Tác giả: Kay Redfield Jamison

Tựa gốc: An Unquiet Mind: A Memoir of Moods and Madness

Tựa Việt: Tâm hồn không tĩnh lặng

Độ dài: 327 trang

Phát hành: năm 2007 NXB Thông tấn

*****

"Năm 1974, tôi 28 tuổi, khi nộp hồ sơ xin làm giáo sư trợ giảng môn tâm thần học tại trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA), tôi đã bị điên từ lâu rồi.Chỉ trong vòng ba tháng, tôi bị điên đến mức không nhận ra nổi. Và đó là sự khởi đầu của cuộc đấu tranh lâu dài và tổn hại của tôi chống lại việc sử dụng thuốc…."

Một điều đặc biệt - Kay Redfield Jamison - tác giả của Tâm hồn không tĩnh lặng cũng từng là một trong số những người bị mắc bệnh hưng- trầm cảm nặng, hay nói cách khác, bà cũng từng mắc phải căn bệnh điên tai quái.

Trên thế giới, căn bệnh rối loạn tâm thần này đã giết chết hàng chục nghìn người mỗi năm. Đó là một trạng thái tâm thần đáng sợ nhưng mang lại cảm giác rất tuyệt vời. Đó là sự kích động đến cao độ như một đứa trẻ, đồng bóng như một cô gái mới lớn, phiền muộn đến ngã lòng như một thiếu nữ và rồi chìm vào chu kỳ hưng-trầm cảm.

Nạn nhân của căn bệnh này hầu hết là những người trẻ tuổi, trong số họ rất nhiều người có tài và rất thông minh, đều có ích cho xã hội, nhưng căn bệnh vừa là kẻ thù vừa là người bạn đồng hành quyến rũ chết người ấy sẽ không buông tha bất cứ ai, nếu họ không thể vượt qua được chính mình.

Toàn bộ cuốn sách là câu chuyện về cuộc đời của một người phụ nữ đầy tài năng và nhiệt huyết vừa sống chung với bệnh tật vừa theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Trong suốt cuốn sách là lời kể về quá trình của bệnh hưng-trầm cảm với các diễn biến từ nhẹ, hưng phấn, kích thích cho đến u uất, trầm cảm, ức chế, bạo lực và nặng nhất là dẫn đến tự tử.

Theo như tiến sỹ Jamison thì:

"Cuộc chiến chống lại chính mình như tôi không phải là ít gặp. Một vướng mắc lớn trong điều trị hưng trầm cảm ở bệnh viện không phải là bệnh viện không có những phương thuốc hiệu quả, thực chất là họ có, mà vấn đề là bệnh nhân không chịu uống thuốc. Tệ hại hơn nữa, do thiếu thông tin, do tư vấn tồi và do sợ ảnh hưởng đến tên tuổi và nghề nghiệp, người ta thậm chí còn không tìm cách điều trị nữa.

Tâm thần và suy nghĩ lệch lạc của bệnh hưng-trầm cảm có thể dẫn tới những hành vi chết người, phá hủy nền tảng của lý trí và thường làm xói mòn nhu cầu và nguyện vọng được sống. Đó là căn bệnh được bắt nguồn từ lý do sinh học,nhưng lại chứa trong nó yếu tố tâm lý. Đó là một căn bệnh độc đáo nếu xét về những lợi thế và niềm hứng khởi mà nó mang lại. Tuy nhiên căn bệnh này cũng dẫn tới những hậu quả nặng nề tới mức không thể chịu đựng nổi và không ít trường hợp dẫn đến cái chết"

Cuốn sách vừa là một lời tâm sự, vừa là lời lý giải cho căn bệnh về tâm lý rất phức tạp của con người. Không khô khan, dài dòng mà thu hút, đầy thuyết phục, bạn sẽ lần theo từng lời kể đi qua từng giai đoạn trong cuộc đời tác giả. Những đổ vỡ của một gia đình vốn hạnh phúc, gen di truyền căn bệnh từ người cha, những thay đổi đột ngột của môi trường sống...vv.. chính là những mầm mống để căn bệnh manh nha rồi phát triển. Cuộc đấu tranh quyết liệt giữa bên trong và bên ngoài, sự cố gắng tỏ sự bình thường trước mọi người để có thể tiếp tục công việc nghiên cứu quả là quá sức gian nan và đầy khổ tâm!

"Tôi xuất hiện trước mọi người một cách vui vẻ và nhiệt tình.Tôi cũng nói chuyện khá bình thường với những người khác. Nhìn bề ngoài có vẻ như tôi vẫn khỏe. Chỉ có chúa mới biết rằng tâm hồn tôi đang chết lặng đi và trái tim tôi đang rỉ máu từ hàng nghìn vết thương."

Đọc sách, ta hiểu thêm về lithi, những lợi ích và tác dụng phụ của thuốc trong quá trình điều trị. Một trong số những lần cực điểm của căn bệnh khiến người ta xấu hổ và cảm giác vô cùng tội lỗi, nhưng ngược lại, một trong những giai đoạn đầu phát bệnh thì trí sáng tạo, óc tưởng tưởng, sức lực và mọi giác quan của bạn đều được kích thích đến độ hưng phấn. Suy nghĩ nhanh, nhiều ý tưởng, ngủ ít, và công việc làm rất hiệu quả.Còn thuốc chữa trị thì lại làm mất đi các cảm giác ấy, mất đi sự hài hước, mất khả năng đọc và nhớ mọi thứ, giảm nhu cầu tình dục và đầu óc mệt mỏi.

Đó cũng là lý do tại sao Kay Jamison cũng như tất cả các bệnh nhân mắc hưng-trầm cảm khác từ chối uống thuốc.Và dĩ nhiên, căn bệnh ngày càng trở nên trầm trọng hơn...

Tình yêu, sự tin tưởng và cảm thông của gia đình, bạn bè đã đóng góp một phần không nhỏ vào nỗ lực vượt qua chính bản thân của Jamison để cuối cùng giành được chiến thắng. Hơn một lần trong cuốn sách đã nói rằng tình yêu không thể chữa khỏi căn bệnh một cách nhanh chóng, nhưng nó là một liều thuốc xoa dịu cho trái tim. Những mất mát, những nỗi đau sẽ dần vơi đi, cho dù cuộc sống là cả một sự đấu tranh dai dẳng và quyết liệt, thì ở đâu đó trong góc riêng của mỗi tâm hồn tình yêu luôn ngự trị, để sẻ chia và hy vọng.

Có thể nói Tâm hồn không tĩnh lặng vừa là một câu chuyện đời, vừa là một đề tài khá lý thú về vấn đề tâm thần học cho những ai muốn biết và hiểu thêm về lĩnh vực thú vị này.

"Quá khứ thỉnh thoảng vẫn hiện về và sự cám dỗ muốn trở lại cảm giác hưng phấn trước kia vẫn còn đó, cho dù tần suất đã giảm dần. Tôi ngoái nhìn lại phía sau và vẫn cảm thấy sự hiện diện của một cô gái trẻ, mạnh mẽ và tiếp sau đó là một phụ nữ trẻ hung bạo, gây nhiều phiền toái, nhưng cả hai đều mang trong mình những giấc mơ cao đẹp, làm việc không mệt mỏi và chứa chan khát vọng lãng mạn."

Sherwin B. Nuland tác giả của Chúng ta chết như thế nào: Suy ngẫm về chương cuối cùng của cuộc đời đã nhận xét:

"Tiến sỹ Kay Jamison viết cuốn sách này với tư cách một người bệnh đang lành – một bác sĩ đã trải qua những gì mà người khác chỉ được biết tới qua đào tạo hay phỏng đoán. Bà đã phát hiện ra con đường độc đáo đến với sự sáng suốt trong tình trạng rối loạn thần kinh, một sự sáng suốt nói lên toàn bộ bản chất của con người. Nỗi đau của bà, thằng lợi của bà và lối hành văn độc đáo của bà là món quà mà Kay Jamison tặng cho độc giả. Chúng ta tự hào nhận ra những giá trị vô biên ấy trong cuộc đời của mỗi chúng ta"

Tác giả Kay Redfield Jamison

 

Kay Redfield Jamison là một giáo sư tâm thần học tại trường Đại học Y, thuộc Đại học Johns Hopkins. Tiến sĩ Jamison trước đây từng là giám đốc Bệnh viện rối loạn cảm xúc UCLA.

Bà được bầu là Nữ khoa học xuất sắc nhất của UCLA và nằm trong danh sách những bác sỹ xuất sắc của Mỹ với rất nhiều thành tích trong sự nghiệp nghiên cứu chứng hưng trầm cảm.

Là tác giả của cuốn sách Đụng vào lửa: bệnh hưng trầm cảm và tính cách nghệ sỹ. Tác giả của 80 bài viết khoa học về chứng rối loạn tâm thần, tự tư, liệu pháp tâm lý và lithi.

Đồng tác giả của sách giáo khoa y học về bệnh hưng-trầm cảm.

PHẦN MỞ ĐẦU

Vào lúc 2 giờ sáng và nếu bạn bị điên thì ngay cả bệnh viện của Trường Đại học UCLA cũng trở nên hấp dẫn. Bệnh viện này, thường ngày chỉ là những tòa nhà buồn tẻ và lạnh lẽo, thì đối với tôi, vào buổi sáng mùa thu của 20 năm về trước là hoàn toàn khác. Nó là tâm điểm của hệ thần kinh sắc sảo và nhạy bén của tôi. Với cánh mũi phập phồng đánh hơi, anten vểnh lên, đôi mắt liếc nhanh và mặt quay nhanh sang mọi hướng, tôi ghi lại mọi hình ảnh ở quanh mình. Tôi đang chạy. Tôi không chỉ chạy, mà còn chạy rất nhanh và hoảng hốt, từ đầu này tới đầu kia của bãi đỗ xe trong bệnh viện, cố gắng tiêu hao hết nguồn năng lượng dường như vô tận, không biết mệt và sôi sục trong người. Tôi đang chạy rất nhanh, nhưng lại từ từ chuyển sang trạng thái điên.

Người đàn ông ở bên tôi lúc ấy là một đồng nghiệp trong trường y. Anh đã đứng lại từ một giờ trước đó và như anh nói trong hơi thở gấp, là đã kiệt sức rồi. Những người minh mẫn có lẽ sẽ không ngạc nhiên khi biết rằng đối với hai chúng tôi, sự phân biệt giữa ngày và đêm đã mất từ lâu rồi. Và rõ ràng là chúng tôi đã phải trả giá, nếu không phải là cuối cùng, cho những giờ bất tận với rượu uytxki, với những cuộc cãi vã và những trận cười không ngớt. Lẽ ra vào giờ ấy chúng tôi đang ngủ hay làm việc, đọc tạp chí, vẽ đồ thị hay những biểu đồ khoa học…

Đột nhiên một chiếc xe cảnh sát ập tới. Ngay cả với tâm trí không mạch lạc của mình, tôi vẫn có thể nhìn thấy viên cảnh sát đặt tay vào bao súng khi anh ta bước ra khỏi xe. “Tại sao các vị lại chạy lung tung trong bãi đỗ xe vào giờ này thế?” anh ta hỏi. Một vài suy nghĩ rời rạc còn lại trong tôi bỗng bật ra, liên kết lại với nhau, đủ để tôi nhận ra rằng tình huống này là khó có thể giải thích. Thật may là anh bạn đồng nghiệp của tôi đã nhanh trí trả lời:
Cả hai chúng tôi là giáo viên của khoa tâm thần.” Viên cảnh sát nhìn chúng tôi, mỉm cười, quay lại xe và bỏ đi.

Thế đấy, chỉ riêng việc là giáo sư tâm thần đã giải thích được mọi chuyện.

Năm 1974, tôi 28 tuổi, khi nộp hồ sơ xin làm giáo sư trợ giảng môn tâm thần học tại Trường đại học California ở Los Angeles (UCLA), tôi đã bị điên từ lâu rồi. Chỉ trong vòng 3 tháng, tôi bị điên tới mức không nhận ra nổi. Và đó là sự khởi đầu của cuộc đấu tranh lâu dài và tổn hại của tôi chống lại việc sử dụng thuốc, trong khi chỉ vài năm sau đó tôi đã khuyến khích người khác dùng thuốc. Bệnh tật và cuộc vật lộn với thuốc, sau nhiều năm gian khổ, cuối cùng đã cứu cuộc đời tôi và khôi phục sự tỉnh táo trong tôi.

Từ rất lâu rồi, tôi đã rơi vào trạng thái tâm thần rất đáng sợ, nhưng cũng rất tuyệt vời. Đó là sự kích động đến cao độ như một đứa trẻ, đồng bóng như một cô gái mới lớn, phiền muộn đến ngã lòng như một thiếu nữ và rồi chìm vào chu kỳ hưng-trầm cảm. Khi tôi bắt đầu sự nghiệp giáo sư thì cũng là lúc tôi trở thành học trò của tâm thần, do cả hoàn cảnh lẫn tri thức. Đó là con đường duy nhất để tôi hiểu, và thực tế là chấp nhận căn bệnh của mình. Đó cũng là con đường duy nhất để tôi có thể tạo ra sự khác biệt trong cuộc đời của những người đang bị rối loạn tâm thần. Căn bệnh mà đã suýt giết chết tôi một vài lần này đã giết chết hàng chục nghìn người mỗi năm. Nạn nhân của nó hầu hết là những người trẻ tuổi. Hầu hết trong số họ không nhất thiết phải chết và nhiều người là những người có tài và rất thông minh trong xã hội chúng ta.

Người Trung Quốc tin rằng trước khi bạn có thể thuần phục được thú dữ thì bạn phải nhìn thấy cái đẹp trong nó. Thật kỳ lạ, tôi đã áp dụng cách làm này đối với căn bệnh hưng-trầm cảm của mình. Căn bệnh này vừa là kẻ thù, vừa là bạn đồng hành quyến rũ, mà chết người. Tôi phát hiện ra rằng việc phân loại cái gì là tốt nhất và cái gì là nguy hiểm nhất trong bản chất của mình là một công việc phức tạp mà hấp dẫn. Để có thể chiến thắng bệnh tật, trước hết tôi phải hiểu mọi trạng thái tâm thần, cũng như mọi sự trá hình của nó, nghĩa là phải hiểu sức mạnh thực và sức tưởng tượng của nó. Vì căn bệnh của tôi lúc đầu có vẻ chỉ như là sự mở rộng của tâm trạng, sinh lực và sự phấn khích của chính mình, nên đôi khi tôi đã quá coi thường nó. Và do lúc đầu tôi nghĩ rằng tôi có thể kiểm soát được tâm trạng kích động, mà ngày càng có xu hướng bạo lực của mình, nên tôi đã không tìm kiếm bất cứ một phương pháp điều trị nào trong suốt 10 năm đầu tiên. Ngay cả khi căn bệnh của tôi đã phát triển đến mức phải điều trị khẩn cấp thì đôi khi tôi cũng vẫn tìm cách tránh uống thuốc, mặc dù cả những điều tôi được học trong nhà trường lẫn các công trình nghiên cứu y học cùng nói rằng thuốc là con đường tốt nhất để có thể đối phó với căn bệnh của tôi.

Bệnh điên của tôi, ít nhất là trong giai đoạn đầu và ở dạng nhẹ, là trạng thái rất mê li, nó tạo ra sự mãn nguyện, làm cho dòng suy nghĩ cứ thế tuôn trào và tạo ra nguồn năng lượng bất tận, giúp tôi chuyển tải những ý tưởng mới vào các bài viết và các công trình nghiên cứu. Uống thuốc sẽ không chỉ làm mất đi cảm hứng mạnh mẽ và thăng hoa này, mà còn tạo ra những phản ứng phụ không thể chấp nhận được. Phải rất lâu sau tôi mới nhận ra rằng những năm tháng và quan hệ đã mất là không thể khôi phục được, những tổn thất mà căn bệnh này gây ra cho chính mình và những người khác không phải bao giờ cũng được bù đắp.

Cuộc chiến chống lại chính mình như tôi không phải là ít gặp. Một vướng mắc lớn trong điều trị bệnh hưng-trầm cảm ở bệnh viện không phải là bệnh viện không có những phương thuốc hiệu quả, thực chất là họ có, mà vấn đề là bệnh nhân không chịu uống thuốc. Tệ hại hơn nữa, do thiếu thông tin, do tư vấn tồi và do sợ ảnh hưởng đến tên tuổi và nghề nghiệp, người ta thậm chí còn không tìm cách điều trị nữa. Tâm thần và suy nghĩ lệch lạc của bệnh hưng-trầm cảm có thể dẫn tới những hành vi chết người, phá hủy nền tảng của lý trí và thường là làm xói mòn nhu cầu và nguyện vọng được sống. Đó là căn bệnh bắt nguồn từ lý do sinh học, nhưng lại chứa trong nó yếu tố tâm lý. Đó là một căn bệnh độc đáo nếu xét tới những lợi thế và niềm hứng khởi mà nó mang lại. Tuy nhiên, căn bệnh này cũng dẫn tới những hậu quả nặng nề tới mức không thể chịu đựng nổi và không ít trường hợp dẫn đến cái chết.

Tôi may mắn không bị chết vì căn bệnh của mình. Tôi may mắn được điều trị bằng những liệu pháp y học tốt nhất khi đó. Và tôi may mắn có được những người bạn, những đồng sự và gia đình tận tâm. Cũng chính vì lý do này mà tôi đã cố gắng đến mức cao nhất để đưa tất cả những trải nghiệm của chính mình vào các công trình nghiên cứu, vào bài giảng, vào điều trị trong bệnh viện và vào công tác tư vấn. Thông qua các bài viết và bài giảng của mình, tôi hy vọng có thể thuyết phục được các đồng sự của mình về những nghịch lý của căn bệnh này, đó là nó vừa có thể giết người, vừa có thể sáng tạo. Cùng với nhiều người khác, tôi đã cố gắng làm thay đổi thái độ của công chúng đối với bệnh tâm thần nói chung và bệnh hưng-trầm cảm nói riêng. Việc đan kết những nguyên tắc khoa học của tri thức với thực tế sinh động qua những trải nghiệm của bản thân mình đôi khi cũng rất khó khăn. Tuy nhiên, chính nhờ kết hợp cảm xúc của mình với những kiến thức của y khoa mà tôi cảm thấy mình có thể sống theo cách mà mình muốn và rút ra được những kinh nghiệm cần thiết để có thể làm thay đổi nhận thức của công chúng và phương pháp điều trị trong bệnh viện.

Tôi đã rất băn khoăn khi viết một cuốn sách mô tả chi tiết cuộc chiến của chính mình chống lại bệnh điên, chứng trầm cảm và rối loạn tâm thần, cũng như khi phải thừa nhận nhu cầu điều trị lâu dài bằng thuốc. Các nhân viên bệnh viện rất miễn cưỡng cho người khác biết về những vấn đề tâm thần của mình, vì những lý do rất rõ ràng, đó là giấy phép hành nghề và đặc ân của bệnh viện. Những băn khoăn ấy là xác đáng. Tôi không biết việc thảo luận một cách công khai những vấn đề này về lâu dài sẽ ảnh hưởng như thế nào tới cuộc đời và sự nghiệp của tôi, nhưng cho dù hậu quả thế nào đi chăng nữa, điều đó vẫn tốt hơn là im lặng. Tôi chán ghét sự che giấu, chán ghét sự uổng phí, chán ghét thói đạo đức giả và chán ghét việc phải hành động như là mình đang có điều gì đó phải che giấu. Con người phải sống với chính mình và bất cứ sự che giấu nào ẩn sau những bằng cấp, danh hiệu hay bất cứ thứ gì khác, cũng đều là không thật thà. Sự che giấu đó có thể là cần thiết, nhưng vẫn là không thật thà. Tôi vẫn còn băn khoăn về quyết định công khai căn bệnh của mình. Tuy nhiên, một trong những lợi thế của việc mắc chứng hưng-trầm cảm trong hơn 30 năm qua là nó làm cho tôi thấy rằng dường như chỉ có rất ít việc làm quá khó khăn. Điều này cũng giống như vượt qua Cầu Vịnh (Bay Bridge) khi trời mưa bão vậy. Người ta có thể lo sợ khi tiến về phía trước, nhưng không thể quay lại. Tôi tự thấy an ủi phần nào khi nhớ tới câu hỏi rất cơ bản của Robert Lowell: Tại sao không nói rõ chuyện gì đã xảy ra?

PHẦN I

MÀU XANH HOANG DẠI PHÍA XA

LÊN TẬN MẶT TRỜI

Tôi đứng đó, ngửa đầu ra phía sau, môi cắn chặt bím tóc đuôi sam và lắng nghe tiếng phản lực gầm rú trên đầu. Tiếng rít chói tai một cách khác thường. Điều đó có nghĩa là máy bay bay rất thấp. Trường tiểu học của tôi ở sát Căn cứ không quân Andrew, ngay ngoại ô Washington. Phần lớn chúng tôi là con cái của các phi công, nên những tiếng ầm ĩ này chỉ là chuyện thường ngày. Dù vậy, nhưng với chúng tôi nó vẫn có sức lôi cuốn kỳ diệu. Từ sân chơi, tôi vẫn thường ngẩng mặt lên nhìn và vẫy tay. Tất nhiên, tôi biết viên phi công ấy không nhìn thấy tôi. Tôi cũng biết rằng ngay cả khi viên phi công ấy có nhìn thấy tôi chăng nữa thì chắc gì đó đã là bố tôi. Tuy nhiên, đó là việc người ta vẫn thường làm, còn tôi thì tôi yêu thích bất cứ lý do gì để được ngước nhìn lên bầu trời. Bố tôi là một sỹ quan không quân chuyên nghiệp, nhưng trước hết và trên hết ông là một nhà khoa học, thứ hai mới là phi công. Tuy nhiên, ông rất thích bay. Vì là một nhà khí tượng học nên tinh thần và đầu óc ông lúc nào cũng ở trên trời xanh. Giống như bố tôi, tôi nhìn lên trời không phải chỉ để nhìn.

Khi tôi nói với bố tôi rằng lục quân và hải quân có trước không quân rất lâu và vì thế mà có nhiều truyền thống và kỳ tích hơn, thì bố tôi nói: Đúng thế, nhưng không quân là tương lai. Sau đó bao giờ ông cũng nói thêm rằng: Và chúng ta có thể bay. Sau khi tuyên bố như một tín điều ấy, ông thường hát bài hát đầy phấn khích của không quân, mà cho tới tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ một số đoạn. Nó cùng với một số đoạn trong bài hát mừng Giáng sinh, những bài thơ đầu tiên và một số đoạn trong Kinh cầu nguyện, đã để lại trong tâm hồn tôi những rung động từ thời trẻ thơ và bây giờ mỗi khi nhớ tới, trái tim tôi vẫn đập nhanh hơn.

Tôi nghe và tôi tin, và mỗi lần nghe thấy câu hát “Nào hãy bay lên bầu trời trong xanh bao la” thì tôi lại nghĩ rằng “trong xanh”’ và “bao la” là những từ tuyệt vời nhất. Tương tự như vậy, tôi luôn cảm thấy rất phấn khích mỗi khi nghe thấy câu “Cao cao nữa lên, lên tận mặt trời”. Và tôi biết rằng tôi là một trong số những người yêu bầu trời trong xanh bao la.

Tiếng rít của chiếc máy bay phản lực nghe càng lớn và những đứa bạn trong lớp hai của tôi đột nhiên chạy nháo lên. Chiếc máy bay lao tới rất thấp, lướt qua đầu chúng tôi và không kịp hạ cánh xuống sân bay nữa. Khi chúng tôi đang túm lại bên nhau hoảng sợ thì nó lao vào cây, bùng nổ ngay trước mắt chúng tôi. Chúng tôi cảm nhận được sức ép và nghe thấy tiếng nổ khủng khiếp của vụ máy bay rơi. Sau đó là cột lửa bùng lên thật đáng sợ. Dường như chỉ vài phút sau đó, các bà mẹ đã tràn vào sân, vỗ về bọn trẻ chúng tôi rằng đó không phải là bố của chúng. Thật may cho anh tôi, chị tôi và tôi, đó cũng không phải là bố chúng tôi. Vài ngày sau đó, mọi chuyện đều rõ ràng. Trong lời nhắn cuối cùng của viên phi công trẻ về đài chỉ huy trước khi chết, anh ta nói rằng anh ta hoàn toàn có thể tự cứu mình, bằng cách nhảy ra ngoài máy bay. Nhưng nếu làm như vậy, chiếc máy bay không được điều khiển có thể rơi xuống sân chơi và giết chết bọn trẻ.

Viên phi công tử nạn ấy trở thành một anh hùng và là một hình mẫu sống động. Đó là một hình mẫu hấp dẫn và ám ảnh tôi mãi. Ký ức về vụ tai nạn ấy đã trở lại trong tôi rất nhiều lần trong nhiều năm, như một lời nhắc nhở vì sao con người ta lại ngưỡng mộ và cần tới những hình mẫu ấy. Từ chiều hôm đó trở đi, mỗi khi nhìn lên trời xanh, tôi không chỉ thấy nó mênh mông và đẹp đẽ nữa, mà còn nhìn thấy cả cái chết luôn rình rập ở nơi xa thẳm ấy.

Giống như mọi gia đình quân nhân, chúng tôi phải di chuyển qua rất nhiều nơi. Đến năm học lớp 5, anh tôi, chị tôi và tôi đã phải trải qua 4 trường tiểu học khác nhau. Chúng tôi đã sống ở Florida, Puecto Rico, California, Tokyo và thủ đô Washington hai lần. Tuy nhiên, bố mẹ tôi, đặc biệt là mẹ tôi, đã cố gắng giữ cho cuộc sống của gia đình được đảm bảo, ấm cúng và ổn định. Anh trai tôi là con cả trong nhà và là người kiên định nhất trong ba chúng tôi. Anh cũng là đồng minh tin cậy của tôi, cho dù anh hơn tôi ba tuổi. Tôi coi anh như một thần tượng và thường bí mật theo anh mỗi khi anh cùng đám bạn ra sân chơi bóng chày hoặc lang thang sang khu láng giềng. Anh thông minh, công bằng và tự tin. Tôi luôn có cảm giác được bảo vệ mỗi khi ở gần anh. Mối quan hệ của tôi với chị gái, người chỉ nhiều hơn tôi 13 tháng tuổi, thì phức tạp hơn nhiều. Chị rất xinh, với mái tóc đen và đôi mắt tuyệt vời. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã luôn nhìn những gì đang diễn ra xung quanh mình một cách tiêu cực. Chị có nghị lực, tính khí mạnh mẽ, nhưng xấu chơi, hay thay đổi và không thông cảm với lối sống bảo thủ của quân đội, mà chị cho là đã giam cầm tất cả chúng tôi. Chị có cuộc sống riêng của mình, ngang ngạnh và sẵn sàng sống tự do, buông thả ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào có thể. Chị ghét trường trung học và khi chúng tôi sống ở thủ đô Washington, chị thường trốn học để đi bảo tàng Smithsonian, bảo tàng quân y hoặc đơn giản chỉ là đi uống bia hay hút thuốc với bạn bè.

Chị bực bội với tôi, vì nghĩ rằng tôi là đứa “được cưng chiều.” Chị cho rằng tôi, một đứa em gái quá dễ kết bạn và dễ hoàn thành bài vở ở trường, đang có cuộc sống quá dễ chịu mà chẳng cần phải vất vả gì nhiều và được bảo vệ nhờ cái nhìn lạc quan ngớ ngẩn về con người và cuộc sống. Đứng giữa anh tôi, một vận động viên năng khiếu và luôn đạt điểm tối đa trong những năm đại học, và tôi, một người về cơ bản là ham học, nhiệt tình tham gia thể thao và các hoạt động với bạn bè và trường lớp, chị trở thành một người bướng bỉnh, chống lại cái mà chị cho là một thế giới khó khăn và vất vả. Chị căm ghét cuộc sống của quân đội, căm ghét việc phải thường xuyên di chuyển và luôn phải kết bạn với những người mới. Chị cho rằng phép lịch sự trong gia đình chỉ là đạo đức giả.

Có lẽ nhờ tôi không phải vật lộn chống lại tâm trạng u ám trong mình cho tới tận khi tôi trưởng thành nên tôi đã có một khoảng thời gian khá dài sống trong những điều tốt đẹp, ít bị đe dọa và đối với tôi, đó là một thế giới tuyệt vời. Tôi nghĩ chị tôi đã không bao giờ biết đến thế giới này. Đối với tôi, phần lớn khoảng thời gian dài và quan trọng của thời thơ ấu và những năm đầu của thời thiếu nữ là rất hạnh phúc. Nó tạo thành nền tảng nhiệt tình, thân thiện và tin cậy vững chắc trong tôi. Nó là tấm bùa hộ mệnh đầy uy lực, một sức mạnh tích cực và hiệu nghiệm giúp tôi chống lại những điều bất hạnh sau này. Chị tôi đã không có được những năm tháng ấy và cũng không có được tấm bùa hộ mệnh như thế. Có lẽ vì thế mà không có gì đáng ngạc nhiên khi tôi và chị tôi cùng phải đối mặt với những khó khăn của riêng mình, thì chị tôi coi những điều tồi tệ ấy là từ bên trong, như một phần của chính cuộc đời chị, một phần của gia đình và thế giới, còn tôi thì lại coi đó như là một thứ ngoại lai, một thế lực từ bên ngoài đang tuyên chiến với bản chất tự nhiên của tôi.

Giống như bố tôi, chị tôi lẽ ra phải là một người duyên dáng, với những nét tươi tắn, độc đáo và rất dí dỏm. Chị cũng được Trời phú cho khiếu thẩm mỹ tuyệt vời. Chị không phải là người dễ dãi, hay gặp những điều rắc rối. Những rắc rối của chị cứ lớn dần theo tuổi tác. Tuy nhiên, chị lại có trí tưởng tượng và tâm hồn rất nghệ sỹ. Chị có thể chọc giận và kích động bạn tới mức khó có thể chịu đựng nổi. Dù vậy tôi vẫn luôn cảm thấy như mình là một phần của thế giới giận dữ trong chị.

Bố tôi thì mỗi khi can dự vào chuyện gì là như bị hút vào việc đó. Ông là một người sôi nổi, vui vẻ và thích tìm hiểu mọi chuyện và có khả năng miêu tả những nét đẹp và những hiện tượng của thế giới tự nhiên một cách rất thú vị và độc đáo. Đối với ông, một bông tuyết không bao giờ chỉ là một bông tuyết, và một đám mây không phải chỉ là một đám mây. Chúng trở thành những sự kiện, những nhân vật và một phần của vũ trụ đáng yêu và kỳ dị. Khi có thời gian, và vào lúc ông cao hứng, sự phấn khích trong ông dường như nhiễm sang mọi thứ. Âm nhạc sẽ tràn ngập ngôi nhà và một đồ trang sức mới tuyệt diệu nào đó sẽ xuất hiện, có thể đó là một chiếc dây chuyền bằng đá trắng, một chiếc vòng tay bằng hồng ngọc mài, hay một chiếc mặt dây chuyền hợp mốt bằng đá màu xanh nước biển nằm giữa vòng vàng. Khi đó tất cả chúng tôi thường sẵn sàng lắng nghe, vì biết rằng chúng tôi sắp được nghe một bài diễn thuyết dài về điều đã làm cho ông hứng khởi. Đôi khi, đó là một bài thuyết trình về niềm tin cho rằng tương lai và sự cứu rỗi của thế giới này được tìm thấy trong một chiếc cối xay gió. Đôi khi, đó là lời giải thích rằng cả ba anh em chúng tôi nên học tiếng Nga, chỉ bởi vì thơ Nga quá hay.

Một lần, bố tôi đọc ở đâu đó nói rằng George Bernard Shaw có nguyện vọng dành số tiền của mình vào việc phát triển hệ ngữ âm quốc tế và ông yêu cầu vở Androcles và con hổ phải là vở kịch đầu tiên của ông được chuyển ngữ. Thế là sau đó, tất cả chúng tôi và những người bay cùng với bố tôi đã được nhận những cuốn Androcles. Người nhà tôi đồn rằng bố đã mua tới gần một trăm cuốn sách ấy để phân phát cho mọi người. Tính tình cởi mở của ông, mà tôi rất yêu thích, rất dễ lan sang mọi người. Cho tới tận bây giờ tôi vẫn phải mỉm cười mỗi khi nhớ tới việc bố tôi đọc to đoạn Androcles chữa trị vết thương ở vuốt hổ, còn những người lính thì hát to “Ném chúng cho hổ”, dựa theo điệu nhạc của “Tiến lên, Những người lính của Chúa”. Thỉnh thoảng bố tôi cũng diễn thuyết về tầm quan trọng sống còn của việc phiên âm quốc tế ngữ. Cho tới tận ngày nay tôi vẫn giữ một con ong nghệ to bằng sứ trong văn phòng của mình và nó cũng làm cho tôi phải bật cười mỗi khi nhớ tới cảnh bố tôi nhấc nó lên, đổ mật ong đầy đến miệng, rồi làm động tác cho nó bay trên không, giống như hàng loạt kỹ thuật bay phản lực khác nhau, trong đó có cả kiểu bay vòng xoắn mà bố tôi yêu thích và khá thành thục. Tất nhiên khi con ong bay chúc đầu xuống, thì mật ong trong đó đổ tràn lên bàn ăn. Mẹ tôi lại gào lên: “Ông tướng ơi, sao lại thế? Anh đang đầu têu cho bọn trẻ bắt chước đấy”. Chúng tôi khúc khích cười tán thưởng và mỗi lần như thế, con ong thế nào cũng bay thêm vài phút nữa.

Điều đó thực sự làm cho bố tôi thích thú. Nhiều năm sau, bố tôi tặng tôi một chiếc vòng tay, trên đó khắc câu nói của Micheal Faraday. Câu nói này cũng được khắc trong toà nhà vật lý của Trường Đại học UCLA: “Không có gì là quá phi thường tới mức không thể trở thành sự thật”. Ai cũng biết Faraday có rất nhiều phát minh, nhưng câu nói này của ông lại không chính xác. Dù vậy, tư tưởng trong câu nói này lại rất đáng yêu và cũng rất giống với tâm trạng của bố tôi mỗi khi ông phấn khích. Mẹ tôi nhiều lần nói rằng bà luôn cảm thấy bà chỉ là cái bóng của sự hóm hỉnh, hấp dẫn, say mê và đầy trí tưởng tượng của bố tôi. Bà nhận thấy rằng bố tôi có sức lôi cuốn kỳ lạ đối với bạn bè của tôi và những đứa trẻ hàng xóm của chúng tôi. Tuy nhiên, mẹ tôi luôn là người bạn tâm tình để bạn bè tôi có thể ngồi xuống trò chuyện. Tóm lại chúng tôi chơi với bố, nhưng nói chuyện với mẹ.

Mẹ tôi có một niềm tin tuyệt đối rằng trong cuộc sống điều quan trọng không phải là người ta được chia những con bài nào, mà là chơi những con bài đó như thế nào. Bà là con bài cao nhất mà tôi được chia. Bà là người tốt bụng, thẳng thắn và độ lượng. Bà là người rất tự tin, một sự tự tin được ông bà ngoại tôi nâng niu và chăm sóc. Bản thân ông bà ngoại tôi cũng là những người tốt bụng, thẳng thắn và độ lượng. Ông ngoại tôi qua đời trước khi tôi sinh ra. Ông là giáo sư đại học, mặc dù ông vốn được đào tạo để trở thành nhà vật lý. Xét dưới mọi khía cạnh, ông là một người hóm hỉnh và rất tốt bụng với cả các học trò lẫn đồng sự của mình. Bà ngoại tôi là một phụ nữ nồng hậu và chăm lo mọi việc. Giống như mẹ tôi, bà rất quan tâm tới mọi người, vì thế bà rất dễ kết bạn và có khả năng tuyệt vời trong việc làm dịu mối bận tâm của người khác. Mọi người bao giờ cũng tìm đến với bà, cũng như với mẹ tôi vậy, và họ không bao giờ bị từ chối nói chuyện vì lý do thiếu thời gian hay bận rộn.

Bà ngoại tôi không phải là một trí thức. Khác với ông tôi, người vẫn dành rất nhiều thời gian cho việc đọc sách, và đọc đi đọc lại nhiều lần các tác phẩm của Shakespeare và Twain, bà tham gia các câu lạc bộ. Là một người có năng khiếu tổ chức, bà luôn được bầu làm chủ tịch của bất cứ câu lạc bộ nào mà bà tham gia. Bà là một người bảo thủ, xét dưới nhiều góc độ, là thành viên của đảng Cộng hoàn thành viên của Hội Con gái các nhà cách mạng Mỹ và thích tham gia hội uống trà. Bố tôi không thích những chuyện này. Tuy nhiên, bà là một người hiền lành và kiên định. Bà thích mặc quần áo hoa, sơn móng tay và người lúc nào cũng nức mùi xà phòng thơm. Bà là một người nhân hậu, một người tuyệt vời.

Mẹ tôi, một người cao, gầy và xinh, luôn được mọi người yêu mến cả ở trong trường phổ thông lẫn trường đại học. Những bức ảnh trong album của bà cho thấy bà là một người hạnh phúc, thường được bạn bè vây quanh, chơi tennis, bơi, đánh kiếm, cưỡi ngựa và tham gia các hoạt động của hội nữ sinh. Bà có vẻ hơi kênh kiệu trong những bức ảnh chụp cùng những anh bạn khá đẹp trai. Những bức ảnh ấy được chụp vào những thời khắc khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng chúng đều cho thấy bà đã có một quãng đời rất thoải mái. Những bức ảnh ấy không hề báo trước những điều không may, không hề có nét u sầu hay phiền muộn và cũng không hề có dấu hiệu của một nội tâm không ổn định. Bà tin rằng nếu có một điềm báo nào đó thì nó phải thể hiện qua những bức ảnh ấy, cũng như bắt nguồn từ các thế hệ trước của bà, những người vốn tin cậy, kiên định, đáng trân trọng và có cuộc sống suôn sẻ.

Hàng thế kỷ ổn định ấy tích tụ trong gian của bà chỉ giúp bà phần nào trong việc chuẩn bị đối phó với những bất ổn và khó khăn mà mẹ tôi phải đương đầu khi rời ngôi nhà của ông bà ngoại để bắt đầu cuộc sống gia đình riêng. Tuy nhiên, chính với đức tính kiên định và quyết tâm giải quyết mọi việc, với tình yêu vô bờ và khả năng tuyệt vời trong việc học hỏi, lắng nghe và sẵn sàng thay đổi, mẹ tôi đã giúp tôi vượt qua những năm tháng đau đớn và đầy ác mộng sau này. Chắc chắn là bà không thể hình dung ra những khó khăn khi phải đương đầu với bệnh điên. Bà, cũng như tất cả chúng tôi, không ai sẵn sàng để đối phó với bệnh điên cả. Tuy nhiên, với tình yêu và lòng tốt bụng, bà đã đối phó với căn bệnh của tôi với tất sự đồng cảm và trí thông minh.

Cả bố và mẹ tôi cùng khuyến khích sở thích làm thơ, viết các vở kịch ở trường, theo đuổi khoa học và ngành y của tôi. Không ai ngăn cản những ước mơ của tôi và họ rất tinh tế trong việc nói cho tôi biết sự khác biệt của các giai đoạn mà tôi cần phải quyết tâm hơn để vượt qua. Tuy nhiên, trong hầu hết các giai đoạn tôi thường được họ khoan dung và nhân nhượng. Nhờ được hưởng tình yêu nồng nàn và mạnh mẽ này, mà tôi đã nghĩ rằng chúng tôi cần phải nuôi một con lười, như là một con vật yêu quý trong nhà. Mẹ tôi không nhiệt tình lắm với ý định nuôi một con vật hoang dã trong nhà. Bố tôi thì thuyết phục tôi tìm hiểu thêm sách khoa học và sách hướng dẫn về con lười. Ông gợi ý rằng, ngoài việc tìm hiểu những thông tin cụ thể về nhu cầu ăn uống, không gian cần thiết để lười sinh sống và những bệnh tật hay mắc của nó, tôi cũng nên viết một số bài thơ về con lười và những bài luận văn về nó, thiết kế nơi nuôi nó trong ngôi nhà của chúng tôi và viết ra những chi tiết về hành vi của con lười trong vườn bách thú. Ông nói, nếu tôi làm được tất cả những việc ấy, bố mẹ sẽ xem xét việc tìm mua cho tôi một con lười.

Tôi tin rằng cả hai người đều biết đây chỉ là ý tưởng kỳ quặc của tôi mà thôi và nếu tạo được cho tôi cách khác để thể hiện lòng nhiệt tình của mình, thì có thể tôi sẽ không đòi hỏi nữa. Tất nhiên là họ đã đúng và điều này chỉ đẩy tôi tới chỗ phải quan sát kỹ hơn những con lười trong vườn bách thú mà thôi. Tôi chưa từng gặp bất cứ điều gì buồn chán hơn là ngắm nghía một con lười, ngoại trừ xem môn thể thao cricket hay theo dõi cuộc họp của Ủy ban Phân bổ Ngân sách Hạ viện trên kênh truyền hình C-SPAN. Và tôi chỉ cảm thấy dễ chịu khi trở về với thế giới của con chó tôi đang nuôi.

Tuy nhiên, niềm say mê y học của tôi là bền vững hơn và bố mẹ tôi cũng khuyến khích tôi trong việc này. Khi tôi khoảng 12 tuổi, họ mua về cho tôi công cụ giải phẫu, một chiếc kính hiển vị và cuốn Thuật giải phẫu của Gray. Cuốn sách này rất phức tạp, nhưng nó giúp tôi hình dung ra y học thực tế ra sao. Thế là chiếc bàn bóng bàn trong tầng hầm trở thành phòng thí nghiệm của tôi và chiều nào tôi cũng miệt mài ở đó mổ xẻ những con ếch, cá, giun và rùa. Chỉ đến khi tôi chuyển sang nghiên cứu những loài động vật cao hơn và được người ta cho một bào thai lợn, mà cái mõm nhỏ bé và bộ lông của nó cuối cùng đã làm cho tôi mệt lả, tôi mới chịu chia tay với thế giới phẫu thuật. Các bác sỹ trong bệnh viện Căn cứ không quân Andrew, nơi tôi làm tình nguyện viên giúp việc cho nữ hộ sinh vào những ngày cuối tuần, đã đưa cho tôi những con dao mổ, kẹp cầm máu, một số thứ khác nữa và cả những ống máu để tôi nghiên cứu thí nghiệm ở nhà. Điều quan trọng hơn là họ đã đón nhận tôi và cả sở thích của tôi một cách rất nghiêm túc. Họ chưa bao giờ làm cho tôi mất hứng thú trở thành bác sỹ, cho dù vào thời ấy, phụ nữ thường chỉ làm y tá. Họ cho tôi đi cùng để quan sát và thậm chí trợ giúp họ trong những ca phẫu thuật đơn giản. Tôi quan sát kỹ việc họ khâu vết thương, thay băng và lấy dịch tủy ở sống lưng. Tôi giữ dụng cụ, theo dõi vết thương và đã một lần được phép tự tay tháo chỉ khâu cho một bệnh nhân mổ ở vùng bụng.

Tôi tới bệnh viện từ rất sớm và trở về rất muộn, mang theo những cuốn sách và biết bao câu hỏi trong đầu: Nếu trở thành sinh viên y khoa thì sẽ ra sao? Khi sinh con thì thế nào nhỉ? Khi sắp chết thì thế nào? Tôi rất quan tâm tới những điều này, bởi vì một trong các bác sỹ đã cho phép tôi tham gia một phần của ca mổ tử thi, một việc kỳ lạ và khủng khiếp. Tôi đứng cạnh chiếc bàn mổ tử thi, cố gắng không nhìn vào thi thể nhỏ bé trần như nhộng của một đứa trẻ, nhưng không thể cưỡng lại nổi. Căn phòng sặc mùi khí ngửi. Chỉ có tiếng nước chảy và bàn tay thoăn thoắt của bác sỹ nghiên cứu bệnh học mới làm cho tôi lãng quên một chút. Cuối cùng, để tránh phải nhìn vào những gì tôi đang thấy, tôi tự đặt cho mình hết câu hỏi này đến câu hỏi khác và tự trả lời. Tại sao nhà nghiên cứu bệnh học lại thực hiện vết cắt này? Tại sao ông đeo găng tay? Những phần của cơ thể được cắt ra ấy sẽ đưa đi đâu? Tại sao có những bộ phận nặng, bộ phận khác lại nhẹ?

Lúc đầu đó chỉ là cách để tôi né tránh những điều khủng khiếp đang diễn ra trước mắt mình, nhưng sau đó, trí tò mò đã trở thành một động lực trong tôi. Tôi bắt đầu tập trung vào các câu hỏi và không nhìn vào thi thể đang bị mổ xẻ nữa. Kể từ đó, cũng như hàng nghìn lần sau này, trí tò mò đã đưa tôi đến chỗ tuy không hoàn toàn kiểm soát được cảm xúc của mình, nhưng nó đã cùng với những suy nghĩ khoa học, giúp tôi tạo ra được một khoảng cách cần thiết để xoay xở, làm chệch hướng sự chú ý, suy ngẫm và tiếp tục đi lên. 

Năm 15 tuổi, tôi cùng với nhóm tình nguyện viên trong bệnh viện đi St. Elizabeths, thăm bệnh viện tâm thần của liên bang ở thủ đô Washington. Chuyến đi ấy đã để lại trong tôi nỗi sợ hãi hơn nhiều so với khi chứng kiến mổ tử thi. Ngồi trên xe buýt đến bệnh viện, tất cả chúng tôi đều bồn chồn. Chúng tôi rúc rích cười và đưa ra những nhận xét rất tế nhị đối với nữ sinh, chỉ nhằm làm dịu đi nỗi băn khoăn của chúng tôi về những gì chưa biết và những gì mà chúng tôi tưởng tượng ra về thế giới của những người điên. Chúng tôi lo sợ về những người lạ lẫm, về bạo lực có thể xảy ra và cả những hành vi của những người hoàn toàn mất khả năng kiểm soát. “Mọi người rồi cũng đến St. Elizabeths cả thôi”, một người bạn của chúng tôi nói và mặc dù tôi không có bất cứ lý do gì để nghĩ rằng mình không minh mẫn, nhưng một nỗi sợ vô hình đã bắt đầu hiện lên trong trí óc tôi. Cuối cùng tôi bị rơi vào một cảm xúc thật khủng khiếp. Mặc dù thỉnh thoảng tâm trạng này mới bùng lên, nhưng mỗi khi xuất hiện, nó lại làm cho tôi hoảng sợ. Đó chỉ là một vết nứt, nhưng rất tồi tệ, giống như vết nứt trên vỏ bình chân không, trong cách hành xử của tôi. Chỉ có Chúa mới biết điều gì đang diễn ra dưới lớp vỏ hành xử nghiêm túc và kiềm chế theo đúng những gì được dạy dỗ của tôi. Tuy nhiên, tôi biết rằng vết nứt đã xuất hiện và điều đó làm cho tôi hoảng sợ.

Bản thân bệnh viện không phải là quá dữ tợn như tôi hình dung. Sân bệnh viện rất rộng, khá đẹp và có nhiều cây to. Từ một vài điểm, người ta có thể nhìn thấy phong cảnh thành phố, dòng sông và những ngôi nhà mang dáng vẻ thanh lịch của miền Nam được xây từ trước nội chiến, mà có thời chúng là một phần của thủ đô Washington. Tuy nhiên, khi bước vào các khoa, cảm giác các công trình quý phái và phong cảnh đẹp đẽ vừa tạo ra ấy đã hoàn toàn biến mất. Những hình ảnh, âm thanh rùng rợn và mùi hôi hám mất vệ sinh đã ngay lập tức ập tới. Ở Andrew, tôi thấy có nhiều y tá trong các khoa điều trị và phẫu thuật, nhưng y tá trưởng dẫn chúng tôi đi tham quan cho biết, ở St. Elizabeths mỗi nhân viên phải phụ trách tới 90 bệnh nhân tâm thần. Sửng sốt trước việc một người phải quản lý quá nhiều bệnh nhân có thể gây bạo lực bất cứ lúc nào, tôi liền hỏi làm thế nào để các nhân viên bệnh viện có thể tự bảo vệ mình. Bà y tá trưởng cho biết hầu hết bệnh nhân có thể kiểm soát được bằng thuốc, nhưng khi cần người ta phải trói họ lại. “Trói họ lại?”! Làm sao người ta lại có thể bị mất khả năng kiểm soát tới mức phải bị kiềm chế bằng hình thức dã man đến thế? Điều ấy cứ ám ảnh tôi mãi.

Tệ hại hơn nữa, khi chúng tôi bước vào phòng công cộng của khoa bệnh nhân nữ, các đứng lặng nhìn chúng tôi, với những dáng vẻ kỳ bệnh nhân trong những bộ quần áo kỳ quái, dị, tiếng giậm chân bồn chồn, những tiếng cười lạ lẫm và thỉnh thoảng cả những tiếng thét xé lòng. Một phụ nữ đứng như một con cò, một chân co lên, cười rúc rích một mình rất ngớ ngẩn trong suốt thời gian tối ở đó. Một bệnh nhân khác, mà có thời chắc phải rất xinh đẹp, đứng ở giữa phòng công cộng nói chuyện một mình, hết tết vào rồi lại tháo ra mái tóc dài, hung đỏ của mình. Đôi mắt lanh lợi của chị theo dõi rất nhanh mọi cử động của bất kỳ ai có ý định tiến đến gần chị. Lúc đầu chỉ làm cho tôi sợ, nhưng chị cũng kích thích trí tò mò của tôi. Tôi từ từ tiến đến gần chị. Cuối cùng, sau khi đứng cách chị gần một mét trong vài phút, tôi lấy hết can đảm hỏi tại sao chị lại phải vào viện. Lúc đó, tôi liếc qua khoé mắt và thấy tất cả các tình nguyện viên đã túm lại nói chuyện với nhau ở một góc xa của căn phòng. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết định đứng nguyên đó với chị. Trí tò tò đã chiến thắng nỗi sợ hãi trong tôi.

Nữ bệnh nhân ấy nhìn khắp người tôi khá lâu. Sau đó, chị quay mặt đi để khỏi phải nhìn thẳng vào tôi và giải thích lý do chị phải vào St. Elizabeths. Chị nói, bố mẹ chị đã nhét một cỗ máy bắn bi vào đầu chị, khi chị mới năm tuổi. Viên bị đỏ cho chị biết khi nào thì nên cười, viên bị xanh thì nhắc chị khi nào cần im lặng và tránh xa mọi người, còn viên bi màu xanh lá cây thì mách chị phải nhận mọi thứ với ba. Cứ vài ngày, viện bi bạc lại chui được vào cỗ máy. Nói đến đây chị quay đầu lại nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi nghĩ có lẽ chị muốn kiểm tra xem tôi có còn nghe chị nói hay không. Tất nhiên là tôi vẫn đang lắng nghe. Làm sao lại có thể không được chứ? Toàn bộ câu chuyện nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng có cái gì đó ẩn chứa ở phía sau. Tôi hỏi chị, viên bị bạc có nghĩa gì? Chị nhìn tôi chăm chú, rồi tất cả dường như chết cứng trong con mắt của chị. Đôi mắt chị mơ màng nhìn vào khoảng không, như trở lại với thế giới nội tâm của mình. Thế là tôi không bao giờ biết được viên bi bạc có nghĩa gì đối với chị.

Mặc dù như bị thôi miên, tôi vẫn hoảng sợ trước những hành vi kỳ dị của các bệnh nhân và bầu không khí khủng khiếp trong căn phòng.

Tuy nhiên, mạnh hơn cả nỗi sợ hãi ấy là nỗi đau. biểu lộ qua ánh mắt của người phụ nữ ấy. Trong tôi, có một cái gì đó xuất hiện theo bản năng và thật kỳ lạ, tôi hiểu được nỗi đau ấy. Tôi không thể hình dung được rằng tới một ngày nào đó, tôi lại nhìn thấy nỗi buồn và sự điên rồ của họ trong chính mắt mình qua gương.

Trong suốt thời thiếu nữ, tôi may mắn được mọi người, không chỉ có bố mẹ tôi và các bác sỹ ở Andrew, mà cả bạn bè của bố mẹ tôi nữa, đã khuyến khích nguyện vọng theo ngành y và khoa học của tôi. Hầu hết các gia đình trong Đội Khí tượng Không quân được bố trí ở ngay trong căn cứ quân sự và một gia đình ở sát căn hộ của chúng tôi đã có quan hệ rất gần gũi với gia đình tôi. Chúng tôi đi cắm trại cùng với nhau, đi nghỉ cùng với nhau, thuê chung người phục vụ và cả mười người chúng tôi vẫn thường cùng nhau kéo đến rạp xem phim, đi ăn tối, tới dự tiệc hay đến Câu lạc bộ sỹ quan. Hồi trẻ, anh tôi, chị tôi và tôi vẫn chơi trò trốn tìm với ba cậu con trai của họ. Khi lớn lên, chúng tôi cùng chơi bóng chày, đến lớp học khiêu vũ, túm tụm ăn uống với nhau và cùng tổ chức những bữa tiệc ngoài trời. Khi trưởng thành, tất nhiên chúng tôi mỗi người mỗi  ngả, nhưng trong suốt thời niên thiếu, chúng tôi luôn đi cùng nhau, ở Washington rồi Tokyo và sau đó trở lại Washington. Mẹ của họ là một phụ nữ Ailen, có mái tóc đỏ, và theo đạo Thiên Chúa. Bà nhiệt tình, vui vẻ, sôi nổi, tự lập và thực tế. Bà đã mang lại cho tôi gia đình thứ hai. Tôi có thể ra vào nhà họ bất cứ lúc nào, như nhà mình vậy, ở lại đó bao lâu tùy thích, để tận hưởng mùi bánh nướng và bánh táo, để sưởi ấm, để cười, và để nói chuyện hàng giờ liền. Bà và mẹ tôi thực sự là những người bạn tốt nhất của nhau. Tôi luôn có cảm giác như mình là một đứa con của bà vậy. Bà là một y tá. Bà chăm chú lắng nghe tôi kể lể dài dòng về những kế hoạch to lớn của mình, nào là học ở trường y, viết sách và nghiên cứu. Thỉnh thoảng bà lại chen vào một câu, đại loại như “Đúng, đúng, rất hay”, “Tất nhiên là cháu có thể” hay “Đã bao giờ cháu nghĩ tới...?”. Không bao giờ bà nói với tôi những câu đại loại như “Bác không nghĩ cháu có thể thực hiện được điều đó”, hay “Tại sao cháu không chờ xem tình hình ra sao đã?”.

Chồng bà, một nhà toán học và khí tượng học, cũng rất chu đáo. Ông luôn hỏi tôi bài tập gần đây nhất là gì, tôi đang đọc cuốn sách gì, con vật mà tôi vừa mổ xẻ là gì và tại sao. Ông nói chuyện với tôi một cách rất nghiêm túc về khoa học và y học và luôn khuyến khích tôi đi càng xa càng tốt trong thực hiện các kế hoạch hay ước mơ của mình. Giống như bố tôi, ông rất yêu khoa học tự nhiên. Bằng cách của riêng mình, ông có thể giải thích rất dài về lý do tại sao vật lý, triết học và toán học lại có thể làm cho các bà vợ phải ghen tị, vì không được chồng toàn tâm yêu thương và chăm sóc. Chỉ đến bây giờ, khi nhìn lại - với những trải nghiệm trong những năm sau này của cuộc đời, khi người ta khuyên tôi hạ thấp ước vọng, hay kiềm chế bớt sự nhiệt tình của mình - tôi mới hiểu đầy đủ ý nghĩa thái độ nghiêm túc của bố mẹ tôi và bạn bè của họ đối với những ý tưởng của tôi. Cũng chỉ đến bây giờ tôi mới hiểu được những ý tưởng và lòng nhiệt tình của tôi, không chỉ được tôn trọng, mà còn được khuyến khích, đã có ý nghĩa quan trọng tới mức nào đối với tri thức và tâm hồn tôi. Đối với những người có tính tình sôi nổi, ước mơ của họ rất dễ bị bóp chết nếu không được quan tâm. Tôi thật may mắn khi được lớn lên giữa những người luôn biết khuyến khích người khác. Vì thế nói chung là tôi rất hài lòng với cuộc sống của mình. Tôi đã có những người bạn vĩ đại, một cuộc sống đầy ắp những hoạt động như bơi, cưỡi ngựa, chơi bóng chày, tiệc tùng, những người bạn trai, những mùa hè ở Chesapeake và mọi sự khởi đầu tốt đẹp khác của cuộc đời. Tuy nhiên, giữa tất cả những điều ấy, tôi cũng dần nhận ra rằng một người con gái mạnh mẽ và trong chừng mực nào đó là đồng bóng như tôi, là không phù hợp lắm với thế giới mang nặng tính truyền thống của quân đội. Tính độc lập, sôi nổi và yểu điệu thục nữ dường như là không thích hợp lắm. Người ta cho rằng con cái của các sỹ quan phải biết cư xử khéo léo, phải biết khiêu vũ, đeo găng tay trắng và phải đáp ứng một số tiêu chuẩn không thực tế khác nữa. Người ta cũng cho rằng bọn trẻ cần phải học, cứ như là trước tuổi 14-15 chúng chẳng biết chuyện gì rõ ràng cả, để biết rằng cấp tướng cao hơn cấp đại tá, đại tá cao hơn thiếu tá, đại úy và trung úy, và tất cả mọi người, vâng tất cả mọi người, đều trên trẻ con. Còn trong đám trẻ con, thì bọn con trai trên con gái.

Một trong những lí do nhồi sọ vào đầu bọn con gái thứ tự phân hạng khó chịu này là để dạy cho chúng biết nghệ thuật nhún gối cúi chào cổ lỗ sĩ và vô lý. Thật khó có thể tưởng tượng được một người con gái có đầu óc minh mẫn nào lại có thể chịu đựng được việc nhún gối cúi chào. Do thừa hưởng cách giáo dục tự do của người bố có quan điểm và lối sống không theo khuôn phép, nên tôi rất bất ngờ khi được yêu cầu một cách nghiêm túc phải học cách nhún gối cúi chào. Đó là điều ngoài sức tưởng tượng của tôi. Tôi đứng nhìn một hàng dài bọn con gái mặc váy phồng lần lượt thực hiện động tác nhún gối cúi chào một cách thuần thục. Đàn cừu, tôi nghĩ, đúng là giống như một đàn cừu. Rồi đến lượt tôi. Một cái gì đó trong tôi như sôi lên. Tôi đã nhiều lần nhìn thấy quá nhiều đứa con gái phải thể hiện sự phục tùng. Điện tiết hơn nữa là tôi đã quá nhiều lần nhìn thấy quá nhiều đứa con gái sẵn sàng chấp nhận nghi thức phục tùng ấy. Tôi từ chối. Trong những thế giới khác, đó có thể chỉ là chuyện nhỏ, nhưng trong thế giới của những tập quán và nghi lễ quân đội - nơi cấp hàm và chấp hành là tất cả và thái độ cư xử không đúng mực của con cái có thể ảnh hưởng xấu tới cơ hội thăng tiến của người cha - thì hành động của tôi là một lời tuyên chiến. Từ chối yêu cầu của người lớn, cho dù đó là yêu cầu ngớ ngẩn, cũng là không thể chấp nhận được. Cô Courtnay, giáo viên dạy khiêu vũ của chúng tôi, quắc mắt. Tôi vẫn từ chối. Cô nói, cô tin rằng Đại tá Jamison (bố tôi) sẽ rất không hài lòng vì việc này. Tôi nói, tôi cũng tin rằng Đại tá Jamison sẽ không quan tâm tới chuyện này. Tôi đã sai. Đại tá Jamison lại quan tâm tới chuyện này. Mặc dù ông nghĩ rằng việc dạy bọn con gái phải nhún gối cúi chào các sỹ quan và phu nhân của họ là vô lý, nhưng ông rất quan tâm tới việc tôi đã tỏ ra thô lỗ với người khác. Tôi xin lỗi. Sau đó bố tôi và tôi thỏa hiệp với nhau về động tác nhún gối cúi chào, đó là tôi có thể khẽ nhún gối và hơi thấp mình xuống một chút. Đó là giải pháp tốt và cũng là một trong những cách giải quyết khéo léo đặc trưng của bố tôi trong những tình huống khó xử.

Tôi không hài lòng với việc phải cúi chào, nhưng lại yêu thích vẻ đẹp trang nhã của bộ váy phồng, thích âm nhạc, thích khiêu vũ và yêu vẻ đẹp của những đêm vũ hội. Cho dù tôi thích độc lập đến đâu chăng nữa, thì cuối cùng tôi cũng nhận ra rằng tôi luôn bị lôi kéo vào thế giới truyền thống ấy. Người ta luôn có cảm giác an toàn đến tuyệt vời khi sống trong môi trường quân đội giữa những bức tường rào. Trong thế giới ấy, người ta trông đợi ở bạn rất nhiều, và rất ít lời bào chữa. Đó là một xã hội mà người ta tin một cách vô tư vào sự công bằng, danh dự, lòng dũng cảm và tinh thần sẵn sàng hi sinh vì đất nước. Quả thật là thế giới ấy đòi hỏi người ta phải trung thành, mà trong chừng mực nào đó là  mù quáng, coi đó như một điều kiện để trở thành thành viên của thế giới ấy. Tuy nhiên, nó cũng tha thứ, như bắt buộc phải thế, cho những thanh niên trẻ trung, mạnh mẽ, mà viển vông, những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro bằng chính cuộc sống của họ. Nó cũng tha thứ cho các nhà khoa học ít tuân theo những quy tắc xã hội. Nhiều người trong số họ là các nhà khí tượng học và hầu hết trong số họ cũng yêu thích bầu trời như những phi công vậy. Đó là một xã hội được xây dựng trên mâu thuẫn giữa lãng mạn và nguyên tắc. Đó là một thế giới phức tạp của sự phấn khích và tự mâu thuẫn, của cuộc sống vội vã và cái chết bất ngờ. Nó là một cửa sổ đưa người ta trở lại với lối sống của thế kỷ 19, với tất cả sự tốt đẹp và tệ hại nhất của nó, đó là nét văn minh, sự lịch thiệp, sự thông thái, nhưng không dung thứ cho bất cứ một nhược điểm nào của con người. Ở đó người ta phải sẵn sàng hy sinh ước vọng của riêng mình, phải tự kiểm soát được mình và phải biết kiềm chế.

Một lần mẹ tôi kể cho tôi nghe chuyện bà tới dự tiệc trà ở nhà viên sỹ quan chỉ huy của bố tôi. Một trong những vai trò của bà là nói với các cô vợ trẻ về mọi chuyện, từ phép xã giao, như làm thế nào để phục vụ một bữa tiệc tối chu đáo, cho  đến việc tham gia vào các hoạt động cộng đồng trong căn cứ không quân. Sau một hồi thảo luận về tất cả những vấn đề này, bà quay về với chủ đề thiết thực nhất. Bà nói, các phi công không bao giờ được bực tức hay khó chịu khi bay. Bực tức có thể dẫn tới lầm lẫn trong đánh giá tình hình hay mất tập trung. Khi đó tai nạn có thể xảy ra và phi công có thể bị chết. Vợ của các phi công không nên tranh cãi với chồng trước giờ họ bay. Vì thế, điềm tĩnh và kiềm chế không chỉ là đức tính nên có, mà còn rất cần thiết ở người phụ nữ.

Như mẹ tôi sau này nói, thật tệ hại khi lo mình bị ốm mỗi khi chồng leo lên máy bay. Nay bà lại được nhắc nhở rằng bà sẽ chịu một phần trách nhiệm nếu máy bay của chồng không may gặp nạn. Để chồng khỏi bị chết, mọi bực bội và bất bình của người phụ nữ phải được nén lại trong lòng mình. Quân đội vẫn thường dành cho các bà vợ lịch thiệp, quý phái và điềm đạm của mình vai trò to lớn hơn so với phần còn lại của xã hội.

Nếu trong những ngày tương đối bình lặng, với những đôi găng tay trắng và mũ rộng vành ấy, bạn nói với tôi rằng chỉ trong vòng hai năm nữa tôi sẽ bị rối loạn tâm thần và chỉ muốn chết, thì chắc chắn là tôi sẽ cười ngất và rất ngạc nhiên.

Sau đó, đúng vào lúc tôi bắt đầu quen với sự thay đổi và những nghịch lý của quân đội, và lần đầu tiên tôi cảm thấy gia đình tôi có lẽ sẽ sống lâu dài ở Washington, thì bố tôi xin nghỉ hưu và nhận một công việc, với tư cách là nhà khoa học, trong Tập đoàn Rand ở California. Đó là năm 1961, khi tôi 15 tuổi. Mọi thứ trong thế giới của tôi bắt đầu tan vỡ.

Ngày đầu tiên ở trường trung học Pacific Palisades - mà chương trình dành cho con cái của các quân nhân đã bị chậm lại vài tháng so với ngày khai trường của những học sinh khác - đã cho tôi thấy rằng cuộc sống của tôi sẽ hoàn toàn khác. Nó được bắt đầu bằng thủ tục thông thường đối với những học sinh chuyển trường, đó là tôi phải đứng trước lớp, toàn những khuôn mặt lạ lẫm, giới thiệu tóm tắt về mình trong ba phút. Việc này vốn đã khó ở các trường của con em quân nhân, nó lại càng trở nên ngớ ngẩn khi đứng trước nhóm người miền Nam California giàu có và vô tình. Ngay khi tôi giới thiệu bố tôi đã từng là một sĩ quan không quân, tôi nhận ra rằng có vẻ như tôi vừa giới thiệu ông là con chồn sương hay con sa giông Carolina vậy. Cả lớp lặng ngắt. Ở trường Pacific Palisades này chỉ có con cái của những người đang làm việc trong “ngành công nghiệp” (nghĩa là ngành làm phim), những người giàu có, các luật sư, các nhà doanh nghiệp hay các bác sỹ thành đạt, mới được công nhận mà thôi. Hiểu biết của tôi về “trường dân sự đã rõ nét hơn sau những tràng cười phá lên mỗi khi tôi nói “Vâng, thưa bà” và “Không, thưa ông với các thầy cô giáo.

Tôi cảm thấy như bị trôi dạt trong một khoảng thời gian khá dài. Tôi nhớ Washington khủng khiếp. Tôi đã để lại phía sau một người bạn trai và luôn cảm thấy bất hạnh khi không có anh. Anh có mái tóc vàng hoe, mắt xanh, hài hước và thích khiêu vũ. Chúng tôi đã hầu như không rời nhau trong những tháng trước khi tôi rời Washington. Tôi đã giới thiệu anh với gia đình và giống như hầu hết những người ở độ tuổi 15 khác, tôi tin rằng tình yêu của chúng tôi sẽ tồn tại mãi mãi. Tôi cũng để lại phía sau cuộc sống đầy ắp những bạn bè tốt, mối quan hệ gần gũi giữa các gia đình, tình người nồng ấm và những tiếng cười. Tôi cũng để lại phía sau những truyền thống của quân đội mà tôi đã biết và yêu quý và một thành phố mà tôi đã coi như quê hương. Quan trọng hơn nữa là tôi đã để lại phía sau lối sống nhà binh bảo thủ, mà tôi đã biết từ lâu. Tôi đã từng đi mẫu giáo, nhà trẻ và hầu hết những năm tiểu học ở các căn cứ không quân và lục quân. Những năm trung học cơ sở và trung học phổ thông của tôi ở Maryland, tuy không phải là trong căn cứ quân sự, nhưng học sinh ở đó chủ yếu là con cái của các nhà binh, quan chức chính quyền hay các nhà ngoại giao. Đó là một thế giới nhỏ, ấm cúng, không bị đe dọa và tách biệt. Đối với tôi, California hay ít nhất là ở trường Pacific Palisades, cuộc sống khá lạnh nhạt và hào nhoáng. Tôi gần như mất hết chỗ bấu víu. Mặc dù tôi đã cố gắng nhanh chóng hoà nhập với ngôi trường mới và kết bạn với những người bạn mới - mà cả hai việc này đối với tôi là khá dễ dàng sau biết bao lần chuyển trường - tôi vẫn cảm thấy vô cùng bất hạnh. Tôi thường ngồi khóc và dành nhiều thời gian để viết thư cho bạn trai. Tôi giận bố vì ông nhận việc ở California, thay vì ở lại Washington. Tôi mong ngóng những cú điện thoại hay những lá thư của bạn bè. Ở Washington tôi luôn là lãnh đạo lớp, hay đội trưởng của hầu hết những đội mà tôi tham gia. Ở đó tôi cũng hầu như không phải cạnh tranh nhiều lắm về học vấn, còn những bài tập về nhà thì chán ngắt, học vẹt và chẳng cần phải cố gắng gì nhiều. Trường trung học Palisades lại hoàn toàn khác. Các môn thể thao khác hẳn, mà tôi chẳng biết môn nào cả, và phải khá lâu sau tôi mới nhập cuộc được. Đáng ngại hơn nữa là sự cạnh tranh về học vấn rất gay gắt. Tôi bị tụt lại phía sau trong hầu hết các môn học. Lúc nào tôi cũng phải đuổi theo các bạn và tôi nghĩ có lẽ chẳng bao giờ tôi đuổi kịp họ. Một mặt, tôi phấn khởi vì được sống giữa những học sinh thông minh và đầy sức cạnh tranh, nhưng mặt khác, và đây là điều mới, nó cũng làm cho tôi xấu hổ và rất chán nản. Việc thừa nhận vốn kiến thức và khả năng rất hạn chế của mình là điều chẳng dễ dàng gì. Tuy nhiên, cuối cùng tôi cũng dần hoà nhập được với ngôi trường mới, thu hẹp dần khoảng cách kiến thức với các bạn và kết thân với những người bạn mới.

Cho dù thế giới mới này rất lạ lẫm đối với tôi, và tôi cũng lạ lẫm với nó, nhưng rồi tôi cũng tìm được cách làm quen với thế giới ấy. Sau những cú sốc ban đầu, tôi thấy hầu hết những gì trường đều đáng học hỏi, trong đó có cả những bài học ở ngay trong lớp của tôi. Tôi mê các cuộc thảo luận rất mạch lạc của các bạn trong lớp mới của tôi. Hầu hết các bạn đều có ít nhất một, thậm chí hai, ba bố dượng, hay mẹ kế, tùy theo số lần li dị trong gia đình. Các bạn tôi có nguồn tài chính rất đáng kể. Nhiều người đã quá quen thuộc với tình dục, tới mức họ có thể dạy tôi nhiều điều thú vị. Bạn trai mới của tôi, đang học đại học, dạy tôi nốt phần còn lại. Anh là sinh viên của trường UCLA, nơi tôi làm việc tình nguyện trong những ngày nghỉ cuối tuần ở khoa dược. Anh cũng là tất cả những gì mà tôi nghĩ là cần có vào thời điểm ấy. Anh nhiều tuổi hơn tôi, đẹp trai, chưa kết hôn, say mê tôi, có xe ô tô riêng và giống như người bạn trai trước của tôi, rất thích khiêu vũ. Mối quan hệ của chúng tôi kéo dài trong suốt những năm tôi học trung học và khi nhìn lại, tôi nghĩ đó là một cách để tôi thoát khỏi ngôi nhà của mình và thoát khỏi những điều rắc rối, giống như mọi cuộc tình lãng mạn khác.

Đó cũng là lần đầu tiên tôi biết WASP1*nghĩa là gì, lần đầu tiên tôi biết mình là một WASP và WASP là một sự pha trộn của cả những điều may mắn lẫn không may. Trước khi tới California tôi chưa bao giờ nghe thấy thuật ngữ này. WASP nghĩa là một người bảo thủ, hay nghiến răng, cứng nhắc, không có khiếu hài hước, lạnh lùng, vô duyên, chán ngắt và không sắc sảo lắm, nhưng lại làm cho mọi người phải ghen tị, vì một lý do không thể giải thích được nào đó. Khi ấy, cũng như cho tới tận ngày nay, đó vẫn là một khái niệm lạ lẫm đối với tôi. WASP trực tiếp góp phần tạo ra sự phân tách về mặt xã hội ở trong trường. Những ai thích ra bãi biển vào ban ngày và đi dạ hội vào ban đêm, thì có xu hướng WASP. Một nhóm khác, có vẻ hờ hững hơn và mệt mỏi hơn thì có xu hướng theo đuổi tri thức. Tôi dường như bị trôi giạt giữa hai thế giới này. Về cơ bản tôi thấy thoải mái trong cả hai thế giới ấy, nhưng vì những lí do khác hẳn nhau. Thế giới WASP tạo ra một mối liên hệ mong manh, nhưng quan trọng với quá khứ của tôi. Tuy nhiên, thế giới tri thức lại là thành phần ngày càng bền vững trong những trải nghiệm của tôi và tạo ra nền tảng vững chắc cho tương lai học vấn của tôi.

*WASP viết tắt từ chữ tiếng Anh White Anglo – Saxon Protestant theo từ điển Lạc Việt nghĩa là người Anglo – Saxon da trắng theo đạo Tin lành (BT).

Quá khứ đúng là quá khứ. Thế giới thoải mái của quân đội và Washington đã trôi qua. Mọi thứ đã thay đổi. Anh trai tôi đã vào đại học trước khi chúng tôi chuyển tới California, tạo ra một lỗ hổng lớn trong mạng lưới an toàn của tôi.

Mối quan hệ của tôi với chị gái, vốn luôn khó khăn, nay càng khó chịu, thường đối nghịch nhau và nói chung là xa lánh. Chị tôi gặp nhiều trở ngại hơn trong việc thích ứng với môi trường sống ở California, nhưng chúng tôi hầu như không nói với nhau về chuyện này. Chúng tôi sống theo cách riêng và với tất cả những khác biệt mà chúng tạo ra, chúng tôi dường như đang sống trong những ngôi nhà khác nhau. Bố mẹ tôi tuy vẫn sống với nhau, nhưng về cơ bản họ đã bắt đầu xa cách. Mẹ tôi bận rộn với việc dạy học, chăm sóc tất cả chúng tôi và theo chương trình đại học. Bố tôi thì suốt ngày bận rộn với công việc khoa học của ông. Tâm trạng phấn khởi của ông đôi khi vẫn trỗi dậy và mỗi lần như thế, sự sắc sảo và vui vẻ của ông lại tạo ra bầu không khí sôi nổi và ấm cúng cho cả ngôi nhà. Đã có lúc ông cao hứng và ý tưởng của ông bắt đầu đụng chạm tới những giới hạn mà tập đoàn Rand có thể cho phép. Ví dụ, đã có lúc ông đưa ra ý tưởng xác định hệ số thông minh của hàng trăm người, mà hầu hết là đã chết. Lý do đưa ra là có thể chấp nhận được, nhưng nó lại mang nặng tính cá nhân và hoàn toàn không liên quan gì đến nghiên cứu khí tượng, công việc mà ông được tập đoàn Rand trả tiền để thực hiện.

Khi mà khả năng bay của bố tôi bắt đầu giảm xuống, thì bóng tối u sầu trong ông bắt đầu bộc lộ, giống như những khoảng lặng giữa đoạn nhạc vui vậy. Chỉ trong một năm kể từ khi chúng tôi chuyển tới California, tâm trạng của bố tôi đã ủ ê đi nhiều và tôi cảm thấy bất lực vì đã không thể làm cho ông vui lên. Tôi chờ đợi sự trở lại của những tiếng cười, tâm trạng phấn khích và sự nhiệt tình đến cao độ của ông, nhưng trừ đôi lần tái hiện hiếm hoi ra, chúng đã phải nhường chỗ cho sự tức giận, thất vọng và lùi bước. Chỉ sau một thời gian, tôi bàng hoàng nhận ra một con người khác trong ông. Có những lúc ông phiền muộn tới mức không muốn làm gì nữa, không ra khỏi giường và có cái nhìn vô cùng bi quan về cuộc đời và tương lai. Đã có lúc cơn thịnh nộ và tiếng quát tháo của ông làm tôi hoảng sợ. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng bố tôi, một người thanh lịch và nói năng nhẹ nhàng, lại có thể quát to đến thế. Thế là bắt đầu những ngày, thậm chí hàng tuần, tôi cảm thấy sợ khi phải xuất hiện trong bữa sáng hoặc khi đi học về. Ông bắt đầu uống nhiều rượu và điều này đã làm cho mọi chuyện càng thêm tồi tệ. Giống như tôi, mẹ tôi cũng bắt đầu hoang mang và hoảng sợ. Thế là cả hai chúng tôi cùng tìm cách thoát ra khỏi cảnh này bằng cách dành nhiều thời gian hơn cho công việc và bạn bè. Thậm chí tôi còn chú ý nhiều hơn tới con chó của tôi. Gia đình tôi đã nuôi con chó lạc này khi chúng tôi sống ở Washington. Đi đâu tôi cũng cho nó đi theo. Tối cho nó ngủ trên giường với tôi và nó có thể lắng nghe tôi kể hàng giờ về những điều phiền muộn của mình. Giống như hầu hết những con chó khác, nó rất biết lắng nghe và nhiều đêm tôi đã khóc một mình, với đôi tay ôm cổ chó. Con chó ấy, cùng với người bạn trai của tôi và những người bạn khác đã giúp tôi vượt qua những sóng gió trong cuộc sống gia đình.

Không lâu sau đó, tôi phát hiện ra rằng không phải chỉ có bố tôi có tâm trạng ủ ê và không ổn định. Khi tôi 16-17 tuổi, tôi nhận thấy rằng sinh lực và sự phấn khích trong tôi có thể làm cho những người xung quanh phải mệt nhoài mới theo được, nhưng sau những tuần hứng khởi và ít ngủ, tâm trạng của tôi bỗng lao xuống phần tối tăm và ủ ê của cuộc đời. Hai người bạn thân nhất của tôi, cả hai đều là nam giới - khá hấp dẫn, hay nhạo báng, nhưng mạnh mẽ dường như cũng bị rơi vào góc tối hơn của cuộc đời. Chúng tôi bắt đầu trở thành bộ ba có nhiều rắc rối, cho dù chúng tôi cố xoay xở để có cuộc sống bình thường và vui vẻ ở trường. Cả ba chúng tôi đều đảm nhiệm những vai trò lãnh đạo khác nhau trong lớp, cùng tích cực tham gia thể thao và các hoạt động ngoại khoá của nhà trường. Trong những ngày đẹp trời, chúng tôi thường đi chơi với nhau như những người bạn thân. Chúng tôi cười đùa, rồi lại nghiêm trang, uống rượu và hút thuốc với nhau. Chúng tôi chơi suốt đêm và thảo luận sôi nổi với nhau về cuộc sống và những nguyên nhân dẫn đến cái chết. Chúng tôi cùng nghe nhạc của Beethoven, Mozart và Schumann. Chúng tôi trao đổi với nhau về thuyết hiện sinh của Hesse, Byron, Melville và Hardy. Cuối cùng, chúng tôi đã nói thật cho nhau nghe về những điểm tối trong lại lịch gia đình mình. Hai trong chúng tôi có người thân trong gia đình mắc bệnh hưng-trầm cảm, còn một người thì mẹ tự bắn vào tim. Cả ba chúng tôi cùng bắt đầu nhận thấy nỗi đau, mà sau này mỗi người trong chúng tôi đều biết rõ, đó là sự cô đơn. Đối với riêng tôi, nỗi đau ấy đã đến sớm hơn tôi tưởng.

Lần đầu tiên tôi bị mắc chứng hưng - trầm cảm là vào năm cuối của trường trung học phổ thông. Khi chứng trầm cảm xuất hiện, trí nhớ của tôi giảm đi rất nhanh. Lúc đầu, mọi chuyện dường như đơn giản. Tôi lao nhanh như một con chồn điên, hàng loạt kế hoạch nổi lên như bong bóng trong đầu, tâm trạng phấn khích, chơi thể thao rất hay, tỉnh táo suốt đêm, hết đêm này đến đêm khác, đi chơi với bạn bè, đọc bất cứ thứ gì, viết đầy sổ tay những bài thơ và những đoạn kịch và vạch ra hàng loạt kế hoạch viển vông cho tương lai. Thế giới tràn đầy hứng khởi và hy vọng. Tôi thấy thật tuyệt vời. Không chỉ cảm thấy tuyệt vời, tôi còn thấy thực sự tuyệt diệu nữa. Tôi có cảm giác rằng mình có thể làm bất cứ chuyện gì và không có nhiệm vụ nào là quá khó khăn cả. Đầu óc tôi minh mẫn, rất tập trung và có những bước nhảy đột biến về toán mà cho tới lúc ấy là vượt ra ngoài kiến thức toán của tôi. Thực tế là cho tới bây giờ tôi vẫn chưa đạt tới trình độ toán ấy. Vào lúc đó, không chỉ mọi thứ đối với tôi đều hoàn hảo, mà tôi còn bắt đầu năm bắt được những mối quan hệ vĩ đại của vũ trụ nữa. Sự say mê với những quy luật của thế giới tự nhiên như buộc tôi phải xì ra và tôi bỗng thấy mình hay níu kéo bạn bè lại để kể cho họ nghe về những vẻ đẹp của thế giới tự nhiên. Họ gần như sững sờ trước sự hiểu biết của tôi về vẻ đẹp và sự phức tạp của vũ trụ, nhưng họ cũng mệt mỏi với những câu chuyện huyên thuyên của tôi: Bạn nói nhanh quá, Kay. Chậm lại một chút nào, Kay. Bạn làm rách áo mình bây giờ, Kay. Chậm lại đi, Kay. Vào những lúc họ không nói ra, tôi vẫn nhận thấy điều ấy trong mắt họ: Lạy Chúa, chậm lại đi, Kay.

Cuối cùng tôi cũng chậm lại thật. Thực tế là đã phanh kít lại. Không giống như thời kỳ điên nặng và phát triển tới mức không kiểm soát được tâm thần vài năm sau đó, chứng điện nhẹ lần này của tôi chỉ thoảng qua và mang những nét đáng yêu của bệnh điên. Giống như hàng trăm lần phấn khích cao độ sau đó, thời gian mắc bệnh lần này ngắn và nhanh chóng tan biến. Có thể nó đã làm cho một số người bạn của tôi mệt mỏi và đương nhiên là làm cho tôi phấn chấn, mà kiệt sức, nhưng nó chưa làm đảo lộn quá mức. Sau đó, nền tảng tâm lý bắt đầu thoát dần ra khỏi cuộc đời và tâm trí tôi. Suy nghĩ của tôi không còn rõ ràng nữa và bắt đầu bị bóp méo. Tôi đọc đi, đọc lại nhiều lần một đoạn văn nào đó và nhận ra rằng mình không hề nhớ những gì vừa đọc. Bất cứ cuốn sách, hay bài thơ nào mà tôi cầm lên cũng đều thế cả. Thật không thể hiểu nổi. Tôi mất hết cảm giác. Tôi bắt đầu không hiểu những gì thầy cô giảng trên lớp và nhận ra rằng mình suốt ngày nhìn ra cửa sổ mà không biết những gì đang xảy ra chung quanh. Thật đáng sợ.

Tôi đã quen với suy nghĩ rằng tôi là người bạn tốt nhất của chính mình. Tôi quen với những cuộc tranh luận không bao giờ kết thúc trong đầu mình. Tôi cũng từng nghĩ rằng nguồn cơn sinh ra tiếng cười và khả năng phân tích có sẵn trong tôi đã giúp tôi vượt qua mọi hoàn cảnh buồn chán và đau khổ. Như một điều tất yếu, tôi tin vào sự sắc sảo, mối quan tâm và lòng trung thành của trí tuệ tôi. Nay đột nhiên trí tuệ của tôi quay sang chống lại tôi. Nó coi thường sự hăng hái vô vị của tôi. Nó cười nhạo trước tất cả các kế hoạch ngu xuẩn của tôi. Nó cũng chẳng tìm ra bất cứ điều gì thú vị, đáng tận hưởng hay đáng giá cả. Nó cũng không đủ khả năng tập trung trí nhớ, trong khi thỉnh thoảng lại quay sang suy nghĩ về cái chết: Tôi đang sắp chết, vậy có cái gì có thể làm thay đổi tình hình được không? Cuộc đời là ngắn ngủi và vô nghĩa, vậy tại sao lại phải sống? Tôi hoàn toàn kiệt sức và vô cùng hoảng sợ mỗi khi rời khỏi giường vào buổi sáng. Thời gian để tôi đi tới bất cứ đâu cũng nhiều gấp đôi so với bình thường. Tôi mặc đi, mặc lại nhiều lần một bộ quần áo và cũng mất rất nhiều thời gian để cân nhắc nên mặc bộ quần áo nào. Tôi sợ phải nói chuyện với mọi người và tránh gặp bạn bè nếu như có thể. Tôi ngồi trong thư viện nhà trường từ sáng sớm đến chiều tối, với sức ỳ ghê gớm, với trái tim chết cứng và bộ óc trợ như đất sét.

Mỗi sáng thức dậy tôi lại thấy vô cùng mệt mỏi. Tôi thấy xa lạ với chính mình. Tôi chán ngán và xa lạ với cuộc sống. Ngày hôm sau cũng thế. Sau đó tâm trí tôi tràn ngập cảm giác đen tối, trống trải, chỉ thấy toàn chết chóc và hủy hoại. Tôi thấy mọi thứ sinh ra đều chết đi, vì thế tốt nhất là nên chết ngay từ bây giờ để khỏi phải đau đớn. Tôi kéo lê tâm hồn và thể xác rũ rượi của mình quanh nghĩa địa của địa phương và suy tính xem các cư dân trong đó đã sống được bao lâu trước khi lìa đời. Tôi ngồi trên những nấm mộ viết những bài thơ dài, thê lương và ảm đạm. Tôi tin rằng tâm hồn và thể xác của tôi đang tan rữa và mọi người đều biết thế, nhưng chẳng ai chịu nói ra. Xen lẫn trong sự suy sụp đó là những cơn kích động điện cuồng và hoảng sợ, mà dù tôi có chạy bao nhiêu cũng không đủ để làm dịu nó xuống. Trong vài tuần, tôi phải pha rượu vodka vào nước cam để uống trước khi đi học, mà trong đầu vẫn luôn ám ảnh ý nghĩ tự tử. Tôi cố gắng tỏ ra bình thường, nên nghĩ rằng có lẽ ít người nhận ra sự khác biệt trong tôi. Không ai trong gia đình tôi nhận thấy sự khác biệt này. Hai người bạn của tôi tỏ ra lo ngại, họ đề nghị nói chuyện này cho bố mẹ tôi biết, nhưng tôi bắt họ phải thể giữ bí mật. Một giáo viên của tôi đã nhận ra và mẹ của một người bạn cũng kéo tôi sang một bên hỏi có chuyện gì không ổn xảy ra với tôi không. Tôi nói dối trơn tuột: Cháu khoẻ, cảm ơn bác đã quan tâm.

 

Tôi không hiểu tại sao tôi lại có thể vượt qua mọi chuyện ở trường một cách bình thường. Có lẽ mọi người chỉ quan tâm đến cuộc sống của riêng mình mà ít để ý đến sự tuyệt vọng của người khác, nếu như nó được cố gắng che giấu. Tôi đã không chỉ cố gắng, mà còn rất nỗ lực để khỏi bị mọi người phát hiện. Tôi biết có chuyện gì đó rất không ổn đang xảy ra với tôi, nhưng không rõ đó là gì. Vả lại tôi luôn được dạy rằng hãy giữ kín những vấn đề của riêng mình. Việc che giấu tâm hồn mình với bạn bè và gia đình hoá ra lại quá dễ dàng, như Hugo Wolf đã viết: “Tôi xuất hiện trước mọi người một cách vui vẻ và nhiệt tình. Tôi cũng nói chuyện khá bình thường với những người khác. Nhìn bề ngoài có vẻ như tôi vẫn khoẻ. Chỉ có Chúa mới biết rằng tâm hồn tôi đang chết lặng đi và trái tim tôi đang rỉ máu từ hàng nghìn vết thương”.

Tôi đã không tránh được nỗi đau to lớn cả về trí óc lẫn tâm hồn một cú sốc khi không thể nắm bắt được những gì đang xảy ra quanh mình, khi biết suy nghĩ của mình đã hoàn toàn vượt ra ngoài tầm kiểm soát và khi nhận ra rằng tôi đã suy sụp tới mức chỉ muốn chết – và thời kỳ đó kéo dài vài tháng, trước khi những vết thương bắt đầu lành lại. Nay nhìn lại, tôi ngạc nhiên vì mình đã vượt qua được nó và vượt qua được bằng khả năng của chính mình. Tôi ngạc nhiên vì cuộc sống của tôi ở trường trung học đã trở thành sự pha trộn giữa cuộc sống vô cùng phức tạp với một cái chết có thể sờ mó được. Tôi trông già dặn hẳn đi trong những tháng ngày này, như người ta phải thế sau những mất mát to lớn, với cuộc đời tiến gần đến cái chết và với sự chở che ở xa đến thế.

Học tập vì cuộc sống

Năm 18 tuổi, ngần ngừ mãi tôi mới quyết định bắt đầu chương trình đại học ở Trường Đại học California ở Los Angeles (UCLA). Đó không phải là trường tôi muốn vào. Trong nhiều năm tôi đã giữ chiếc huy hiệu tráng men đỏ và vàng của Trường Đại học Chicago mà bố tôi cho trong hộp đồ trang sức của mình. Nó có một chiếc dây chuyền vàng nối liền hai phần của huy hiệu và tôi nghĩ là nó rất đẹp. Tôi muốn mình được quyền đeo chiếc dây chuyền ấy. Tôi muốn vào Trường Đại học Chicago vì đó là trường nổi tiếng về sự khoan dung, khuyến khích người ta phát triển và không cứng nhắc. Tôi muốn vào trường này còn vì cả bố tôi lẫn ông ngoại tôi, một nhà vật lý, đều đã nhận bằng cử nhân ở đây. Tuy nhiên, tôi không thể vào trường này vì lí do tài chính. Tính khí thất thường của bố tôi đã làm cho ông bị mất việc ở tập đoàn Rand. Vì thế, trong khi hầu hết bạn bè của tôi nộp đơn xin vào trường Harvard, Stanford hay Yale, thì tôi lại nộp đơn xin vào Trường Đại học California. Tôi vô cùng thất vọng. Tôi rất muốn được rời khỏi California, để sống cuộc sống của riêng mình và để vào một trường đại học nho nhỏ nào đó. Tuy nhiên, về lâu dài, UCLA lại là nơi thích hợp nhất đối với tôi. Trường Đại học California đã mang lại cho tôi một nền tri thức tuyệt vời, với phong cách riêng. Trường đã tạo cho tôi cơ hội nghiên cứu độc lập. Trường cũng dành cho chúng tôi những chiếc giường ngủ rất rộng, mà có lẽ chỉ có các trường đại học lớn mới có thể bảo đảm được cho sinh viên. Tuy nhiên, trường không tạo ra được một sự bảo vệ có ý nghĩa nào giúp tôi chống lại tâm trạng lo âu và những nỗi đau trong tâm hồn.

Tôi biết, những năm tháng ở trường đại học là quãng đời tốt đẹp nhất đối với nhiều người, nhưng nó lại là quãng thời gian không thể tưởng tượng nổi đối với tôi. Hầu hết khoảng thời gian đại học của tôi là những cuộc vật lộn khủng khiếp. Tâm trạng kích động và bạo lực cứ vài ba tuần, đôi khi vài tháng lại xảy ra, với tâm trạng phấn khích, say mê và hăng hái, vui vẻ lao vào thực hiện những công việc vô cùng vất vả. Trạng thái tâm lý và sinh lực thay đổi nhanh này có những nét quyến rũ riêng của nó, chủ yếu nhờ nó tái hiện được tâm trạng phấn khích mà tôi đã từng có ở trường trung học. Trạng thái này rất tuyệt vời, vì đầu óc tôi chứa đầy ý tưởng và tôi lại có thừa đủ sinh lực để ít nhất thì cũng hình dung được cách thực hiện những ý tưởng đó như thế nào. Những bộ đồ Brooks Brothers kín đáo mà bình thường tôi vẫn mặc nay bị bỏ qua, cổ áo của tôi trễ xuống và tôi sung sướng tận hưởng những khoái lạc của tuổi trẻ. Dường như tất cả đều quá đà. Thay vì mua một đĩa nhạc của Beethoven, tôi có thể mua tới chín đĩa. Thay vì đăng ký học năm lớp, tôi có thể ghi tên vào bảy lớp. Thay vì mua hai vé cho một buổi hòa nhạc nào đó, tôi có thể mua tới tám hoặc mười vé.

Một hôm, trong năm học đầu tiên, tôi đi bộ qua vườn nhiệt đới của UCLA, nhìn xuống con suối nhỏ chảy giữa vườn và đột nhiên nhớ tới một cảnh trong vở Những chuyện tình thơ mộng chốn đồng quê của Nhà Vua của Tennyson. Tôi nhớ tới người phụ nữ bên hồ. Bị thôi thúc bởi cảm giác cháy bỏng và khẩn cấp, tôi chạy ngay ra hiệu sách tìm mua một cuốn. Và tôi đã tìm được. Tuy nhiên, khi tôi rời nhà sách sinh viên, thì cánh tay tôi đã nặng trĩu với ít nhất 12 cuốn sách khác nữa. Một vài cuốn trong đó có liên quan đến thơ của Tennyson, nhưng nhiều quyển khác chỉ liên quan rất ít tới những truyền thuyết về Vua Arthur, như cuốn Người đàn bà của Arthur của Malory và Vị Vua một thời và mãi mãi của T.H. White. Tôi còn mua cả cuốn Cành Vàng, Vương quốc Xentơ, Những bức thư của Heloise và Abelard, sách của Jung, sách của Robert Grave, sách về Tristan và Isolde, tập truyện truyền thuyết và bộ sưu tập những chuyện kỳ thú của Xcốtlen. Khi đó tôi thấy tất cả những cuốn sách này dường như có liên quan với nhau. Không chỉ chúng có liên quan với nhau, mà còn cùng chứa đựng những yếu tố quan trọng về thế giới vũ trụ, mà tâm trí tôi bắt đầu bị cuốn hút vào. Tấn bi kịch của Arthur giải thích rất nhiều điều về bản chất con người, như sự đam mê, phản bội, bạo lực, khoan dung và khát vọng. Bị thôi thúc bởi nhu cầu tìm hiểu sự thật, tâm trí tôi bắt đầu đạn kết các nhân tố ấy lại. Khi mà tâm trí tôi đang bị hút vào các vấn đề của thế giới vạn vật, thì việc mua những cuốn sách trên đương nhiên là cần thiết. Thực tế là chúng có những mối quan hệ lôgích nhất định với nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống thực tế ít mơ mộng hơn, thì tôi lại không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu mua tất cả những gì liên quan đến nó. Tôi phải đi làm từ 20 đến 30 giờ mỗi tuần để có tiền chi tiêu trong những năm đại học. Vào những lúc tâm hồn hứng khởi, các khoản chi của tôi dường như không có giới hạn. Điều tai hại là những tờ thông báo của ngân hàng về việc tôi chi quá tiền trong tài khoản lại luôn được gửi tới đúng vào lúc tôi rơi vào trạng thái trầm cảm, mà bao giờ cũng xảy ra sau những tuần cao hứng.

Giống như trong năm cuối cùng ở trường trung học, những bài tập bỗng trở nên đơn giản đối với tôi, trong thời kỳ hưng cảm. Trong những tuần này, các bài kiểm tra, bài tập thí nghiệm và những bài luận văn bỗng trở nên quá dễ dàng. Tôi cũng tham gia tích cực vào đủ mọi loại hoạt động chính trị và xã hội, từ hoạt động chống chiến tranh của ký túc xá, đến những hoạt động hơi quá khích, như biểu tình chống lại các công ty giết hại rùa biển để chế tạo mỹ phẩm. Một lần tôi còn đứng chặn cửa ra vào của một cửa hàng bách hoá địa phương, tay giơ cao tấm bích trương tự tạo, trên đó vẽ nghệch ngoạc hai con rùa biển đang nghiến răng bò trên cát, trên đầu có một vài ngôi sao - Tôi nghĩ bức vẽ ấy nói lên khả năng định hướng tuyệt vời của rùa biển - và dưới bức vẽ là dòng chữ lớn, viết bằng mực đỏ: “DA CỦA BẠN ĐANG LÀM MẤT DA CỦA RÙA BIỂN”.

Giống như hết ngày buộc phải đến đêm, tâm trạng hưng phấn của tôi rồi cũng đến lúc phải tan ra và đầu óc tôi như phanh kít lại. Tôi chẳng còn chút hứng thú nào với những bài tập ở trường, với bạn bè, đọc sách, đi chơi hay mơ mộng hão huyền nữa. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng mỗi buổi sáng khi thức dậy, tôi có cảm giác vô cùng kinh hãi vì sắp phải trải qua một ngày dài đằng đẳng nữa. Tôi ngồi hết giờ này đến giờ khác trong thư viện của trường đại học, mà vẫn không lấy đủ dũng khí để vào lớp. Tôi ngồi đó, nhìn ra cửa sổ, rồi lại nhìn những cuốn sách của tôi, sắp xếp rồi đổi chỗ của chúng cho nhau mà không hề mở sách và nghĩ tới việc từ bỏ trường đại học. Cuối cùng, khi tôi bước vào lớp, tôi đi như không có chủ đích vậy. Tôi thấy vô vị và đau đớn. Tôi hiểu được rất ít những gì đang xảy ra ở xung quanh. Tôi có cảm giác rằng chỉ có cái chết mới giải thoát tội khỏi cảm giác nặng nề của sự kém cỏi và tồi tệ đang bao trùm quanh mình. Tôi thấy vô cùng đơn độc và cảm giác ấy càng nặng nề thêm khi tôi nhìn các bạn trong lớp trò chuyện với nhau như hoạt hình vậy. Tôi bắt đầu không trả lời điện thoại nữa và ngồi rất lâu trong bồn tắm nóng, với một hy vọng hão huyền rằng nó có thể giúp tôi thoát khỏi cái chết và sự buồn thảm.

Thỉnh thoảng, thời kỳ hoàn toàn suy sụp này trở nên tệ hại hơn, do tâm trạng rối bời. Đầu óc tôi vẫn lướt nhanh từ chủ đề này sang chủ đề khác, nhưng thay vì nảy sinh những ý tưởng đẹp đẽ và có trật tự như những lần suy nghĩ nhanh trước kia, tôi lại chỉ thấy toàn những âm thanh và hình ảnh kỳ quái của sự đổ nát và chết chóc. Đó là xác người chết trên bãi biển, xác động vật được hỏa thiêu và những thi thể chân đeo thẻ nhận dạng trong nhà xác. Vào những lúc tâm trí rối bời như vậy, tôi chỉ có một cách để làm dịu nó xuống, đó là chạy dọc bãi biển hoặc đi đi, lại lại trong phòng như một con gấu bắc cực trong vườn thú vậy. Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra và tôi có cảm giác rằng tôi không thể nhờ ai giúp đỡ được. Nó không giống như tôi bị ốm, mà chỉ đơn giản là đầu óc tôi không tỉnh táo mà thôi. Cuối cùng, sau khi nghe một bài giảng về chứng trầm cảm trong chương trình tâm lý ngoại khoá, tôi đã tới phòng khám bệnh dành cho sinh viên, với ý định đề nghị được bác sỹ tâm thần khám bệnh. Tôi đã tới tận cầu thang của phòng khám bệnh, nhưng rồi tôi ngồi bệt xuống, bất lực, sợ hãi và xấu hổ, không lê nổi bước chân vào, nhưng cũng không đủ can đảm để bỏ đi. Tôi ngồi im đó, hai tay ôm đầu, khóc nức nở trong hơn một giờ đồng hồ. Sau đó, tôi bỏ đi và không bao giờ quay lại nữa. Cuối cùng sự suy sụp trong tôi cũng tự biến mất, nhưng cũng chỉ trong một thời gian vừa đủ để nó chuẩn bị cho một đợt tấn công mới.

Tuy nhiên, trong mỗi khúc tồi tệ của cuộc đời, tôi dường như lại được bù đắp bằng một sự may mắn nào đó. Một trong những lần như vậy đã xảy ra trong năm học đầu tiên của tôi ở trường đại học. Tôi đăng ký học chương trình tâm lý cá nhân của khoá trên. Giáo sư đã chỉ ra những cách đánh giá khác nhau về nhân cách và khả năng hiểu biết. Ông xòe những con bài Roarschach ra trước lớp và yêu cầu chúng tôi viết phản ứng của mình. Những năm thơ ấu ngắm nhìn mây trên trời và đuổi theo những hình ảnh của nó cuối cùng đã có ích. Đầu óc tôi hôm ấy như bay lên. Tôi chẳng biết Chúa đã lập trình sẵn những gì trong gien của tôi, mà tôi cắm đầu cắm cổ viết hết trang này sang trang khác. Nghĩ lại, tôi thấy đó là những phản ứng rất kỳ lạ. Lớp rất đông sinh viên nên bài trả lời của chúng tôi được chuyển dần lên trên để nộp cho giáo sư. Ông rút một cách ngẫu nhiên một số bài và đọc to cho cả lớp nghe. Giữa chừng, tôi nghe thấy một số đoạn trích quen quen và vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra đó là bài viết của mình. Một số đoạn khá hài hước, nhưng một vài đoạn rất kỳ quái, hay ít nhất là tôi cảm thấy thế. Cả lớp cười, còn tôi thì xấu hổ, cúi mặt nhìn xuống chân mình.

Sau khi đọc xong những trang viết dày đặc của tôi, giáo sư yêu cầu người viết những phản ứng độc đáo này sau giờ học ở lại gặp ông. Tôi tin rằng là một nhà tâm thần học, có lẽ ông đã nhìn thấy các vấn đề tâm lý của tôi. Tôi hoảng sợ. Khi đó tôi nghĩ chắc ông đã thấy tôi là một người vô cùng căng thẳng, khá kiên quyết, nghiêm túc, nhưng có thể đang gặp nhiều chuyện phiền toái. Tôi nhận ra rằng mình đang vô cùng mất bình tĩnh và tôi nghĩ có lẽ ông cũng đã thấy rõ mọi chuyện của tôi. Ông đề nghị tôi cùng ông đi bộ về phòng làm việc của ông. Trong khi tôi đang có hình dung ra cảnh mình bị đưa vào khoa tâm thần của bệnh viện, thì ông nói, trong suốt thời kỳ dạy học của mình, chưa bao giờ ông gặp một bài luận có phản ứng sinh động” đến thế với Roarschach. Ông rất tốt bụng, gọi một vài ý tưởng của tôi là sáng tạo, trong khi tôi nghĩ rằng lẽ ra nó phải được gọi là tâm thần. Đó là bài học đầu tiên của tôi về giới hạn phức tạp và mong manh giữa những suy nghĩ kỳ quái và bình thường. Tôi bị đầy trí tuệ, khi ông coi những gì tôi viết ra là tích cực, hơn là những suy nghĩ bệnh hoạn.

Giáo sư hỏi lại lịch của tôi. Tôi nói với ông rằng tôi là sinh viên năm thứ nhất, muốn trở thành bác sỹ và tôi phải làm việc để có tiền học. Ông chỉ cho tôi quy định của trường đại học, theo đó tôi không được phép theo học chương trình của ông, bởi vì nó được dành cho sinh viên những năm cuối. Tôi nói, tôi biết quy định này, nhưng tôi thích học, vả lại quy định này dường như là rất tuỳ tiện. Ông cười phá lên. Tôi chợt nhận ra rằng cuối cùng tôi đã được sống trong môi trường, mà ở đó tính độc lập của tôi được tôn trọng. Đây không phải là cô Courtnay và tôi cũng không được trông đợi phải nhún chân. Ông nói với tôi rằng trong dự án nghiên cứu của ông có một chân trợ lý trong phòng thí nghiệm và ông hỏi tôi có muốn nhận việc này không. Tôi quá sung sướng, vì điều đó có nghĩa là tôi có thể từ bỏ công việc thu tiền ở cửa hàng bán quần áo phụ nữ, vừa buồn chán vừa bận rộn. Ngoài ra với công việc mới này, tôi có thể học cách nghiên cứu.

Công việc đã mang lại cho tôi những kinh nghiệm tuyệt vời. Tôi học cách mã hoá và phân tích dữ liệu, lập trình máy tính, đọc các bài giảng, vạch kế hoạch nghiên cứu và viết các bài nghiên cứu khoa học để xuất bản. Vị giáo sư mà tôi giúp việc đang nghiên cứu về cấu trúc tính cách cá nhân và tôi thấy ý tưởng nghiên cứu sự khác biệt của người này với những người khác là vô cùng thú vị. Tôi chìm đắm trong công việc và phát hiện ra rằng đây không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức, nguồn thu nhập tài chính, mà còn là cách để tôi giải thoát nữa. Khác với những giờ ngột ngạt trên lớp - và cũng khác với hầu hết các chương trình làm việc trên thế giới được xây dựng trên giả thuyết rằng tâm trạng và khả năng làm việc của con người là ổn định và bền vững - công việc nghiên cứu cho phép người ta độc lập và có chương trình làm việc linh hoạt, điều mà tôi rất thích. Các nhân viên hành chính trường đại học không quan tâm đến sự thay đổi tính khí và khả năng làm việc theo mùa, vốn là một phần trong cuộc sống của hầu hết những người mắc chứng hưng-trầm cảm, cho dù họ đã được thông báo về việc này. Kết quả là học bạ những năm đại học của tôi thỉnh thoảng lại có những lớp tôi không đủ điểm hoặc chưa hoàn thành chương trình học. Thật may là những bài nghiên cứu của tôi đã bù đắp được những điểm thiếu này. Tâm trạng thay đổi thất thường và tái phát liên tục, cùng với sự suy sụp tồi tệ đã làm cho tôi phải trả giá đắt cả về cuộc sống cá nhân lẫn kết quả học tập trong những năm đại học.

Năm 20 tuổi, sau hai năm học đại học, tôi được tạm thời thoát khỏi những rắc rối ở trường trong một năm, để trở thành sinh viên của Trường Đại học St. Andrews ở Xcốtlen. Khi đó, anh trai tôi và một người anh em họ đang học tại các trường đại học ở Anh và họ gợi ý tôi sang đó với họ. Tuy nhiên, tôi đã chịu ảnh hưởng khá mạnh của âm nhạc và thơ ca Xcốtlen, mà bố tôi vẫn yêu thích và tôi cũng bị quyến rũ trước vẻ u sầu và rực cháy của người Xentơ. Tôi có cảm giác rằng mình gắn bó với phần gốc gác tổ tiên Xcốtlen, cho dù khi đó tôi cũng đồng thời muốn tránh xa tâm trạng buồn chán và bất thường của bố tôi. Tôi có cảm giác mơ hồ rằng tôi có thể hiểu rõ hơn tâm trạng và suy nghĩ thất thường của mình, nếu như tôi trở lại với cội nguồn, theo một nghĩa nào đó. Tôi làm đơn xin trợ cấp của liên bang và nhờ khoản tiền này, lần đầu tiên tôi trở thành sinh viên học đầy đủ thời gian. Thế là tôi rời Los Angeles một năm để theo học khoa học vào ban ngày và học nhạc, thơ vào ban đêm.

Thành phố St. Andrew, theo lời người trợ giáo của tôi, là nơi duy nhất anh ta biết tuyết rơi ngang. Anh ta là một nhà thần kinh học xuất sắc, cao lêu nghêu và có khiếu hài hước của người Yorkshire. Giống như những người Anh đồng hương khác, anh ta tin rằng thời tiết đẹp và văn minh đều chấm dứt từ vùng nông thôn của Xcốtlen. Anh ta có lý khi nói về thời tiết. Thành phố St. Andrew cổ kính, toàn đá xám, nằm sát bờ Biển Bắc, phải hứng chịu tất cả những cơn gió mạnh cuối Thu và suốt mùa Đông, nên những ai đã từng trải qua đều có thể tin vào điều anh ta nói. Tôi sống ở Xcốtlen vài tháng trong khoảng thời gian này, nên tôi hoàn toàn tin vào lời anh ta. Gió biển đã quật dữ dội vào khu bãi cát ở phía Đông thành phố, nơi có phòng thí nghiệm sinh vật biển của trường đại học.

Khoảng một chục sinh viên năm thứ ba của khoa động vật học chúng tôi ngồi co ro, run lập cập và mặc dù đã mặc đủ loại áo len, tất len mà hai hàm răng vẫn va vào nhau lập cập, trong căn phòng thí nghiệm nhỏ và lạnh đến khủng khiếp của nhà trường. Người trợ giáo dường như càng lúng túng hơn vì sự có mặt của tôi trong chương trình động vật học cao hơn mức mà lẽ ra tôi phải theo học. Anh ta là người có uy tín về cái mà người ta có thể nghĩ là một phần quan trọng của thế giới động vật, đó là thần kinh thính giác của châu chấu. Ngay trước khi đưa ra nhận xét về tuyết rơi ngang ở Xcốtlen, anh ta đã làm cho tôi phải bộc lộ sự ngu dốt đến khủng khiếp của mình về động vật học.

Khi đó chúng tôi có nhiệm vụ ghi lại dòng điện sinh học trong thần kinh thính giác của châu chấu. Tất cả các sinh viên khác đều đã nghiên cứu về ngành này trong nhiều năm, nên họ đều biết mổ xẻ một cách gọn ghẽ từng phần của con châu chấu và ghi lại kết quả thí nghiệm. Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu và người trợ giáo của tôi đã nhận ra điều đó. Tôi băn khoăn không hiểu vì sao trường lại xếp tôi vào chương trình nghiên cứu khoa học ở cấp này. Tôi lấy một con châu chấu ở trong lồng ra - tôi cố kéo dài thời gian ở trong phòng côn trùng vì nó được sưởi ấm và cuối cùng cũng lần được tới vùng cánh, ngực và đầu của châu chấu. Việc này đối với tôi không phải là quá lạ lẫm. Tôi có cảm giác rằng cái bóng cao lêu nghêu của người trợ giáo đang ở ngay phía sau. Quay lại, tôi thấy nụ cười mỉa trên gương mặt của anh ta. Anh ta bước lên bảng, vẽ một con châu chấu, khoanh tròn vùng đầu của con vật và nói bằng một giọng đặc tiếng địa phương: “Cô Jaminson, để cho cô hiểu thêm, đây là đầu”. Cả lớp ồ lên. Tôi cũng vậy. Tôi hiểu rằng tôi đành phải cam chịu tụt lại phía sau trong năm học này. Đúng là tôi đã bị tụt lại, nhưng tôi cũng học hỏi được rất nhiều và năm học này cũng có rất nhiều điều thú vị. (Báo cáo về thí nghiệm châu chấu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng tôi đã tham gia vào chương trình lớp trên của mình. Sau khi trình bày chị tiết phương pháp thực hành thí nghiệm, báo cáo của tôi viết: “Đầu, cánh và chân được cắt ra khỏi con châu chấu. Sau khi phần mình được mổ ra, để lộ các túi khí, ta thấy thần kinh thính giác nằm ở đây, chạy xuyên vào giữa, để tránh những phản ứng có thể có của thần kinh trung ương”. Cuối cùng, báo cáo của tôi kết luận: “Do hiểu sai và thiếu hiểu biết về những gì đang xảy ra, tôi đã không thử nghiệm việc kích thích âm vực rộng của châu chấu. Khi tôi hiểu ra vấn đề, thì thần kinh thính giác của châu chấu đã lịm đi. Và tôi cũng vậy”.

Tuy nhiên, việc nghiên cứu động vật không xương sống rõ ràng là rất có lợi. Trước hết, khác với ở khoa tâm thần, bạn có thể ăn đối tượng nghiên cứu của mình, nhất là những con tôm hùm tươi rói, vừa bắt ở biển lên và ngon tuyệt. Chúng tôi nấu chúng trong những chiếc cốc thí nghiệm trên đèn Bunsen. Đến tận khi giáo viên của chúng tôi lưu ý rằng “không phải các thầy cô trong trường không biết một số con vật nghiên cứu đã bị biến khỏi bể nuôi vào ban đêm”, thì mưu toan cải thiện, ngoài bữa ăn ở trường của chúng tôi mới chấm dứt.

Năm đó, tôi thường đi bộ dọc bãi biển hay xuyên qua thành phố và ngồi hàng giờ nghiền ngẫm và viết lách giữa những đống đổ nát của thành phố cổ. Tôi luôn cố hình dung ra nhà thờ Đức Bà đã từng có dáng vẻ như thế nào ở thế kỷ 12 và giữa những ô cửa sổ bằng đá trống rỗng hiện nay là những tấm kính màu sặc sỡ như thế nào. Tôi cũng không bỏ những buổi lễ kéo chuông, với nghi thức gần như còn nguyên sơ vào sáng Chủ nhật hàng tuần tại nhà thờ của trường đại học. Cùng với trường đại học, nhà thờ này được xây dựng từ đầu thế kỷ 15. Những truyền thống học tập và tôn giáo từ thời xa xưa đã được hoà quyện vào nhau một cách đầy bí ẩn và kỳ lạ. Chiếc áo choàng dầy, màu đỏ tươi của sinh viên đại học, nghe nói là nó mang màu sắc tươi rói này theo một chỉ dụ của Vua Xcốtlen hồi Vương quốc này mới thành lập. Khi đó, sinh viên được coi là có thể gây nguy cơ cho Nhà nước, nên cần phải được dễ dàng nhận diện. Trang phục của họ quả là tạo ra sự tương phản rõ rệt với những toà nhà xám xịt của thành phố. Sau lễ cầu nguyện ở nhà thờ, các sinh viên mặc áo choàng đỏ lại diễu hành tới tận đầu cầu cảng thành phố, làm tăng thêm sự tương phản giữa họ với nền trời và mặt biển xám ngoét.

Đó là một nơi đầy bí ẩn, để lại trong tôi biết bao ký ức. Tôi nhớ những đêm trời lạnh và sáng, nhớ những người đàn ông và phụ nữ trong trang phục dạ hội, mang những đôi găng tay dài, khăn quàng lụa, mặc váy truyền thống hay những chiếc khăn carô vắt trên vai những người phụ nữ mặc áo choàng lụa, dài sát đất rất trang nhã. Tôi nhớ những trận bóng như không bao giờ kết thúc. Nhớ những bữa tiệc tối, kéo dài tới tận đêm khuya, với cá hồi, giăm bông, thịt thú mới săn, quả anh đào, rượu uytxki và thịt lợn. Tôi nhớ những chiếc áo choàng màu đỏ tươi của sinh viên, trên xe đạp, trong những bữa tiệc tối, trên giảng đường, trong vườn và trên nền cỏ vào dịp cắm trại mùa xuân. Tôi nhớ những buổi tối hò hát và nói chuyện đến tận đêm khuya với các bạn Xcốtlen cùng phòng. Tôi nhớ những vật dài thủy tiên hoa vàng và cây hoa chuông trên những quả đồi sát mép biển. Nhớ những đám rong biển, đá cuội và cả những con sao biển nằm phơi mình trên bãi cát vàng. Tôi nhớ buổi lễ đẹp đến mê hồn trong nhà thờ khi kết thúc khoá học. Tôi nhớ sinh viên đại học trong những bộ áo choàng dài màu đỏ tươi và những sinh viên đã tốt nghiệp trong chiếc áo ngắn màu đen xám. Nhớ những bài hát mừng trong dịp Giáng sinh cổ xưa mà tinh tế. Nhớ những chiếc đèn treo hình vương miện và bục gỗ dành cho dàn đồng ca của nhà thờ. Nhớ những buổi đọc thơ bằng cả tiếng Anh phổ thông, lẫn tiếng Xcốtlen địa phương vừa tinh tế vừa quyến rũ. Tôi rời nhà thờ vào đêm đông ấy giống như bước vào thế giới cổ xưa, với màu áo đỏ tươi tương phản với tuyết trắng, với tiếng chuông ngân xa và mặt trăng tròn, trong veo.

Thành phố St. Andrew đã giúp tôi quên đi những năm tháng đau khổ trước đó của cuộc đời. Đó vẫn là khoảng thời gian đáng yêu, còn đọng mãi trong tôi. Đối với một nữ sinh đại học đang cố thoát ra khỏi sự thất vọng và buồn chán mà không rõ lý do như tôi, St. Andrew là một tấm bùa hộ mệnh, giúp tôi chống lại cảm giác mất mát. Đó là một năm đầy kỷ niệm vui vẻ. Mùa đông Biển Bắc đã trở thành mùa hè Ấn Độ trong cuộc đời tôi.

Tôi rời Xcốtlen trở lại UCLA năm 21 tuổi. Đó là một sự thay đổi lớn cả về tâm trạng lẫn khung cảnh và nó đã phá vỡ nhịp sống của tôi. Tôi thấy khó hoà nhập trở lại với thế giới và thói quen cũ. Một năm qua, tôi không phải làm việc từ 20 đến 30 giờ mỗi tuần để duy trì cuộc sống hàng ngày. Nay tôi lại phải vật lộn với công việc, giờ lên lớp, các hoạt động xã hội và cả tâm lý thất thường của mình nữa. Những dự tính cho cuộc đời sự nghiệp của tôi cũng bị đảo lộn. Theo thời gian, tôi ngày càng nhận rõ rằng tính khí thất thường và hiếu động của tôi là không phù hợp với trường y – đặc biệt là trong hai năm đầu, do sinh viên phải ngồi nghe giảng trên lớp liên tục trong nhiều giờ. Tôi thấy khó có thể ngồi lâu đến thế và tốt nhất là tôi nên tự học. Tôi thích nghiên cứu, viết và ghê sợ trước ý nghĩ rằng mình có thể bị trói chặt vào một chương trình nào đó của trường y. Ngoài ra, tôi đã được đọc công trình nghiên cứu tâm lý vĩ đại của William James, nhan đề Muôn vẻ tôn giáo, trong thời gian ở St. Andrew. Tôi ngày càng bị cuốn theo ý tưởng nghiên cứu tâm lý, nhất là sự khác biệt về tâm trạng và tâm lý của con người. Khi đó, tôi cũng bắt đầu giúp việc cho một giáo sư khác trong dự án nghiên cứu của ông. Đó là công trình nghiên cứu về tâm lý và tác động của các chất kích thích, như ma tuý, cần sa, thuốc phiện, thuốc giảm đau, thuốc an thần và thuốc kích thích tới tâm sinh lý. Ông đặc biệt quan tâm tìm hiểu lý do vì sao một số người chỉ thích một loại chất kích thích nào đó. Ví dụ, một số thích hallucinogen (một loại ma tuý gây ảo giác), trong khi một số khác lại tìm đến với những loại ma tuý gây chán nản hoặc kích thích hưng phấn. Giống như tôi, ông là người dễ bị kích động.

Vị giáo sư này cao, hay xấu hổ, nhưng rất thông minh. Tâm trạng của ông cũng rất dễ bị thay đổi. Lúc đầu, tôi làm trợ lý nghiên cứu cho ông, sau đó tôi làm việc với tư cách là nghiên cứu sinh bậc tiến sỹ. Thời gian làm việc cho ông đã mang lại cho tôi những kinh nghiệm tuyệt vời. Ông là một người rất sáng tạo, thích tìm hiểu và cởi mở. Ông nghiêm khắc nhưng công bằng trong những đòi hỏi về tri thức. Ông rất tốt bụng và thấu hiểu sự thay đổi về tâm trạng cũng như khả năng tập trung vào công việc của tôi. Chúng tôi hiểu nhau qua trực giác và phần lớn là không nói ra, nhưng thỉnh thoảng một trong hai chúng tôi cũng nêu lên vấn đề suy sụp tâm lý. Phòng làm việc của tôi ở sát văn phòng của ông. Vào những lúc tôi rơi vào trạng thái trầm cảm, ông quan tâm hỏi tôi thấy người thế nào, đưa ra một vài nhận xét như trong tôi có vẻ mệt mỏi, trầm ngâm hay chán nản và hỏi liệu ông có thể giúp tôi được gì.

Một hôm trong một cuộc trao đổi, chúng tôi phát hiện ra rằng mỗi người chúng tôi đều đã tự xếp hạng tâm trạng của mình. Ông xếp mình trong thang 10 điểm, từ “tệ hại” tới “tuyệt vời”.

Còn tôi tự xếp mình trong khoảng từ -3 (tê liệt và hoàn toàn suy sụp) đến +3 (có tâm hồn cao thượng và có sinh khí). Cách phân loại này nhằm tìm ra tần suất và lý do để các trạng thái tâm lý xuất hiện và biến mất. Từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi lại trao đổi với nhau về khả năng sử dụng thuốc chống trầm cảm, nhưng chúng tôi cũng nghi ngờ hiệu quả và lo ngại tới những tác dụng phụ của nó. Giống như nhiều người mắc chứng trầm cảm khác, chúng tôi cảm thấy tình trạng suy sụp của mình phức tạp và có căn nguyên sâu xa hơn nhiều so với những gì mà nó bộc lộ ra. Thuốc chống trầm cảm có lẽ được chỉ định cho những bệnh nhân tâm thần, nhưng mức nhẹ hơn, chứ không phải cho chúng tôi. Chúng tôi đã phải trả giá đắt cho thái độ của mình. Những điều chúng tôi đã được dạy dỗ và lòng tự trọng đã ngăn cản chúng tôi dùng thuốc. Mặc dù tâm trạng của tôi vẫn thay đổi liên tục - vì chứng trầm cảm của tôi luôn được báo trước bằng hiện tượng hưng phấn đến cao độ - tôi vẫn cảm thấy rằng tôi đang có một nơi trú ẩn an toàn cho những năm đại học, bằng việc làm trợ lý nghiên cứu cho ông. Nhiều lần tôi bật đèn trong phòng làm việc để ngủ, vì không dám đối mặt với thế giới và khi tỉnh giấc tôi thấy chiếc áo khoác của ông trên vai tôi, cùng với một tờ giấy đặt trên máy tính của tôi viết “Bạn sẽ sớm cảm thấy dễ chịu”.

Kiến thức và niềm vui mà công việc tôi đang làm với ông mang lại, cùng với sự hài lòng về công việc mà tôi đã làm với giáo sư từ năm học đầu tiên, kết hợp với ảnh hưởng to lớn của William James và tâm trạng không ổn định của tôi, tất cả đã đưa tôi đến quyết định học tiến sỹ tâm lý hơn là vào trường y. UCLA khi đó, cũng như ngày nay, vẫn là trường đại học có chương trình giáo dục về tâm lý tốt nhất nước Mỹ. Tôi đệ đơn xin học và bắt đầu chương trình tiến sỹ vào năm 1971.

Ogay từ khi mới bước chân vào trường đại học tôi đã quyết định phải làm một cái gì đó với tâm trạng của chính mình. Tôi sớm đi tới sự lựa chọn giữa việc đến bác sỹ tâm thần khám bệnh, hoặc mua một con ngựa. Do hầu hết những người tôi biết đều tìm đến bác sỹ tâm thần và do tôi có một niềm tin mãnh liệt rằng tôi có khả năng giải quyết được những vấn đề của chính mình, nên tôi đã mua một con ngựa. Không phải bất cứ con ngựa nào, mà là một con ngựa bướng bỉnh và rất dễ bị kích động, kiểu như ngựa Woody Allen, nhưng không có khả năng mua vui. Tất nhiên là tôi hình dung ra cảnh giống như Bạn Flicka của tôi, con ngựa sẽ nhận ra tôi từ xa, vẫy vẫy đôi tai chờ nghe một lời khen, hí lên vui vẻ, rồi chạy nước kiệu tới bên tôi, sục mõm vào ống quần tìm đường hay cà rốt. Tuy nhiên, cuối cùng tôi lại mua phải một con ngựa rất nôn nóng, hay bị què chân và chẳng lấy gì làm tinh khôn cho lắm. Nó rất sợ rắn, người, thằn lằn, chó và những con ngựa khác, đại loại là sợ bất cứ thứ gì mà nó thường phải gặp trong cuộc đời. Vì thế, thỉnh thoảng nó lại dựng ngược trên hai chân sau rồi lồng lên chạy tứ tung. Tuy nhiên, trong những điều rủi cũng có những cái may. Mỗi khi leo lên lưng ngựa là tôi lại quá sợ hãi, tới mức quên cả bị trầm cảm. Còn khi bị điên thì tôi cũng chẳng còn biết cân nhắc gì nữa, nên những cú phi như điên như dại ấy lại trở nên rất phù hợp với tâm trạng của tôi.

Thật tiếc là quyết định mua ngựa của tôi không chỉ điên khùng, mà còn ngu xuẩn nữa. Tôi phải rút tiền từ chương trình bảo hiểm y tế sinh viên để lấy tiền chi cho ngựa. Ngoài việc đóng móng và mua yên ngựa - và theo yêu cầu của thú y, thỉnh thoảng tôi phải bổ dưỡng cho nó bằng những bữa ăn tốn kém dành riêng cho ngựa - tôi còn phải mua những bộ móng đặc biệt để chữa bệnh đau chân cho nó. Những cái móng này đắt hơn nhiều so với giày của Gucci và NeimanMarcus và sau khi nghiến răng mua chúng, tôi mới hiểu rõ lý do vì sao người ta bán cả ngựa lẫn những người buôn ngựa. Tôi chợt nhận ra rằng mình không phải là các nhà tư sản Mellon hay Rockefeller. Tôi bán ngựa, đơn giản như người ta đánh đi con Q pich vậy và bắt đầu có mặt thường xuyên trên giảng đường của UCLA.

Chương trình sau đại học đã giúp tôi tìm lại niềm vui mà tôi để mất trong những năm đại học. Trong chừng mực nào đó, đây là sự tiếp nối của mùa hè Ấn Độ mà tôi đã được tận hưởng ở St. Andrew, Nhìn lại những năm đó, bằng nhãn quan y học điềm tĩnh mà mãi sau này tôi mới có được, tôi nhận ra rằng mình đã trải qua cái mà người ta gọi là sự lắng dịu giả tạo giữa những cơn rối loạn thường xuyên tái phát trong những năm đầu của bệnh hưng - trầm cảm, mà không cần chữa trị. Ngày ấy chưa có bất cứ từ nào, tên gọi của một loại bệnh nào, hay một khái niệm nào thể hiện một cách có ý nghĩa sự biến đổi tâm trạng nhanh và mạnh mà tôi đã trải qua.

Chương trình sau đại học không chỉ giải thoát ột cách tương đối cho tôi khỏi căn bệnh của chính mình, mà còn giúp tôi thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ đối với sinh viên đại học. Mặc dù tôi bỏ hơn một nửa số giờ học chính thức, nhưng điều đó cũng không có gì phiền phức lắm. Chừng nào mà kết quả cuối cùng đã đạt được, thì giờ học sẽ không còn quan trọng nữa. Đây cũng là thời điểm tôi kết hôn với một họa sỹ người Pháp. Anh không chỉ là một họa sỹ tài năng, mà còn là một người rất tốt bụng và nhã nhặn. Tôi và anh đã từng gặp nhau từ đầu những năm 1970, trong một bữa ăn giữa buổi cùng những người bạn của chúng tôi. Đó là thời kỳ có mốt để tóc dài, thời kỳ của những bất ổn xã hội, thời kỳ của những sinh viên được miễn quân dịch và thời kỳ của những cuộc biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. Tôi thấy tâm hồn như dịu lại khi tìm thấy ở anh, giống như một sự thay đổi vậy, một người thờ ơ với chính trị, rất thông minh và say mê nghệ thuật. Chúng tôi rất khác nhau, nhưng lại thích nhau ngay lập tức. Chúng tôi nhanh chóng nhận ra rằng chúng tôi có chung tình yêu với hội họa, âm nhạc và thế giới tự nhiên. Khi đó, tôi có cảm xúc rất mạnh mẽ và vào những lúc không suy sụp, trong tôi lại tràn ngập mong ước có một cuộc sống vui vẻ, thành đạt trên con đường học vấn và con cái đầy nhà. Những bức ảnh ngày đó cho thấy anh lúc nào cũng là một người đàn ông cao, rất đẹp trai, tóc đen, trang nhã và có đôi mắt nâu, trong khi chụp cùng với anh lại là tôi, một phụ nữ ở độ tuổi 25 rất hay thay đổi. Trong một bức ảnh, người phụ nữ ấy cười, đội mũ mềm và tóc dài bay trong gió. Trong một bức ảnh khác, cô ta lại tỏ ra đăm chiêu, vẻ nghiền ngẫm, trông già trước tuổi và trong bộ quần áo không loè loẹt nhưng tẻ nhạt. Mái tóc của tôi, giống như tâm trạng của tôi, hết dài lại ngắn. Có những lúc tôi để tóc dài tới mức tôi có cảm giác như mình bị chìm giữa mái tóc. Thế rồi, với ý nghĩ rằng một sự thay đổi cơ bản có thể có ích, tôi liền cắt tóc ngắn tới vai. Tâm trạng của tôi, mái tóc của tôi và trang phục của tôi, luôn thay đổi hàng tuần và hàng tháng. Trong khi đó, chồng tôi lúc nào cũng vẫn thế. Chúng tôi dường như luôn bổ sung tính khí cho nhau.

Vài tháng sau cuộc gặp ấy, chúng tôi sống cùng nhau trong một căn hộ nhỏ ở gần biển. Đó là quãng thời gian khá bình lặng, một cuộc sống bình thường, với những buổi đi xem phim, chơi bời với bạn bè và những chuyến du lịch tới Big Sur, San Francisco và Yosemite. Cuộc hôn nhân tốt đẹp, sự gần gũi của những người bạn và những đòi hỏi không quá lớn về kiến thức trong chương trình sau đại học đã trở thành những nhân tố quan trọng tạo ra một thế giới tĩnh lặng và an toàn cho tôi.

Tôi bắt đầu bằng việc nghiên cứu tâm lý thực nghiệm, đặc biệt là tập trung vào khía cạnh tâm lý và toán học của lĩnh vực này. Tuy nhiên, sau vài tháng nghiên cứu điều trị tại Bệnh viện Maudsley ở Luân Đôn - mà tôi kết thúc ngay trước khi gặp chồng tôi - tôi đã quyết định chuyển sang lĩnh vực tâm lý điều trị. Tôi ngày càng quan tâm tới lĩnh vực này, cả vì lý do cá nhân lẫn chuyên môn. Công việc của tôi, trước đây tập trung vào các phương pháp thống kê, sinh học và tâm lý thực nghiệm, nay chuyển sang tâm thần dược học, tâm thần học, các phương pháp điều trị và liệu pháp tâm lý. Tâm thần bệnh học - ngành khoa học nghiên cứu về rối loạn tâm thần - thực ra là rất thú vị. Tôi phát hiện ra rằng việc khám cho bệnh nhân không chỉ hấp dẫn, mà còn là một đòi hỏi cả về tri thức lẫn nhu cầu cá nhân của tôi nữa. Mặc dù chúng tôi được dạy cách chẩn đoán bệnh, nhưng trong thâm tâm tôi không hề gắn bất cứ những gì tôi đã từng trải qua, với những hiện tượng được mô tả là triệu chứng của bệnh hưng - trầm cảm trong sách giáo khoa. Kết quả là trái với hội chứng của các sinh viên y khoa - thường có cảm giác là họ đang mắc bất cứ căn bệnh nào mà họ đang nghiên cứu - tôi lại rất vô tình đi hết chương trình học tập của mình mà không hề gắn nó với bất cứ sự thay đổi tâm trạng nào của mình. Khi nhìn lại sự việc này, tôi thấy sự thờ ơ của mình là không thể hiểu nổi, nhưng tôi cũng nhận ra rằng nhờ nó mà tôi đã thoải mái hơn các bạn của mình trong việc điều trị bệnh nhân tâm thần.

Vào thời điểm đó, cả trong tâm lý điều trị lẫn trong các chương trình điều trị tập trung bệnh nhân tâm thần, chứng rối loạn tâm thần vẫn được gắn với tâm thần phân liệt, hơn là với chứng hưng-trầm cảm. Vì thế tôi học được rất ít về những hình thức rối loạn tâm thần. Khi đó, thuyết phân tâm học vẫn còn bao trùm. Vì thế trong hai năm điều trị bệnh nhân đầu tiên, tôi luôn bị các nhà phân tâm học giám sát chặt chẽ. Trọng tâm điều trị khi đó là tìm hiểu những trải nghiệm và xung khắc trước đó của bệnh nhân. Mơ ước và biểu tượng, cùng cách diễn giải chúng, hình thành nên cốt lõi của tâm lý liệu pháp. Cách tiếp cận mang tính y học hơn đối với tâm lý liệu pháp – tức là tập trung vào chẩn đoán, các hiện tượnh điều trị bằng thuốc – chỉ xuất hiện sau khi tôi đã bắt đầu chương trình thực tập ở Viện Chức năng thần kinh của UCLA. Mặc dù trong nhiều năm tôi đã có nhiều điểm không đồng tình với thuyết phân tâm học - đặc biệt là các nhà phân tâm học vẫn phản đối việc điều trị bệnh nhân rối loạn tâm thần nặng bằng thuốc, mặc dù từ lâu đã có những bằng chứng rất rõ ràng rằng Lithi và thuốc chống suy nhược có hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ điều trị bằng liệu pháp tâm lý – tôi vẫn thấy nhiều khía cạnh của tư tưởng phân tâm học trong tâm lý trị liệu là vô giá. Theo thời gian, tôi đã để rơi rụng nhiều kiến thức về phân tâm học, nhưng những gì tôi được đào tạo là rất thú vị. Tôi chưa bao giờ tìm hiểu sự phân biệt tuỳ tiện và không cần thiết giữa tâm thần “sinh học”, nhấn mạnh tới nguyên nhân và cách điều trị bệnh tâm thần, với tâm lý học “chức năng”, nhấn mạnh tới những biểu hiện trước đó, tới cấu trúc tính cách cá nhân, sự xung khắc, động cơ và những suy nghĩ vô thức trước đó của bệnh nhân.

Cực đoan bao giờ cũng ngu xuẩn và tôi đã phải sửng sốt trước mức độ vô lý mà tư tưởng không chấp nhận sự chỉ trích có thể rơi vào. Một lần, trong chương trình đào tạo, chúng tôi được học cách kiểm tra tâm lý, trong đó có kiểm tra trí thông minh, sử dụng Thước đo thông minh ở người lớn của Wechsler (WAIS) và phương pháp kiểm tra tính cách cá nhân của Rorschach (test tâm lý của Rorschach). Đối tượng thực nghiệm đầu tiên của tôi chính là chồng tôi. Là một họa sỹ, nên không có gì ngạc nhiên khi anh đạt điểm rất cao trong phần kiểm tra khả năng tưởng tượng của WAIS. Trong phần này, anh phải giải thích làm thế nào để lắp ghép các khối thiết kế săn lại với nhau. Trong phần phần kiểm tra Rorschach, phản ứng của anh rất độc đáo, tới mức tôi chưa hề gặp lại phản ứng nào tương tự kể từ ngày đó. Trong phần kiểm tra “Vẽ một nhân vật”, tôi thấy anh rất chăm chú, vẽ nắn nót và chậm chạp. Tôi có cảm giác như anh đang vẽ một bức chân dung tự họa. Cuối cùng anh đưa bức tranh cho tôi, thì đó là bức vẽ rất tỉ mỉ một con đười ươi mà cánh tay của nó vươn dài ra tận mép tờ giấy.

Tôi nghĩ đây là kết quả kiểm tra tuyệt diệu. Tôi đưa cả kết quả kiểm tra WAIS, Rorschach và “Vẽ một nhân vật” của anh cho giáo viên giám sát phần kiểm tra tâm lý của tôi. Bà ta là một người theo thuyết phân tâm học, giáo điều và không biết hài hước. Bà ta dành hơn một giờ đồng hồ để diễn giải một cách ngốc nghếch và võ đoán về những cảm xúc mãnh liệt nguyên thủy và bị dồn nén của chồng tôi, về những xung đột trong nội tâm, về sự mâu thuẫn trong tư tưởng, về bản chất khó gần và về tính cách cá nhân vô cùng lộn xộn của anh. Người mà nay đã là chồng cũ của tôi, người mà trong suốt 25 năm trời tối chưa hề thấy anh nói dối, nay bỗng được gán cho nhãn hiệu là thiếu tính xã hội; một người đơn giản, thẳng thắn và lịch thiệp nay được diễn giải là một người có rất nhiều nỗi lo âu, xung đột trong nội tâm và rất dễ nổi xung. Tất cả chỉ vì anh đã làm khác người trong bài kiểm tra. Thật vô lý. Quả thật đối với tôi, điều ấy buồn cười tới mức tôi phải bật cười không nhịn được. Điều này càng làm cho bà ta thêm giận dữ và tệ hại hơn là bà lại tiếp tục những lời diễn giải khác nữa về anh. Tôi giận sôi lên, cười nhạo, bước ra khỏi phòng bà ta và từ chối không viết báo cáo kiểm tra. Khỏi cần phải nói, việc này lại cũng được bà ta đưa ra mổ xẻ và phân tích.

Hầu hết những gì mà tôi thực sự học được là thông qua một số lượng lớn, với đủ loại bệnh . nhân, mà tôi đã chẩn đoán và điều trị trong thời gian thực tập ở bệnh viện trước khi trở thành tiến sỹ. Trong thời gian này tôi cũng hoàn thành hai chương trình học phụ về dược lý tâm thần và cách hành xử của động vật. Tôi đặc biệt thích môn cách hành xử của động vật, nên ngoài chương trình của khoa tâm lý ra, tôi còn tham gia chương trình sau đại học của khoa động vật học. Chương trình động vật học này tập trung nghiên cứu đời sống sinh học của các loài động vật có vú sống ở dưới nước. Chương trình này không chỉ nghiên cứu khía cạnh sinh học và lịch sử tự nhiên của rái cá biển, hải cẩu, sư tử biển, cá voi và cá heo, mà còn nghiên cứu cả những bí quyết, như khả năng điều chỉnh tim mạch ở sư tử biển và cá voi cho phù hợp với hoạt động bơi lặn, hay hệ thống thông tin của cá heo. Chương trình học tập này chỉ là để biết, nhưng tôi yêu thích nó. Không có bất cứ điều gì tôi học được ở đây có liên quan tới những gì tôi đang học và đang làm, nó cũng không liên quan gì đến công việc của tôi từ ngày đó đến nay, nhưng đó lại là chương trình học tập thú vị nhất của tôi trong giai đoạn sau đại học.

Các bài kiểm tra cứ lần lượt đến rồi lại đi. Tôi chọn đề tài nghiện ma tuý chán ngấy cho luận án tiến sỹ của mình và vì thế tôi cũng đã viết một bài luận văn tả ngắt về đề tài này. Sau hại tuần luyện thi căng thẳng, cố gắng nhồi vào đầu bất cứ thứ gì có thể, tôi bước vào phòng thi. Năm giám khảo mặt nghiêm trang ngồi quanh một chiếc bàn. Tôi ngồi xuống và trình bày từ đầu đến cuối cái mà người ta vẫn quen gọi một cách lịch thiệp là Bài kiểm tra miệng cuối cùng, còn nếu nói một cách chính xác hơn và có vẻ quân sự hơn thì là bảo vệ luận án của mình. Hai giám khảo là các giáo sư mà tôi đã từng trợ giúp trong nhiều năm, một người khá dễ dãi đối với tôi; còn người kia, có lẽ cố tỏ ra không thiên vị, đã hỏi tôi một cách không thương xót. Một trong ba nhà tâm thần dược học, người duy nhất không phải là giáo sư thường xuyên, dường như cố tình gây khó khăn cho tôi. Hai giám khảo còn lại, các giáo sư thường xuyên cảm thấy rằng vị giám khảo kia đã đi quá xa khi căn vặn quá sâu vào những chi tiết vụn vặt của số liệu thống kê và đề cương nghiên cứu, đã yêu cầu ông trở về với thực tế. Sau ba giờ đồng hồ vận dụng mọi kiến thức để bảo vệ luận điểm của mình, giống như vũ công ba lê trên sân khấu, tôi rời phòng kiểm tra và đứng ở hành lang, chờ các giám khảo bỏ phiếu. Sau khi phải chịu đựng khoảnh khắc vô cùng căng thẳng ấy, tôi trở lại phòng thi. Vẫn năm người đàn ông ấy, những người chỉ vài giờ trước đây dường như rất nhẫn tâm và không có thiện cảm, thì giờ đây họ mỉm cười, chìa tay ra bắt tay tôi và tất cả cùng nói: Xin chúc mừng. Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Lễ tốt nghiệp trong giới học thuật cũng có vẻ lãng mạn riêng của nó. Mọi căng thẳng và những khó khăn của luận án và bài kiểm tra miệng cuối cùng đã được nhanh chóng quên đi, nhường chỗ cho những giây phút tuyệt vời sau đó, được tiếp nhận vào câu lạc bộ đã có từ lâu đời, tham dự tiệc chúc mừng, với những cốc rượu anh đào, dự lễ trao bằng học vị được khoác trên mình bộ áo dành cho tiến sỹ, và lần đầu tiên được nghe từ “Tiến sỹ”, thay cho từ “Cô” Jaminson. Tôi được nhận vào làm giáo sư trợ giảng trong Khoa Tâm thần học của UCLA. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi được dành một chỗ đỗ xe tốt, được tham gia câu lạc bộ dành riêng cho giáo viên đại học và bắt đầu phấn đấu trên nấc thang học vấn. Tôi đã có một mùa hè vinh quang - và một mùa hè quá rực rỡ đối với tôi - vì chỉ ba tháng sau khi trở thành giáo sư, tôi mắc bệnh tâm thần nặng.

 

(hết phần I)

Đọc tiếp phần II ở đây