn? Dù người ta có tìm đủ cách dể hiểu được cơ cấu hành vi của con người, họ vẫn không thể xác định trước khi nào thì những chuyện này xảy ra. Nhưng đối với hầu hết các cặp tình nhân, mối quan hệ của họ có một sự thay đổi đáng chú ý vào lúc họ đưa ra một sự cam kết rõ ràng nào đó. Khi họ nói “Chúng ta hãy cưới nhau đi” hoặc “hãy đính hôn”, thì nghĩa là thời gian tìm hiểu thú vị và hấp dẫn đã đi đến một kết cục. Những người trong cuộc lúc đó không chỉ thỏa mãn với viễn cảnh đạt được, những ước muốn đã gây ra tình trạng hưng phấn của tình yêu lãng mạn, mà là sự thỏa mãn nhu cầu trên thực tế. Bất ngờ, người ta cảm thấy người bạn tình xưa mình dễ thương, thông minh, hấp dẫn và vui vẻ vẫn chưa đủ. Bây giờ người bạn tình phải thỏa mãn cả một hệ thống các ước vọng, có một vài điều có ý thức, nhưng phần lớn là vô thức.

Những ước vọng này bao gồm những gì? Ngay khi người ta bắt đầu sống bên nhau, họ đã cho rằng người bạn đời của họ sẽ tuân theo một loạt những ứng xử rất đặc biệt nhưng hiếm khi được nói ra. Ví dụ, một người đàn ông có thể cho rằng cô dâu mới sẽ làm các công việc bếp núc, nấu ăn, đi chợ, giặt quần áo, sửa soạn cho các ngày nghỉ, chăm sóc con cái và quản lý những đồ gia dụng. Ngoài việc trông chờ người vợ thực hiện những trách nhiệm truyền thống này, anh ta còn có một danh sách dài những đòi hỏi tiêng biệt tùy theo cách anh ta được giáo dục từ nhỏ. Ví dụ, ngày Chủ nhật, anh ta muốn vợ mình nấu một bữa sáng đặc biệt trong khi anh ta đọc báo và sau đó họ cùng đi tản bộ trong công viên. Đây là cách cha mẹ anh ta nghỉ ngơi trong ngày Chủ nhật và anh ta sẽ cảm thấy ngày Chủ nhật đó “không ổn” nếu nó không giống như vậy.

Trong khi đó vợ anh ta cũng có những mong muốn riêng của mình, có thể là trái ngược với anh ta. Ngoài việc mong đợi đức ông chồng thực hiện  đầy đủ nghĩa vụ của một người đàn ông trong gia đình, như sửa xe, trả tiền các hóa đơn, lo sữa chữa những hư hỏng trong ngôi nhà, cô còn muốn anh giúp cô trong công việc nội trợ, nấu ăn, đi mua sắm hay giặt quần áo. Và rồi, cô cũng có những mong đợi riêng tùy theo cách cô được giáo dục từ nhỏ, Một ngày Chủ nhật lý tưởng đối với cô có thể bao gồm đi Lễ nhà thờ, ăn trưa ở tiệm ăn, và đi thăm bạn bè, họ hàng suốt buổi chiều. Vì trước khi lấy nhau, cả hai bên đều không cho nhau biết những gì mình mong đợi ở người kia nên những trái ngược này có thể gây ra bầu không khí căng thẳng giữa hai vợ chồng.

Nhưng quan trọng hơn nhiều so với những mong đợi có ý thức hay nửa ý thức này là những mong đợi vô thức của mỗi người đối với hôn nhân; trong đó mong đợi mãnh liệt nhất là người bạn đời của họ sẽ yêu họ theo cách mà cha mẹ họ chưa từng yêu họ. Người bạn đời của họ sẽ làm mọi điều, thỏa mãn những nhu cầu tuổi thơ không được đáp ứng, bổ khuyết những phần bản ngã bị mất, bảo bọc họ đầy yêu thương và chung thủy, và luôn luôn ở bên họ khi họ cần. Đây cũng là những mong đợi đã đốt lên ngọn lửa đầy kích thích của tình yêu lãng mạn, nhưng bây giờ không còn là một khao khát để đáp ứng lẫn nhau. Rốt cuộc thì người ta không lấy nhau để lo lắng, để thỏa mãn những nhu cầu của người mình yêu, mà lấy nhau để thúc đẩy sự tăng trưởng tâm lý và cảm xúc của riêng mình. Khi mối quan hệ có vẻ an toàn, một “công tắc” tâm lý nằm sâu trong tâm thức cũ sẽ được bật lên, kích thích sự bộc phát của tất cả những mong ước ấu thơ còn tiềm tàng. Dường như đứa trẻ bị tổn thường trong mỗi con người đã vùng lên nắm lại quyền bính. Đứa trẻ đó nói: “Ta đã cảm thấy chắc chắn rằng người này sẽ ở lại bên ta để giúp đỡ ta. Hãy xem ta được gì trong vụ này”. Và thế là cả người chồng và người vợ sẽ lùi ra xa nhau một bước lớn và chờ cho những lợi ích của sự kết hợp xuất hiện.

Sự thay đổi có thể đột ngột hay từ từ, nhưng ở thời điểm nào đó, người vợ và người chồng bỗng thức dậy và nhận ra rằng mình đã chuyển tới sống ở một vùng khí hậu lạnh hơn. Bây giờ ít những vụ va chạm hơn, các thông điệp tình yêu cũng ngắn hơn và kín đáo hơn, ít hoạt động tình dục hơn. Hai người bạn đời sẽ ít kiếm cách ở bên nhau hơn và dùng nhiều thời gian để đọc sách báo, xem TV, giao tiếp với bạn bè hay chỉ đơn giản là ngồi mơ mộng.

Tại sao lại có sự thay đổi đó?

Nguyên nhân khiến tình yêu trở nên kém nồng nhiệt, một phần là do những khám phá không thú vị lắm về người mình yêu. Tới một lúc nào đó, người ta bỗng nhận ra rằng có những đặc điểm, những tính cách từng khiến họ mê thích nay lại làm họ khó chịu. Một người đàn ông bỗng nhận thấy tính bảo thủ của vợ mình, một trong những lý do khiến ông ta bị bà vợ cuốn hút trước đây, bây giờ lại làm bà có vẻ khô khan và kiểu cách. Một phụ nữ chợt phát hiện ra rằng thái độ kín đáo và lặng lẽ của chồng mình, thái độ mà hồi xưa bà cho là dấu hiệu của một trí tuệ khác thường, chỉ khiến bà cảm thấy cô độc. Một ông chồng nhận ra rằng tính bốc đồng và thích giao tiếp của bà vợ đã từng khiến ông vui vẻ thì nay chỉ làm ông cảm thấy phiền hà.

Đâu là lý do cho sự thay đổi thái độ này? Nếu bạn nhớ lại rằng với khao khát được là một thực thể toàn vẹn về mặt tinh thần, để được hoàn thiện, chúng ta đã chọn người bạn đời có thể bù đắp cho phần bản ngã đã mất trong thời thơ ấu của chúng ta. Chúng ta tìm những người có thể đền bù cho sự thiếu sáng tạo, thiếu khả năng suy nghĩ hay cảm xúc của ta. Nhờ sự hợp nhất giữa ta và người bạn đời, ta có cảm giác liên hệ lại được với phần bản ngã bị che giấu. Vào thời gian đầu, sự dàn xếp này tỏ ra có hiệu quả. Nhưng cùng với thời gian, những tính cách bổ khuyết của người bạn đời bắt đầu đánh thức trong ta những cảm xúc và thuộc tính vẫn còn bị cấm đoán.

Để tìm hiểu tại sao hiện tượng đầy kịch tính này lại xảy ra trong thực tế, ta hãy quay lại với câu chuyện của John, nhà doanh nghiệp thành công đã được nói tới ở chương trước, người tuy sống bên Patricia nhưng lại mong ước đến tuyệt vọng được ở bên Cheryl. Một ngày nọ, John tới chữa trị với tâm trạng sôi nổi. Lần này anh không nhắc tới công việc lập trình máy tính như thường lệ, mà đi vào chủ đề chính ngay lập tức và kể cho tôi nghe những tin tốt lành của anh. Cheryl, với ý định làm lành, đã quyết định đồng ý cho anh dọn tới ở chung trong sáu tháng để thử thách. Thế là giấc mơ của anh đã thành sự thật.

Tâm trạng ngây ngất của John kéo dài được vài tháng. Trong thời gian đó John cho rằng anh không cần phải chữa trị tâm lý nữa (cũng như phần lớn những người khác, John cảm thấy không cần phải suy nghĩ để giải quyết trục trặc chừng nào anh ta còn cảm thấy hạnh phúc). Nhưng rồi một hôm, anh gọi điện tới tôi xin hẹn gặp. Khi tới nơi, anh kể lại rằng anh và Cheryl bắt đầu gặp rắc rối. Điều đầu tiên anh kể là tính bốc đồng của Cheryl bắt đầu làm anh khó chịu. Anh có thể chịu đựng được những xúc cảm thái quá của cô (như lời anh mô tả) khi chúng dành cho ngưòi khác – chẳng hạn như khi cô mắng mỏ viên thư ký hay sôi nổi nói chuyện với bạn gái – nhưng khi cô hướng những xúc xảm thái quá về phía anh thì anh cảm thấy vô cùng sợ hãi. “Tôi có cảm giác đầu tôi sắp nổ tung ra”.

Lý do khiến John cảm thấy lo lắng đến thế khi ở bên Cheryl là cô bắt đầu khuấy động sự giận dữ bị dồn nén của anh. Ban đầu, ở bên cô, anh có ảo giác dễ chịu rằng anh đã chạm tới những cảm xúc sâu xa của mình. Nhưng sau một thời gian, tính bốc đồng của Cheryl kích thích những cảm xúc của chính anh tới mức chúng chỉ chực bùng nổ. Siêu ngã của John, phần tâm thức còn đè nặng bởi sự cấm đoán không được giận dữ của mẹ anh, đã gửi đi những thông điệp hoảng loạn báo động để anh giữ nguyên tình trạng dồn nén. John cố gắng giảm bớt sự lo lắng bằng cách làm nghẹt cơn xúc cảm của Cheryl: “Lạy Chúa, Cheryl! Em đừng quá xúc động như thế! Em cư xử như một mụ điên!” hoặc :”Bình tĩnh lại nào và nói cho anh biết. Anh chẳng hiểu em đang nói gì”. Chính tính cách đã có thời mê hoặc anh bây giờ lại trở nên một mối đe dọa cho sự tồn tại của anh (theo cung cách nhận thức của tâm thức cũ).

Cũng tương tự như vậy, tới một lúc nào đó, bạn sẽ bắt đầu ao ước rằng người bạn đời của mình bớt thông minh, bớt dịu dàng, bớt xa cách, nghĩa là bớt toàn vẹn đi một chút. Bởi vì những phẩm chất này đang kêu gọi những phẩm chất tương tự còn bị dồn nén trong con người bạn, và bản ngã bị che giấu của bạn đang đe dọa sẽ xuất đầu lộ diện ngoài ý muốn của bạn.

Khi đó, bạn cảm thấy vô cùng lo lắng. Đó là một kinh nghiệm chẳng thú vị gì và bạn tìm cách dồn nén người bạn đời như cha mẹ bạn đã dồn nén bạn khi xưa. Trong nỗ lực bảo vệ sự tồn tại của mình, bạn đã cố gắng thu giảm tính cách của người bạn đời.

Cảm giác bất an càng lúc càng tăng đối với những tính cách bổ khuyết của người bạn đời chri là một phần trong cơn bão đang ập tới. Những tính cách tiêu cực của người bạn đời mà bạn kiên quyết phủ nhận bây giờ bắt đầu hiện ra rõ mồn một. Bất chợt, vẻ âu sầu phiền muộn, tật uống rượu, tính hà tiện hay thiếu trách nhiệm của người bạn đời đập vào mắt bạn. Điều này làm bạn thất vọng nhận ra rằng không những nhu cầu của bạn không được đáp ứng, mà số phận còn định sẵn rằng người bạn đời của bạn cũng sẽ làm thương tổn bạn như bạn đã từng bị thương tổn trong thời thơ ấu!

Một cái nhìn lướt qua sự thật cay đắng

Tôi đã có những khám phá cay đắng này chỉ ít lâu sau khi lấy người vợ đầu tiên, chính xác là trong ngày thứ hai của tuần trăng mật. Tôi và người vợ mới cưới của tôi tới hưởng tuần trăng mật trên một hòn đảo ngoài khơi bờ biển Nam Georgia. Lúc đó chúng tôi đang đi dạo dọc bờ biển. Vợ tôi đi sát mép nước khoảng bảy, tám chục mét trước mặt tôi, đầu cúi xuống và mê mải tìm vỏ sò. Tôi tình cờ ngước mắt lên và thấy cô chìm trong những tia nắng đầu tiên của bình minh. Bây giờ tôi không còn nhớ chính xác lúc đó trông cô ấy như thế nào. Cô ấy đang quay lưng lại phía tôi. Trên người cô là bộ đồ mày đen và chiếc mũ đỏ. Mái tóc vàng dài chấm vai bay trong gió. Khi tôi nhìn cô ấy, tôi để ý thấy vai cô chùng xuống. Tôi bỗng cảm thấy lo lắng, ngay sau đó tôi nôn nao nhận ra rằng mình đã lấy nhầm người. Đó là một cảm giác rất mạnh mẽ – tôi phải kiềm chế sự thôi thúc muốn chạy ngay tới xe và bỏ đi thật xa. Khi tôi đang đứng sững ở đó thì vợ tôi quay lại phía tôi, vẫy tay và mỉm cười. Tôi có cảm giác như vừa bừng tỉnh khỏi một cơn ác mộng, tôi vẫy tay đáp lại và chạy tới gặp cô ấy.

Dường như lúc đó một tấm màn đã được vén lên rồi lại thả xuống. Tôi phải mất mấy năm mới hiểu được chính xác chuyện gì đã xảy ra. Lúc đó tôi đang phải chữa trị tâm lý. Bác sĩ tâm lý hướng dẫn tôi làm một bài tập về sự dồn nén, bài tập đưa tôi trở lại với thời thơ ấu và với sự giúp đỡ của ông, tôi thấy lại hình ảnh chính mình đang chơi đùa trên sàn nhà bếp của mẹ tôi. Tôi mới một hay hai tuổi gì đó. Tôi hình dung ra mẹ tôi đang bận bịu bên bếp lò, quay lưng lại phía tôi. Có lẽ đây là cảnh thường diễn ra vì tôi là đứa con thứ chín của bà và mỗi ngày bà ở trong nhà bếp cõ lẽ tới bốn năm tiếng đồng hồ để nấu ăn và dọn dẹp. Tôi có thể trông thấy rõ lưng bà. Bà đang đứng cạnh bếp lò, mặc một bộ váy áo màu hồng, sợi dây tạp dề buộc quanh lưng. Bà đang mệt mỏi, buồn phiền và đôi vai bà trĩu xuống.

Với con mắt quan sát của một người trưởng thành trước cảnh này, tôi chìm ngập trong nhận thức rằng mẹ tôi chẳng còn chút sức lực tinh thần cũng như thể chất nào dành cho tôi. Cha tôi đã mất trước đó vài tháng, để lại mẹ tôi một mình với nỗi đau buồn của bà, rất ít tiền bạc và cả chục đứa con phải chăm nom. Tôi có cảm giác mình là một đứa trẻ không được mong đợi. Không phải vì mẹ tôi không yêu tôi – bà là một người rất tình cảm và ân cần – mà vì tất cả sức lực và tinh thần của bà đều đã khô cạn. Bà bị vắt kiệt trong những lo toan tính toán và chỉ còn có thể chăm sóc tôi một cách máy móc.

Đây là một khám phá mới đối với tôi. Cho tới lúc đó, tôi luôn cho rằng nguyên nhân làm tôi lo lắng là do cả cha lẫn mẹ tôi đều đã qua đời khi tôi mới sáu tuổi. Nhưng hôm đó tôi dã biết được rằng cảm giác bị bỏ rơi của tôi xuất hiện còn sớm hơn tôi tưởng nhiều. Ngược dòng thời gian, tôi gọi mẹ tôi, nhưng bà không trả lời. Tôi ngồi trong văn phòng của vị bác sĩ tâm lý và khhóc vì nỗi đau đớn vô hạn. Rồi tôi phát hiện ra điều thứ hai. Tôi bất chợt nhận ra điều gì đã xảy đến với tôi ngày hôm đó ở bờ biển. Khi tôi thấy vợ tôi ở xa tôi đến thế, mê mải trong thế giới riêng của cô ấy và với đôi vai cũng trĩu xuống như vậy, tôi có một linh cảm kỳ lạ rằng cuộc hôn nhân của tôi cũng sẽ là một bản sao của những tháng ngày tôi sống cùng người mẹ đáng thương của tôi. Nỗi cô đơn trống trải trong thời thơ ấu của tôi rồi sẽ lại tiếp tục. Tất cả những khám phá ấy dường như quá sức tôi, và tôi đã vội vã hạ tấm màn xuống.

Tới một lúc nào đó trong cuộc hôn nhân, người ta sẽ khám phá ra rằng một điều gì đó trong con người của chồng hay vợ mình đã khơi dậy những tổn thương sâu sắc của tuổi thơ. Đôi khi sự khám phá đó của cả hai bên tương đương nhau rõ rệt. Một phụ nữ bị cha mẹ đánh đập khi còn nhỏ sẽ thấy chồng mình có tính vũ phu. Một người có cha mẹ nghiện rượu bỗng phát hiện mình đã lấy một kẻ nghiện ma túy hoặc một con sâu rượu.

Nhưng những điểm tương tự giữa cha mẹ và người bạn đời thường rất khó thấy. Đây là trường hợp của Bernard và Kathryn, thân chủ của tôi. Họ đã lấy nhau được hai mươi tám năm. Bernard là giám đốc một cơ sở phục vụ công cộng; còn Kathryn đang đi học lại để lấy bằng luật sư. Họ có ba con và một đứa cháu.

Một buổi tối khi họ bước vào văn phòng của tôi để tham vấn hàng tuần, cả hai đều có vẻ bị ức chế và thất vọng. Tôi đoán ngay là họ lại mới có một cuộc cãi vã, hay một kiểu chiến tranh lạnh, điều đã diễn ra giữa họ suốt hai mươi năm qua bằng nhiểu phương cách khó thấy. Phần lớn các cặp vợ chồng đều có những lúc “xô bát đĩa” như vậy, cuộc chiến lặp đi lặp lại nhiều lần đến nỗi họ biết rõ vai kịch của mình như thuộc lòng bàn tay.

Họ kể với tôi là cuộc chiến xảy ra khi họ đang trang trí ngôi nhà cho Lễ Giáng Sinh. Bernard vẫn lặng lẽ như thường lệ, đắm chìm trong những suy nghĩ riêng. Còn Kathryn đang chỉ đạo các con thực hiện công việc. Cả ba đứa con của họ cùng vợ hoặc chồng chúng đã tới chơi trong kỳ nghỉ và Kathryn muốn mọi thứ phải hoàn hảo. Bernard làm mọi việc vợ yêu cầu và vẫn tiếp tục chìm trong những ý nghĩ riêng. Sau khoảng một giờ hay hơn thế, sự im lặng của Bernard khiến Kathryn thấy khó chịu. Bà cố lôi kéo sự chú ý của Bernard với câu chuyện về các con của họ. Bernard cũng chỉ ậm ừ đáp cho qua chuyện. Kathryn càng lúc càng khó chịu với ông hơn. Cuối cùng bà quay sang chỉ trích cách ông mắc đèn lên cây Noel: “Tại sao ông không chú ý vào việc ông đang làm? Tôi làm lấy có lẽ lại hơn!” Bernard để mặc bà nói xối xả, sau đó lẳng lặng quay đi và bước ra cửa sau.

Kathryn tới cửa sổ nhà bếp. Khi nhìn theo cánh cửa nhà xe khép lại sau lưng Bernard, bà bỗng thấy vừa sợ hãi vừa tức giận lẫn lộn. Cơn giận vẫn mạnh hơn: lần này bà sẽ không để ông rút lui dễ dàng như vậy. Bà bước ra theo sau ông và đẩy bật cửa nhà xe ra. “Lạy Chúa! Tại sao ông không giúp tôi làm? Lúc nào ông cũng trốn ở đây. Chẳng lúc nào ông giúp tôi khi tôi cần. Ông bị làm sao thế?”.

Trong con mắt của một bác sĩ tâm lý, việc Kathryn dùng từ được dùng ở khắp nơi như “luôn luôn” và “không bao giờ” là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy bà đang ở trong tình trạng bị dồn nén. Những đứa trẻ nhỏ khó phân biệt giữa quá khứ và thực tại; điều gì xảy ra vào lúc này cũng luôn luôn xảy ra trong quá khứ và sẽ luôn luôn xảy ra trong tương lai. Nhưng Bernard không phải là một nhà tâm lý. Ông là người bị bà bao vây công kích và ông chỉ vừa thoát khỏi một cơn lũ những lời phê phán, mong tìm một nơi yên ổn. Tâm thức cũ của ông phản ứng lại trước cuộc tấn công của bà, thực ra chỉ là tiếng khóc của một đứa trẻ trong con người trưởng thành. Ông trả miếng: “Có thể tôi đã giúp bà nhiều hơn nếu bà đừng có nanh nọc như vậy! Bà lúc nào cũng săn đuổi tôi. Bà không thể để tôi yên được năm phút à?”. Ông giận sôi lên, còn Kathryn thì òa khóc.

Với tư cách là một người ngoài cuộc, tôi có thể dễ dàng thấy từng bước sự tiến triển của cuộc cãi vã. Nguyên nhân gây ra cãi cọ hầu như luôn luôn là thái độ lơ đễnh của Bernard. Kathryn sẽ mè nheo để cố bắt ông phải trả lời. Đến khi Bernard hết chịu nổi, ông sẽ bỏ sang phòng khác để được yên ổn. Lúc đó Kathryn sẽ nổi cơn thịnh nộ, còn Bernard cũng giận dữ không kém. Kết quả là Kathryn òa khóc.

Khi họ kể lại lần cãi vã vừa rồi, tôi hỏi Kathryn chính xác bà thấy thế nào khi chuẩn bị cho ngày lễ bên cạnh một ông chồng lầm lì như đất. Bà ngồi im một lúc, cố nhớ lại cảm xúc của mình. Rồi ngẩng lên với vẻ bối rối, bà nói: “Tôi thấy sợ. Tôi sợ ông ấy sẽ không nói chuyện với tôi nữa”. Lần đầu tiên bà nhận ra rằng bà thực sự sợ sự im lặng của Bernard.

Tôi hỏi bà: “Bà sợ cái gì kia, Kathryn?”

Bà trả lời ngay: “Tôi sợ ông ấy sắp đánh tôi”.

Bernard nhìn sang bà với đôi mắt mở to ngạc nhiên.

Tôi nói: “Hãy xem Bernard nói gì về chuyện này. Bernard này, lúc đứng trong nhà bếp, ông có nghĩ đến chuyện đánh Kathryn không?”

“Đánh bà ấy à?”. Ông ngạc nhiên. “Đánh bà ấy ư? Cả đời, tôi chưa bao giờ đụng đến bà ấy. Tôi chỉ mải mê với những ý nghĩ riêng của mình. Nếu tôi nhớ không lầm thì tôi đang lo rằng tới mùa xuân, chúng tôi sẽ phải lợp lại mái vì nó đã bị dột. Và vài điều rắc rối ở sở làm nữa”.

“Thật thế ư?”-Kathryn hỏi – “Ông không giận tôi hôm đó à?”.

“Chắc chắn là không rồi! Tôi thấy khó chịu vì bà cứ nhiếc móc tôi, nhưng tất cả những gì tôi muốn là tránh ra xa. Tôi chỉ nghĩ nếu được ra nhà xe để làm những việc riêng của tôi thay vì cứ bị mè nheo không ngớt như thế thì thật hay!”.

“Thế mà tôi lại nghĩ rằng ông khó chịu với tôi, cuối cùng ông không kiên nhẫn được nữa và nổi khùng lên”.

“Đồng ý là tôi có nổi khùng, nhưng phải sau khi đã bị bà mè nheo đến hai, ba tiếng đồng hồ. Ai mà chẳng nổi khùng kia chứ? Lúc đầu tôi đâu có khó chịu với bà?”.

Thế là mọi việc rõ cả. Bernard xem ra không có vẻ là một người hung bạo.

Tôi nói với Kathryn: “Kathryn này, bà cứ nhắm mắt lại một lúc và nghĩ xem điều gì làm bà sợ hãi khi Bernard không trả lời bà”.

Một lúc sau bà đáp: “Tôi không biết. Chỉ là vì ông ấy im lặng thôi”.

“Thôi được, bà cứ giữ nguyên ý nghĩ ấy và cố nhớ lại điều gì đó có liên quan đến sự im lặng khi bà còn nhỏ. Nhắm mắt lại đi”.

Căn phòng im lặng. Thế rồi Kathryn mở mắt ra: “Đó là cha tôi! Tôi không nhận ra điều đó. Cha tôi thường chìm trong cơn phiền muộn và không nói gì trong nhiều tuần liền. Lúc nào ông như vậy thì tôi biết phải tránh xa ông, vì nếu tôi làm gì đó sai, ông sẽ đánh tôi. Khi thấy ông tỏ ra buồn rầu là tôi hoảng sợ. Tôi biết là thời gian tới sẽ khó khăn đấy”.

Cha của Kathryn và chồng bà có chung một điểm quan trọng – cả hai đều có thói quen im lặng trong một thời gian dài – và không nghi ngờ gì, đấy chính là một trong những lý do Kathryn bị lôi cuốn về phía Bernard. Bà đã chọn một người cũng giống cha bà, để bà có thể giải quyết được nỗi sợ bị ngược đãi. Bà không kết hôn với một người cởi mở hay nói – bà tìm một người cũng có tính xấu như cha mình để có thể tái tạo lại môi trường tuổi thơ và tiếp tục đấu tranh giành tình yêu và sự ân cần. Nhưng Bernard chỉ giống cha bà ở bề ngoài. Ông im lặng vì ông là người sống nội tâm, không phải vì ông buồn phiền và sắp nổi cơn giận dữ. Chính thái độ mè nheo không ngừng của Kathryn đã chọc tức ông.

Tôi đã thấy hiện tượng này trong rất nhiều thân chủ của tôi. Họ cư xử với người bạn đời như thể người bạn đời của họ là những bản sao của cha mẹ họ, dù không phải tất cả những tính cách của những người ấy đều giống nhau. Với nhu cầu mãnh liệt hoàn thành nốt công việc bỏ dở, họ chiếu rọi tính cách của cha mẹ mình lên người bạn đời. Và rồi họ đối xử với người bạn đời như thể người bạn đời có những tính cách đó thật. Một đồng nghiệp của tôi nói rằng người ta vừa “tìm những tính cách giống như Hình mẫu, vừa chiếu rọi chúng lên đối tượng, vừa kích thích chúng xuất hiện ở đối tượng”.

Cuốn phim gia đình, phần II

Cho tới giờ, ta đã bàn về hai yếu tố làm bùng lên những xung đột sâu sắc:

1. Người bạn đời của ta làm ta lo lắng vì đã khuấy động những phần bản ngã bị cấm đoán trong ta.

2. Người bạn đời của ta có (hay có vẻ có) những tính cách tiêu cực của cha mẹ ta, tạo cho ta những thương tổn mới bên cạnh những thương tổn cũ và vì thế, đánh thức dậy nỗi sợ của vô thức trước cái chết.

Bây giờ là yếu tố thứ ba và cuối cùng gây nên bất hòa và đáng để ta chú ý tới. Ở chương trước, tôi đã nói rằng những cảm xúc vui vẻ (khi còn ở giai đoạn đầu của tình yêu) tới từ việc chiếu rọi những nét tích cực của Hình mẫu lên người bạn đời, nói cách khác, ta nhìn người bạn đời và thấy tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhưng bị dồn nén của chính ta. Khi có xung đột sâu sắc giữa hai người thì ta vẫn tiếp tục để máy chiếu quay, nhưng ta đổi cuộn phim và bây giờ ta chiếu rọi lên người bạn đời những tính cách tiêu cực bị chối bỏ!

Trong chương hai, tôi đã gọi những mặt tiêu cực bị phủ nhận này là “phần bản ngã bị chối bỏ”. Nếu bạn nhớ lại thì sẽ thấy tôi đã nói rằng tất cả mọi người đều có những góc sâu kín trong tâm hồn mà họ không muốn biết tới. Phần lớn các trường hợp, chúng là những gì được tạo ra để thích ứng với những thương tổn tuổi thơ. Người ta cũng dựng lên những tính cách tiêu cực này qua sự quan sát cha mẹ họ. Dù họ có thể không thích điều gì đó ở cha mẹ họ, nhưng họ sẽ “nhập tâm” những tính cách đó qua một quá trình có tên là “sự nhận dạng”. Ví dụ, thói gia trưởng của người cha và sự coi thường mình của người mẹ đã truyền sang đứa con. Nhưng khi đứa trẻ có khả năng nhận thức nhiều hơn, nó nhận ra rằng đây chính là những tính cách nó không thích ở cha mẹ nó, và nó cố hết sức để phủ nhận chúng.

Bây giờ mới xuất hiện điều thú vị. Đứa trẻ không chỉ thu nhận những mặt tiêu cực, dù nó chối bỏ và đẩy chúng ra khỏi tầm nhận thức, mà khi lớn lên, nó còn tìm những mặt tiêu cực này ở người khác, vì đó là một phần chủ yếu trong Hình mẫu của nó. Hình mẫu, do đó không chỉ là một hình ảnh của một người khác phái mà còn là sự mô tả bản ngã bị chối bỏ của con người.

Một ví dụ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn hiện tượng tâm lý phức tạp và gây tò mò này. Tôi đã làm việc chung nhiều năm với một phụ nữ tên là Lillian. Cha mẹ cô ly dị khi cô mới chín tuổi và mẹ cô giành được quyền nuôi Lillian và chị cô, June, mười hai tuổi. Một năm sau khi ly dị, mẹ cô lấy một người đàn ông khác. Ông ta không hợp với June. Ông ta la mắng cô bé không ngớt, trừng phạt June vì những lỗi lầm rất nhỏ. Vài lần mỗi tuần, ông ta lại nổi cơn thịnh nộ và lôi cô bé vào phòng, dùng dây lưng đánh vào mông nó. Lillian lúc đó thường đứng ngoài cửa, lắng nghe tiếng sợi dây lưng đập đen đét và run lên vì tức giận và sợ hãi. Cô căm thù người cha dượng. Thế nhưng khi cô ở một mình với June, thì cô lại đối xử với June cũng tàn tệ như vậy. Cô cũng gọi chị mình với những cái tên làm tổn thương June mà cô thường nghe cha dượng gọi.

Việc cô có thể làm tổn thương June đối với Lillian quá đau đớn đến nỗi cô đè nén những kỷ niệm này. Phải mất một năm chữa trị cô mới gợi lại được những kỷ niệm ấy và rất lâu sau, cô mới bắt đầu tin tôi và kể cho tôi nghe về chúng. Khi đó, tôi có thể chỉ cho cô thấy rằng thu nhận những mặt tích cực và tiêu cực của người nuôi dưỡng là bản chất tự nhiên của con người. Cha dượng của Lillian là người có ảnh hưởng lớn nhất trong ngôi nhà và vô thức của cô đã ghi nhận rằng người nào thường giận dữ nhiều nhất là người có quyền lực lớn nhất. Do đó, giận dữ và chế nhạo là hai vũ khí có giá trị để sống còn. Dần dần, những tính cách này đã ăn sâu vào bản chất vốn tốt bụng của Lillan.

Khi Lillian lớn lên và lập gia đình, việc cô yêu một người có một số tính cách giống cha dượng của cô là điều không tránh khỏi, đặc biệt là tính cáu bẳn, bởi vì đây là tính cách đã làm cô sợ hãi nhất. Thực ra, lý do khiến cô tìm đến bác sĩ tâm lý là vì chồng cô đã đánh đập cô.

Sau hai năm trị liệu, cô đã có thể nhận ra rằng sự giận dữ đáng ghét của cha dượng cô lại là một yếu tố vô thức gây nên sự cuốn hút của chồng cô đối với cô, và điều này còn đáng báo động hơn, là một phần bị chối bỏ trong nhân cách của cô.

Tôi thấy cùng một khuynh hướng tương tự trong tất cả các mối quan hệ yêu đương. Người ta cố gắng xua đuổi những tính cách tiêu cực bị chối bỏ bằng cách chiếu rọi chúng lên người bạn đời. Hoặc nói cách khác, họ xem xét người bạn đời của mình, chỉ trích tất cả những gì họ không thích và phủ nhận chúng trong chính con người họ. Lấy những tính cách tiêu cực đã được thu nhận, chiếu rọi chúng lên người bạn đời là một cách thức rõ ràng rất hiệu quả để che khuất những phần bản ngã không mong muốn trong ta.

Bây giờ, ta đã xác định được ba nguyên nhân chính gây mâu thuẫn dẫn đến xung đột. Khi ảo tưởng của tình yêu lãng mạn mờ dần đi, các cặp vợ chồng bắt đầu:

1. Khuấy động những hành vi và tình cảm bị dồn nén của người bạn đời.

2. Khơi lại chấn thương tuổi thơ của người kia.

3. Gán ghép những mặt tiêu cực của chính mình lên người bạn đời.

Tất cả những tác động qua lại này đều là vô thức. Tất cả những gì người ta nhận biết được chỉ là họ cảm thấy bối rối, giận dữ, lo lắng, buồn phiền và không được yêu thương. Và việc họ quy hết những đau khổ này là do người bạn đời gây ra là một hành động tự nhiên. Họ không thay đổi – họ vẫn như vậy thôi! Nhưng người bạn đời của họ mới là người thay đổi!

Những vũ khí của tình yêu

Tuyệt vọng, họ bắt đầu sử dụng những chiến thuật tiêu cực để bắt người bạn đời phải tỏ ra yêu thương họ nhiều hơn. Họ kiềm chế tình cảm và tỏ ra lạnh lùng. Họ trở nên bực bội và hay chỉ trích. Họ tấn công và buộc tội: “Tại sao anh không…” “Tại sao em lúc nào cũng…?” “Làm sao anh có thể…?” Họ ném những lời kết tội này vào người bạn đời trong một cố gắng tuyệt vọng nhằm làm người bạn đời trở nên ân cần, đáp ứng hoặc biểu lộ những tính cách tích cực trong Hình mẫu của họ. Họ tin rằng nếu họ bắt người bạn đời phải chịu đau khổ, người bạn đời sẽ trở lại thái độ yêu thương ban đầu.

Điều gì khiến họ tin rằng làm tổn thương người bạn đời thì người đó sẽ cư xử tốt hơn? Tại sao người ta không đơn giản nói với nhau bằng ngôn ngữ thường ngày, rằng mình muốn người kia quan tâm yêu thương mình nhiều hơn hoặc để mình tự do hơn hoặc bất cứ thứ gì mình mong muốn? Tôi đã hỏi một cặp vợ chồng câu hỏi đó lúc đang tiến hành trị liệu. Đó chỉ là một câu hỏi không địa chỉ; và tôi không nhận được câu trả lời. Nhưng tình cờ vài phút trước đó, tôi vừa nói tới trẻ con và phản ứng bản năng bằng tiếng khóc của chúng khi gặp điều gì đó gây đau khổ. Bất chợt tôi có câu trả lời. Một lần nữa tâm thức cũ của chúng ta lại là nguyên nhân. Khi ta còn là trẻ con, ta không cười với mẹ mình để bà chăm sóc ta. Ta không biểu lộ sự không hài lòng của mình bằng lời nói. Chúng ta chỉ biết làm một việc là há miệng ra la hét. Và chúng ta cũng biết rất rõ là chúng ta càng hét to thì cha mẹ ta tới càng nhanh. Thành công của chiến thuật này đã trở thành một “vết hằn”, một phần của kho kinh nghiệm về cách làm cho thế giới xung quanh đáp lại nhu cầu của ta. “Khi ta bị thất vọng, hãy kích động người khác. Hãy tỏ ra khó chịu hết mức tới khi nào có ai đó tới giúp ta.”

Cách bày tỏ sự đau khổ này đặc trưng cho những cặp vợ chồng đang có xung đột sâu sắc. Nhưng có một ví dụ chống lại quan điểm của tôi. Một vài năm trước, tôi chữa trị cho một cặp vợ chồng đã lấy nhau được hai mươi lăm năm. Người chồng đinh ninh rằng vợ mình là người không những rất ích kỷ mà còn hay hiềm thù. “Bà ấy chẳng bao giờ nghĩ đến tôi”, ông ta than phiền, kể ra vô số cách mà bà vợ thường dùng để bỏ mặc ông. Trong khi đó, bà vợ ngồi im lặng trong ghế và chỉ lắc đầu để tỏ ý phản đối. Ngay khi ông chồng vừa dứt lời, bà cúi mình về phía trước và nói với tôi bằng giọng nói mạnh mẽ và tha thiết: “Xin hãy tin tôi, tôi đã làm mọi thứ tôi có thể để làm vui lòng ông ấy. Tôi ở bên ông ấy nhiều hơn, hoặc ít hơn. Thậm chí mùa đông này tôi còn tập trượt tuyết nữa, chỉ hy vọng là sẽ làm ông ấy vui, trong khi tôi chúa ghét bị lạnh! Nhưng xem ra chẳng có ích gì”.

Để giúp họ thoát khỏi thế bí, tôi đề nghị người chồng hãy nói ra xem vợ ông phải làm điều gì để làm ông thấy vui sướng hơn, một hành động thực tế, có thể làm được để giúp ông có cảm giác được yêu thương. Ông ta đằng hắng, ấp úng rồi càu nhàu: “Nếu cô ấy đã lấy tôi hai mươi lăm năm rồi mà vẫn không biết tôi muốn cái gì thì tức là cô ấy có để ý gì đến tôi đâu! Đơn giản là cô ấy không quan tâm đến tôi!”

Người đàn ông này, cũng như tất cả chúng ta, đã đeo bám vào một quan điểm cổ xưa. Khi ông ta còn là một đứa trẻ nằm trong nôi, ông ta đã nhận biết mẹ mình là một tạo vật khổng lồ cúi xuống bên ông ta và cố hiểu bằng trực giác những nhu cầu của con mình. Ông ta là đứa trẻ được cho ăn, cho mặc, tắm táp và bảo bọc, dù nó không nói được rõ ràng nó muốn điều gì. Bài học chủ yếu từ trước khi biết nói của nó đã để lại một dấu vết không thể gột sạch trong tâm hồn: người khác có trách nhiệm phải nhận ra nó muốn cái gì và cho nó cái ấy mà nó không cần phải làm điều gì khác ngoài khóc. Dù phương pháp này đạt kết quả khá tốt khi còn bé, nhưng khi đứa trẻ đó lớn lên thì những nhu cầu của nó đã trở nên phức tạp. Hơn nữa, vợ ông ta không phải là người mẹ tận tụy cúi xuống bên nôi của đứa con. Bà cũng là một người bình đẳng với chồng, và có những nhu cầu và mong đợi riêng của bà, điều làm ông ta vô cùng ngạc nhiên. Và mặc dù bà rất muốn làm chồng hạnh phúc, bà không biết phải làm gì. Vì thiéu nguồn thông tin này, bà đành phải đối xử với chồng như với một đứa trẻ to xác: “Có phải đây là điều ông muốn không? Có phải không?”.

Khi hai người đều không nói ra là mình muốn điều gì mà cứ chỉ trích nhau không ngớt rằng người kia ích kỷ thì không có gì đáng ngạc nhiên là tại sao tình yêu và sự hòa hợp lại bay đi mất. Thay vào chỗ đó là sự xung đột đầy ác nghiệt đang hiện rõ dần. Trong cuộc tranh chấp đó, người này cố buộc người kia phải đáp ứng nhu cầu của mình. Cho dù người kia có phản ứng lại bằng thái độ chiến tranh, họ vẫn không nản chí. Tại sao vậy? Bởi vì vùng vô thức của họ sợ rằng, nếu nhu cầu của họ không được đáp ứng, họ sẽ chết. Đây là một ví dụ cổ điển cho cái mà Freud gọi là “Sự cưỡng bách lặp đi lặp lại”, khuynh hướng lặp đi lặp lại những hành vi không có hiệu quả của con người.

Một số cặp vợ chồng giữ nguyên tình trạng giận dữ thù địch này vĩnh viễn. Họ mài sắc khả năng đâm xuyên qua hàng rào bảo vệ của nhau và làm tổn thương tâm hồn nhau. Cơn giận bùng nổ thành bạo lực với mức độ thường xuyên đáng báo động.

Các giai đoạn của cuộc xung đột

Khi bạn bị mắc kẹt trong cuộc xung đột gia đình, cuộc sống đối với bạn xem ra thật lộn xộn. Bạn không biết đầu đuôi thế nào nữa. Bạn không có khái niệm gì về chuyện nó đã bắt đầu như thế nào và sẽ kết thúc như thế nào. Nhưng nếu đứng từ xa nhìn thì xung đột gia đình xảy ra theo một quá trình có thể đoán trước được, cùng lúc với những giai đoạn đau buồn vì một người bị chết hay mất đi. Nhưng người này không phải là người bằng xương bằng thịt, mà là một ảo ảnh của tình yêu lãng mạn.

Tới đầu tiên là cú sốc, một khoảnh khắc kinh sợ của sự thật khi cánh cửa bỗng mở và những ý nghĩ méo mó xâm nhập vùng ý thức của bạn: “Đây không phải là người tôi đã lấy”. Vào lúc đó, bạn nghĩ rằng cuộc hôn nhân này sẽ lặp lại nỗi cô đơn và đau đớn của tuổi thơ, chứ không phải là sự hàn gắn như bạn đã hình dung trước đây.

Sau cú sốc là sự chối bỏ. Sự thất vọng lớn lao đến nỗi bạn không cho phép mình thừa nhận sự thật. Bạn cố hết sức để rọi những tia sáng tích cục lên những tính cách tiêu cực của người bạn đời. Nhưng cuối cùng bạn cũng không duy trì được thái độ đó, và bạn cảm thấy mình bị phản bội. Hoặc người bạn đời của bạn đã thay đổi mạnh mẽ so với ngày hai người mới yêu nhau, hoặc từ hồi đó tới giờ, bạn luôn bị lừa dối về bản chất thật của người bạn đời. Bạn đau đớn, và mức độ đau đớn của bạn là mức độ khác biệt giữa ảo ảnh đẹp đẽ ban đầu và hình ảnh thực của người bạn đời.

Nếu bạn chịu đựng được giai đoạn giận dữ của cuộc xung đột, một số nọc độc tiêu đi và bạn bước sang giai đoạn thứ tư, giai đoạn mặc cả. Trong giai đoạn này người ta thường có những hành động mặc cả như: “Nếu anh bỏ rượu thì tôi sẽ ở nhà nhiều hơn” hoặc “Nếu cô để cho tôi nhiều thời gian đi bơi thuyền hơn, tôi sẽ chăm sóc các con nhiều hơn”. Các bác sĩ tâm lý hôn nhân có thể kéo dài không cố ý giai đoạn này của cuộc xung đột nếu họ giúp đôi vợ chồng đạt được những thỏa thuận ứng xử mà vẫn chưa đi tới cốt lõi của vấn đề.

Giai đoạn cuối cùng của cuộc xung đột là sự tuyệt vọng. Khi đôi lứa đã tới giai đoạn cuối cùng này, họ không còn hy vọng nào để tìm được hạnh phúc hay tình yêu trong mối quan hệ nữa; sự đau đớn đã đi quá xa. Ở thời điểm này, một nửa số các cặp vợ chồng đã từ bỏ tia hy vọng cuối cùng và đưa đơn ly dị. Những cặp vợ chồng nào vẫn không ly dị thì tạo nên cái gọi là hôn nhân “song song” và mỗi người cố tìm hạnh phúc cho riêng mình ngoài hôn nhân. Một số rất ít, có lẽ khoảng năm phần trăm con số các cặp vợ chồng tìm được lối thoát ra khỏi cuộc xung đột và tiếp tục xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Để dễ hiểu hơn, tôi trình bày vấn đề dưới hình thức đơn giản nhất. Đầu tiên, chúng ta chọn bạn đời vì hai nguyên nhân cơ bản:

1. Họ có cả những phẩm chất tích cực và tiêu cực của những người nuôi dưỡng ta.

2. Họ bù đắp những bản ngã tích cực của ta đã bị mất từ thời thơ ấu. Chúng ta bắt đầu một mối quan hệ mới với giả định của vô thức rằng người bạn đời của ta sẽ thay thế cha hoặc mẹ ta và bù đắp cho mọi mất mát trong thời thơ ấu của ta. Tất cả những gì ta phải làm để được hàn gắn vết thương là hình thành một mối quan hệ gần gũi và kéo dài.

Sau một thời gian, ta nhận thấy chiến lược của ta không có hiệu quả. Ta “yêu” nhưng vẫn không đạt được trạng thái toàn vẹn. Ta cho rằng lý do khiến kế hoạch của ta không thực hiện được là vì người bạn đời của ta không thèm biết đến những nhu cầu của ta. Điều này khiến chúng ta nổi giận và lần đầu tiên, ta nhận thấy những tính cách tiêu cực của người bạn đời. Chúng ta bèn dàn xếp rắc rối bằng cách chiếu rọi những nét tiêu cực bị chối bỏ của chính chúng ta lên người bạn đời. Khi tình hình trở nên tồi tệ, chúng ta cho rằng cách tốt nhất để bắt người bạn đời thỏa mãn nhu cầu của ta là tỏ ra khó chịu và bực bội, như khi chúng ta còn là đứa trẻ nằm trong nôi. Nếu ta hét lên thật to và thật lâu, ta tin rằng người bạn đời sẽ tới cứu giúp ta. Và cuối cùng, điều đã khiến cho cuộc xung đột gia đình trở nên độc hại là niềm tin vô thức rằng nếu ta không thể dụ dỗ hay ép buộc người bạn đời chăm sóc đến ta, ta sẽ phải đối mặt với nỗi sợ lớn nhất trong tất cả các nỗi sợ – nỗi sợ cái chết.

Điều có thể không rõ ràng ngay lập tức trong đoạn tóm tắt ngắn gọn này là: thực sự có rất ít khác biệt giữa tình yêu lãng mạn và xung đột gia đình. Ngoài bề mặt, hai giai đoạn đầu tiên này của một cuộc hôn nhân có vẻ khác nhau một trời một vực. Niềm vui sướng của người này đối với người kia đã trở thành thù hận và thiện chí của họ đã thoái hóa thành một cuộc chiến giữa những ước muốn, nhu cầu của hai bên. Nhưng điều quan trọng đáng lưu ý là dưới vẻ bề ngoài này, thực chất tình yêu và xung đột đều như nhau. Cả hai cá nhân đều đang tìm kiếm con đường đạt được sự toàn vẹn nguyên thủy, và họ vẫn giữ niềm tin rằng người bạn đời của họ có quyền lực làm họ trở nên khỏe mạnh và bạn đời của họ có quyền lực làm họ trở nên khỏe mạnh và toàn vẹn. Khác biệt chính là giờ đây người bạn đời được xem như người từ chối không trao tặng tình yêu. Điều này đòi hỏi phải thay đổi chiến thuật. Và thế là các ông chồng bà vợ bắt đầu làm tổn thương nhau, hoặc từ chối không tỏ ra vui vẻ và thân mật, với hy vọng người kia sẽ đáp lại bằng sự ân cần và tình yêu.

Đâu là con đường để thoát ra khỏi cái mê cung rối ren này? Điều gì ẩn giấu phía bên kia xung đột gia đình? Trong chương tiếp theo, “Trở nên ý thức”, chúng ta sẽ bàn về một hình thức quan hệ mới: “Hôn nhân ý thức” và xem nó có tác dụng giúp người vợ và người chồng thỏa mãn những khao khát tuổi thơ của nhau như thế nào.

Phần Hai

HÔN NHÂN Ý THỨC

Chương 6

TRỞ NÊN Ý THỨC

Hiếm khi hoặc không khi nào một cuộc hôn nhân phát triển êm thấm thành một quan hệ cá nhân mà không trải qua khủng hoảng. Ý thức ra đời cùng với nỗi đau khổ.
CG. JUNG

Lướt qua 5 chương đầu, bạn dễ có ấn tượng rằng: Tâm thức cũ là nguyên  nhân hầu hết các trục trặc trong hôn nhân. Tâm thức cũ khiến chúng ta lựa chọn người bạn đời như thể chọn người nuôi dưỡng mình. Tâm thức cũ là nguồn gốc của tất cả những phòng bị phức tạp của chúng ta – những sắp đặt, thay đổi, dàn xếp – làm mờ tối thực tại của chính chúng ta và của người bạn đời. Tâm thức cũ cũng chịu trách nhiệm về phản ứng ấu trĩ của chúng ta cho nỗi thất vọng, phản ứng “khóc – hoặc – chỉ – trích” sẽ chỉ dẫn đến mối bất hoà sâu xa hơn.

Nhưng đồng thời, tâm thức cũ cũng đóng một vai trò tích cực trong hôn nhân. Mặc dù một vài chiến thuật của tâm thức cũ có thể khiến nó tự huỷ hoại nhưng những nỗ lực chủ yếu của nó lại là thiết yếu cho hạnh phúc. Cố gắng vô thức nhằm chữa trị chấn thương cảm xúc của tuổi thơ cho phép chúng ta hiện thực hoá tiềm năng tinh thần của chúng ta như một con người, trở nên hoàn thiện và nhân ái, có khả năng giáo dưỡng kẻ khác. Và ngay cả những mưu toan, sắp đặt, dàn xếp có thể tạm thời làm chúng ta mù loà về người bạn đời, chúng cũng ràng buộc chúng ta, tạo ra những nền móng cho sự trưởng thành tương lai.

Vấn đề với tâm thức cũ là nó không được hướng dẫn, giống như một con thú mù loà cố gắng kiếm tìm con đường đến nguồn nước. Để thực hiện những mục tiêu có giá trị và quan trọng của tâm thức cũ, chúng ta cần tranh thủ sự trợ giúp của tâm thức mới – phần con người trong chúng ta đang lựa chọn, sử dụng ý chí, hiểu rõ rằng người bạn đời không phải là các bậc cha mẹ, hôm nay không phải là mãi mãi và dĩ vãng không phải là hiện tại. Chúng ta cần đến những kỹ năng duy lý mà chúng ta sử dụng trong những khu vực khác của đời sống, đem chúng vào mối quan hệ yêu đương. Một khi chúng ta theo đuổi việc liên kết những dẫn dắt bản năng và đầy uy lực của tâm thức cũ với sực mạnh sáng suốt và hiểu biết của tâm thức mới, chúng ta có thể bắt đầu hiện thực hoá những mục tiêu vô thức. Qua cuộc kết hợp giữa bản năng thuộc tâm thức cũ và sự hiểu biết của tâm thức mới, chúng ta có thể dần dần từ bỏ nỗi thất vọng của cuộc tranh chấp quyền lực ở phía sau lưng.

Kết hợp giữa tâm thức mới và tâm thức cũ

Đời sống hôn nhân sẽ biến đổi ra sao khi tâm thức mới đóng vai trò tích cực hơn? Sau đây là một ví dụ điển hình về tác động qua lại giữ những người chồng và người vợ trong một cuộc hôn nhân không ý thức, một quan hệ yêu đương điển hình bị thống trị bởi tâm thức cũ và trong một cuộc hôn nhân có ý thức, một quan hệ mà tâm thức cũ bị kiềm chế bởi lý trí.

Hãy tưởng tượng rằng bạn đang ăn bữa sáng ngon lành, đột nhiên chồng bạn chỉ trích bạn về món bánh bị cháy. Tâm thức cũ của bạn, người vệ sĩ thường trực cho bạn sự an toàn, tức khắc đẩy bạn vào cuộc cãi vã hay kéo bạn bỏ đi. Nó không để tâm rằng người vừa chỉ trích bạn chính là chồng bạn, tất cả mọi điều nó hướng tới chỉ là bạn đang bị tấn công. Trừ phi bạn can thiệp vào quá trình phản ứng của tâm thức cũ, thường thì bạn trả miếng tức khắc lời chỉ trích của chồng bạn: “Vâng, em làm cháy bánh, còn anh thì đổ nước ra bàn!”. Hoặc là bạn tìm cách tránh né cuộc đối đầu như bỏ ra ngoài hoặc cắm cúi đọc báo. Tuỳ thuộc vào cung cách của bạn, chồng bạn sẽ cảm thấy bị tấn công hay bị bỏ rơi và sẽ trả đũa. Một cỗ máy cảm xúc không dừng được đã vào số, và thế là bạn đi toi bữa ăn sáng lẽ ra thân mật, ngon lành và hạnh phúc.

Đó là một ca khá chính xác mà tâm thức mới có thể can thiệp vào diễn tiến và tạo ra một phản ứng ít kích động hơn. Một cung cách (cung cách này chúng tôi sẽ đi vào chi tiết ở chương sau) là diễn đạt ý kiến của chồng bạn bằng một giọng “trung tính”, thừa nhận nỗi bực bội của chồng bạn, nhưng không dẫn đến thái độ tự vệ của chính bạn. Ví dụ bạn có thể nói: “anh thấy món bánh này em làm dở quá phải không?” Chồng bạn có thể trả lời: “Phải, anh nghĩ thế. Anh thấy mệt mỏi vì những bữa ăn chẳng ra sao. Lần sau em nên cẩn thận hơn.” Và, vẫn dựa và sự khôn khéo của tâm thức mới, bạn có thể trả lời với cung cách không đề kháng tương tự như sau: “Anh nói đúng. Món bánh này bị hỏng. Em sẽ sửa lại vỉ nướng và sẽ làm lại vào bữa chiều và anh sẽ thấy nó ngon hơn nhiều”. Chồng bạn bị tước vũ khí bởi giọng nói dịu dàng cũng như sáng kiến giải quyết sự việc của bạn, sẽ bình tĩnh trở lại và trở nên mềm mỏng hơn: “Hay đấy! Cảm ơn ý kiến của em. Anh cảm thấy sáng nay anh như có điều gì bực bội trong lòng. Anh bị công việc thúc bách mà không biết nên giải quyết ra sao”. Vậy là bạn đã nhanh chóng trở thành người trợ thủ tin cậy, không còn là một đối tượng cãi cọ nữa, chính vì bạn đã cố gắng đưa ra một đáp ứng sáng tạo đối với sự bực bội của người bạn đời.

Một khi bạn đã có được kỹ năng trong cung cách không đề kháng đối với sự phê bình chỉ trích, bạn sẽ thấy một khám phá quan trọng: Trong hầu hết mỗi quan hệ tương hỗ giữa hai vợ chồng, bạn thực sự an toàn hơn khi giảm thiểu những phản ứng đề kháng của mình hơn là để chúng bùng nổ, bởi vì lúc ấy người bạn đời của bạn sẽ trở thành một đồng minh chứ không phải là một kẻ đối địch. Trong tâm thức mới của bạn, khác với tâm thức cũ, bạn hiểu rằng lời phê bình về món bánh bị cháy không phải là một cuộc tấn công thù hận và bạn sẽ học được cách kiểm soát phản ứng đối đầu có tính bản năng của mình. Điều nghịch lý là cung cách này tốt hơn ngay cả khi bạn định làm một điều gì đó để thoả mãn mục tiêu tiềm ẩn của sự đề kháng tự động.

Trên đây chỉ là ví dụ về mức độ tin cậy của sự linh hoạt mềm dẻo và sức mạnh sáng suốt của một tư duy ý thức, cái có thể giúp bạn thực hiện những mục tiêu vô thức. Chúng ta nhìn toàn cảnh điều mà chúng ta định nghĩa là “một cuộc hôn nhân ý thức”, bắt đầu với sự xác định: một cuộc hôn nhân ý thức là một cuộc hôn nhân hàm dưỡng sự tăng trưởng tâm lý và tinh thần tối đa, là một cuộc hôn nhân được tác tạo bởi quả trình ý thức và kết hợp những dẫn dắt nền tảng của mong muốn vô thức: mong muốn được bình an, được chữa trị tổn thương và được toàn vẹn.

10 đặc trưng của một cuộc hôn nhân ý thức

1. Bạn nhận thức rằng quan hệ yêu đương của bạn có mục đích tiềm ẩn: Chữa trị những vết thương thơ ấu: Thay vì tập trung toàn diện cho các nhu cầu và ước muốn bề mặt, bạn học cách nhận thức những vấn đề của tuổi ấu thơ không được giải quyết, những gì tiềm ẩn dưới các nhu cầu và ước muốn ấy. Khi bạn nhìn thấu suốt cuộc hôn nhân như rọi X-quang, các mối quan hệ tương giao hàng ngày của bạn trở nên có ý nghĩa hơn. Những khía cạnh làm bối rối trong mối quan hệ bắt đầu sáng tỏ hơn và bạn có cảm giác kiểm soát được chúng.

2. Bạn tạo ra hình ảnh xác đáng hơn về người bạn đời: Ở những thời điểm say mê, bạn hợp nhất người bạn đời với người nuôi dưỡng nguyên thuỷ. Sau đó, bạn chiếu những nét “âm bản” của bạn lên người bạn đời.  Sau nữa, bạn làm mờ đi những nét hiện thực căn bản của người bạn đời. Khi tiến đến hôn nhân ý thức, bạn loại trừ dần những ảo ảnh đó và bắt đầu nhìn người bạn đời chân thực hơn. Bạn không còn nhìn nhận người bạn đời như là một “cứu tinh” cho bạn nữa mà như một con người cũng bị tổn thương như bạn, cũng đang đấu tranh để được chữa trị những tổn thương ấy.

3. Bạn có trách nhiệm trong việc truyền đạt những nhu cầu và ước muốn của mình đến người bạn đời: Trong hôn nhân vô thức, bạn bám víu vào những niềm tin tuổi thơ, những điều mà người bạn đời trực cảm qua nhu cầu của bạn. Trong hôn nhân ý thức, bạn phải chấp nhận sự kiển là để hiểu người khác, bạn phải phát triển khả năng lắng nghe.

4. Bạn trở nên có chủ định hơn trong mối quan hệ tương giao: Trong hôn nhân vô thức, bạn có khuynh hướng phản ứng thiếu suy nghĩ. Bạn để cho những đáp ứng nguyên thuỷ của tâm thức cũ kiểm soát hành vi của bạn. Trong hôn nhân ý thức, bạn tự rèn luyện để ứng xử trong một cung cách khôn ngoan hơn.

5. Bạn học cách đánh giá những nhu cầu và ước muốn của người bạn đời cũng cao như khi đánh giá những điều đó ở chính mình: Trong hôn nhân vô thức, bạn coi vai trò của người bạn đời chỉ để săn sóc những nhu cầu “thần thánh” của bạn. Trong hôn nhân ý thức, bạn từ bỏ kiểu tự chiêm ngưỡng ấy và ngày càng hướng nỗ lực của mình đến điểm gặp gỡ với những nhu cầu của người bạn đời.

6. Bạn gìn giữ phần “bóng tối” trong nhân cách của mình: Trong hôn nhân ý thức, bạn dễ dàng thừa nhận một thực tế là, như bất kỳ ai, bạn có những nét “âm bản”. Khi bạn chấp nhận trách nhiệm với phần “bóng tối” tự nhiên này, bạn giảm thiểu khuynh hướng phóng rọi những nét “âm bản” của mình vào người bạn đời, điều đó sẽ tạo ra một môi trường bớt thù địch hơn.

7. Bạn học những kỹ thuật mới để thoả mãn các nhu cầu và ước muốn của mình: Khi tranh chấp, bạn ngọt ngào, thuyết phục và chỉ trích, trong một cố gắng để ép người bạn đời đáp ứng những nhu cầu của bạn. Khi bạn ra khỏi sân khấu nhà và nhìn lại, bạn mới hiểu rằng người bạn đời của mình có thể thực sự là một tài nguyên quý giá nếu như bạn từ bỏ những chiến thuật tự huỷ hoại kia.

8. Bạn tìm hiểu trong chính bản thân mình những sức mạnh và khả năng mà bạn thiếu: Một lý do khiến người bạn đời trở nên hấp dẫn đối với bạn là người ấy có sức mạnh và khả năng mà bạn thiếu. Bởi vậy, sống với người ấy, bạn có ảo tưởng rằng mình sẽ trở nên hoàn chỉnh. Trong hôn nhân ý thức, bạn học được rằng con đường duy nhất để bạn có thể thực sự giành lại sự toàn vẹn bản thân là phát triển những gì còn tiềm ẩn trong chính mình.

9. Bạn trở nên sáng suốt hơn trong nỗ lực yêu thương, nối kết và hợp nhất với thế gian: Ở phần con người tự nhiên của mình, bạn có khả năng yêu thương vô điều kiện và hợp nhất một cách hiểu biết với thế giới xung quanh. Điều kiện xã hội và nguồn gốc bất toàn làm bạn mất đi điểm nối kết với những phẩm chất đó. Trong hôn nhân ý thức, bạn bắt đầu khám phá lại con người tự nhiên nguyên thuỷ của mình.

10. Bạn chấp nhận khó khăn để sáng tạo một cuộc hôn nhân tốt đẹp: Trong hôn nhân vô thức, bạn tin tưởng rằng con đường dẫn đến một cuộc hôn nhân tốt đẹp chỉ là việc tìm kiếm một người phối ngẫu “trúng phóc”. Trong hôn nhân ý thức, bạn phải hiện thực hoá người phối ngẫu đó. Khi tìm được một quan điểm hiện thực hơn về quan hệ yêu đương, bạn hiểu rõ rằng một cuộc hôn nhân tốt đẹp đòi hỏi sự cam kết, sự tuân thủ và cả dũng khí để trưởng thành và thay đổi – Hôn nhân là một việc khó khăn!

Chúng ta hãy xem lại 10 đặc trưng này và hãy chấp nhận những khó khăn trong việc sáng tạo một cuộc hôn nhân tốt đẹp, bởi vì không một ý tưởng nào trong số 9 ý tưởng trước đó có thể khai hoa kết quả nếu như đầu tiên, bạn không gieo trồng thiện ý của bạn để trưởng thành và thay đổi.

Trở thành một người tình

Tất cả chúng ta đều có một mong muốn là được sống một đời sống trẻ con. Chúng ta không muốn phải vất vả khó nhọc để nuôi một con bò cái rồi vắt sữa nó mà chỉ muốn thoải mái ngồi trước bàn, trong tay có sẵn một ly sữa lạnh. Chúng ta không muốn trồng nho rồi hái nho mà chỉ muốn tức khắc có đầy một vốc trong tay những trái nho chín mọng. Những ý tưởng đầy khao khát ấy tìm áp lực tối hậu của chúng trong hôn nhân. Chúng ta không muốn nhận trách nhiệm tìm điểm gặp gỡ cho những nhu cầu của mình mà chỉ muốn “rơi vào tình yêu” với một người bạn đời thật “siêu” và sau đó hưởng hạnh phúc. Thuật ngữ tâm lý học dành cho khuynh hướng này, khuynh hướng đặt nguồn gốc của những thất bại cũng như giải pháp cho những rắc rối của chúng ta ra bên ngoài chúng ta, là “sự ngoại diện” (externalization) và chính nó là nguyên nhân của rất nhiều nỗi bất hạnh trên thế gian.

Một hôm, có một người khách (mà tôi sẽ gọi là Walter) bước vào văn phòng của tôi với một cái nhún vai và một vẻ mặt buồn bã.

– Có chuyện gì vậy? – Tôi hỏi Walter – Hôm nay trông anh rầu rĩ quá.

– Đúng vậy – Anh ta nói sau khi đã lún sâu vào chiếc ghế nệm – Tôi cảm thấy hết sức cô đơn.

Tôi tỏ vẻ thông cảm:

– Hẳn là anh rất buồn. Không có bạn bè quả là đáng sợ.

– Phải. Dường như tôi không thể…Tôi không biết nữa. Đúng là trong đời tôi không có một người bạn nào. Tôi tìm kiếm hoài mà chẳng tìm được ai cả.

Anh ta tiếp tục than phiền như vậy một lúc lâu và tôi phải chặn nỗi phiền muộn đang trào dâng với tình trạng thảm hại như con nít của anh ta lại. Anh ta tự giam mình vào một cảnh ngộ như thế này: đâu đó trên thế gian có những người mang trên trán dấu ấn “Bạn của Walter” và công việc của anh đơn giản chỉ là tìm cho bằng thấy những người đó.

– Walter, – tôi nói, cố nén tiếng thở dài – anh có hiểu tại sao anh không có bạn bè không?

Anh ta ngẩng đầu lên:

– Không. anh hãy nói cho tôi hay.

– Lý do anh không có bạn là chẳng có người bạn nào để anh tìm cả.

Anh nhún vai. Tôi nói thẳng thừng:

– Đúng như vậy. Chẳng có người bạn nào để anh tìm kiếm. Điều mà anh mong muốn không tồn tại.

Tôi để anh ta chìm sâu và nỗi phiền muộn một lúc. Rồi tôi vươn mình khỏi ghế và  nói:

– Walter, hãy nghe tôi! Tất cả mọi người trên thế gian này đều là những kẻ xa lạ. Nếu anh muốn có một người bạn, anh phải ra khỏi tâm trạng của anh và chính anh phải trở thành một người bạn!

Walter không chấp nhận ý tưởng: Để tạo ra một tình bạn bền vững, cần có thời gian và công sức. Ngay cả khi anh ta có trách nhiệm và khả năng để làm việc đó, anh ta vẫn duy trì ý tưởng con nít là tất cả những gì anh ta cần làm để tạo nên sự thân thuộc chỉ là tìm cho được đối tượng cần thiết. Bởi vì anh ta không hiểu rằng một tình bạn không chỉ thành tựu sau một thời gian dài mà còn đòi hỏi sự sáng suốt, nhạy cảm và kiên nhẫn. Rút cục là anh ta đành phải sống cô đơn.

Cung cách ấy chẳng những được Walter áp dụng trong quan hệ bạn bè mà cả trong quan hệ yêu đương: dường như anh ta không thể tìm được người đàn bà lý tưởng cho mình. Hồi phục sau một lần ly dị đau khổ (trong vụ kiện cay đắng, vợ anh ta giành được quyền nuôi dưỡng đứa con trai của họ), anh ta đã cố gắng một cách tuyệt vọng tìm người tình mới. Điều đặc biệt tệ hại trong hôn nhân đối với Walter là anh ta bị mắc như gà mắc tóc trong một mớ những khái niệm và ý tưởng chứ không phải là những cảm xúc. Anh ta che giấu bản chất dễ bị tổn thương của mình sau vẻ trí thức cực kỳ, chính là điều ngăn trở bất kỳ sự thân thiết thành thực nào.

Anh ta đến với những đợt điều trị tâm lý theo nhóm khoảng 6 tháng. Và ở mỗi đợt, anh ta lại được nghe từ nhóm điều trị những điều tương tự anh ta đã  nghe từ vợ mình, rằng anh ta không biết chia sẻ cảm xúc, rằng anh ta là kẻ lãnh đạm, xa cách. Một buổi chiều, một thành viên nữ trong nhóm, cuối cùng cũng nói chuyện với anh ta: “Khi anh kể về những đau buồn của mình, tôi không cảm nhận được nỗi khổ nào cả. Khi anh tỏ ra thân mật với tôi, tôi cũng không cảm nhận được sự thân mật ấy”. Và Walter hiểu ra rằng những lời trách cứ của người vợ cũ của anh ta là có cơ sở. “Tôi đã cho rằng cô ấy chỉ là kẻ nanh nọc và lắm điều” – anh ta tâm sự – “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng cô ấy có thể nói đúng, hoặc là tôi có thể tỉnh ngộ ra đôi chút nếu chịu khó lắng nghe cô ấy”.

Khi Walter đủ thời gian để tiếp thu bài học này, anh ta đã tỏ ra nhiệt tình hơn đối với tiến trình chữa trị tâm lý và cố gắng gỡ bỏ những chướng ngại cảm xúc của mình. Khi đã trở nên sinh động hơn, anh ta cũng có được một quan hệ thân mật với một người bạn gái mới. Trong đợt chữa trị cuối cùng ở chỗ tôi, anh ta thổ lộ tâm trạng:

– Anh biết không, tôi đã phải mất 2 năm để học được một điều đơn giản: Để có được một mối quan hệ tốt đẹp, người ta phải nỗ lực để trưởng thành và thay đổi. Giá như tôi biết điều này 10 năm về trước, có lẽ tôi vẫn sống hạnh phúc với vợ và con trai tôi.

Walter không đáng trách khi anh tin rằng: Hôn nhân là một chuyện dễ dàng và “tự nhiên”. Con người tự nhiên của chúng ta ưa thích một đời sống không cần phải cố gắng. Khi chúng ta còn là con trẻ, nếu thế giới từ chối, chúng ta thất bại, còn nếu thế giới chấp nhận thì chúng ta thoả mãn. Sau hàng ngàn những tương tác ban đầu như vậy, chúng ta tạo dựng một mô hình cho thế giới xung quanh và chúng ta bám víu lấy mô hình lỗi thời ấy ngay cả khi phải trả giá bằng cuộc hôn nhân của chính mình. Chúng ta lĩnh hội một cách chậm chạp rằng, để được yêu, trước tiên chúng ta phải trở thành một người yêu. Tôi không định nghĩa điều này trong những ngôn ngữ tình cảm. Tôi không định nghĩa những đoá hoa được trao tặng, những lá thư tình được viết hoặc những kỹ thuật ái ân mới mẻ được học hỏi…mặc dù bất kỳ điều gì trong số đó cũng đáng kể trong quan hệ yêu đương. Để trở thành một người tình, trước tiên chúng ta phải vứt bỏ những cung cách tai hại như tôi đã trao đổi với bạn trong 5 chương trước, và tái lập một ứng xử sáng suốt. Chúng ta phải thay đổi những ý tưởng về hôn nhân, về người bạn đời và cuối cùng, về chính chúng ta.

Sợ hãi sự thay đổi

Thay đổi – đó là điều chúng ta cần làm để có được mối quan hệ thoả mãn hơn, đừng sợ hãi sự thay đổi. Sợ hãi sự thay đổi cũng là nền tảng của con người tự nhiên. Chúng ta cảm thấy lo âu ngay cả khi có những thay đổi tích cực, như khi được thăng chức, dọn đến ngôi nhà mới hay bước vào kỳ nghỉ. Một điều gì đó làm rạn vỡ sự ấm cúng tiện nghi hoặc ngay cả những thói – quen – không – tiện – nghi của chúng ta cũng rung chuông báo động trong tâm thức cũ. Tâm thức cũ cảnh cáo cho chúng ta một thực tế là chúng ta đã bước vào một vùng đất không có bản đồ, không được trắc đạc và nỗi hiểm nguy rình rập chúng ta ở mỗi góc đường.

Tôi đã chứng kiến ước muốn được bám víu vào những thói quen yên ổn ngay cả ở những đứa trẻ khi Leah, con gái tôi, được hai tuổi rưỡi và Hunter, em trai nó, đã thôi nôi. Helen và tôi quyết định cho nằm giường mới. Đó là một cái giường cho trẻ con có những gióng ngang để ngăn nó khỏi ngã ra ngoài vào ban đêm. Buổi sáng đầu tiên Leah thức dậy trên chiếc giường mới, tôi nghe thấy tiếng khóc quen thuộc của nó: “Bố! Bố!”. Tôi đã đi vào phòng nó và thấy nó quỳ trên giường, hai tay nắm lấy chấn song giường, gọi tôi: “Bố! Bế con!” cho đến khi tôi đặt nó vào cái giường cũi chật chội trước đây. Tôi phải ngạc nhiên vì vẻ hoảng hốt của nó. Thực ra nó có thể leo ra khỏi giường hoặc xuống đất qua phần cuối giường không có gióng ngang. “Leah” – tôi khuyến khích nó – “con có thể tự mình ra khỏi giường mới được mà!”, “Con không làm được” – nó cắn môi dưới – “con bị kẹt”. “Leah, con nhìn đây”, tôi chỉ phần giường không có gióng ngang, “con có thể trèo xuống chỗ này”. Nó cứ quỳ nguyên một chỗ. Cuối cùng, tôi phải leo lên giường nó và trình diễn cho nó xem phải làm như thế nào. Với sự khuyến khích của tôi,nó bám sát ngay sau lưng tôi cố vượt khỏi nỗi sợ hãi sự thay đổi và ra khỏi giường.

Tôi chứng kiến một biểu hiện bi kịch hơn của tình trạng tê liệt trước sự thay đổi vào một buổi chiều khác, khi tôi đang đọc báo. Một đài truyền hình địa phương phát câu chuyện về một đứa trẻ sinh năm 1982 bị chứng khiếm khuyết miễn dịch trầm trọng và ngay từ phút chào đời, nó đã phải sống trong lồng kính, cách ly khỏi mọi mầm bệnh nguy hại. Cha mẹ nó túc trực bên nó ngày đêm nhưng cũng chỉ là bên ngoài lồng kính và chỉ được tiếp xúc với đứa con qua chiếc găng tay vô trùng gắn chặt vào lồng kính.

Chỉ ít lâu sau lần sinh nhật thứ 5 của đứa bé, nó được ghép tuỷ thành công. Với những xét nghiệm phức tạp, các bác sĩ xác định rằng hệ thống miễn dịch của nó đã phát triển đầy đủ và cho phép nó được rời khỏi các thế giới vô trùng ấy. Vào ngày ấn định cho nó ra ngoài, chiếc lồng đã được mở, người cha và mẹ tràn trề hạnh phúc giơ tay về phía đứa con. Lần dầu tiên trong đời, họ có thể hôn và ôm con trai mình. Nhưng, mọi người đều sửng sốt, đứa bé co rúm lại bên góc lồng kính. Cha mẹ nó gọi nó, nhưng nó không nhúc nhích. Cuối cùng, cha nó phải bò vào trong lồng và ôm nó ra. Khi đứa bé nhìn quanh phòng, nó bật khóc. Căn phòng quá lớn nếu so với vụ trụ khép kín của chiếc lồng kính mà nó vừa sống qua. Cha mẹ nó ôm hôn nó để trấn an nó, nhưng nó không muốn có bất kỳ một tiếp xúc nào mà chỉ oằn người để tránh vòng tay của họ. Đoạn kết câu chuyện, bộ phim quay cảnh ít lâu sau đó, đứa bé đã trở nên quen thuộc hơn với đời sống bên ngoài lồng kính. Nhưng sự kiện trong ngày nó được “xổ lồng” dã chứng tỏ rằng nỗi sợ hãi khi đối diện với những gì không quen thuộc còn lớn hơn cả ước muốn được mở rộng thế giới của đứa trẻ.

Đứa trẻ ấy sống 5 năm trong chiếc lồng kính. Những cặp vợ chồng đến chỗ tôi đã sống 2, 10, 20 … thậm chí 40 năm trong một mối quan hệ hạn hẹp, ức chế sự trưởng thành. Nhiều năm sống trong một ứng xử quen thuộc, lẽ tự nhiên là họ có một sự miễn cưỡng rất lớn khi phải thay đổi. Sau hết, tôi đang đòi hỏi ở họ không chỉ là mạo hiểm nỗi lo âu khi học một cung cách quan hệ mới, mà còn đối mặt với nỗi đau khổ và sợ hãi, những thứ đã “đóng chai” họ hàng thập niên – lý do cho những ứng xử sai chức năng trước đó.

Đất Hứa

Mang đến cho bạn cái nhìn thấu suốt về những khó khăn của sự sáng tạo một cuộc hôn nhân ý thức, tôi muốn thuật lại một cách cô đọng câu chuyện Moses và Đất Hứa, câu chuyện mà tôi coi là ngụ ngôn về tâm linh con người. Câu chuyện như sau:

Nhiều thế kỷ trước đây, dân Israel là một bộ tộc lớn cư ngụ ở gần Địa Trung Hải. Xảy ra một trận hạn hán trên miền đất của họ, và để sống còn, dân Israel đã di cư về phía nam đến Ai Cập là một vựa lúa. Nhưng rồi họ bị cưỡng bức trở thành nô lệ của người Ai Cập, chịu sự đối xử hà khắc và phải lao động nặng nhọc. Sau hơn 400 năm sống cơ cực như vậy, xuất hiện một người là Moses, người đã nói với dân Israel: “Hỡi những người đáng thương, các người đang sống trong nỗi thống khổ mà sự cam chịu đã khiến các người ra nông nỗi này. Các người đã quên đi dĩ vãng của mình. Các người không phải là nô lệ của Ai Cập mà các người là con của Yahweh vĩ đại! Thượng đế chỉ tôn đã tạo ra các người và các người là một dân tộc đặc biệt”. Những lời của Moses đã khuấy động ý thức của người Israel và họ bỗng nhận ra tâm trí họ đã bị giam cầm. Điều đó làm họ bồn chồn khổ sở – chẳng khác nào nhiều cặp vợ chồng tìm đến tôi để tham vấn.

Bị quyến rũ bởi viễn ảnh về miền Đất Hứa, người Israel đi theo Moses. Nhưng người Israel đã không chuẩn bị cho những gian khó của cuộc hành trình và họ chẳng mấy tin cậy và sự che chở của Thượng đế. Khi họ gặp trở ngại đầu tiên, Biển Đỏ, họ phàn nàn cay đắng với Moses: “Ông đưa chúng tôi ra khỏi túp lều quen thuộc của chúng tôi với những lời hứa hẹn một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bây giờ đường đi bị chắn ngang bởi biển cả bao la. Ông đưa chúng tôi tới sa mạc để chết, bỏ lại mồ mả ông cha ở Ai Cập. Chúng tôi làm gì đây?”.

Chính Moses cũng không chắc phải làm gì, nhưng ông tin tưởng rằng nếu có đức tin thì đường đi sẽ hiện ra. Trong lúc ông đang suy tính về số phận của mọi người, một đám mây bụi khổng lồ xuất hiện ở chân trời. Trong nỗi kinh hoàng của người Israel, họ nhận ra đó là cát bụi cuộn lên bởi sự xuất hiện đột ngột của những chiến binh Ai Cập đuổi theo bắt họ để đưa họ trở về với xiềng xích nô lệ. Lúc đó, Moses đưa tay lên và một ngọn gió đông giữ dội rẽ đôi Biển Đỏ. Kinh sợ vì điều kỳ diệu lớn lao, những người Israel tập trung hết can đảm, nhìn lại Ai Cập lần cuối – quê hương duy nhất mà họ biết – và theo Moses, đầy sợ hãi bước vào khe nước. Hai bức tường nước dựng lên ở bên trái và bên phải họ. Khi họ đã vượt qua biển an toàn, Moses giơ tay lên lần nữa, và hai bức tường nước khổng lồ khép lại, nhấn chìm các chiến binh Ai Cập trong dòng nước xiết.

Người Israel chỉ có một lần duy nhất để vinh danh cuộc hành trình trót lọt của mình. Khi nhìn thấy vùng đất mới, họ mất hết can đảm lúc nhận ra mình đi đến rìa của một sa mạc hoang vu, cằn cỗi. Một lần nữa, họ lại bật khóc trong nỗi thống khổ: “Ông đã huỷ hoại cuộc sống yên ổn của chúng tôi. Ông lôi kéo chúng tôi theo ông vào hành trình dài dằng dặc này. Chúng tôi đã suýt chết đuối trong Biển Đỏ. Bây giờ, chúng tôi lại lạc lõng trong sa mạc khô cằn, không thức ăn nước uống!”

Dù sợ  hãi, người Israel không còn cách nào khác là tiếp tục hành trình. Họ lang thang nhiều tháng ròng trong vùng đất xa lạ, theo sự dẫn dắt của một cột mây lúc ban ngày và của một cột lửa lúc ban đêm. Họ chịu đựng nhiều nỗi gian truân, nhưng Thượng đế nhân từ đã  làm nhẹ bớt gánh đau thương của họ bằng những phép lạ.

Cuối cùng, những người Israel cũng đi hết sa mạc. Vượt qua đụn cát cuối cùng, Moses nói, là miền Đất Hứa. Những toán trinh sát được phái đi để tìm hiểu vùng đất. Nhưng khi các trinh sát trở về, họ mang theo những tin tức còn tồi tệ hơn: “Đất Hữa thực sự là đầy sữa và mật ong, nhưng đã bị chiếm. Đó là xứ sở của người Canaan, một chủng tộc khổng lồ!”. Đám đông nghe vậy lại kêu khóc và nuối tiếc cuộc sống yên ổn an toàn ở Ai Cập.

Lúc đó, Thượng đế nói với họ: “Bởi vì các ngươi không có đức tín và cứ ôm ấp hoài niệm ở Ai Cập, các ngươi sẽ phải lưu lạc trong sa mạc 40 năm, cho tới khi một thế hệ mới ra đời, thế hệ không có những hồi ức về quá khứ. Chỉ khi ấy các ngươi mới tới được Đất Hứa”. Và như vậy, 40 năm, người Israel du cư trong sa mạc. Những đứa trẻ ra đời và những người già chết đi. Cuối cùng, một nhà lãnh đạo mới xuất hiện trong cư dân và đưa họ đến Israel, khởi đầu công cuộc giành lại đất đai từ người Canaan.

Chúng ta có thể học hỏi được gì từ câu chuyện đã trở nên quen thuộc này để áp dụng trong cuộc thăm dò khảo sát về hôn nhân? Một trong những lý do chân lý đầu tiên chúng ta có thể học được từ sự kiện: Hấu hết chúng ta đi qua đời sống hôn nhân như thể mơ ngủ, hoà tan vào những tương giao thường nhật với sự hài hoà bé mọn. Giống như những người Israel suốt 400 năm trong tình trạng nô lệ cho người Ai Cập, chúng ta quên mất mình là ai. Như trong thơ của Wordsworth, chúng ta mang tới thế gian “những đám khói tàn tích của vinh quang nhưng ngọn lửa thì đã tắt ngấm tự bao giờ, và chúng ta không còn nhìn nhận mình như một thực thể toàn vẹn và cao quý nữa. Chúng ta sống một cuộc sống khốn khổ, nhàm chán, vô vọng và đổ lỗi cho người bạn đời về nỗi bất hạnh của mình. Câu chuyện còn dạy chúng ta rằng, chúng ta là tù nhân của nỗi sợ hãi sự thay đổi. Khi tôi yêu cầu các cặp vợ chồng thử nghiệm cung cách ứng xử mới, họ tỏ ra bực bội với tôi. Một số cặp thà ly dị, phá vỡ gia đình, phân chia tài sản còn hơn là tìm một kiểu thức quan hệ mới. Giống như người Israel, họ run rẩy trước Biển Đỏ, ngay cả khi con đường mở ra trước mặt. Sau đó, cuộc hành trình trở nên gian khổ, nhũng khó khăn trong cảm xúc của họ cũng giống như đám quân Ai Cập truy nã hoặc những quái vật khổng lồ. Nhưng khác với trường hợp người Israel, kẻ thù lần này ở trong bản thân họ, nó phủ nhận và đàn áp những gì có thể trở nên nhận thức đối với họ.

Chân lý cuối cùng trong câu chuyện về Moses là chúng ta luôn chờ đợi cuộc đời mang đến những phần thưởng một cách dễ dãi mà không phải hy sinh điều gì. Giống như người Israel mong muốn Đất Hứa là vườn Địa Đàng mà Chúa Trời dành sẵn cho Adam và Eva. Chúng ta mong muốn một cách đơn giản là hôn nhân sẽ chữa trị cho chúng ta mọi bệnh hoạn. Chúng ta muốn sống trong truyện cổ tích, những cô công chúa xinh đẹp gặp những chàng hoàng tử hào hoa và sau đó là cuộc sống hạnh phúc. Nhưng điều đó chỉ diễn ra khi người Israel nhìn nhận miền Đất Hứa như một cơ hội, một dịp để họ sáng tạo một thực tại mới, nơi mà họ được phép bước vào. Và điều đó chỉ diễn ra khi chúng ta nhìn nhận cuộc hôn nhân như một phương tiện cho sự thay đổi và tự trưởng thành, và chúng ta có thể bắt đầu thoả mãn những khao khát vô thức của chúng ta.

Các chủ đề tiếp theo

Chương này đánh dấu một điểm ngoặt trong cuốn sách. Cho đến lúc này, tôi đã mô tả về hôn nhân vô thức, một cuộc hôn nhân đặc trưng bởi những phản ứng của tâm thức cũ. Trong phần còn lại của cuốn sách, tôi sẽ giải thích việc bạn sẽ chuyển thể cuộc hôn nhân của bạn vào một quan hệ ý thức hơn, trưởng thành hơn như thế nào.

Sau đây là lược thuật về các chủ đề tiếp theo:

– Chương 7 nhằm tìm hiểu về một quan điểm kiểu cũ, phản bác và giải thích tại sao nó lại là tiền đề cần thiết cho sự trưởng thành của xúc cảm.

– Chương 8 trình bày với bạn bằng cách nào đưa cuộc hôn nhân vào một khu vực an toàn – một môi trường an ninh và yên ổn sẽ khơi dậy sự thân mật của những cuộc tình lãng mạn.

– Chương 9 mang đến bạn một vài kỹ xảo để thu thập nhiều thông tin hơn về chính bạn và người phối ngẫu của bạn.

– Chương 10 tìm hiểu một nghịch lý: Con đường duy nhất để thoả mãn những khát vọng thơ ấu của chúng ta chính là toàn tâm toàn ý cho nỗ lực thoả mãn những khát vọng của người bạn đời.

– Chương 11 nói về cách kiềm chế cơn giận để bạn có thể biểu lộ mình một cách an toàn trong mối quan hệ.

– Chương 12 là cuộc trao đổi với 2 cặp vợ chồng đã thành công trong việc sáng tạo một hôn nhân ý thức.

Và Phần Ba là một loạt các bài tập giúp bạn chuyển các quan niệm vào thực hành, phát triển các hành vi ứng xử (điều quan trọng là bạn phải đọc xong Phần Một và Phần Hai trước khi làm bài tập. Nó sẽ có ý nghĩa hơn đối với bạn nếu như bạn đọc và hiểu các luận thuyết làm cơ sở cho các bài tập đó.

 

Đọc tiếp Chương 7-13 ở đây