12/04/2021, 09:24 GMT+07

Tâm hồn không tĩnh lặng (Phần 2) Cuốn sách dành cho người mắc chứng Rối loạn lưỡng cực

phần 2 - Điên không đẹp thế

 
 

Tác giả: Kay Redfield Jamison

Tựa gốc: An Unquiet Mind: A Memoir of Moods and Madness

Tựa Việt: Tâm hồn không tĩnh lặng

Độ dài: 327 trang

Phát hành: năm 2007 NXB Thông tấn

*****

PHẦN II 

ĐIÊN KHÔNG ĐẸP THẾ

TÂM HỒN BAY BỔNG

Có một cái gì đó rất đau đớn, phấn chấn, cô đơn và hoảng sợ trong loại bệnh điên này. Khi hưng cảm, mọi thứ thật tuyệt diệu. Ý tưởng và cảm giác lướt qua rất nhanh và thường xuyên xuất hiện như những ngôi sao băng vậy. Bạn cứ đuổi theo nó mãi, cho tới khi bạn tìm ra những ý tưởng tốt hơn và tươi đẹp hơn. Sự nhút nhát bỗng nhiên biến mất, những lời nói và cử chỉ đúng mực luôn xuất hiện đúng lúc là bạn tin rằng mình đang có sức mạnh quyến rũ người khác. Bạn luôn tìm thấy những điều thú vị trong những người mà bình thường được coi là không thú vị lắm. Ham muốn nhục dục lan tỏa khắp cơ thể, nhu cầu quyến rũ người khác và được quyến rũ mạnh tới mức không thể cưỡng lại nổi. Cảm giác thanh thản, mãnh liệt, đây sức mạnh, hạnh phúc, dư dật về tài chính là phởn phơ thấm sâu trong xương tủy. Nhưng rồi đến một lúc nào đó tất cả bỗng nhiên thay đổi. Những ý tưởng lướt nhanh ấy bỗng trở nên quá nhanh và quá nhiều. Sự rối rắm thay thế cho sự mạch lạc. Trí nhớ bỗng biến mất. Nét hài hước và hấp dẫn trên gương mặt của bạn bè được thay thế bằng sự sợ hãi và lo ngại. Tất cả những gì trước đây vận hành theo hướng ủng hộ bạn, thì nay quay sang chống lại bạn. Bạn trở nên cáu kỉnh, giận dữ, sợ hãi, không kiểm soát được mình và hoàn toàn bị rơi vào những cái hang đen ngòm của tâm trí. Bạn không bao giờ biết rằng có những cái hang như thế. Tuy nhiên, đối với người điên, những cái hang ấy là có thật và sâu thăm thẳm.

Nó cứ thế diễn ra và cuối cùng, chỉ có người khác nhớ lại những hành vi của bạn – những cử chỉ kỳ lạ, điên cuồng và không có mục đích. Chứng điên cũng có nét đáng yêu của nó, khi xoá đi một phần trí nhớ của bạn. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, sau khi đã uống thuốc, tới bác sỹ tâm thần khám bệnh, tuyệt vọng, suy sụp và sử dụng thuốc quá liều? Tất cả những điều đó luôn ám ảnh bạn. Tôi đã nói những gì? Ai đã biết những gì? Tôi đã làm gì? Tại sao? Và câu hỏi ám ảnh nhất là khi nào thì chuyện đó tái diễn? Sau đó lại là những chuyện luôn làm cho bạn phải nhớ tới những điều ám ảnh ấy - uống thuốc, bực dọc, quên lãng, rồi lại uống thuốc, bực dọc mà quên lãng. Rồi những tấm thẻ tín dụng bị hủy bỏ, những tấm séc ngân hàng bị trả lại do không có tiền trong tài khoản để thanh toán, những câu hỏi đang chờ được giải thích và những lời xin lỗi đang chờ được đưa ra. Trí nhớ lúc được, lúc mất. Bạn bè xa lánh dần và hôn nhân tan vỡ. Và một câu hỏi vẫn thường trực, khi nào thì chuyện đó lại xảy ra? Cảm giác nào của mình là thực? Con người nào trong tôi là thực? Một người phóng túng, bốc đồng, rối loạn, đầy sinh lực và điên khùng? Hay một người rụt rè, lãnh đạm, tuyệt vọng, muốn tự tử, bi đát và mệt mỏi? Có lẽ tôi là một phần của cả hai và hy Uọng là không rơi vào bên nào quá nhiều. Vận động viên nhảy cầu Virginia Woolf đã nói: “Cảm giác của chúng ta nhận biết được bao nhiêu màu sắc khi lao xuống nước? Ý tôi muốn nói rằng đâu là sự thực của cảm giác?”.

Gôm đó, tôi không cần phải thức dậy mới biết là mình đã điên. Cuộc đời lẽ ra rất đơn giản. Tuy nhiên, tôi ngày càng nhận ra rằng cuộc đời và tâm trí tôi đang vận hành với tốc độ nhanh chưa từng có. Sự vận hành ấy cứ nhanh dần, trong suốt mùa hè đầu tiên của tôi với tư cách là giáo viên đại học, để rồi cuối cùng nó vỡ ra và hoàn toàn vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên, quá trình tăng dần từ suy nghĩ nhanh đến rối loạn ấy lại diễn ra từ từ và rất quyến rũ. Lúc đầu mọi thứ hoàn toàn bình thường. Tôi trở thành thành viên của Khoa Tâm thần tháng 7-1974 và được giao nhiệm vụ điều trị và giảng dạy trong khoa bệnh nhân nội trú dành cho người lớn. Tôi có nhiệm vụ giám sát các bác sỹ tâm thần và hướng dẫn các thực tập sinh điều trị tâm thần về kỹ thuật chẩn đoán, kiểm tra tâm lý và liệu pháp tâm lý. Do tôi có kiến thức về tâm thần dược học, nên tôi còn được giao giám sát một số vấn đề có liên quan đến thử nghiệm thuốc và điều trị bằng thuốc nữa. Tôi cũng là giáo viên liên lạc giữa Khoa Tâm thần và Khoa Gây mê, nơi tôi vẫn tham gia các hoạt động tư vấn, hội thảo và tiến hành một vài dự án nghiên cứu nhỏ về khía cạnh tâm lý và y học của hiện tượng đau. Công tác nghiên cứu của tôi chủ yếu là viết lại những gì tôi đã từng nghiên cứu về thuốc trong thời gian học đại học. Tôi không quan tâm nhiều lắm đến công tác điều trị và nghiên cứu liên quan đến rối loạn tâm thần. Do tâm trạng của tôi không bị xáo trộn quá nhiều trong hơn một năm qua, nên tôi nghĩ rằng hiện tượng này có lẽ đã lui về quá khứ. Cảm giác bình thường trong một khoảng thời gian khá dài đã làm tăng biết bao hy vọng, mà thực ra chỉ là nhất thời.

Tôi bắt tay vào công việc mới với biết bao lạc quan và đầy nhiệt huyết. Tôi thích thú với công tác giảng dạy, tuy lúc đầu tôi cảm thấy hơi kỳ cục khi giám sát công tác điều trị của người khác, tôi vẫn thấy yêu thích công việc của mình. Tôi phát hiện ra rằng việc chuyển từ sinh viên thực tập sang giáo viên chính thức đơn giản hơn nhiều so với những gì tôi hình dung. Một trong những thay đổi có lợi nhất và làm cho người ta hăng hái lên nhất chính là tiền lương. Việc tôi được tự do theo đuổi những mối quan tâm của mình về học vấn cũng rất thú vị. Tôi làm việc rất chăm chỉ và khi nhìn lại tôi thấy mình ngủ quá ít. Ngủ ít vừa là triệu chứng, vừa là nguyên nhân dẫn tới hưng-trầm cảm, nhưng vào thời điểm ấy tôi chưa biết điều này. Vả lại dẫu có biết thì cũng chưa chắc nó đã làm cho tôi phải hành xử khác đi. Mùa hè đem tới những đêm dài và cũng thường tạo ra sự phấn khích cao hơn trong tôi. Tuy nhiên, lần này nó đẩy tôi tới sự hưng phấn cao hơn nhiều, nguy hiểm hơn nhiều và tôi rơi vào trạng thái tâm thần chưa bao giờ thấy. Mùa hè, ít ngủ, công việc bề bộn và gien dễ bị tổn thương, tất cả đã đẩy tôi vượt ra ngoài giới hạn hứng khởi mà tôi thường có và rơi vào trạng thái điên.

Hàng năm, ông hiệu trưởng danh dự của trường đại học vẫn tổ chức một bữa tiệc ở ngoài vườn để đón chào những giáo viên mới của UCLA. Vô tình người sau này trở thành bác sỹ tâm thần của tôi cũng có mặt trong bữa tiệc, vì ông tham gia làm trợ giáo trong trường y. Sự có mặt của ông đã cho thấy sự phân biệt thú vị giữa những cảm nhận của chính tôi với sự quan sát lạnh lùng, có tính toán của một bác sỹ điều trị có kinh nghiệm. Bác sỹ tâm thần của tôi bỗng nhiên có điều kiện để theo dõi hành vi của cô thực tập sinh cũ, có đôi mắt hơi điên dại và khá điên khùng, mà ông đã giám sát một năm về trước. Theo trí nhớ của tôi, thì hôm ấy tôi hơi hứng khởi. Tôi nhớ là đã nói chuyện với rất nhiều người, với cảm giác rằng mình hấp dẫn đến mức khó cưỡng lại nổi. Tôi chọn từ món ăn này đến món ăn khác và tôi uống rất nhiều. Tôi nói chuyện với ông hiệu trưởng danh dự khá lâu. Tất nhiên, ông hoàn toàn không biết tôi là ai, nhưng ông cũng vui lòng đứng nói chuyện rất lâu với tôi, không biết vì ông quá lịch sự, hay vì ông đang thể hiện đúng với những gì người ta vẫn đồn thổi về ông là thích phụ nữ trẻ. Cho dù ông cảm thấy thế nào đi nữa, tôi vẫn tin rằng ông đã thấy tôi là một người quyến rũ.

Tôi cũng có một cuộc nói chuyện dài và khá kỳ quặc - kỳ quặc, nhưng tôi thấy thú vị với ông chủ nhiệm khoa của chúng tôi. Ông chủ nhiệm khoa không phải là một người không xa hoa. Ông có trí tưởng tượng rất phong phú, mà không phải lúc nào cũng nằm trong khuôn khổ thông thường của y học kinh điển. Ông khá nổi tiếng trong giới tâm thần dược học, vì đã vô tình giết chết một con voi đi thuê của rạp xiếc bằng loại ma tuý gây ảo giác mạnh LSD. Đó là một câu chuyện phức tạp, liên quan đến loài động vật có vú lớn sống trên cạn, đến thuỳ thái dương, đến tác động của thuốc gây ảo giác tới hành vi bạo lực và sự tính toán nhầm liều lượng thuốc. Chúng tôi đã trao đổi khá lâu về nghiên cứu voi và loài Hyrax. Hyrax là một loài động vật nhỏ ở Châu Phi. Hình dáng của nó chẳng giống voi chút nào cả, nhưng dựa trên mẫu răng của chúng, người ta cho rằng nó có họ hàng gần gũi với voi. Tôi không nhớ cụ thể chúng tôi đã nói với nhau những gì, và đã tìm thấy mối quan tâm chung nào trong cuộc thảo luận kỳ lạ về động vật ấy. Tôi chỉ biết rằng, ngay sau đó, tôi đã say sưa tìm kiếm tất cả những bài viết về Hyrax và tôi đã tìm thấy hàng trăm bài. Tôi còn tình nguyện nghiên cứu về hành vi của động vật tại Vườn thú Los Angeles, tham gia giảng dạy một chương trình về phong tục học và một chương trình khác về dược lý và phong tục học.

Ký ức của tôi về bữa tiệc ở ngoài vườn là một khoảng thời gian rất tuyệt vời, hứng khởi, quyến rũ và tự tin. Tuy nhiên, bác sỹ tâm thần của tôi, người mà mãi sau này mới nói với tôi về bữa tiệc ấy, lại có một cái nhìn khác hẳn. Ông nói, hôm ấy tôi ăn mặc rất khêu gợi, khác hẳn với lối ăn mặc kín đáo của tôi một năm trước đó và tôi đã dùng quá nhiều son phấn. Ông cho rằng hôm ấy tôi có vẻ hơi điên và nói quá nhiều. Ông nói, hôm ấy ông đã tự nhủ, Kay có vẻ như bị điên rồi, Trong khi đó, trái lại, tôi lại nghĩ mình đã có một buổi tối thật tuyệt vời.

Đầu óc tôi bắt đầu rối lên, do các ý tưởng dồn đến quá nhanh, tới mức nó luôn đan xen với nhau ở mọi góc cạnh. Giống như có một vụ đâm nhau giữa các nơron thần kinh trên xa lộ trong óc tôi vậy. Tôi càng cố phanh bớt suy nghĩ của mình lại thì tôi lại càng thấy không thể. Sự phấn khích trong tôi cũng bắt đầu lao nhanh, cho dù vẫn có một sợi chỉ lô gích nào đó điều khiển những việc tôi đang làm. Ví dụ, một hôm tôi bỗng nhiên nổi hứng với việc sao chụp tài liệu. Tôi đã sao chụp tới 30-40 bản bài thơ của Edna St. Vincent Millay, một bài báo về tôn giáo và tâm lý đăng trên Tạp chí Tâm thần học Mỹ và một bài báo khác nhan đề “Vì sao tôi không dự hội thảo về nghiên cứu thông qua một ca cụ thể” của một nhà tâm lý học nổi tiếng, người đã nói rõ lý do những cuộc hội thảo vòng vo và tổ chức kém cỏi chỉ làm mất thời gian. Đột nhiên, tôi cảm thấy cả ba bài viết này rất có ý nghĩa và đáng để nhân viên trong khoa của tôi tham khảo. Thế là tôi chuyển chúng cho tất cả mọi người.

Điều tôi lo ngại lúc này không phải là tôi đã làm một công việc điên khùng như vậy, mà là tôi có những dấu hiệu và cảm giác giống như những ngày đầu của bệnh hưng - trầm cảm. Những cuộc hội thảo bàn tròn trong khoa quả là rất lãng phí thời gian. Tuy nhiên, ông chủ nhiệm khoa không đánh giá cao những gì tôi muốn chỉ ra cho mọi người (và lại càng không thích việc tôi phân phát bài báo ấy cho tất cả nhân viên trong khoa). Bài thơ “Phục hồi” của Millay thì tôi đã đọc từ thời thiếu nữ, nhưng khi tâm trạng của tôi bắt đầu say mê và trí nhớ của tôi bắt đầu lao ngày càng nhanh hơn, tôi bỗng nhớ đến bài thơ ấy và ngay lập tức đi tìm nó. Mặc dù tôi chỉ mới bắt đầu tiến trình điện, nhưng bài thơ ấy đã nói lên toàn bộ chu kỳ mà tôi sẽ phải trải qua. Bài thơ bắt đầu bằng sự nhận biết thông thường về thế giới (“Tất cả những gì có thể thấy từ nơi tôi đứng/ Là ba dãy núi cao và một cánh rừng”). Rồi bài thơ xuyên qua trạng thái mê say và hư ảo, đến tuyệt vọng và cuối cùng lại trở về với thế giới bình thường, nhưng với khả năng nhận biết cao hơn. Millay viết bài thơ này khi 19 tuổi và sau đó bà bị suy sụp tâm thần vài lần và phải vào viện, mặc dù lúc đó tôi chưa biết chi tiết này. Thật kỳ lạ, dường như tôi biết bài thơ này có ý nghĩa đối với tôi và tôi hiểu mọi ý tứ trong bài thơ ấy. Tôi phân phát nó cho các bác sỹ và sinh viên thực tập, như muốn ngầm nói tới chu kỳ loạn thần kinh và điều quan trọng là khả năng phục hồi sau đó. Các bác sỹ, không hiểu ý tứ sâu xa của việc tôi thúc giục họ đọc bài thơ này, đã hưởng ứng vì tất cả mọi người đều phấn khởi khi có cơ hội được giải lao giữa giờ khám bệnh.

Chính trong giai đoạn này, khi tôi ngày càng sốt sắng với công việc, thì hôn nhân của tôi bắt đầu tan vỡ. Tôi bắt đầu xa lánh chồng, mà lý do chỉ vì tôi muốn có con, còn anh thì không - đây là lý do có thật và quan trọng nhưng thực tế còn phức tạp hơn nhiều. Tôi ngày càng bồn chồn, hay cáu kỉnh và luôn bị kích động. Điều bất ngờ nhất là đột nhiên tôi muốn chống lại chính những nét đáng yêu nhất của chồng, như sự tốt bụng, bình thản, nhiệt tình và tình yêu của anh. Tôi sốt sắng tìm kiếm một cuộc sống mới. Tôi tìm một căn hộ rất hiện đại

Santa Monica, cho dù tôi ghét kiến trúc hiện đại. Tôi mua đồ đạc hiện đại của Phần Lan, mặc dù tôi yêu thích những đồ dùng kiểu cổ, ấm cúng. Tất cả những gì tôi tìm kiếm đều tốt, hiện đại, nhiều góc cạnh, và thật kỳ lạ, tôi cho rằng chúng có thể làm dịu và không xâm phạm đến đầu óc ngày càng lộn xộn và rối bời của tôi. Tuy nhiên, ít nhất thì tôi cũng có một cái nhìn ngoạn mục, nhưng vô cùng tốn kém. Tiêu pha nhiều, mặc dù trong túi không có tiền như cách nói chính thức của chẩn đoán là “say sưa mua sắm một cách không kiềm chế được” chính là dấu hiệu kinh điển của bệnh điên.

Khi rơi vào trạng thái phấn khích cao độ, tôi không hề lo ngại gì về vấn đề tiền nong, dù tôi cố nghĩ tới. Vì thế, tôi đã không nghĩ tới nó nữa. Tôi tin rằng tiền sẽ có, từ một nguồn nào đó và Chúa sẽ chu cấp cho tôi. Những tấm thẻ tín dụng thật thảm hại. Séc cá nhân còn tệ hại hơn. Thật bất hạnh cho những người điên khi chứng điên lại là sự kéo dài tự nhiên của tổn hại kinh tế. Một khi đã có thẻ tín dụng và tài khoản trong ngân hàng thì việc có tiền không phải là quá khó. Vì thế, tôi đã mua tới 12 bộ đồ phòng chống rắn cắn, tới ý nghĩ rằng việc đó là cấp thiết và quan trọng. Tôi mua đá quý, mua những đồ dùng trong nhà trang nhã nhưng không cần thiết, mua ba chiếc đồng hồ mà chiếc nọ mua cách chiếc kia không đầy một giờ đồng hồ (Loại Rolex chứ không phải Timex, mặt bọt sâm banh chứ không phải một khác) và những bộ quần áo hoàn toàn không thích hợp với tôi. Trong một cơn nghiện mua sắm ở Luân Đôn, tôi đã chi tới vài trăm bảng Anh chỉ để mua những cuốn sách có tiêu đề và bìa sách mà tôi thấy bắt mắt. Đó là những cuốn sách về lịch sử tự nhiên của chuột chũi và khoảng hai chục cuốn sách khác nhau về chim cánh cụt, vì tôi nghĩ rằng sẽ là tuyệt vời biết bao nếu chim cánh cụt có một vùng lãnh thổ riêng. Một lần tôi đánh cắp chiếc áo choàng trong cửa hàng, chỉ bởi vì tôi không thể chịu đựng thêm một phút nào nữa khi nhìn thấy đôi chân đẹp của người phụ nữ xếp hàng trước mình, hay đơn giản chỉ vì tôi nghĩ đến chuyện ăn cắp. Tôi không nhớ nữa. Tôi hoàn toàn bị lú lẫn. Tôi nghĩ tôi đã tiêu pha hơn ba chục nghìn đôla trong hai cơn điên mà chỉ có Chúa mới biết tôi đã chi tiêu hết bao nhiêu nữa trong những lần điên nhẹ mà vẫn thường xảy ra với tôi.

Nhưng rồi khi dùng thuốc Lithi và trở lại với cuộc sống thực, bạn sẽ thấy thẻ tín dụng của bạn đã bị tổn hại và sự xấu hổ của bạn lên đến tột cùng. Chứng điện không phải là một sự xa hoa mà người ta có thể dễ dàng đáp ứng. Đó là một căn bệnh tàn phá. Hơn thế nữa, người ta còn phải mua thuốc, thử máu và điều trị tâm lý. Những khoản chi này ít nhất còn được giảm thuế một phần. Còn những khoản chi khi bị điện không nằm trong diện được miễn giảm thuế của Cơ quan Thuế vụ cho các khoản chi phí chữa bệnh hay thua lỗ trong làm ăn. Vì thế, sau trận điên, khi mà bạn đã suy sụp, thì bạn lại càng có thêm lý do để tuyệt vọng.

Cho dù đã nhận bằng tiến sỹ kinh tế của Trường Đại học Harvard, nhưng anh tôi không hề được chuẩn bị để giải quyết mớ bòng bong tài chính bày ngổn ngang trên sàn nhà trước mặt anh. Đó là một đống hoá đơn đòi tiền của công ty dịch vụ thẻ tín dụng, hàng lô giấy báo màu hồng của ngân hàng thông báo tôi đã chi quá số tiền có trong tài khoản và đủ loại giấy đòi nợ lần thứ hai và lần thứ ba của các cửa hàng mà tôi đã lượn qua mua sắm gần đây. Đáng ngại hơn nữa là một đống thư, với những lời lẽ đầy hăm dọa của các công ty chuyên đòi nợ. Sự lộn xộn còn thấy rõ ngay khi bước chân vào nhà, với một đống ngổn ngang những hộp điện tử mà chỉ vài tuần trước bộ óc điện rồ của tôi đã coi chúng là phù hợp. Ngay sau khi đã dùng thuốc và bị vùi dập đến thê lương, tôi lại bị ám ảnh trước việc phải sàng lọc và giải quyết một lô hậu quả chi tiêu thiếu trách nhiệm về tài chính của mình. Nó giống như tôi đang khảo cổ lại những kỷ nguyên trước đó của tâm hồn mình vậy. Ví dụ có một hoá đơn của nhà sản xuất thú nhồi ở Plains, bang Virginia, đòi tiền một con cáo nhồi, mà tôi nghĩ là tôi rất cần. Tôi yêu động vật trong suốt cuộc đời mình và đã có lúc tôi muốn trở thành bác sỹ thú y. Thế thì tại sao tôi lại có thể mua một động vật chết? Tôi rất yêu quý cáo và ngưỡng mộ chúng. Tôi nghĩ chúng nhanh nhẹn, thông minh và đẹp. Thế thì tại sao tôi lại có thể góp phần trực tiếp vào việc giết một con cáo để lấy da nhồi? Tôi hoảng sợ trước bản chất ghê tởm của vụ đặt hàng này, kinh tởm với chính mình và tôi không thể hình dung được tôi sẽ phải làm gì với nó, một khi người ta đưa hàng tới.

Với ý định thay đổi sự chú ý của mình, tôi bắt đầu thọc tay vào đống giấy tờ liên quan đến thẻ tín dụng. Ngay gần trên cùng là hoá đơn đòi tiền của cửa hàng dược phẩm, nơi tôi đã mua những bộ đồ chống rắn cắn. Viên dược sỹ, người vừa bán Lithi cho tôi theo đơn thuốc đầu tiên, đã mỉm cười ra vẻ hiểu biết khi tôi lại rung chuông đề nghị anh ta bán cho tôi những bộ đồ chống rắn cắn, cùng một lộ những thứ vớ vẩn, vô dụng và kỳ lạ khác nữa. Tôi biết anh ta đang nghĩ gì, và như một sự rộng lượng của tâm trạng hứng khởi, tôi đã đánh giá cao khiếu hài hước của anh ta. Tuy nhiên, khác với tôi, anh ta…dường như không hiểu một cách đầy đủ mối nguy hiểm đến tính mạng mà những con rắn có thể gây ra ở thung lũng San Fernando. Chúa đã chọn tôi và dường như chỉ một mình tôi, để cảnh báo với thế giới về sự lan tràn của những con rắn chết người ở miền đất hứa. Tôi đã nghĩ đại loại thế khi đi lang thang trong ảo giác. Tôi nghĩ, với việc mua toàn bộ số bộ đồ chống rắn cắn mà cửa hàng dược có sẵn, tôi đã làm tất cả những gì có thể để bảo vệ mình và những người mà tôi quan tâm. Trong khi lượn khắp cửa hàng dược, tôi còn nảy ra ý định cảnh báo mối nguy hiểm này qua tờ Thời báo Los Angeles nữa. Tuy nhiên, khi đó tôi đã quá điên, tới mức không thể kết nối những ý tưởng của mình lại để hoàn thành kế hoạch được nữa.

Anh tôi dường như đọc được suy nghĩ của tôi, bước vào phòng với một chai sâm banh và những chiếc cốc trên khay. Anh nói, anh nghĩ chúng tôi cần phải uống sâm banh, vì tất cả những việc này sẽ “không thích thú lắm”. Anh tôi không phải là người cường điệu, nhưng cũng chẳng phải là người hay vò đầu bứt tai, hoặc nghiến răng kèn kẹt. Thay vào đó, anh là một người công bằng, thực tế, rộng lượng, và vì là một người tự tin anh luôn có xu hướng khuyến khích niềm tin người khác. Với tất cả những phẩm chất ấy, anh rất giống mẹ tôi. Trong thời gian bố mẹ tôi ly thân, và sau đó là ly hôn, anh đã giang cánh tay ra che chở tôi, bảo vệ tôi khỏi những nỗi đau của cuộc đời và tâm trạng không ổn định của tôi, trong khả năng mà anh có thể. Đôi cánh tay của anh luôn là chỗ dựa tin cậy của tôi. Kể từ ngày tôi bắt đầu vào trường đại học, trong suốt những năm học đại học, những ngày làm giáo viên đại học, và trên thực tế là đến tận ngày nay, cũng như mai sau, mỗi khi tôi cần khuây khoả hay làm dịu cơn đau, hoặc đơn giản chỉ vì muốn đi chơi, tôi luôn nhận được một tấm vé máy bay trong thùng thư, với một lời gợi ý tôi nên đến chỗ anh ở đâu đó, như Boston, New York, Colorado hay San Francisco. Anh thường ở một trong những nơi này để nói chuyện, tư vấn cho tôi hay nghỉ ngơi vài ngày. Tôi gặp anh ở sảnh của một khách sạn nào đó, hoặc tại một nhà hàng lịch sự. Tôi sung sướng mỗi khi thấy anh cao, đẹp trai và ăn mặc lịch sự - bước nhanh qua căn phòng. Cho dù tâm trạng của tôi có thế nào, hay tôi đang gặp phải vấn đề gì chăng nữa, anh vẫn tạo được cho tôi cảm giác rằng anh rất vui khi gặp tôi. Mỗi lần tôi ra nước ngoài sống - đầu tiên là tới Xcốtlen với tư cách sinh viên đại học, sau đó tới Anh với tư cách sinh viên sau đại học và hai lần tới Luân Đôn trong các dịp nghỉ kết hợp nghiên cứu của Trường Đại học California - tôi đều biết rằng anh sẽ tới chỉ sau một vài tuần, để xem tôi ăn ở ra sao và tôi tới đó làm gì, rồi anh đưa tôi đi ăn tối và gợi ý cùng tới các cửa hàng Hatchards, Dillons hay hiệu sách nào đó. Sau lần tôi bị điện năng đầu tiên, đôi cánh tay của anh càng ôm chặt lấy tôi hơn. Anh đã cho tôi thấy một cách rất rõ ràng rằng nếu tôi cần tới anh, thì cho dù anh đang ở đâu, anh cũng sẽ lên chuyển máy bay ngay sau đó để cùng tôi về nhà.

Lần này, anh cũng không đưa ra bất cứ một lời phán xét nào về những khoản mua sắm hoàn toàn vô lý của tôi, hoặc nếu có thì anh cũng không nói ra với tôi. Nhờ khoản vay cá nhân từ liên đoàn tín dụng của Ngân hàng thế giới, nơi anh làm việc với tư cách một nhà kinh tế, chúng tôi đã có thể viết séc chi trả tất cả các khoản nợ đọng. Dần dần, sau nhiều năm, tôi cũng hoàn trả được cho anh khoản vay này. Nói một cách chính xác hơn là tôi đã trả lại được khoản tiền mà tôi nợ anh, nhưng tôi không bao giờ có thể trả được cho anh tình yêu, sự tốt bụng và sự thấu hiểu của anh với tôi.

Tôi tiếp tục cuộc sống của mình với nhịp độ đáng sợ. Tôi làm việc triền miên và ngủ rất ít. Khi trở về nhà vào ban đêm, thì đó lại là nơi làm cho đầu óc tôi thêm rối bời. Sách, mà nhiều quyển trong đó là mới mua, vứt tứ tung khắp nơi. Quần áo chất thành từng đống khắp các phòng, cùng những túi gói hàng đã mở vứt tung toé và những túi mua hàng thậm chí vẫn chưa lấy hết đồ ra. Căn hộ của tôi trông giống như không có người ở và đã bị một đàn chuột trấn giữ vậy. Trong phòng còn có hàng trăm mảnh giấy cắt, một ít ở trên bàn, một ít trong giá bếp và một đống trên sàn nhà. Trong số những mảnh giấy cắt ấy có một bài thơ không mạch lạc và dông dài mà tôi tìm thấy trong tủ lạnh vài tuần sau đó. Khỏi cần phải nói, rõ ràng đây là sản phẩm của hứng sưu tập đã phát triển rất nhanh trong thời gian tôi bị điên. Tôi đã đặt cho bài thơ ấy một tiêu đề, mà nghĩ rằng phải có một ý nghĩa nào đó vào lúc ấy, “Chúa là động vật ăn cỏ”. Có rất nhiều bài thơ và đoạn thơ như vậy và chúng được vứt tung toé khắp nơi. Nhiều tuần sau khi đã dọn sạch căn hộ của mình, thỉnh thoảng tôi vẫn còn bắt gặp những mảnh báo - với những lời chủ thích ở ngoài rìa - được cất ở những nơi rất ít khi tôi nghĩ rằng chúng có thể ở đó.

Sự nhận biết và cảm nhận âm thanh nói chung và âm nhạc nói riêng của tôi bỗng trở nên mãnh liệt. Từng nốt nhạc của kèn co, kèn oboe và đàn cello bỗng trở nên vô cùng sầu thảm. Tôi nghe rành rẽ từng nốt, rõ tất cả các nốt, rồi chúng quyện lại với nhau tạo thành những âm hưởng rõ ràng và đẹp đẽ. Tôi có cảm giác như mình đang đứng trước một dàn hợp xướng. Nhưng không lâu sau đó, tôi lại không thể chịu đựng nổi sự mãnh liệt và buồn thảm của nhạc cổ điển. Tôi bồn chồn với nhịp điệu của nhạc cổ điển và bị chìm trong cảm xúc của nó. Tôi vội vàng chuyển sang nghe nhạc rock. Tôi lôi tập album của ban nhạc Rolling Stones ra và mở loa hết cỡ. Tôi đổi hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, hết album này đến album khác, để cho tâm trạng hoà đồng với âm nhạc và âm nhạc đồng điệu với tâm hồn. Trong khi tôi tìm kiếm loại âm nhạc phù hợp với mình, thì căn hộ của tôi lại lộn xộn thêm với những đĩa nhạc, băng nhạc và túi album nhạc. Sự lộn xộn trong đầu tôi phản ánh sự lộn xộn trong phòng. Tôi không lĩnh hội được những gì tôi nghe nữa. Tôi bắt đầu rối trí, sợ hãi và mất phương hướng. Tôi không thể nghe bất cứ đoạn nhạc nào quá vài ba phút. Hành động của tôi cuồng lên, còn đầu óc tôi thì điên cuồng hơn thế.

Bóng đen bắt đầu từ từ len lỏi vào đầu tôi và không lâu sau đó tôi mất hết khả năng kiểm soát. Tôi không thể đuổi kịp những suy nghĩ của chính mình. Từng câu, từng câu cứ bay quanh đầu tôi, rồi chúng vỡ ra thành từng mệnh đề, rồi lại vỡ ra thành từng từ và cuối cùng chỉ còn lại ngữ âm. Một buổi chiều muộn, tôi đứng giữa phòng nhìn ra ngoài, ngắm ánh hoàng hôn đỏ rực như máu trải khắp đường chân trời của Thái Bình Dương. Đột nhiên tôi thấy một cảm giác lạ ở trong mắt tôi. Ngay lập tức, tôi nhìn thấy một cỗ máy li tâm khổng lồ, đen ngòm ở ngay trong đầu mình. Tôi thấy một nhân vật cao; trong bộ áo choàng buổi tối dài sát nền nhà, tiến tới chiếc máy li tâm. Tay bà ta cầm một ống thủy tinh to bằng lọ hoa, chứa đầy máu. Khi nhân vật ấy quay đầu lại, tôi hoảng sợ nhận ra đó chính là mình và máu bê bết trên áo quần, áo choàng và đôi găng tay dài trắng của tôi. Tôi nhìn thấy nhân vật ấy cẩn thận đặt ống thủy tinh chứa đầy máu vào một trong những khe của máy li tâm, đậy nắp lại, rồi bật công tắc ở phía trước máy. Chiếc máy li tâm bắt đầu quay. Sau đó, thật kinh hoàng, hình ảnh mà trước đó nằm trong đầu tôi, nay nhảy hẳn ra ngoài. Người tôi cứng đờ vì sợ hãi. Tiếng quay của máy li tâm và tiếng va đập của ống thủy tinh vào kim loại cứ to dần, to dần và cỗ máy bỗng vỡ tan ra thành hàng nghìn mảnh. Máu tung toé khắp nơi. Máu bắn lên ô cửa sổ, lên tường, lên tranh ảnh và ướt sũng thảm sàn nhà. Tôi nhìn ra ngoài đại dương thấy máu trên ô cửa sổ hoà nhập vào ánh hoàng hôn. Tôi không biết máu kết thúc ở đâu và hoàng hôn bắt đầu từ đâu. Tôi thét lên với tất cả lượng hơi trong phổi. Dù vậy, tôi cũng không thoát được khỏi cảnh máu me và tiếng va đập của cỗ máy đang quay nhanh dần, nhanh dần. Suy nghĩ của tôi không chỉ đảo lộn điên cuồng, mà còn biến thành ảo ảnh khủng khiếp, một hình ảnh thật và đáng sợ về cuộc đời và tâm trạng vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Tôi hét lên, rồi lại hét lên. Ảo giác tan dần. Tôi gọi điện cho một đồng nghiệp nhờ anh ta giúp đỡ. Rồi tôi uống một cốc to rượu uytxki và đợi anh ta đến.

Thật may là trước khi bệnh điện của tôi được công khai rộng rãi, anh bạn đồng nghiệp này - người mà tôi đã hẹn hò tình ái kể từ khi li thân với chồng, cùng một số người khác biết và thấu hiểu tôi - đã sẵn sàng chấp nhận sự phẫn nộ điên khùng và ảo giác của tôi. Anh ép tôi phải uống Lithi, một việc chẳng dễ dàng gì đối với anh – vì tôi bị kích động đến rồ dại, hoang tưởng và có những hành vi bạo lực - nhưng anh đã xử lý tất cả những chuyện ấy rất khéo léo, khoan dung và đầy thấu hiểu. Anh là người tế nhị, nhưng tỏ ra kiên quyết khi nói với tôi rằng tôi đã mắc bệnh rối loạn lưỡng cực và thuyết phục tôi tới bác sỹ tâm thần khám bệnh. Chúng tôi cùng tìm kiếm tất cả những bài viết về căn bệnh này. Chúng tôi đọc tất cả những gì có thể và tìm hiểu về cách chữa trị. Lithi mới chỉ được Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ cho phép sử dụng trong chữa trị bệnh điện bốn năm trước đó, năm 1970, nhưng chưa phổ biến ở California. Tuy nhiên, qua các bài viết y học, chúng tôi thấy rõ Lithi là loại thuốc duy nhất có thể có hiệu quả đối với tôi. Anh kê đơn Lithị và các loại thuốc thần kinh khác cho tôi sử dụng trong thời gian ngắn, khẩn cấp, đủ để làm dịu cơn điên của tôi, cho tới khi tôi tới bác sỹ tâm thần khám bệnh. Anh lấy sẵn số lượng thuốc tôi phải uống vào mỗi buổi sáng và buổi tối. Anh dành hàng giờ nói chuyện với gia đình tôi về tình trạng bệnh tật của tôi và bày cho họ cách tốt nhất để giải quyết vấn đề này. Anh đã vài lần lấy máu của tôi để kiểm tra lượng Lithi và đưa ra những dự đoán đầy phấn khích về khả năng phục hồi của tôi. Anh cũng kiên quyết yêu cầu tôi tạm nghỉ việc một thời gian ngắn, nhờ đó mà tôi khỏi bị mất việc và khỏi bị mất những đặc ân của bệnh viện. Anh cũng bố trí người chăm sóc tôi ở nhà trong những khoảng thời gian mà anh không thể ở bên cạnh tôi.

Trong lần điên đầu tiên này, tôi cảm thấy bị suy sụp một cách tệ hại và nguy hiểm hơn rất nhiều so với lúc bị trầm cảm nặng. Cảm giác khủng khiếp nhất là những cơn chao đảo, trồi lên rồi sụt xuống tâm thần tôi hoàn toàn bị rối loạn. Trước đó tôi đã bị điên nhẹ nhiều lần, nhưng chưa bao giờ có cảm giác hoảng sợ, mà nhẹ nhất là rơi vào trạng thái đê mê, còn tệ nhất là bị rối loạn. Tôi đã biết cách tự điều chỉnh trong những tình huống ấy. Tôi đã tạo dựng được phương pháp tự kiểm soát, để kiềm chế những trận cười không thích hợp và hạn chế đến mức thấp nhất sự cáu kỉnh. Tôi né tránh những tình huống có thể chạm tới, hoặc kích thích hệ thần kinh quá nhạy cảm của mình. Tôi cũng học được cách giả vờ như đang tập trung suy nghĩ về một vấn đề nào đó, khi tâm trí tôi nhảy ra khỏi đầu để đuổi theo những con thỏ ở hàng nghìn hướng khác nhau. Công việc và cuộc đời sự nghiệp của tôi như bị tan chảy. Tuy nhiên, không có ở đâu, cả nền giáo dục, trí tuệ và phẩm cách của tôi lại chuẩn bị cho tôi sẵn sàng đối phó với bệnh điên.

Mặc dù bệnh điên của tôi phải mất nhiều tuần mới phát bệnh và tôi biết có chuyện gì đó rất không ổn, nhưng có những lúc tôi biết chính xác rằng tôi đã bị điên. Ý nghĩ của tôi lướt qua rất nhanh, tới mức chỉ tới giữa chừng là tôi đã không nhớ phần đầu của nó là gì nữa. Từng mảng ý tưởng, hình ảnh và câu văn cứ đuổi nhau trong đầu tôi, như những con hổ trong chuyện kể thiếu nhi vậy. Cuối cùng, giống như những con hổ ấy, chúng tan chảy thành những vũng nước vô nghĩa. Tất cả những gì đã từng quen thuộc với tôi nay không còn quen thuộc nữa. Tôi rất muốn kìm hãm tình trạng này, nhưng không thể. Không có bất cứ cách nào có thể có ích - cả việc chạy từ đầu này tới đầu kia bãi đỗ xe trong nhiều giờ hay bơi qua nhiều dặm. Tôi làm mọi cách nhưng dường như đều không chạm được tới nguồn sinh lực trong tôi. Quan hệ tình dục bỗng trở nên quá mãnh liệt, tới mức không còn thấy sung sướng nữa và vào lúc ấy, tôi có cảm giác như đầu óc tôi bị bao bọc bởi những vệt tối đáng sợ. Ảo giác của tôi chỉ toàn thấy những cái chết đau đớn và từ từ của mọi cây xanh trên thế giới - từ dây leo này đến dây leo khác, từ thân cây này đến thân cây khác, từ chiếc lá này đến chiếc lá khác, cứ lần lượt chết đi, mà tôi không làm thế nào cứu chúng được. Những tiếng thét của chúng thật chói tai. Tất cả những hình ảnh ấy dần chuyển thành màu đen rồi tan biến.

Đã có lúc tôi quyết định nếu đầu óc của tôi mà nhờ nó tôi kiếm sống và đã từng ổn định trong nhiều năm - không chấm dứt hiện tượng truy đuổi nhau trong đầu và tôi không thể trở lại làm việc bình thường, thì tôi sẽ tự tử bằng cách nhảy từ nóc toà nhà 12 tầng gần đó. Tôi đã đặt ra thời hạn chót 24 giờ. Nhưng tất nhiên là tôi không còn cảm giác gì về thời gian nữa và hàng triệu suy nghĩ khác - cả cao thượng lẫn bệnh hoạn - vẫn đan xen nhau và đuổi nhau trong đầu tôi. Những ngày khủng khiếp và kinh hoàng. Cuối cùng Thorazine, Lithi, Valium và các loại thuốc an thần đã có tác dụng. Tôi cảm thấy tâm trạng của tôi bắt đầu ghìm cương, chậm dần và cuối cùng dừng lại. Tuy nhiên phải rất lâu sau tôi mới công nhận những suy nghĩ của mình, còn cho đến khi tôi có thể tin vào suy nghĩ của mình thì còn lâu hơn thế nhiều.

Lần đầu tiên tôi gặp người sau này trở thành bác sĩ tâm thần của tôi là khi ông làm bác sĩ trưởng của Viện Chức năng thần kinh UCLA. Ông cao, ưa nhìn và có quan điểm rất mạnh mẽ. Ông cứng rắn, nhưng hài hước và có nụ cười khá dễ mến, mà có thể làm dịu đi những tình huống khó khăn. Ông là người kiên quyết, rất nguyên tắc, biết mình đang làm gì và rất chú ý tới những biện pháp để thực hiện công việc đó. Ông yêu nghề bác sĩ và là một giáo viên tuyệt vời. Trong năm tôi làm thực tập sinh điều trị tâm lý trước khi nhận bằng tiến sĩ, ông được giao nhiệm vụ giám sát công tác điều trị của tôi--khoa bệnh nhân người lớn. Ông là người có lý trí, đưa ra những chẩn đoán rất nghiêm khắc, nhưng đầy tình thương, ở một khoa mà lòng tự trọng của con người đã trở nên quá mong manh và đầy rẫy những mâu thuẫn giữa nội tâm và nhục dục. Trong khi ông ủng hộ việc điều trị sớm và bằng biện pháp y học kiên quyết với những bệnh nhân rối loạn tâm thần, ông vẫn rất tin vào tầm quan trọng của liệu pháp tâm lý để chữa lành và tạo ra những thay đổi bền vững ở bệnh nhân. Tình thương bệnh nhân, cùng với sự hiểu biết sâu rộng về y học, tâm thần học và bản chất con người của ông đã để lại những ấn tượng tốt trong tôi. Khi tôi bị điên nặng, ngay sau khi trở thành giáo viên của UCLA, ông là người duy nhất tôi tin tưởng % cuộc sống của mình. Bằng trực giác của mình, tôi hiểu rằng tôi không thể nói nhiều hơn, suy nghĩ nhanh hơn và hành động nhanh hơn ông. Giữa một mớ vô cùng lộn xộn trong đầu, đó là quyết định tỉnh táo và rất có ý nghĩa của tôi.

Khi lần đầu tiên tôi gọi điện xin hẹn khám, tôi không chỉ rất yếu, mà còn hoảng sợ và rất bối rối. Tôi chưa bao giờ tới bác sĩ tâm thần hay nhà tâm lý nào để khám bệnh. Tuy nhiên, tôi không còn sự lựa chọn nào khác. Tôi đã hoàn toàn mất trí. Nếu không nhận được sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn, tôi rất có thể bị mất việc, mất đi cuộc hôn nhân mong manh và thậm chí cả cuộc đời mình nữa. Tôi lái xe từ phòng làm việc ở UCLA tới phòng khám của ông ở thung lũng San Fernando. Đó là một buổi chiều tà ở Nam California, khoảng thời gian thường là đáng yêu trong ngày, nhưng tôi - lần đầu tiên trong đời – rùng mình vì sợ. Tôi sợ những gì ông sẽ nói với tôi và sợ cả những điều ông không thể nói ra với tôi. Đó là một trong những lần tôi không thể suy nghĩ hoặc cười để thoát ra khỏi hoàn cảnh mà tôi đã lâm vào và cũng không biết liệu trên đời này có cái gì đó có thể làm cho tôi khá hơn được không.

Tôi ấn nút cầu thang máy và đi dọc hành lang tới phòng đợi. Hai bệnh nhân khác cũng đang ngồi chờ bác sỹ. Họ càng làm cho tôi cảm thấy nhục nhã và xấu hổ với vị trí bệnh nhân hẹn khám của mình. Tôi cũng bắt đầu chán ngán tất cả những cơ hội xây dựng uy danh, mà vì nó người ta phải hy sinh cả cuộc sống bình thường của mình. Nếu tôi không ở trong tình trạng mong manh như khi ấy, tất cả những điều này có thể không trở nên nghiêm trọng đến thế. Tuy nhiên khi ấy tôi bối rối, hoảng sợ và tất cả những nhận thức về bản thân mình bỗng nhiên bị đảo lộn. Sự tự tin, vốn đã thấm sâu vào mọi góc cạnh của cuộc đời tôi từ rất lâu, bỗng nhiên tan biến.

Tôi nhìn thấy một dãy nút bấm, cái thì sáng, cái thì không sáng trên bức tường đối diện của phòng đợi. Rõ ràng là tôi phải bấm vào một trong những nút đó, để bác sỹ tâm thần của tôi biết rằng tôi đã tới. Tôi có cảm giác mình giống như một con chuột bạch khổng lồ, ấn bàn chân đầy móng vuốt vào chiếc đòn bẩy để lấy viên thức ăn. Đó là hệ thống tín hiệu tuy thực dụng, nhưng lại làm mất danh giá của con người đến kỳ lạ. Tôi bị chìm trong suy nghĩ rằng có lẽ tôi không thích hợp lắm với vị trí bệnh nhân bên bàn khám bệnh.

Bác sỹ tâm thần của tôi mở cửa. Ông nhìn tôi rất lâu, bảo tôi ngồi xuống và an ủi tôi. Tôi hoàn toàn không nhớ ông đã nói gì - tôi tin rằng đó là những ngôn từ mà bình thường người ta phải nói thôi nhưng tôi có cảm giác rằng một tia sáng nhỏ, rất nhỏ và rất chậm chạp, len dần vào đầu óc đen tối và hoảng sợ của tôi. Tôi gần như hoàn toàn không nhớ mình đã nói gì trong lần khám đầu tiên này, nhưng tôi biết đó chỉ là những câu dông dài, yếu ớt và lộn xộn. Ông ngồi đó, dường như rất chăm chú lắng nghe, cái bóng cao 1,9 mét của ông trải dài từ ghế xuống sàn nhà, đôi chân hết gác lên nhau lại bỏ ra và những ngón tay dài của ông cứ gõ mãi vào nhau. Sau đó ông bắt đầu hỏi.

Tôi ngủ bao nhiêu giờ mỗi ngày? Tôi có gặp khó khăn gì trong việc tập trung tâm trí không? Tôi có nói nhiều hơn bình thường không? Tôi có nói nhanh hơn bình thường không? Có ai đề nghị tôi nói chậm lại không, hay họ có hiểu tôi nói gì không? Tôi có cảm giác là buộc phải nói liên tục không? Tôi có cảm thấy có nhiều sinh lực hơn bình thường không? Những người khác có nói họ phải vất vả mới theo kịp tôi không? Tôi có tham gia nhiều hoạt động hơn bình thường không và có thực hiện nhiều dự án hơn không? Có phải những suy nghĩ của tôi diễn ra quá nhanh, tới mức tôi khó theo kịp được chúng không? Có phải tôi ít nghỉ ngơi hơn và dễ xúc động hơn không? Tôi có quan hệ tình dục nhiều hơn không? Tôi có tiêu tiền nhiều hơn không? Tôi có hành động hấp tấp không? Tôi có dễ cáu kỉnh và giận dữ hơn bình thường không? Tôi có cảm giác rằng mình có tài năng hay uy lực đặc biệt không? Tôi có nhìn thấy hay nghe thấy hình ảnh và âm thanh nào mà những người khác không nhìn thấy hay nghe thấy không? Tôi có cảm giác kỳ lạ nào không? Trước đây đã bao giờ tôi gặp phải triệu chứng này chưa? Có ai trong gia đình tôi có triệu chứng giống như tôi không?... 

Tôi nhận ra rằng tôi đang trải qua một kỳ sát hạch rất chi tiết về bệnh tâm thần. Những câu hối này là khá quen thuộc. Tôi đã hỏi những người khác những câu hỏi ấy hàng trăm lần rồi. Tuy nhiên, tôi cảm thấy mất tự tin khi phải trả lời những câu hỏi đó. Tôi mất tự tin vì không biết tất cả những chuyện này rồi sẽ đi tới đâu và mất tự tin khi nhận ra rằng tôi bối rối biết bao khi trở thành một bệnh nhân. Tội trả lời “có” cho hầu hết các câu hỏi của ông, kể cả hàng loạt lời giải thích dài dằng dặc về sự trầm cảm nữa. Rồi tôi có cảm giác rằng tôi đang nhận được sự tôn trọng mới cả về nghề nghiệp lẫn tâm thần. 

Dần dần, kinh nghiệm của ông với tư cách một bác sĩ và sự tự tin của ông với tư cách một con người, bắt đầu có hiệu lực, rất giống với tác động của thuốc làm địu dần cơn điên. Ông nói rất rõ ràng rằng ông nghĩ tôi đã bị hưng-trầm cảm và tôi cần phải uống thuốc Lithi, có thể vô thời hạn. Điều đó làm tôi vô cùng hoảng sợ - khi đó tôi biết ít hơn bây giờ rất nhiều về căn bệnh này, cũng như những dự báo về tiến trình phát triển của nó — nhưng nó cũng đồng thời làm tôi địu đi, vì tôi đã được nghe lời chẩn đoán mà trong thâm tâm tôi biết là đúng. Dù vậy tôi vẫn tìm cách cưỡng lại lời phán xét mà ông vừa giáng xuống đầu tôi, nhưng không thành công. Ông lắng nghe một cách kiên nhẫn. Ông lắng nghe tất cả những lời giải thích khác về sự suy sụp tinh thần của tôi - sức ép của cuộc hôn nhân cưỡng bức, sức ép của việc trở thành giáo viên tâm thần ở trường đại học và sức ép của công việc quá nhiều — nhưng ông vẫn giữ nguyên chẩn đoán của mình và gợi ý rằng tôi cần điều trị bằng thuốc. Tôi cay đắng cưỡng lại, nhưng lại nhẹ người đi rất nhiều. Tôi vô cùng kính trọng ông vì những suy nghĩ rất rõ ràng của ông, vì sự quan tâm mà ông dành cho tôi và vì ông không ngần ngại nói ra một tin xấu. 

Trong rất nhiều năm sau, tôi thường xuyên tới ông khám bệnh, ít nhất mỗi tuần một lần, trừ khi tôi sống ở Anh. Những khi tôi thấy quá trầm cảm hoặc muốn tự tử, tôi tới chỗ ông thường xuyên hơn. Ông đã hàng nghìn lần giữ lại cuộc sống của tôi. Ông theo dõi tôi vượt qua những cơn điên rồi suy sụp, những lúc tuyệt vời và tình yêu cháy bỏng, những lúc bị vỡ mộng và những lúc vinh quang, những khi bệnh tái phát và lúc tôi mưu toan tự tử, khi người đàn ông mà tôi yêu say đắm qua đời và những khi tôi hài lòng hay bực dọc với công việc chuyên môn của mình. Tóm lại, ông theo dõi tôi vượt qua gần như tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống tâm hồn _ và tâm lý của tôi, kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc. Ông rất cứng rắn, nhưng cũng rất tốt bụng. Ông hiểu hơn ai hết về những mất mát to lớn - cả về sinh lực, sự sôi nổi và tính độc đáo - của tôi khi uống thuốc, nhưng ông cũng chưa bao giờ nhân nhượng trong đánh giá về những tổn thất, thiệt hại và sự nguy hiểm đến tính mạng, mà căn bệnh của tôi có thể mang lại. Ông dễ dàng vượt qua sự mơ hồ, không ngại những rắc rối và có khả năng đưa ra quyết định đúng giữa những điều rối rắm. Ông điều trị cho tôi với sự tôn trọng, với khả năng chuyên môn rất cao, với khiếu hài hước và niềm tin vững chắc rằng tôi sẽ hồi phục, tôi sẽ đấu tranh với bệnh tật và tôi có thể làm thay đổi tình hình. 

Mặc dù tôi tìm đến ông để chữa bệnh, nhưng ông đã dạy cho tôi nhiều điều, ví dụ như tác động của bộ óc tới tâm thần và tâm hồn tới bộ óc ở những bệnh nhân của tôi. Tính khí, tâm trạng và bệnh tật của tôi rõ ràng là ảnh hưởng rất nhiều tới mối quan hệ của tôi với những người khác, cũng như tới công việc của tôi. Tuy nhiên, chính tâm trạng của tôi lại cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của những mối quan hệ ấy và của công việc. Thách thức ở đây là hiểu được sự phức tạp của những mối quan hệ tác động lẫn nhau này, xác định được vai trò rõ ràng của Lithi, của ý chí và sự sáng suốt để vượt qua bệnh tật, tiến tới một cuộc sống có ý nghĩa. Đó là nhiệm vụ và cũng là món quà của liệu pháp tâm lý. 

Trong khoảng thời gian này, tôi không thể hình dung được khả năng trở lại với cuộc sống bình thường, nếu không uống Lithi và không được điều trị bằng liệu pháp tâm lý. Lithi giúp tôi tránh được những cơn cao hứng đầy quyến rũ, nhưng nguy hiểm, làm dịu những cơn trầm cảm, giúp tôi thoát khỏi mớ bòng bong suy nghĩ lộn xộn của mình, làm cho tôi bình tĩnh trở lại, giúp tôi thoát khỏi tình huống của mình, giúp tôi khỏi bị mất việc và mất những mối quan hệ của mình, tránh cho tôi khỏi phải vào viện, giữ cho tôi tiếp tục sống và tạo điều kiện cho liệu pháp tâm lý phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, chính liệu pháp tâm lý mới chữa lành bệnh cho tôi. Nó giúp tôi nhận thức được sự lộn xộn, kiềm chế những suy nghĩ và cảm giác khủng khiếp, khôi phục lại khả năng kiểm soát và niềm hy vọng và có lẽ cả khả năng rút ra được bài học từ tất cả những điều đó nữa. Thuốc không và không thể đưa người ta trở lại với thực tế. Thuốc chỉ kiềm chế người ta khỏi những cơn liều lĩnh và mất phương hướng và rút ngắn cơn điên mà thôi. Liệu pháp tâm lý là nơi trú ẩn, là chiến trường, nơi tôi đã từng bị tâm thần, bị rối loạn thần kinh chức năng, bị kích động, và tuyệt vọng đến mức không thể tưởng tượng nổi. Tuy nhiên, đó cũng chính là nơi tôi tin rằng, hay đã học được cách tin rằng, tới một ngày nào đó, tôi có thể chiến thắng tất cả những chuyện đó.

Không có loại thuốc nào chữa được bệnh không muốn uống thuốc, không có một liệu pháp tâm lý nào, mà riêng nó có thể ngăn tôi khỏi bị điện và trầm cảm. Tôi cần cả hai. Thật kỳ quặc khi phải gắn cả cuộc đời với thuốc, mà uống thuốc trở thành một thói quen suốt cả cuộc đời, và gắn với cách chữa trị độc đáo, kỳ lạ, nhưng cuối cùng lại rất có hiệu quả, gọi là liệu pháp tâm lý.

Tuy nhiên, không phải tôi đã sớm nhận ra rằng tôi phải gắn cả cuộc đời với thuốc. Tôi đã phải trả giá đắt cho việc đánh giá không đúng sự cần thiết phải uống Lithi.

Nhớ Sao Thổ

Mỗi người điên theo một cách khác nhau. Có lẽ, không có gì đáng ngạc nhiên, khi tôi, con gái của nhà khí tượng, bỗng tự thấy mình chìm trong ảo ảnh đầy thú vị của đêm hè, lướt đi, bay đi và thỉnh thoảng cũng trong tránh khi xuyên qua những đám mây dày và lướt trên chín tầng mây, vượt qua những ngôi sao và xuyên qua những cánh đồng băng tuyết trong suốt. Ngay cả đến bây giờ, trong con mắt độc đáo ở đầu mình, tôi vẫn thấy thứ ánh sáng như vỡ ra và chuyển dịch, những sắc màu không ổn định, nhưng mê mẩn lòng người, tạo thành những vòng tròn rộng hàng dặm. Và thật khó có thể tưởng tượng được, tôi đã thấy những hành tinh nhợt nhạt trong vòng tròn bao quanh ngôi sao ấy. Tôi còn nhớ là tôi đã hát bài “Hãy đưa tôi bay lên Mặt trăng”, khi tôi lướt qua vòng tròn đó của Sao Thổ. Thật kỳ lạ. Tôi đã nhìn thấy và được chiêm ngưỡng cái chỉ xuất hiện trong giấc mơ hay trong những ước vọng chập chờn.

Cái đó có thực không? Chắc chắn là không.

Không với đúng nghĩa của từ “thực”. Nhưng nó có ở trong tôi không? Chắc chắn là có. Cho tới rất lâu sau khi tâm thần của tôi đã ổn định và thuốc đã có hiệu lực, nó vẫn là một phần trong trí nhớ của tôi và được bao bọc trong sự phiền muộn. Rất lâu sau chuyến du hành ấy của trí óc và tâm hồn, Sao Thổ cùng vòng tròn bằng của nó vẫn luôn mang một vẻ đẹp buồn thảm. Nay mỗi lần nhìn thấy hình ảnh của Sao Thổ, tôi lại thấy vô cùng buồn bã, buồn vì nó ở quá xa và không làm thế nào nắm bắt được. Cảm xúc mạnh mẽ, cảnh đẹp thần tiên và niềm tin tuyệt đối rằng chuyến bay trong tâm hồn ấy là có thực đã làm cho tôi, khi tôi đã khá hơn, khó có thể tin được rằng bệnh tật là cái cần phải từ bỏ. Mặc dù tôi là một bác sỹ điều trị, một nhà khoa học và cho dù tôi đã đọc nhiều công trình nghiên cứu và biết rõ những hậu quả nguy hiểm không thể tránh khỏi nếu không uống Lithi, nhưng tôi vẫn ngần ngại uống thuốc theo đúng đơn của bác sỹ, cho tới mãi nhiều năm sau lần khám bệnh đầu tiên. Tại sao tôi lại không sẵn sàng từ giã bệnh tật? Tại sao tôi lại phải trải qua nhiều cơn điên nữa và tiếp sau đó là những cơn trầm cảm kéo dài tới mức tôi chỉ muốn tự tử, tôi mới bắt đầu tự giác uống Lithi?

Sự ngần ngại của tôi chắc chắn một phần xuất phát từ việc về cơ bản tôi không coi những gì tôi đang mắc là một căn bệnh thực sự. Đây là phản ứng thường thấy sau những đợt hưng trầm cảm nhẹ ban đầu. Tâm lý là một phần quan trọng của cuộc sống. Trong ý niệm của mỗi người, những biểu hiện loạn thần kinh, cả trong tâm trạng hay hành vi, cũng đều có thể được coi là phản ứng tạm thời trước những vấn đề của cuộc sống. Trong trường hợp của tôi, tôi có cảm giác khủng khiếp rằng tôi có thể bị mất những người mà tôi đã từng chung sống và những nơi tôi đã từng đến. Thật khó có thể từ bỏ sự hưng phấn của trí tuệ và tâm thần, cho dù sau đó chắc chắn là đến giai đoạn suy sụp mà đã từng suýt cướp đi sinh mạng của tôi.

Gia đình cũng như bè bạn của tôi đều nghĩ rằng tôi sẽ vui mừng chào đón cuộc sống “bình thường”, sẽ đánh giá cao hiệu quả của Lithi và dễ dàng quen với sinh lực và những giấc ngủ bình thường. Tuy nhiên, nếu bạn đã từng lướt trên những ngôi sao và vòng tròn của hành tinh, đã từng quen với việc ngủ bốn, năm tiếng đồng hồ mỗi đêm trong khi nay ngủ tới tám tiếng, và đã từng đứng bên lan can suốt đêm, hết đêm này tới đêm khác, hết tuần này sang tuần khác, nhưng nay không thể, thì bạn sẽ thấy rằng đây thực sự là một sự điều chỉnh ghê gớm. Nó giống như phải làm quen với bộ comple, mặc dù thuận tiện với nhiều người, nhưng lại là một cái gì đó mới mẻ, chật hẹp, ít hữu ích và vô cùng khó chịu với tôi. Khi tôi phàn nàn rằng nay tôi kém sắc sảo hơn, ít hoạt bát hơn và ít mạnh mẽ hơn, thì mọi người lại nói rằng “ồ, nay cô đang giống tất cả chúng tôi”. Đó là điều an ủi. Tuy nhiên tôi muốn so sánh tôi với chính mình trước đây, chứ không phải với người khác. Không chỉ có thế, tôi còn có xu hướng so sánh tôi hiện nay với thời điểm tốt nhất trước đây, khi tôi ở trạng thái điện nhẹ. Khi ở trong cái vỏ “bình thường” hiện nay, tôi khác rất xa với khi tôi đáng yêu nhất, hữu ích nhất, mạnh mẽ nhất, thoải mái nhất và sôi nổi nhất. Tóm lại tôi đang phải chật vật để theo kịp chính mình.

Và tôi rất nhớ Sao Thổ.

Cuộc chiến của tôi với Lithi diễn ra không lâu sau khi tôi bắt đầu uống thuốc. Lần đầu tiên bác sỹ kê đơn Lithi cho tôi là vào mùa thu 1974, nhưng đến đầu mùa xuân 1975, bất chấp những lời khuyên của y học, tôi ngừng uống thuốc. Khi cơn điên đầu tiên qua đi và tôi bắt đầu hồi phục sau đợt suy sụp khủng khiếp tiếp sau cơn điên, hàng nghìn lý do đã tập hợp lại trong đầu tôi, hình thành một phòng tuyến mạnh mẽ chống lại việc tôi uống thuốc. Một số lý do là tâm lý. Một số khác thì có liên quan đến những tác dụng phụ của thuốc, do lượng Lithi trong máu cao để có thể kiểm soát được bệnh, ít nhất cũng là trong giai đoạn đầu. (Hồi năm 1974, tiêu chuẩn điều trị khi đó là duy trì lượng Lithi trong máu của bệnh nhân cao hơn đáng kể so với hiện nay. Tôi đã dùng Lithi liều thấp từ nhiều năm nay và hầu như tất cả những vấn đề mà tôi gặp phải khi bắt đầu điều trị đã biến mất). Những tác dụng phụ mà tôi gặp phải trong 10 năm đầu tiên là rất khó xử lý. Ở một số ít bệnh nhân, trong đó có tôi, lượng Lithi cần thiết để điều trị có hiệu lực là rất gần với mức độc hại.

Không có ai nghi ngờ việc Lithi có tác dụng tốt đối với tôi - sách giáo khoa đã coi dạng hưng - trầm cảm của tôi là trường hợp điển hình có phản ứng tốt với Lithi. Tôi bị điên nặng và kéo dài, gia đình có tiền sử điện và triệu chứng điện xuất hiện trước trầm cảm, chứ không phải ngược lại nhưng thuốc đã ảnh hưởng rất mạnh đến tâm lý của tôi. Tôi tự thấy mình phải chịu ơn loại thuốc, mà đã từng làm cho tôi bị nôn thốc tháo vài lần mỗi tháng tôi thường phải ngủ trên sàn nhà tắm, với chiếc gối kê đầu và chiếc áo choàng len St. Andrew đắp trên người - mỗi khi sự thay đổi của lượng muối, của chế độ ăn kiêng, của luyện tập thể thao hay hócmôn làm cho lượng Lithi trong máu tôi trở nên quá cao. Tôi rơi vào tình trạng điên ở rất nhiều nơi và rất xấu hổ khi bị điên ngay giữa nơi công cộng, từ giảng đường, tới nhà hàng ăn và Bảo tàng nghệ thuật ở Luân Đôn. (Tất cả những hiện tượng này đã được cải thiện rất nhiều kể từ khi tôi chuyển sang sử dụng thuốc Lithi chỉ để làm dịu cơn điên từng lần một). Khi bị độc cao, người tôi bắt đầu run lên, mất khả năng điều hòa, lao thẳng vào tường và giọng nói líu lại. Kết quả là đã vài lần tôi bị đưa vào bệnh viện cấp cứu. Ở đó, người ta truyền tĩnh mạch cho tôi để giải độc. Tuy nhiên, điều làm tôi xấu hổ hơn là hiện tượng này giống như tôi đã sử dụng ma túy bất hợp pháp, hoặc đã uống quá nhiều rượu.

Một buổi tối, sau lớp học cưỡi ngựa ở Malibu, mà hôm đó tôi hai lần bị ngã ngựa, trên đường về tôi bị cảnh sát kéo ra vệ đường. Họ yêu cầu tôi cho kiểm tra thần kinh tại chỗ. Tôi không thể bước theo một đường thẳng. Tôi không thể đưa đầu ngón tay lên đúng mũi của mình. Tệ hại hơn nữa là tôi không thể chạm được đầu các ngón tay vào đúng đầu ngón tay cái của mình. Có Chúa mới biết cầu mắt của tôi ra sao khi cảnh sát soi đèn vào đó kiểm tra. Khi tôi đưa lọ thuốc ra cho cảnh sát biết tên và số điện thoại của bác sỹ tâm thần của tôi và đồng ý tiến hành bất cứ cuộc xét nghiệm máu nào mà họ muốn, cảnh sát vẫn không tin rằng tôi đã không sử dụng ma túy hay uống rượu quá nhiều.

Không lâu sau sự kiện đó và ít lâu sau khi tôi bắt đầu học trượt tuyết, tôi đã leo tới đỉnh một ngọn núi cao ở bang Utah, mà không nhận ra rằng độ cao và việc tập luyện quá nhiều có thể làm tăng lượng Lithi trong máu. Tôi hoàn toàn bị mất phương hướng và không biết làm cách nào để có thể xuống núi. Thật may là người bạn của tôi biết tôi đang dùng Lithi và chính anh ta cũng là một chuyên gia về cách sử dụng loại thuốc này, đã lo ngại khi thấy tôi không theo kịp anh tới địa điểm mà chúng tôi đã hẹn trước. Anh tin rằng tôi có thể đã bị độc Lithi và yêu cầu các nhân viên tuần tra lên áp tải tôi xuống. Tôi đã xuống núi an toàn, nhưng ở tư thế nằm ngang, chứ không phải ở tư thế trượt tuyết mà tôi muốn.

Hiện tượng nôn mửa và thỉnh thoảng bị độc, tuy làm cho tôi khó chịu và đôi khi xấu hổ, vẫn ít quan trọng hơn nhiều so với tác động của Lithi tới khả năng đọc, lĩnh hội và ghi nhớ những gì đã đọc của tôi. Trong một vài trường hợp, Lithi còn tác động tới khả năng thị lực của tôi, làm cho tôi thấy hình ảnh bị nhòe đi. Nó cũng làm giảm khả năng tập trung chú ý và ảnh hưởng đến trí nhớ của tôi. Đọc, vốn là cốt lõi của trí tuệ và tâm hồn tôi, bỗng vượt ra ngoài tầm với của tôi. Tôi đã từng đọc ba, bốn cuốn sách mỗi tuần, nay bỗng trở nên không thể. Trong hơn một chục năm, tôi không thể đọc một mạch từ đầu đến cuối một tác phẩm văn học hay một cuốn sách nào. Điều này đã làm cho tôi thất vọng và đau đớn, tới mức không thể lường được. Tôi đã từng ném sách vào tường giữa cơn giận dữ điên cuồng và vứt tạp chí y học tung toé khắp phòng làm việc. Tôi có thể đọc những bài viết trên tạp chí tốt hơn sách, vì chúng ngắn hơn. Dù vậy, tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn. Có những dòng tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần và ghi chép, trước khi tôi lĩnh hội được ý nghĩa của nó. Ngay cả như thế, những gì tôi đọc được cũng thường biến khỏi trí nhớ của tôi, giống như tuyết trên con đường ấm vậy. Tôi chuyển sang ren đăng ten, như là một sự thay đổi, và tôi đã ren biết bao chiếc áo gối và màn chống nóng, nhưng vẫn không thành công trong việc lấp khoảng trống thời gian mà trước đây tôi vẫn dành để đọc sách.

Ơn Chúa, tôi vẫn còn hiểu được thơ. Lúc nào tôi cũng yêu thơ và nay tôi lao vào thơ với một niềm đam mê khó tả. Tôi cũng thấy những cuốn sách dành cho trẻ em, ngoài việc ngắn hơn sách dành cho người lớn, còn được in chữ to hơn và dễ cảm nhận hơn. Tôi đọc đi đọc lại những cuốn sách cổ điển của trẻ em - Peter Pen, Mary Poppins, Tấm mạng của Charlotte, Cây việt quất Phần Lan, bộ sách Oz và Bác sỹ Nhí - mà nhiều năm trước đã mở ra trước mắt tôi những thế giới không thể nào quên. Nay chúng lại mang đến cho tôi cơ hội thứ hai, sự thích thú và vẻ đẹp kỳ diệu. Trong số những cuốn sách của trẻ em, Gió trong rừng liễu là cuốn sách tôi đọc đi, đọc lại nhiều nhất. Thỉnh thoảng tôi thấy mình như bị chìm trong đó. Tôi nhớ một lần tôi hoàn toàn bị tan nát cõi lòng khi đọc đoạn miêu tả Chuột chũi và căn nhà của nó. Tôi khóc và cứ thế khóc không kìm lại được.

Gần đây tôi đã lấy cuốn Gió trong rừng liễu từ trên giá xuống. Cuốn sách này vẫn được gập nguyên ở đó kể từ khi tôi lấy lại được khả năng đọc sách. Tôi cố tìm lại xem cái gì đã làm cho tôi phải mủi lòng đến thế. Chỉ trong ít phút, tôi đã tìm lại được đoạn mà tôi cần tìm. Chuột chũi, sau một khoảng thời gian dài rời căn nhà của mình trong lòng đất để đi khám phá thế giới ánh sáng cùng với anh bạn Chuột, trong một buổi tối mùa đông đã đi ngang qua và đột nhiên “nhớ lại tất cả những mùi vị” trong căn nhà cũ của mình. Khao khát được thăm lại nơi ở cũ, Chuột chũi tìm mọi cách thuyết phục anh bạn cùng mình quay lại:

“Dừng lại chuột”, chú chuột chũi đáng thương cầu khẩn, trong trái tim tan nát. “Bạn không hiểu nổi đâu! Đó là nhà tôi, nhà cũ của tôi! Tôi vừa ngửi thấy mùi của nó. Nó rất gần đây thôi, rất gần. Tôi phải về thăm nhà. Tôi phải về, tôi phải về! Quay lại đi chuột! Nào, xin bạn hãy quay lại đi!”

Chuột, lúc đầu lo lắng và ngần ngại không muốn mất thời gian cho việc này, cuối cùng cũng đồng ý tới thăm nhà chuột chũi. Sau khi nghe bài hát Thánh ca nhân dịp Giáng sinh và nhấm nháp li rượu nóng trước lò sưởi, chuột chũi mới kể rằng anh ta đã nhớ biết bao sự ấm áp và an toàn mà anh ta đã từng có. Anh ta nhớ “tất cả những thứ thân quen đã vô tình trở thành một phần cuộc đời anh”. Đọc đến đây tôi bỗng nhớ một cách chính xác, bằng bản năng, điều mà tôi đã cảm thấy khi đọc nó, không lâu sau khi uống Lithi. Tôi nhớ nhà, tôi nhớ tâm hồn mình, tôi nhớ cuộc đời mình với những cuốn sách và “những thứ thân quen”, tôi nhớ thế giới của tôi, nơi mọi thứ đều có chỗ của chúng và không gì có thể phá vỡ chúng được. Nhưng nay tôi không còn sự lựa chọn nào khác, buộc phải sống trong thế giới đổ vỡ, mà tâm trí tôi áp đặt. Tôi ước mong trở lại những ngày mà tôi đã biết trước khi điện và thuốc len lỏi vào mọi góc cạnh của cuộc đời tôi.

Những nguyên tắc tiếp đón Lithi một cách lịch thiệp vào cuộc đời bạn

1, Dọn sạch tủ thuốc trước khi khách tới ăn tối hoặc khi người yêu mới ở lại qua đêm.

2, Ngày hôm sau nhớ để Lithi trở lại tủ thuốc.

3, Đừng quá xấu hổ khi bạn không thể phối hợp hoặc chơi tốt môn thể thao mà bạn đã từng dễ dàng vượt qua.

4, Học cách cười khi đánh đổ cà phê, khi ký chữ ký đờ đẫn như của người tám mươi tuổi và khi không thể cài cúc áo khoác trong vòng mười phút.

5, Mỉm cười khi mọi người nói đùa rằng họ nghĩ họ “cần phải uống Lithi”.

6, Gật đầu một cách thông minh và tin tưởng khi bác sĩ giải thích cho bạn những lợi thế của Lithi trong việc làm dịu những xáo trộn trong cuộc đời bạn.

7, Kiên nhẫn chờ đợi những xáo trộn ấy qua đi. Phải thật kiên nhẫn. Đọc lại chương trình làm việc. Tiếp tục kiên nhẫn. Suy ngẫm về sự tương đồng giữa “kiên nhẫn” và “là một bệnh nhân”. (Chơi chữ: Trong tiếng Anh, chữ “patient” vừa là “kiên nhẫn” vừa là “bệnh nhân”- ND).

8, Đừng phiền lòng trước việc bạn không thể đọc nếu không cố gắng. Hãy triết lý một chút. Ngay cả khi đọc được, bạn vẫn có thể không nhớ hầu hết những gì mình đọc kia mà.

9, Hãy quen với việc bạn kém nhiệt tình và hứng khởi hơn trước đây. Cố gắng đừng nghĩ tới tất cả những đêm phóng túng mà bạn đã từng có. Biết đâu, nếu không có những đêm như thế, có khi lại tốt.

10, Hãy tìm nén suy nghĩ rằng mình đã từng tốt hơn rất nhiều. Chắc chắn mọi người sẽ thường xuyên nhắc tới điều này là nó có thể làm cho bạn khó chịu, nhưng đó là sự thật.

11, Hãy đánh giá đúng vai trò của Lithi. Đừng bao giờ nghĩ tới chuyện ngừng uống Lithi.

12, Nếu bạn ngừng uống thuốc và bị điên, bị suy sụp, thì hãy sẵn sàng lắng nghe hai chủ đề quen thuộc từ gia đình, bạn bè và những người đang chữa bệnh cho bạn:

- Bạn đang khá hơn rất nhiều. Tôi chỉ không hiểu tại sao lại thế thôi.

- Tôi đã nói với bạn là chuyện này có thể xảy ra.

13, Hãy lại tích trữ thuốc vào tủ thuốc của bạn.

Cuối cùng các vấn đề tâm lý lại đóng vai trò quan trọng hơn nhiều so với những tác dụng phụ trong việc tôi không chịu uống Lithi trong một thời gian dài. Đơn giản là tôi không muốn tin rằng tôi cần phải uống thuốc. Tôi đâm nghiện tâm trạng hứng khởi cao độ của mình. Tôi bỗng thấy như bị phụ thuộc vào cảm xúc mãnh liệt, trạng thái phởn phơ và sự tự tin, cũng như khả năng truyền cảm hứng và tâm trạng phấn khởi đó sang người khác. Giống như những con bạc sẵn sàng hy sinh mọi thứ cho sự phù du và cảm giác đê mê khi chiến thắng, hay giống như những con nghiện đánh đổi cả gia đình, sự nghiệp và cuộc đời mình lấy sự hứng khởi và sinh lực cao trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, tôi thấy tình trạng điện nhẹ làm cho tôi mê mẩn và rất hữu ích trong việc nâng cao năng suất làm việc. Tôi không thể từ bỏ nó được. Quan trọng hơn nữa là tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối nhờ thừa hưởng ý chí mạnh mẽ của bố mẹ, nhờ sự bướng bỉnh của chính mình và nhờ nền giáo dục kiểu quân sự WASP : rằng tôi có khả năng chống chọi bất cứ khó khăn nào, mà không cần phải dựa vào những cái nạng, như uống thuốc.

Tôi không phải là người duy nhất có suy nghĩ kiểu này. Khi tôi bị bệnh, chị tôi đã kịch liệt phản đối việc tôi uống Lithi và chị đã tỏ ra ghê sợ khi tôi dùng thuốc. Trong sự trở lại kỳ quặc với nền giáo dục đạo đức khắt khe của Thanh giáo mà chị đã từng điên cuồng chống lại, chị nói thẳng với tôi rằng tôi cần phải biết cách vượt qua” cơn trầm cảm và chứng điên, và rằng tâm hồn tôi sẽ khô héo đi nếu tôi uống thuốc. Thái độ tệ hại hơn của chị đối với tôi, kết hợp với sự nguy hiểm trong quan điểm của chị về việc dùng thuốc, đã làm cho mối quan hệ giữa chị và tôi càng khó duy trì. Một buổi tối, cách đây đã nhiều năm về trước, chị đã khoét sâu thêm vào nỗi đau của tôi, vì tôi đã “đầu hàng bọn y tế có tổ chức” khi “Lithi hoá tâm hồn của tôi”. Chị nói, tâm hồn tôi đã bị khô cứng lại, lửa đang cháy lan ra và tôi chỉ còn là cái vỏ của chính mình trước đây. Điều này đã giáng thẳng vào thần kinh của tôi. Tôi nghĩ là chị đã biết điều này rồi, nhưng cố tình chọc tức người đàn ông chuẩn bị đi ra ngoài cùng với tôi. Anh ta đã thấy tôi ốm yếu, nhưng không thấy những triệu chứng của bệnh điên. Anh ta cố dùng tài hóm hỉnh để né tránh tình huống này - “Có thể chính chị gái của em mới là cái vỏ của chị ấy trước đây”, anh ta nói, “Tuy nhiên cái vỏ của chị ấy cứng quá, anh chẳng thể làm gì nổi”. Ngay sau đó chị tôi tiễn anh ta, để lại tôi ốm yếu một mình ở trong nhà, cùng với mối nghi ngờ về quyết định uống Lithi.

Tôi không dám gần gũi bất kỳ ai đại diện cho phái mà chị tôi nói là mưu toan can thiệp vào tâm hồn không bị nhiễm thuốc của tôi, vào nền giáo dục vốn dạy tôi rằng con người ta cần phải có khả năng tự giải quyết mọi thứ, và quyến rũ tôi khỏi tâm trạng hứng khởi và đê mê của mình. Khi đó tôi chỉ mới bắt đầu hiểu được rằng không chỉ tâm hồn tôi, mà cả sinh mệnh tôi đang đứng trước hiểm nguy. Tuy nhiên, tôi cũng được dạy dỗ rằng tôi không thể tuân phục mà không chiến đấu. Tôi thực sự tin vào những điều tôi đã được dạy dỗ rằng tôi cần phải tự tìm cách vượt qua khó khăn, tự tin, và không phụ thuộc vào người khác trong giải quyết các vấn đề của mình. Tuy nhiên, khi nhìn lại những tổn thất mà niềm tin ngu xuẩn và niềm tự hào mù quáng ấy đã mang lại, nay tôi lại băn khoăn tự hỏi: Tại sao mình lại có thể suy nghĩ kỳ cục đến thế nhỉ? Tôi cũng đã từng được dạy rằng tôi phải biết suy nghĩ cho chính mình. Vậy tại sao khi đó tôi lại không nghi ngờ những lời khuyên cứng nhắc và không thích hợp về ý chí tự lực này? Tại sao tôi lại không thấy rằng sự kháng cự của tôi là ngu xuẩn biết chừng nào?

Vài tháng trước đây, tôi đề nghị bác sĩ tâm thần cho tôi xin một bản sao hồ sơ điều trị của tôi. Tôi vô cùng bối rối khi đọc lại toàn bộ y bạ. Sau sáu tháng bắt đầu sử dụng Lithi, tháng 3/1975 tôi đã ngừng không uống thuốc nữa. Chỉ trong vòng vài tuần, tôi đã bị điện và rơi vào trầm cảm nghiêm trọng. Cuối năm đó, tôi bắt đầu dùng lại Lithi. Đọc lại những dòng ghi chép của bác sĩ khi đó, tôi kinh hoàng nhận ra sự tiếp diễn của bệnh.

Ngày 17/7/1975: Bệnh nhân quyết định uống Lithi trở lại, vì bị trầm cảm nghiêm trọng. Bắt đầu với Lithi 300g, hai lần mỗi ngày.

Ngày 25/7/1975: Bị nôn.

Ngày 5/8/1975: Chấp nhận uống Lithi. Bệnh nhân suy sụp khi nhận ra rằng cô ta mắc chứng hưng trầm cảm nặng hơn cô nghĩ.

Ngày 30/9/1975: Bệnh nhân lại ngừng uống Lithi. Cô ta nói, việc chứng minh rằng cô ta có thể vượt qua ức chế mà không cần đến Lithi là rất quan trọng.

Ngày 2/10/1975: Kiên quyết không uống Lithi. Chứng hưng trầm cảm lại tái phát. Bệnh nhận biết rõ điều này.

Ngày 7/10/1975: Bệnh nhân nối lại việc uống Lithi vì ngày càng trầm cảm, mất ngủ và không thể tập trung suy nghĩ được.

Sự bướng bỉnh của tôi một phần do bản chất của con người. Hiếm có ai bị bệnh, dù là mãn tính hay cấp tính, lại tự nguyện uống đầy đủ thuốc theo đơn của bác sĩ. Một khi có dấu hiệu bệnh đã tiến triển hoặc qua khỏi, việc uống thuốc càng trở nên khó khăn hơn. Trong trường hợp của tôi, mỗi khi thấy mình khoẻ lại, tôi không có nhu cầu cũng như động cơ để tiếp tục uống thuốc. Tôi không muốn uống thuốc, trước hết vì không muốn chịu những tác dụng phụ mà tôi rất khó làm quen. Tôi cũng nhớ tâm trạng hứng khởi cao độ của mình. Và một khi đã trở lại bình thường, tôi càng khó tin rằng mình đã mắc một căn bệnh mà nó có thể dễ dàng quay trở lại. Trong chừng mực nào đó tôi cũng tin rằng mình là trường hợp ngoại lệ, cho dù các công trình nghiên cứu đã chứng minh một cách rõ ràng rằng chứng hưng-trầm cảm không chỉ quay trở lại, mà còn quay lại ở mức nghiêm trọng hơn và thường xuyên hơn.

Lý do không phải vì tôi nghĩ rằng Lithi là loại thuốc không hiệu quả. Trái lại, những bằng chứng cho tính hiệu quả và an toàn của nó là rất thuyết phục. Không chỉ thế, tôi còn biết thuốc này có tác dụng tốt đối với tôi. Cũng không phải vì trong thâm tâm tôi phản đối việc điều trị tâm thần bằng thuốc. Trái lại, tôi đã và vẫn không tha thứ cho bất kỳ ai - đặc biệt là các bác sĩ tâm thần và các nhà tâm lý học - phản đối việc dùng thuốc trong điều trị bệnh tâm thần. Tôi cũng phản đối những người tìm cách tách biệt giữa “bệnh y” có thể chữa trị được, như bệnh Hodgkin hay ung thư vú, với các loại bệnh tâm thần, như trầm cảm, hưng - trầm cảm và tâm thần phân liệt. Tôi hoàn toàn tin rằng hưng-trầm cảm là một loại bệnh. Tôi cũng tin rằng, trừ một vài trường hợp hiếm hoi, việc chữa căn bệnh này mà không dùng đến thuốc là sai lầm. Tuy nhiên, khi gạt tất cả những niềm tin này sang một bên, tôi vẫn tin rằng tôi có khả năng vượt qua bệnh tật mà không cần thuốc và tôi có thể tiếp tục cuộc sống theo cách của mình.

Bác sĩ tâm thần của tôi, người đã lắng nghe rất nghiêm túc mọi lời phàn nàn của tôi - về tình trạng buồn nôn kéo dài, những tác dụng phụ và các vấn đề về giá trị nhân phẩm mà tôi đã được dạy dỗ - vẫn khẳng định rằng tôi cần phải uống Lithi. Ơn Chúa, ông đã không bị rơi vào mạng lưới chằng chịt những lý do xúc động của tôi về việc tại sao tôi lại không thử sống không cần thuốc một lần nữa. Ông giữ vững sự lựa chọn cơ bản của mình: Vấn đề ở đây không phải Lithi là loại thuốc vẫn đang còn tranh cãi, không phải là tôi nhớ cảm giác hứng khởi của mình hay không; và cũng không phải việc uống thuốc có phù hợp với một số quan điểm của gia đình tôi về nhân phẩm hay không. Vấn đề cơ bản ở đây là tôi có chấp nhận uống Lithi không đều đặn và vì thế mà bệnh điện và trầm cảm sẽ quay trở lại hay không. Sự lựa chọn ở đây, như ông nhìn thấy - và nay tôi cũng đau đớn nhận thấy - là giữa điện với tỉnh táo và giữa cuộc sống với cái chết. Bệnh điên của tôi đã xảy ra thường xuyên hơn và với bản chất ngày càng “hỗn tạp” hơn (Nghĩa là hiện tượng hứng khởi, mà tôi nghĩ là bệnh “điên trắng” bao trùm trước đây đã bị lấn át bởi sự suy sụp kéo dài). Sự suy sụp của tôi cũng trở nên tồi tệ hơn và có nguy cơ tự tử cao hơn. Bác sĩ đã chỉ cho tôi thấy rằng rất ít thuốc điều trị không gây tác dụng phụ và trong tất cả các loại thuốc được xem xét, Lithị ít gây tác dụng phụ hơn cả. Tất nhiên, cách điều trị ngày nay đã tiến bộ hơn rất nhiều so với các phương pháp điều trị tàn nhẫn và không hiệu quả trước đây - như xích, để cho chảy máu, quấn mền ướt, nhốt riêng và chườm đá - và các loại thuốc chống co giật cũng đã có hiệu quả hơn rất nhiều và ít gây tác dụng phụ, nhưng đối với những người mắc chứng hưng-trầm cảm, Lithi vẫn là loại thuốc rất có hiệu quả. Khi đó tôi đã biết tất cả những điều này, và nay tôi càng tin vào điều đó.

Trên thực tế, ẩn sau tất cả những lý do trên, tôi còn một nỗi lo sợ ngấm ngầm nữa, đó là Lithi có thể không có tác dụng. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi uống Lithi mà vẫn bị bệnh? Trong khi đó, nếu tôi không uống Lithi, tôi sẽ không phải chứng kiến nỗi lo sợ nhất của mình trở thành sự thật. Bác sĩ tâm thần đã sớm nhận ra nỗi lo này của tôi. Trong hồ sơ bệnh án của tôi, ông đã ghi một câu thâu tóm rất đầy đủ nỗi lo sợ này của tôi: Bệnh nhân coi uống thuốc như một triển vọng được chữa khỏi, nhưng nếu thuốc không có tác dụng, đây sẽ là lý do để tự tử. Cô ta lo ngại rằng với việc uống thuốc, cô ta sẽ mất đi chỗ lựa cuối cùng.

Nhiều năm sau, tôi được dự cuộc gặp mặt của hơn một nghìn bác sĩ tâm thần trong phòng lớn của một khách sạn. Nhiều người trong số họ chỉ mải mê ăn uống, thức ăn và đồ uống miễn phí đã trở thành một cách để kéo các bác sỹ ra khỏi công việc thường ngày của họ. Báo chí vẫn thường nói tới mùa di chuyển của các bác sĩ tâm thần vào tháng 8, nhưng có một cuộc tụ hội khác trong tháng 5 - tháng có số vụ tự tử cao nhất - khoảng 15.000 bác sĩ tâm thần tới dự hội nghị hàng năm của Hiệp hội Tâm thần Mỹ. Tôi cùng một vài đồng nghiệp phát biểu về những tiến bộ trong chẩn đoán, nghiên cứu bệnh lý và điều trị bệnh hưng-trầm cảm. Tất nhiên là tôi hài lòng khi thấy căn bệnh mà mình mắc phải đã thu hút sự quan tâm của nhiều người đến vậy. Đây là một trong những năm mà vấn đề này được quan tâm nhiều. Tôi biết rằng vào những năm khác, chắc chắn người ta sẽ quan tâm tới những căn bệnh khác, tới bước đột phá trong điều trị một căn bệnh nào đó, hay những tiến bộ trong kỹ thuật chụp cắt lớp, thậm chí cả những vụ kiện tụng tốn kém, hay vấn đề bồi thường của các công ty bảo hiểm.

Tôi được mời nói về tâm lý và những khía cạnh y học của việc điều trị bằng Lithi. Giống như nhiều bài nói khác, tôi bắt đầu bằng việc dẫn lời “một bệnh nhân hưng - trầm cảm”. Tôi đọc đoạn dẫn cứ như là do ai đó viết ra, mặc dù đó là những trải nghiệm của bản thân tôi.

Những câu hỏi dồn dập như không bao giờ kết thúc cuối cùng cũng chấm dứt. Bác sĩ tâm thần nhìn tôi và nói bằng một giọng đoan chắc: “Bệnh rối loạn lưỡng cực”. Tôi ngưỡng mộ sự thẳng thắn của ông, nhưng cũng ước gì điều ông nói không phải là sự thực. Im lặng, một cuộc chiến dữ dội diễn ra trong nội tâm. Tôi mỉm cười hài lòng. Ông cũng mỉm cười đáp lại. Và cuộc chiến chỉ mới bắt đầu.

Sự thật của tình huống này đã làm cả hội trường ồ lên, bởi lẽ hiếm có một bác sĩ tâm thần nào lại không phải đối mặt với hiện tượng bệnh nhân hưng-trầm cảm chống lại các biện pháp điều trị, một cách tinh tế hoặc thẳng thừng. Câu cuối “Và cuộc chiến mới chỉ bắt đầu” đã làm cả hội trường cười ồ. Tuy nhiên, trong sự dí dỏm ấy hàm chứa một cái gì đó đau đớn hơn. Việc không chịu uống Lithi, thật đáng tiếc, đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn bệnh nhân mỗi năm. Việc không chịu uống thuốc gần như bao giờ cũng dẫn tới tái phát bệnh và nhiều trường hợp dẫn tới thảm họa. Vài năm sau cuộc chiến chống lại Lithi của chính mình, tôi đã thấy hiện tượng này lặp lại ở một bệnh nhân của tôi. Anh ta đã làm cho tôi đau đớn nhớ lại cái giá phải trả cho việc không chịu uống thuốc.

Phòng cấp cứu của bệnh viện UCLA nhộn nhịp bác sĩ, thực tập sinh và sinh viên y khoa. Thật kỳ cục, đó cũng là nơi đầy rẫy bệnh tật và cái chết. Mọi người đi lại rất nhanh, với niềm tự tin rằng sự thông minh, được đào tạo tốt và trong những tình huống cấp bách sẽ tạo ra những kết quả tốt. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, khi đọc tới tên ER - một trong những bệnh nhân của tôi được nhập viện với bệnh tâm thần nặng - tôi bỗng thấy người nôn nao và nhịp tim rối loạn. Ngay lúc đó một tiếng thét thất thanh phát ra từ một phòng khám - tiếng thét hoảng sợ và chắc chắn là bị điên. Tôi chạy vội dọc hành lang, vượt qua các y tá, vượt qua một bác sỹ đang thông báo phác đồ điều trị cho một bệnh nhân, rồi vượt qua một bác sĩ phẫu thuật đang chăm chú xem PDR với một cốc cà phê trên tay, trong khi chiếc kẹp cầm máu vẫn còn kẹp chặt và đung đưa trên tay áo cộc của chiếc áo choàng mổ và chiếc ống nghe vẫn còn đeo lủng lẳng trên cổ.

Tôi mở cửa căn phòng nơi có tiếng thét phát ra và tim tôi thót lại. Người đầu tiên tôi nhìn thấy là bác sĩ thần kinh trực, mà tôi biết, và anh ta nhìn tôi cười thông cảm. Tiếp đó, tôi nhìn thấy bệnh nhân của tôi, bị trói ghì xuống cáng bằng dây da. Anh ta nằm ngửa, chân tay giang rộng, mỗi cổ tay và cổ chân bị trói vào cáng bằng dây da. Một dây da khác chẳng qua ngực. Tôi thấy buồn nôn. Mặc dù rất kiềm chế, tôi vẫn thấy sợ. Một năm trước đây chính bệnh nhân này đã kề dao vào cổ tôi trong một lần điều trị ở phòng khám của tôi. Khi đó, tôi đã phải gọi cảnh sát và anh ta bị đưa vào khoa bệnh nhân cần phải nhốt riêng của Viện Chức năng thần kinh UCLA, Bảy mươi hai giờ đồng hồ sau, anh ta được đưa trở lại cộng đồng. Và được đưa trở lại cho tôi điều trị. Tôi nhận thấy một điều nghịch lý rằng hai trong ba cảnh sát đứng quanh chiếc cáng đã đặt tay vào súng, rõ ràng là họ nhận thấy rằng bệnh nhân này là “mối đe dọa cho chính bản thân anh ta và cho người khác”, nhưng viên thẩm phán đã không cho là như vậy.

Anh ta lại thét lên. Đó là tiếng thét thực sự nguyên sơ và sợ hãi, một phần vì chính anh ta đã sợ hãi, một phần vì anh ta rất cao, to, và hoàn toàn bị rối loạn tâm thần. Tôi đặt tay lên vai anh ta. Tôi thấy toàn thân anh ta run lên, vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Tôi chưa bao giờ thấy sự sợ hãi đến thế trong mắt của bất kỳ ai, cũng chưa thấy ở ai nỗi đau trong thâm tâm và sự lo sợ theo bản năng đến thế. Điện mê sảng có rất nhiều loại và tất cả đều rất kỳ cục, tới mức khó có thể tả thành lời. Bác sỹ trực đã tiêm cho anh ta khá nhiều thuốc chống loạn thần kinh, nhưng thuốc vẫn chưa phát huy tác dụng. Anh ta bị ảo giác, hoang tưởng, nói lảm nhảm và bị ảo giác cả về hình ảnh lẫn âm thanh. Anh ta làm cho tôi nhớ tới bộ phim, trong đó có cảnh những con ngựa bị kẹt trong hỏa hoạn, đôi mắt hoang dại của chúng hiện lên sự sợ hãi, trong khi toàn thân chúng thì run lên trong khủng khiếp. Tôi bóp chặt vai anh ta và khẽ lắc: “Bác sĩ Jaminson đây. Anh vừa được tiêm Haldol. Chúng tôi sẽ đưa anh về khoa. Anh sẽ ổn thôi”. Tôi bắt gặp ánh mắt của anh ta. Sau đó anh ta lại thét lên. Tôi nói: “Anh sẽ khỏi. Tôi biết vào lúc này anh không tin, nhưng anh sẽ trở lại bình thường”. Tôi nhìn lướt qua ba tập hồ sơ bệnh án dày cộp của anh ta để trên chiếc bàn gần đó. Tôi nghĩ tới việc anh ta đã phải vào viện không biết bao nhiêu lần và băn khoăn không biết điều mình vừa nói có thật không.

Tôi không nghi ngờ gì việc anh ta sẽ khỏi. Tuy nhiên, thời gian khỏi bệnh của anh ta kéo dài được bao lâu thì lại là vấn đề khác. Lithi rất thích hợp cho anh ta, nhưng một khi ảo giác và nỗi sợ hãi của anh ta chấm dứt, anh ta có thể sẽ lại không uống thuốc nữa. Cả bác sỹ trực lẫn tôi đều không cần xem kết quả kiểm tra lượng Lithi trong máu của anh ta khi được đưa tới phòng cấp cứu. Chắc chắn là không có một lượng Lithi nào trong máu của anh ta cả. Kết quả là điện. Tiếp đó chắc chắn sẽ là sự suy sụp đến mức muốn tự tử. Cùng với nó là nỗi đau khôn tả và sự đổ vỡ trong cuộc đời anh ta, cũng như của các thành viên khác trong gia đình anh ta. Mức độ nghiêm trọng của sự suy sụp là hình ảnh phản chiếu mức độ nguy hiểm của bệnh điên ở anh ta. Tóm lại anh ta đã mắc một căn bệnh rất tồi tệ, nhưng không phải là hiếm. Lithi rất hữu ích cho anh ta, nhưng anh ta không uống. Khi tôi đứng đó cạnh anh ta trong phòng cấp cứu, tôi có cảm giác rằng tất cả thời gian, nỗ lực và nhiệt tâm mà tôi và những người khác đã cố gắng dành để chữa trị cho anh ta đã mang lại rất ít kết quả, hoặc chẳng có tác dụng gì.

Dần dần Haldol cũng bắt đầu phát huy tác dụng. Tiếng kêu thét đã ngừng lại và sự chống cự điên cuồng của anh ta cũng biến mất. Anh ta đã bớt sợ hãi hơn và ít hoảng sợ hơn. Một lát sau anh ta nói với tôi bằng một giọng líu ríu và chậm: “Đừng bỏ tôi, Bác sĩ Jaminson. Xin bà đừng bỏ tôi”. Tôi bảo đảm với anh ta rằng tôi sẽ lại bên anh ta cho tới khi anh ta được đưa về khoa. Tôi biết, tôi là người thường có mặt trong suốt thời gian anh ta điều trị tại bệnh viện, tại các buổi điều trần ở toà án, trong các cuộc gặp gia đình và khi anh ta suy sụp. Là bác sĩ tâm thần của anh ta trong nhiều năm, tôi được anh ta chia sẻ nhiều điều thầm kín về những giấc mơ và nỗi sợ hãi, về những mối quan hệ đầy hứa hẹn nhưng sau đó bị hủy hoại và những kế hoạch vĩ đại cho tương lai nhưng sau đó bị tan vỡ. Tôi nhìn thấy ở anh ta sự sôi nổi, lòng dũng cảm và sự hóm hỉnh. Tôi thích và rất tôn trọng anh ta. Tuy nhiên, tôi cũng ngày càng thất vọng trước việc anh ta hết lần này đến lần khác không chịu uống thuốc theo đơn. Bằng kinh nghiệm của mình, tôi hiểu những lo ngại của anh ta trong việc uống Lithi, nhưng chỉ đến đó thôi, còn vượt qua giới hạn ấy, anh ta sẽ khó có thể tránh được sự tái phát của những cơn điên đau đớn, đã được dự báo trước.

Không một liệu pháp tâm lý nào, nền giáo dục nào, sự thuyết phục nào và sự cưỡng ép nào thành công với anh ta. Không một phác đồ điều trị nào mà các bác sĩ và y tá vạch ra cho anh ta mang lại kết quả. Liệu pháp gia đình không có tác dụng. Việc phải thường xuyên vào viện, các mối quan hệ bị tan vỡ, tài chính khủng hoảng, mất việc làm và bị tống giam đã làm hoài phí một trí tuệ sáng tạo và được giáo dục tốt. Không có bất cứ thứ gì mà tôi, hay những người khác nghĩ ra có thể có tác dụng. Trong nhiều năm tôi đã đề nghị một vài đồng nghiệp tư vấn điều trị cho anh ta, nhưng giống như tôi, họ cũng không tìm được cách nào thuyết phục nổi anh ta và không tìm được khe hở nào trên chiếc vỏ bọc thép để đi vào tâm hồn anh ta. Tôi đã dành nhiều giờ đồng hồ nói chuyện với bác sĩ tâm thần của chính tôi về anh ta, một phần để xin lời khuyên của ông về cách điều trị, một phần để bảo đảm rằng việc tôi uống Lithi không đều đặn đã không tác động xấu tới anh ta. Những cơn điên và suy sụp của anh ta xuất hiện thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn. Không có bất cứ một sự đột phá nào và cũng không có kết cục có hậu. Không một biện pháp nào, cả y học lẫn tâm lý, có thể làm cho anh ta uống thuốc đủ lâu để duy trì sự tỉnh táo. Lithi có hiệu quả, nhưng anh ta không uống. Mối quan hệ của tôi với anh ta có tác dụng thuyết phục, nhưng chưa đủ. Anh ta mắc bệnh quá nặng và nó đã cướp đi sinh mệnh của anh ta - giống như hàng chục nghìn người khác mỗi năm. Những gì mà chúng tôi có thể làm cho anh ta là có giới hạn và điều đó đã làm cho tâm hồn tôi tan nát. 

Tất cả chúng ta đều khó chịu khi phải vận hành trong những giới hạn của chính mình.

Nhà xác

Tôi đã phải gặt hái những kết quả cay đắng của việc không chịu uống Lithi đều đặn. Sau thời kỳ điên với tâm trạng hưng phấn bao giờ cũng là thời kỳ trầm uất kéo dài, với cõi lòng tan nát, đen tối và tuyệt vọng tới mức muốn tự tử. Thời kỳ trầm uất này có thể kéo dài tới hơn một năm rưỡi. Từ khi thức dậy vào buổi sáng cho đến khi đi ngủ vào ban đêm, tôi thấy khổ sở tới mức không chịu đựng nổi và không thể tìm ra bất cứ điều gì vui thú để động viên khích lệ. Tất cả - từ suy nghĩ, lời nói, cử chỉ - đều phải cố gắng. Tất cả những thứ đã từng lung linh huyền ảo, nay đều trở nên vô vị. Tôi tự thấy mình ngu ngốc, buồn tẻ, kém cỏi, đần độn, tối tăm, vô cảm, lạnh lùng, nhẫn tâm và nhơ bẩn. Tôi hoàn toàn không tin rằng mình có thể làm được điều gì đó tốt đẹp. Trí tuệ của tôi dường như bị mòn mỏi và tàn lụi tới mức trở nên vô dụng. Một mớ những điều khốn khổ và thảm bại chồng chéo nhau ấy như càng dày vò tôi về những yếu kém và khiếm khuyết của chính mình, và nhạo báng tôi về sự liều lĩnh và tuyệt vọng đến cùng cực. Nếu cứ như thế thì sống để làm gì? Tôi vẫn tự hỏi mình như vậy. Những người khác có thể nói: “Đó chỉ là tạm thời, nó sẽ qua đi và tôi sẽ lại trở lại bình thường”. Tuy nhiên, chắc chắn là họ không biết tôi đang cảm thấy gì, cho dù họ vẫn tin rằng họ biết. Tôi đã tự nói đi nói lại với mình rằng nếu tôi không cảm thấy gì, không thể hành động gì, không thể suy nghĩ và không thể chăm sóc cho chính mình, thì cuộc sống của tôi phỏng có ích gì?

Cảm giác bệnh hoạn trong tôi thật khủng khiếp. Tôi luôn nhìn thấy cái chết đồng hành với những gì liên quan đến cái chết. Qua con mắt ở trong đầu mình, tôi nhìn thấy cái chết ở khắp mọi nơi, thấy những tấm vải bọc tử thi, những chiếc thẻ buộc vào chân người chết và những chiếc túi đựng tử thi. Tất cả đều gợi cho tôi nhớ rằng mọi chuyện đều kết thúc ở nhà xác. Trí nhớ của tôi chỉ nắm bắt được những điều tồi tệ của trí tuệ. Suy nghĩ của tôi đi từ nỗi dày vò này sang điều khổ tâm khác. Nỗi dày vò sau tệ hại hơn nỗi dày vò trước. Và mọi việc đều đòi hỏi tôi phải cố gắng hết sức mới làm nổi. Tôi phải mất hàng giờ đồng hồ để gội xong mái tóc của mình và nó làm cho tôi kiệt sức nhiều giờ sau đó. Việc rót nước vào khay làm đá là vượt ra ngoài khả năng của tôi. Thỉnh thoảng tôi lại ngủ trong chính bộ quần áo tôi mặc ban ngày, bởi vì tôi quá kiệt sức tới mức không thể cởi quần áo ra được nữa.

Trong thời kỳ này, tôi tới khám bác sĩ tâm thần hai, ba lần mỗi tuần và cuối cùng tôi lại phải uống Lithi đều đặn. Trong hồ sơ bệnh án của tôi, ông không chỉ ghi lại việc tôi uống thuốc

ví dụ, tôi đã uống thuốc chống suy nhược trong một thời gian ngắn và việc này đã làm cho tôi dễ bị kích động nguy hiểm hơn - mà còn tóm tắt cả tình trạng chán nản, tuyệt vọng và xấu hổ mà chứng trầm cảm đã gây ra: “Thỉnh thoảng bệnh nhân muốn tự tử. Cô ta muốn nhảy từ nóc cầu thang của toà nhà trong bệnh viện”, “Bệnh nhân vẫn có nguy cơ tự tử khá cao. Nhập viện là điều không thể chấp nhận được đối với cô ta và tôi cho rằng cô ta không thể bị nhốt theo LPS (Luật tống giam của California)”; “Tuyệt vọng về tương lai, lo sợ bệnh tái phát và sợ phải đối mặt với những cái cô ta đã cảm thấy”; “Bệnh nhân cảm thấy rất khó xử trước việc cô đã có thái độ không thể tha thứ được, cho dù cô ta đang bị trầm cảm”; “Bệnh nhân không muốn quan hệ với mọi người khi bị trầm cảm vì nghĩ rằng sự suy sụp của mình là gánh nặng không thể chịu đựng nổi đối với người khác”; “Bệnh nhân sợ phải rời phòng khám của tôi. Đã không ngủ trong nhiều ngày. Tuyệt vọng”. Vào lúc này, cơn trầm cảm của tôi tạm lắng trong một thời gian ngắn, để sau đó đợt suy sụp nghiêm trọng hơn xảy ra. “Bệnh nhân cảm thấy như cô ta bị vỡ ra. Thất vọng vì cảm giác suy sụp trở lại”.

Bác sỹ tâm thần của tôi đã nhiều lần cố thuyết phục tôi nhập viện, nhưng tôi từ chối. Tôi hoảng sợ khi nghĩ tới việc mình bị nhốt, phải xa rời những gì quen thuộc hàng ngày, phải tham dự các buổi trị liệu theo nhóm và phải chịu đựng tất cả những điều nhục nhã và sự xâm phạm đến đời tư cá nhân một khi trở thành bệnh nhân của khoa tâm thần. Khi đó, tôi đang làm việc ở khoa bệnh nhân phải nhốt và tôi không thích thú gì với ý tưởng mình không có chìa khoá trong tay. Quan trọng nhất là tôi sợ rằng, nếu tất cả mọi người biết tôi phải vào viện, công việc và đặc ân của tôi ở bệnh viện sẽ bị mất. Tệ hại hơn nữa, giấy phép hành nghề của tôi có thể sẽ bị tước vĩnh viễn. Vì thế, tôi chống lại việc tình nguyện vào viện. Do luật giam giữ của California được soạn thảo vì lợi ích của các luật sư, hơn là của bệnh nhân, nên nó càng dễ làm cho tôi từ chối việc bị giam giữ tự nguyện. Cho dù tôi có tình nguyện bị giam giữ, thì cũng không có gì để bảo đảm rằng tôi sẽ không có ý định hay thực hiện việc tự tử trong thời gian điều trị ở khoa tâm thần. Bệnh viện tâm thần không phải là nơi hiếm xảy ra hiện tượng tự tử (Sau giai đoạn này tôi đã có một thỏa thuận rõ ràng với bác sĩ tâm thần và gia đình tôi rằng nếu tôi lại rơi vào trầm cảm nặng, họ được quyền chấp thuận, bất chấp sự phản đối của tôi nếu cần, để cho tôi được áp dụng liệu pháp sốc điện, hay ECT, một phương pháp điều trị có hiệu quả đối với một số loại trầm cảm nặng, hoặc tống tôi vào viện).

Vào thời điểm ấy, mọi thứ dường như đều không còn tác dụng nữa và bất chấp sự chăm sóc tuyệt vời về y tế, tôi chỉ muốn chết. Và tôi quyết tâm tự tử. Tôi lạnh lùng quyết tâm không để lộ bất cứ dấu hiệu nào về kế hoạch hay ý định của mình. Tôi đã thành công. Một ngày trước khi tôi mưu toan tự tử, bác sĩ tâm thần của tôi chỉ viết: “Rất tuyệt vọng. Hoàn toàn im lặng”.

Trong cơn giận dữ, tôi giật chiếc đèn trong phòng tắm ra khỏi tường. Tôi cảm thấy bạo lực lan tỏa khắp người, nhưng chưa tràn ra ngoài. “Vì Chúa”, ông bác sĩ tâm thần của tôi nói, ông chạy lao vào - và sau đó lẳng lặng chấm dứt mọi chuyện. Chúa Jesus. Chắc chắn là tôi điên rồi, và tôi có thể nhìn thấy điều đó trong mắt ông: sự pha trộn khủng khiếp của lo ngại, kinh hoàng, bực tức và nhẫn nhục. Nhưng tại sao lại là con, thưa Chúa? “Con có đau không?”, ông hỏi. Tôi quay đầu là với đôi mắt lướt nhanh, tôi nhìn thấy trong gương một dòng máu chảy dài xuống cánh tay tôi và thấm đẫm chiếc đai áo khoác trong nhà đẹp đẽ và gợi tình, mà mới chỉ một giờ trước đó nó được sử dụng trong một niềm khoái lạc tuyệt diệu hoàn toàn khác. “Con không thể chịu đựng được nữa. Con không thể chịu đựng được nữa”, tôi gào lên trong thâm tâm, nhưng không thể nói ra được thành lời. Suy nghĩ cứ thế lao đi, rất xa và rất nhanh. Tôi đập đầu vào cửa, rồi lại đập đầu vào cửa. Chúa đã ngăn tôi lại. Tôi không chịu đựng được nữa. Tôi biết tôi lại bị điên. Tôi nghĩ Chúa thực sự quan tâm đến tôi, nhưng chỉ mười phút sau ông cũng thét lên và đôi mắt ông cũng nhuốm vẻ hoang dại, như lây nhiễm bệnh điện qua một tia vô hình giữa hai chúng tôi. “Ta không thể bỏ con trong tình cảnh này”. Tuy nhiên, tôi đã nói vài lời thực sự khủng khiếp và truyền nó qua cuống họng của ông, theo đúng nghĩa của từ này. Ông bỏ đi vì bị khiêu khích tới mức không thể chịu đựng nổi và do không nhìn thấy sự tàn phá và tuyệt vọng trong tôi. Tôi không thể truyền đạt nó cho ông và ông cũng không nhìn thấy, ông không còn gì để làm nữa. Tôi không thể suy nghĩ được gì nữa. Tôi không thể làm dịu cơn sát khí này. Ý tưởng vĩ đại của tôi một giờ trước đó bỗng trở nên ngớ ngẩn và đáng khinh. Cuộc đời tôi đang tàn lụi và tệ hại hơn nữa, nó đã bị đổ nát và không thể trú ngụ trong cơ thể tôi được nữa. Nguồn sinh lực điên khùng, đầy sức tàn phá và hoang dại đã thoát ra ngoài. Tôi nhìn thấy trong gương một sinh vật mà tôi không biết, nhưng chắc chắn là đã sống và chia sẻ trí tuệ cùng tôi.

Tôi đã hiểu vì sao Jekyll đã tự hủy hoại cuộc đời mình trước khi Hyde tiếp quản nó. Tôi không ân hận vì đã uống Lithi quá liều.

Trong giới bác sĩ tâm thần, nếu bạn tự sát, thì đó sẽ được coi là một vụ tự tử “thành công”. Đó là một loại thành công mà người ta có thể không cần tới nó. Tôi quyết định tự sát trong một cuộc vật lộn khủng khiếp tới mức không thể tả được kéo dài mười tám tháng. Trầm cảm đến mức tự sát có lẽ là cách để Chúa giữ cho bệnh điên ở đúng chỗ của nó. Và nó có hiệu quả. Bệnh u sầu trầm trọng, có hôm xuất hiện có hôm không, có đêm xuất hiện có đêm không, quả là khủng khiếp. Đó là một nỗi đau ghê gớm, không ngớt, không một tia hy vọng và chỉ có sự tàn nhẫn. Tôi như không thể thoát ra khỏi dòng chảy ngầm của những suy nghĩ và cảm giác lạnh lẽo vẫn bao trùm những đêm tuyệt vọng và mất ngủ. Nếu gắn hành động tự sát với quan niệm “thành công” hay “không thành công” của Thanh giáo, thì những ai “thất bại” trong việc tự giết mình sẽ không chỉ là yếu kém, mà còn bất tài và không đủ khả năng chết đúng cách nữa. Tuy nhiên, tự tử hầu như bao giờ cũng bị coi là hành động phi lý và hiếm khi xảy ra khi người ta tỉnh táo. Đó cũng thường là hành động cấp thời, không xảy ra theo đúng kế hoạch ban đầu.

Ví dụ, tôi nghĩ rằng tôi đã vượt qua được mọi tình huống khẩn cấp. Tuy nhiên, tôi không thể chịu đựng được nỗi đau lâu hơn nữa, không thể tiếp tục cuộc sống mệt mỏi và rã rời được nữa và không thể tiếp tục gây rắc rối cho gia đình và bạn bè được nữa. Trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng tôi hành động như vậy chẳng qua cũng chỉ là một việc đáng làm, vì những người mà tôi quan tâm, giống như viên phi công mà tôi đã nhìn thấy, tự hy sinh cuộc đời mình để cứu những người khác vậy. Đó cũng là hành động biết điều duy nhất mà tôi có thể làm được. Nó giống như khi giết một con vật người ta cảm thấy ít mất mát hơn nhiều.

Đã có lúc tôi mua một khẩu súng, nhưng trong một thoáng suy nghĩ đắn đo, tôi đã nói cho bác sỹ tâm thần của tôi biết và tất nhiên là tôi phải miễn cưỡng giã từ khẩu súng ấy. Sau đó, trong nhiều tháng, tôi đã leo lên tầng tâm của cầu thang trong bệnh viện UCLA và đã rất nhiều lần chỉ chút xíu nữa là nhảy ra khỏi hàng rào chắn. Khi rơi vào trầm cảm tự sát, người ta không thể suy nghĩ thận trọng, tính tới ngoại cảnh hay có bất cứ một sự cân nhắc nào. Tuy nhiên, một ý nghĩ thoáng qua rằng gia đình tôi sẽ phải nhận dạng tôi bị ngã dập nát hết mặt mày đã làm cho tôi tin rằng phương pháp tự sát này là không thể chấp nhận được. Vì thế, tôi đã quyết định chọn giải pháp mà tôi nghĩ là thơ mộng và trọn vẹn nhất. Mặc dù Lithi đã cứu sống đời tôi, nhưng vào thời điểm cụ thể ấy, nó đã làm tôi đau khổ và buồn tủi đến cùng cực. Và tôi đã quyết định uống Lithi quá liều rất cao.

Để tránh Lithi bị nôn ra, tôi đã tới phòng cấp cứu lấy một đơn thuốc chống nôn. Sau đó, tôi đợi đến khoảng giao thời giữa những giờ “theo dõi tự sát” mà bạn bè, gia đình và bác sĩ tâm thần của tôi đã vạch ra. Sau đó, tôi chuyển điện thoại ra khỏi phòng ngủ, đề phòng khả năng tối vô tình nhấc điện thoại lên - tôi không thể nhấc hẳn tai nghe ra khỏi máy điện thoại, vì tôi biết điều này sẽ báo động cho những người canh giữ tôi - và trong tâm trạng bị kích động mạnh mẽ và hung dữ, tôi uống hết nắm thuốc này đến nắm thuốc khác. Sau đó tôi cuộn tròn trên giường chờ chết. Tuy nhiên, tôi đã không lường được rằng bộ óc khi uống thuốc sẽ phản ứng khác với lúc nó được cảnh giác. Khi chuông điện thoại kêu, tôi chỉ có một suy nghĩ là phải trả lời, vì thế tôi đã bò ra khỏi giường, tới chiếc điện thoại ở ngoài phòng khách trong trạng thái nửa hôn mê. Giọng nói yếu ớt của tôi đã làm cho anh tôi cảnh giác. Anh tôi gọi từ Pari về để hỏi xem tình hình của tôi ra sao. Ngay sau đó, anh tôi gọi điện cho bác sĩ tâm thần của tôi.

Không mưu toan tự tử cũng chưa hẳn đã là hay. Lithi đã từng được sử dụng để dạy sói đồng cỏ ở Bắc Mỹ không giết cừu. Chỉ cần cho sói đồng cỏ ăn thịt cừu đã được xử lý Lithi một lần là đã đủ để nó yếu tới mức không bắt cừu nữa. Tôi đã suy sụp tới mức yếu hơn cả sói đồng cỏ, yếu hơn một con chó và yếu tới mức không thể yếu hơn được nữa. Tôi rơi vào trạng thái lúc tỉnh, lúc mê trong vài ngày sau đó.

Rất lâu trước và sau khi tôi định tự tử, một trong những người bạn của tôi đã giám sát tôi rất chặt. Anh xác định rõ với tôi rằng chúng tôi chỉ là bạn. Anh là một bác sỹ tâm thần. Anh là một người nồng hậu, nhưng tính khí hơi bất thường. Anh hóm hỉnh, nhưng hơi gần. Anh thích tìm hiểu những điều hơi kỳ dị, trong đó có tôi, và đã viết rất nhiều bài báo hấp dẫn về các chủ đề như chứng rối loạn tâm thần phân liệt và những lối sống hơi kỳ lạ kiểu như Sherlock Holmes. Anh là người rất tận tâm và đã ở bên tôi hết tối này đến tối khác, chấp nhận chịu đựng tính khí cáu gắt của tôi. Anh hào phóng với tôi cả về thời gian và tiền bạc. Anh tin tưởng mãnh liệt rằng tôi sẽ vượt qua thời kỳ trầm cảm và cuối cùng sẽ mạnh khoẻ.

Đã vài lần, sau khi tôi nói với anh rằng tôi cần yên tĩnh một mình và anh có thể gọi lại cho tội sau, vào lúc một, hai giờ sáng gì đó để xem tôi ra sao, nhưng qua giọng nói của tôi, anh đoán được tâm trạng tôi khi đó và bất chấp việc tôi đề nghị được ở một mình, anh vẫn nằng nặc đòi tới thăm. Thường thì anh lấy cớ rằng “Tôi không ngủ được, chẳng lẽ cô lại từ chối có một người bạn ở cùng sao?”. Biết rõ là anh chỉ muốn tới để kiểm tra xem tôi ra sao thôi, nên tôi nói: “Đúng thế. Hãy tin tôi đi. Tôi có thể từ chối. Hãy để tôi một mình. Tôi không sao đâu”. Tuy nhiên, chỉ ít phút sau anh gọi lại và nói: “Tôi xin cô đấy. Tôi khẩn khoản xin cô đấy. Tôi thực sự cần có bạn. Chúng ta có thể đi đâu đó, cùng ăn kem”. Thế là chúng tôi gặp nhau vào cái giờ mà chẳng ai hẹn gặp cả. Tôi kín đáo bày tỏ lòng biết ơn anh vô hạn, còn anh thì khéo léo để tôi không có cảm giác rằng tôi là gánh nặng quá lớn cho anh. Anh là món quà tặng hiếm có của tình bạn.

Tình cờ anh lại là bác sĩ  trực ở phòng cấp cứu trong những dịp cuối tuần. Sau ý định tự tử của tôi, anh và bác sĩ  tâm thần của tôi đã vạch ra chương trình chăm sóc y tế và giám sát tôi. Anh thường xuyên giám sát và lấy máu của tôi để kiểm tra lượng Lithi và điện phân. Anh liên tục lôi tôi đi dạo, để kéo tôi ra khỏi tình trạng mơ màng của thuốc, giống như người ta kéo con cá mập bị ốm bơi vòng quanh bể để cho nước lưu thông qua mạng của nó vậy. Anh là người duy nhất có thể làm cho tôi cười trong thời kỳ tồi tệ này. Giống như chồng tôi, người mà tôi đã li dị về mặt pháp lý, nhưng vẫn giữ liên lạc với nhau, anh đã có những tác động dịu dàng và êm ái lên tôi mỗi khi tôi cáu kỉnh, rối loạn và muốn làm rối tung mọi chuyện lên. Anh chăm sóc tôi suốt những ngày tệ hại nhất của cuộc đời mình. Vì thế sau bác sĩ tâm thần của tôi và gia đình tôi, anh là người tôi mang ơn nhiều nhất trong cuộc đời mình.

Ân đức của bác sĩ tâm thần đối với tôi là không gì tả xiết. Tôi nhớ đã ngồi trong phòng khám của ông hàng trăm lần trong những tháng nghiệt ngã này. Mỗi lần như thế tôi lại nghĩ, “Không hiểu ông sẽ nói cái quái gì đây để có thể làm cho tôi cảm thấy tốt hơn hay để giữ cho tôi sống?”. Tuy nhiên, điều buồn cười là dường như ông chẳng nói gì cả. Có lẽ tất cả đều trở nên ngu xuẩn và lạc quan vớ vẩn, nếu so với những gì ông không nói mà vẫn giữ được tôi tiếp tục sống. Tình thương và sự nồng hậu mà tôi cảm nhận được từ ông là không thể nói lên thành lời. Nó chứa đựng trong đó tất cả sự thông minh, năng lực và thời gian mà ông dành cho tôi và niềm tin vững chắc của ông rằng cuộc đời tôi là đáng sống. Ông là người rất thẳng thắn - một tiêu chuẩn rất quan trọng và sẵn sàng thừa nhận những hạn chế của mình trong hiểu biết và điều trị mỗi khi ông bị sai. Rất khó nói lên thành lời, nhưng bằng nhiều cách khác nhau, ông đã cho tôi thấy bản chất thực của mọi chuyện. Ông đã dạy cho tôi rằng con đường từ tự tử đến cuộc sống là chán nản và tuyệt vọng, nhưng - với quyết tâm sắt đá và nhờ ơn Chúa, giống như thời tiết chắc chắn phải thay đổi vậy - tôi sẽ vượt qua tất cả.

Mẹ tôi cũng là một người tuyệt vời. Mẹ tôi nấu ăn cho tôi trong suốt những thời kỳ trầm cảm kéo dài. Bà giúp tôi giặt giũ quần áo và trả tiền thuốc cho tôi. Bà chịu đựng sự cáu kỉnh và tâm trạng chán nản của tôi, đưa tôi tới bác sỹ, tới hiệu thuốc và đưa tôi đi mua hàng. Giống như mèo mẹ nhẹ nhàng lôi những chú mèo con chạy lăng xăng về nhà bằng cách ngâm vào cổ chúng, mẹ tôi luôn để mắt đến tôi và mỗi khi tôi loạng choạng đi đâu đó quá xa, bà lại kéo tôi về trong phạm vi an toàn cả về địa lý lẫn tâm hồn, trong sự bảo vệ và chăm sóc của bà. Sức mạnh to lớn của bà đã ngấm dần vào trong xương tủy đã kiệt sức của tôi. Sức mạnh ấy, cùng với thuốc điều trị cho bộ óc của tôi và liệu pháp tâm lý tuyệt vời cho tâm hồn tôi, đã dần kéo tôi ra khỏi những ngày vô cùng khó khăn ấy. Nếu không có bà, chắc tôi không thể nào tồn tại được. Đã có lần tôi cố gắng ngồi soạn bài, nhưng không hiểu nó có ý nghĩa gì không và nếu tôi giảng bài thì chắc nó cũng hỗn loạn và lộn xộn khủng khiếp giống như đầu óc của tôi vậy. Vào những lúc như thế, điều thường giúp tôi vượt qua được chính là niềm tin mà mẹ đã truyền cho tôi từ nhiều năm trước, đó là ý chí, kiên trì và trách nhiệm là những phẩm cách giúp con người ta trở nên thành đạt. Mỗi khi có một trận bão khủng khiếp nào đó tràn tới với tôi, thì mẹ tôi - với tình yêu và niềm tin mạnh mẽ của bà về giá trị nhân phẩm tạo ra trong tôi những luồng gió ngược mạnh mẽ và bền bỉ chống lại cơn bão ấy.

Những gì chúng tôi được dạy dỗ trong cuộc đời là phức tạp, to lớn và không thể thâu tóm được. Nó giống như bố tôi, qua tính khí của ông, đã tạo ra trong tôi một con ngựa bất kham và hoang dã. Đó là một con ngựa không tên, lúc nào cũng chạy lồng lên như không kiềm chế được. Mẹ tôi thì lại dạy tôi cách thuần hoá nó. Bà trao cho tôi những nguyên tắc và tình yêu để phá vỡ sự ngang bướng của con ngựa và - giống như Alexander hiểu rõ Bucephalas vậy - bà hiểu và dạy tôi rằng cách tốt nhất để thuần hoá nó là quay đầu nó hướng về Mặt trời.

Vả chứng điện lẫn trầm cảm của tôi đều chứa trong nó khía cạnh bạo lực. Bạo lực là điều không dễ nói ra, nhất là đối với một phụ nữ. Điên dại tới mức vượt ra ngoài tầm kiểm soát - hành hung về thể xác, gào thét điên dại đến hết hơi, chạy tứ tung không có mục đích hay giới hạn nào, hay vùng vằng lao ra khỏi xe - là những điều làm cho người khác phải hoảng sợ và tự mình cũng thấy khủng khiếp tới mức không thể nói ra. Khi rơi vào những cơn điên mù quáng, tôi đã làm tất cả những điều đó, vào lúc này hay lúc khác, và những hành động đó đôi khi được lặp lại. Tôi vẫn nhận ra một cách đau đớn và chính xác rằng việc kiểm soát và hiểu được những hành vi ấy là vô cùng khó, chứ đừng nói gì đến việc giải thích cho người khác hiểu. Trong những cơn bạo lực - khi tôi rơi vào trạng thái điên hoàn toàn - tôi đã phá hủy những gì tôi yêu thích và xô ngã những người mà tôi yêu quý, để khi tỉnh lại, tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ hết xấu hổ. Tôi cũng đã từng bị đè nén bằng sức mạnh vũ phu, bị đá và bị đẩy xuống nền nhà, bị đấm vào bụng trong khi tay bị kéo quặt ra phía sau và bị nhét thuốc vào mồm bất chấp sự phản đối của tôi.

Tôi không biết bằng cách nào mà tôi có thể hồi phục được sau những hành động gần như đương nhiên phải xảy ra với những người điên ấy. Tôi càng không hiểu bằng cách nào mà mối quan hệ của tôi với bạn bè và những người thân lại tồn tại được sau những trận đập phá hung tợn của tôi làm quần áo họ bị xé tả tơi trong nước mắt. Sau mỗi lần bạo lực như vậy, cũng như sau mưu toan tự tử không thành của tôi, tất cả những người quan tâm đến tôi đều đầy vết thâm tím trên người. Sống cùng với nhận thức rằng mình đã từng có hành vi bạo lực, đã từng mưu toan tự tử, là rất khó khăn. Nó giống như phải hoà hợp những ý niệm hoàn toàn đối lập nhau trong con người mình vậy. Sau ý định tự tử, tôi đã phải cố gắng tự điều hoà giữa hình ảnh của một cô gái trẻ, đầy nhiệt huyết, tràn trề hy vọng và năng động, có hoài bão, tràn ngập tình yêu với cuộc sống, với một phụ nữ bướng bỉnh, hay gắt gỏng và đau khổ, người chỉ muốn chết và đã từng uống một liều Lithi chết người để thực hiện ý đồ ấy. Sau mỗi lần rối loạn tâm thần bạo lực, tôi lại phải cố gắng tự điều hoà những ý niệm về chính mình, giữa một người có nguyên tắc và rất ít nói, nhạy cảm với suy nghĩ và tâm trạng của những người khác, với một người hoàn toàn điện khùng, hung bạo vì mất hết lý trí và không kiểm soát được hành vi của mình.

Sự đối lập giữa cái mà người ta được dạy là thái độ đúng mực với mọi người với những gì xảy ra trên thực tế trong thời kỳ điên khùng hoặc rối loạn tâm thần, là hoàn toàn tương phản nhau tới mức không thể tả nổi - nhất là với một phụ nữ sinh ra và lớn lên trong thế giới có truyền thống bảo thủ. Nó cách quá xa so với sự duyên dáng và dịu dàng của mẹ tôi. Nó càng cách xa hơn so với quãng thời gian của những điệu nhảy côticông, những bộ váy áo bóng láng và lụa là, cùng những đôi găng tay trang nhã dài quá khuỷu tay có đính ngọc trai ở cổ tay, cái thời mà tôi chẳng có nỗi lo nào khác, ngoài việc phải chú ý để đường may của tất chân được kéo thẳng trước khi tới dự bữa tiệc tối Chủ nhật ở câu lạc bộ sỹ quan.

Trong những năm quan trọng nhất định hình tính cách cá nhân, tôi đã lớn lên trong một thế giới khắt khe và được dạy rằng phải nghĩ tới người khác, phải thận trọng và biết kiềm chế hành động của mình. Chủ nhật nào tôi cũng tới nhà thờ cùng với cả gia đình và mọi câu trả lời của tôi với người lớn luôn được đi cùng với từ “Dạ, thưa ông”, “Dạ, thưa bà”. Bố mẹ tôi chỉ khuyến khích tôi độc lập về trí tuệ, chứ không khuyến khích tôi tách rời xã hội. Thế rồi, đột nhiên tôi có hành động không thích hợp và phá hoại, tới mức không thể kiểm soát và dự báo được. Đây không phải là cái mà lễ nghi hay phép xã giao có thể thắng thế. Vào những lúc như thế, người ta không thấy Chúa ở đâu cả. Những điệu nhảy côticông, những bộ lễ phục và Cẩm nang nghi lễ bên bàn ăn dành cho tuổi thanh niên của Tiffany không thể, và nó cũng không có ý định, chuẩn bị lối hành xử cho người ta khi bị điện. Hành động tức giận và bạo lực không thể kiểm soát được vừa chết người, vừa không thích hợp và xa lạ với thế giới văn minh và có thể dự báo được.

Từ lâu lắm rồi, tôi đã có xu hướng thích cảm giác mạnh và hồ hởi, thích sống và yêu với cái mà Delmore Schwartz gọi là “đỉnh cao của sự phởn phơ”. Tuy nhiên, dễ bị kích động bao giờ cũng là mặt trái của sự phởn phơ. Cảm giác mạnh mẽ không phải bao giờ cũng xấu, ít nhất cũng là trong giai đoạn đầu. Ngoài việc tạo ra sự hứng khởi lãng mạn nhất định cho cuộc sống cá nhân của tôi, nó còn đóng góp tích cực vào cuộc đời sự nghiệp của tôi trong nhiều năm sau. Chắc chắn là nó đã châm ngòi và thúc đẩy tôi viết nhiều bài báo, thực hiện nhiều công trình nghiên cứu và tham gia các hoạt động tư vấn. Nó luôn thúc đẩy tôi cố gắng làm thay đổi tình hình. Nó làm cho tôi không bằng lòng với cuộc sống hiện có và vì thế mà buộc tôi phải nghỉ ngơi ít hơn để có thể thành đạt hơn. Tuy nhiên, sự bực dọc kéo dài, kết hợp với sự thiếu kiên nhẫn, quá hăng hái và không được nghỉ ngơi đã làm cho tôi trở nên quá tức giận. Điều này là không phù hợp với một phụ nữ trang nhã, có giáo dục mà tôi được dạy rằng cần phải ngưỡng mộ và trên thực tế vẫn đang được tôi ngưỡng mộ.

Trầm cảm, trong chừng mực nào đó, có quan hệ gần gũi hơn với những giá trị xã hội của phụ nữ: tiêu cực, nhạy cảm, không hy vọng, bất lực, mệt mỏi, phụ thuộc, rối rắm, buồn chán và không có nhiều ham muốn. Trong khi đó trái lại, trạng thái điên gần hơn với tính cách của đàn ông: ít nghỉ ngơi, hung hăng, xông xáo, dễ thay đổi, đầy sinh lực, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, có ý tưởng lớn và tầm nhìn xa và không hài lòng với hiện trạng. Sự tức giận và cáu kỉnh ở đàn ông, trong một số tình huống, là có thể tha thứ và có thể hiểu được. Các nhà lãnh đạo và những người chỉ huy các chuyến đi xa cần có dải tính khí rộng hơn. Các nhà báo và nhà văn có xu hướng gần với phụ nữ trầm cảm hơn là với phụ nữ điên. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỷ lệ trầm cảm

phụ nữ cao gấp đôi nam giới. Tỷ lệ mắc bệnh hưng-trầm cảm ở nam và nữ là ngang nhau, nhưng trong những điều kiện bình thường, điện thường ảnh hưởng tới phụ nữ nhiều hơn. Những người này lại thường được chẩn đoán sai và điều trị tâm thần kém, kết quả là làm tăng nguy cơ tự tử, nghiện rượu, nghiện ma tuý và bạo lực ở họ. Tuy nhiên, giống như những người đàn ông mắc chứng hưng-trầm cảm, những người phụ nữ này cũng đóng góp sinh lực, sự năng động, hăng hái và trí tưởng tượng của họ cho những người xung quanh và cho thế giới.

Hưng - trầm cảm là căn bệnh vừa tạo ra lửa vừa dập tắt lửa. Lửa, về bản chất, vừa có khả năng sáng tạo, vừa có khả năng hủy diệt. Dylan Thomas đã viết: “Sức mạnh chảy qua dòng nhựa xanh tạo ra hoa trái/ Nhưng sức mạnh tuổi xanh của tôi, phá hoại rễ cây/ Lại là tàn phá”. Điên là một động lực kỳ lạ, một kẻ phá hoại và một ngọn lửa trong máu. Thật may là lửa trong máu đã tạo ra những lợi thế nhất định cho tôi trong thế giới y học, nhất là trong sự nghiệp của một giáo viên đại học.

Giáo viên đại học

Giáo viên đại học là nghề rất gần với trò bắn giết thú vật mà các trường đại học hàng đầu có thể tạo ra: đó là sự cạnh tranh căng thẳng, tiêu hao sức lực, phấn khích, nhanh, khá tàn nhẫn và rất đàn ông. Theo đuổi sự nghiệp giáo viên ở một trường đại học y nơi trách nhiệm điều trị được xây dựng trên kết quả nghiên cứu và giảng dạy - đòi hỏi người ta phải có những nỗ lực to lớn. Xét trên tất cả mọi khía cạnh, một phụ nữ, không phải bác sĩ điều trị và bị hưng-trầm cảm không nên đi theo con đường khó khăn này.

Đối với tôi, việc trở thành giáo viên thường xuyên của trường đại học không chỉ nhằm bảo đảm an toàn cho tôi về mặt học vấn và tài chính. Chỉ trong vài tháng đầu tiên làm giáo viên trợ giảng, tôi đã có những dấu hiệu ban đầu của bệnh tâm thần. Những năm theo đuổi sự nghiệp này, từ 1974 đến 1981, không chỉ là thời kỳ cạnh tranh vất vả trong giới y học đầy năng động và xông xáo. Quan trọng hơn, đây là thời kỳ tôi phải vật lộn để duy trì sự tỉnh táo, để tồn tại và để sống chung với bệnh tật. Theo thời gian, tôi ngày càng quyết tâm tìm ra những điểm tốt trong nỗi đau của mình và lợi dụng bệnh tật vào những việc có ích. Sự nghiệp giáo viên đại học vừa là khoảng thời gian để tôi tồn tại, vừa là thời kỳ giúp tôi chuyển hoá. Nó là biểu tượng cho sự ổn định mà tôi cần có và sự thừa nhận của xã hội mà tôi tìm kiếm, để có thể cạnh tranh và tồn tại được trong thế giới bình thường.

Ngay sau khi được giao nhiệm vụ giảng dạy và làm bác sĩ điều trị ở khoa bệnh nhân người lớn, tôi đã nhanh chóng rơi vào trạng thái ít nghỉ ngơi. Tôi cảm thấy ngày càng khó giữ khuôn mặt bình thản khi công bố kết quả kiểm tra tâm lý của các bệnh nhân trong khoa. Khi tìm cách diễn giải ý nghĩa của kết quả kiểm tra Rorschach, mà thường là có tính suy đoán, tôi có cảm giác như mình đang cố gắng bói bài hay bàn về sự liên kết giữa các hành tinh vậy. Đây không phải là lý do để tôi lấy bằng tiến sỹ và tôi bắt đầu hiểu ý nghĩa câu nói của Bob Dylan: “Sau hai mươi năm đèn sách, người ta tống bạn vào làm việc theo ca kíp”. Sau hai mươi ba năm học hành, chính tôi cũng bị đẩy vào cảnh tương tự. Trong những năm đầu làm giáo viên ở trường đại học, tôi quan tâm tới rất nhiều lĩnh vực. Đầu tiên tôi nghiên cứu về loài hyrax, voi và bạo lực. Tôi viết lại những gì đã nghiên cứu, từ hồi còn là sinh viên đại học, về chất ma túy gây ảo giác (LSD), về cần sa và thuốc phiện. Tôi đã cùng với anh trai nghiên cứu loài hải li. Cùng các đồng nghiệp ở khoa gây mê, tôi đã nghiên cứu về hiện tượng đau và trạng thái ảo trong cảm giác. Tôi là đồng tác giả của một cuốn sách giáo khoa về tâm lý không bình thường, được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học. Tôi tham gia nghiên cứu tác động của cần sa tới hiện tượng nôn ở những bệnh nhân ung thư khi được hoá trị liệu. Tôi cũng tìm cách lý giải những hành vi của động vật trong vườn thú Los Angeles. Quả là quá nhiều và quá tản mạn. Mối quan tâm của tôi cuối cùng đã buộc tôi phải tập trung vào việc mình đang làm. Tôi thu hẹp dần mối quan tâm của mình vào nghiên cứu và điều trị các căn bệnh rối loạn tâm thần.

Cụ thể hơn, và không có gì đáng ngạc nhiên, khi tôi đặc biệt quan tâm tới bệnh hưng-trầm cảm. Tôi quyết tâm tạo ra sự khác biệt trong cách nhìn nhận và điều trị căn bệnh này. Hai đồng nghiệp của tôi, mà cả hai đều có nhiều kinh nghiệm trong điều trị và nghiên cứu bệnh rối loạn tâm thần, đã cùng tôi quyết định thành lập một bệnh viện ngoại trú ở UCLA chuyên chẩn đoán và điều trị bệnh trầm cảm và hưng - trầm cảm. Chúng tôi đã nhận được nguồn tài trợ ban đầu của bệnh viện, đủ để thuê một y tá và mua một vài chiếc tủ đựng hồ sơ. Tôi cùng bác sỹ trưởng của bệnh viện đã dành nhiều tuần để soạn thảo các quy định về chẩn đoán, nghiên cứu và vạch ra chương trình giảng dạy, theo đó các bác sĩ tâm thần năm thứ ba của bệnh viện nội trú và thực tập sinh tiến sĩ tâm lý phải luân phiên nhau ra làm việc tại bệnh viện ngoại trú, coi đó như một chương trình trao đổi kinh nghiệm. Mặc dù có một số ý kiến phản đối việc tôi không phải là bác sĩ điều trị lại được cử làm giám đốc bệnh viện ngoại trú, nhưng hầu hết nhân viên trong bệnh viện nội trú, đặc biệt là bác sĩ trưởng, chủ nhiệm khoa tâm thần và chánh văn phòng của Viện Chức năng thần kinh, ủng hộ tôi vào chức vụ này.

Chỉ trong vòng vài năm, Bệnh viện ngoại trú về rối loạn cảm xúc UCLA đã trở thành một cơ sở giảng dạy và nghiên cứu lớn. Chúng tôi đã chẩn đoán và điều trị hàng nghìn bệnh nhân rối loạn tâm thần, thực hiện hàng loạt công trình nghiên cứu về y học và tâm lý, và giảng dạy cho các bác sĩ tâm thần nội trú và các thực tập sinh về phương pháp chẩn đoán và chăm sóc bệnh nhân rối loạn tâm thần. Bệnh viện ngoại trú trở thành một trung tâm đào tạo được nhiều người lựa chọn. Đó là nơi lúc nào cũng nhộn nhịp, bận rộn, cấp cứu - và khủng hoảng - do tính chất và mức độ nghiêm trọng của loại bệnh đang được điều trị, nhưng đó cũng là nơi thường ấm cúng và tràn đầy tiếng cười. Tôi và bác sĩ trưởng không chỉ khuyến khích mọi người làm việc chăm chỉ và làm thêm giờ, mà còn khuyến khích cả những cuộc tụ hội chơi bời sau giờ làm việc. Sức ép điều trị các bệnh nhân muốn tự tử, loạn thần kinh và có xu hướng bạo lực là rất lớn đối với tất cả chúng tôi, nên chúng tôi luôn cố gắng hỗ trợ các bác sĩ nội trú và thực tập sinh bằng cách giám sát và theo dõi đến mức cao nhất có thể. Khi xảy ra những sự cố hiếm khi xảy ra - ví dụ một luật sư trẻ, rất thông minh từ chối mọi nỗ lực đưa anh ta vào viện, rồi sau đó tự sát bằng cách tự bắn vào đầu thì các giáo viên, bác sĩ và thực tập sinh sẽ họp lại theo từng nhóm nhỏ hoặc lớn, để làm rõ những gì đã xảy ra và tìm cách giúp đỡ không chỉ gia đình nạn nhân, mà cả những người chịu trách nhiệm chính trong việc điều trị bệnh nhân đó. Bởi vì trong trường hợp này, bác sĩ điều trị đã làm tất cả những gì có thể cho bệnh nhân và không có gì đáng ngạc nhiên khi cô bác sĩ điều trị vô cùng hoảng sợ trước cái chết của bệnh nhân. Điều nghịch lý là chính các bác sĩ thành thạo và tận tâm như thế lại thường là những người có cảm giác thất bại và đau đớn nhất trong những trường hợp như vậy.

Chúng tôi coi trọng việc kết hợp giữa điều trị bằng thuốc với liệu pháp tâm lý, chứ không phải chỉ đơn thuần điều trị bằng thuốc và coi trọng việc hướng dẫn về bệnh và phương pháp điều trị cho bệnh nhân và gia đình họ. Những kinh nghiệm của bản thân với tư cách một bệnh nhân đã giúp tôi hiểu rất rõ tầm quan trọng sống còn của liệu pháp tâm lý trong việc giúp bệnh nhân, vượt qua nỗi đau, tiếp tục cuộc sống để có thể hồi phục và điều hoà giữa sự căm ghét thuốc với những hậu quả khủng khiếp của việc không chịu uống thuốc. Ngoài nhiệm vụ cơ bản là hướng dẫn các phương pháp chẩn đoán khác, tâm thần dược học và các khía cạnh khác trong điều trị bệnh rối loạn tâm thần, phần lớn công tác đào tạo, điều trị và nghiên cứu của Bệnh viện ngoại trú tập trung vào những nội dung chính sau: Vì sao bệnh nhân kháng cự hoặc không chịu uống Lithi hoặc các loại thuốc theo đơn khác; Bệnh nhân có xu hướng muốn tự tử, vậy bằng cách nào để có thể làm dịu tình trạng này; Vai trò của liệu pháp tâm lý trong việc tạo ra kết quả lâu dài trong điều trị bệnh trầm cảm và hưng--trầm cảm; Những khía cạnh tích cực của bệnh này trong thời kỳ điên nhẹ, như giàu sinh lực, nhận biết nhanh, linh hoạt, có những suy nghĩ độc đáo, tâm trạng hồ hởi, nhu cầu tình dục tăng, có tầm nhìn rộng và có những khát vọng mạnh mẽ. Tôi cố gắng khuyến khích các bác sĩ điều trị nhận ra rằng đây là một căn bệnh có những lợi thế và bất lợi của nó và đối với nhiều bệnh nhân, những điều say mê mà họ từng trải nghiệm là rất dễ gây nghiện và rất khó từ bỏ.

Để giúp bác sĩ điều trị và thực tập sinh hiểu được một phần ý nghĩ của bệnh nhân khi bị điện hoặc trầm cảm, chúng tôi khuyến khích họ đọc những điều do chính bệnh nhân viết ra, hay những bài báo do những người đã từng rối loạn tâm thần viết. Tôi cũng bắt đầu chương trình giảng dạy vào dịp Giáng sinh cho những người chăm sóc bệnh nhân tại nhà và nhân viên trong bệnh viện về những bản nhạc do các nhạc sĩ đã từng mắc bệnh trầm cảm hay hưng - trầm cảm sáng tác. Những bài giảng không chính thức này đã trở thành nền tảng cho buổi hòa nhạc mà một người bạn của tôi, giáo sư nhạc của UCLA, và tôi phối hợp tổ chức sau đó, tại Hội những người yêu nhạc Los Angeles năm 1985. Để giúp dư luận hiểu rõ hơn về bệnh thần kinh, đặc biệt là bệnh hưng - trầm cảm, chúng tôi đã đề xuất với giám đốc chấp hành của Hội những người yêu nhạc tổ chức một chương trình chuyên về cuộc đời và tác phẩm của các nhà soạn nhạc mắc bệnh này, trong đó có Robert Schumann, Hector Berlioz và Hugo Wolf. Các quan chức của Hội rất phấn khởi và đã thảo luận với chúng tôi một cách nhiệt tình và mang tính hợp tác. Tuy nhiên, điều không may là chỉ vài ngày sau, Trường Đại học California lại phát động một chiến dịch quản lý tài chính lớn, theo đó các giáo viên trong trường không được nhận tiền từ các nhà tài trợ tư nhân nữa. Kết quả là tôi phải tự trả 25.000 đôla, một khoản tiền mà bạn tôi nói là quá lớn cho những tấm vé hoà nhạc. Dù sao thì khán giả cũng kéo đến chật ních Hội trường Royce khổng lồ của UCLA và buổi hòa nhạc đã rất thành công. Đó lại là sự mở đầu cho một loạt chương trình hòa nhạc mà chúng tôi tổ chức tiếp theo trên khắp cả nước, kể cả buổi hòa nhạc chúng tôi thực hiện vài năm sau ở Trung tâm biểu diễn nghệ thuật John F. Kennedy ở thủ đô Washington. Đó cũng là nền tảng cho một loạt chương trình truyền hình đầu tiên về chủ đề bệnh hưng-trầm cảm và nghệ thuật mà chúng tôi sản xuất sau đó.

Trong quá trình thành lập và điều hành bệnh viện ngoại trú này, tôi đã may mắn nhận được sự giúp đỡ của ông chủ nhiệm bộ môn của tôi. Ông ủng hộ tôi làm giám đốc Bệnh viện ngoại trú, mặc dù tôi không phải là bác sĩ điều trị và hơn nữa ông biết tôi mắc bệnh hưng trầm cảm. Thay vì lấy lý do tôi mắc bệnh để cắt giảm trách nhiệm giảng dạy và điều trị của tôi và sau khi được bảo đảm rằng tôi đang được điều trị tâm lý liệu pháp rất tốt và bác sỹ trưởng của bệnh viện ngoại trú biết rõ bệnh tình của tôi ông đã khuyến khích tôi sử dụng bệnh viện để thử nghiệm và phát triển những biện pháp chữa trị tốt hơn và góp phần làm thay đổi nhận thức của dư luận về căn bệnh này. Mặc dù ông không bao giờ nói ra, nhưng tôi đoán rằng ông biết bệnh tình của tôi ngay từ lần đầu tiên tôi bị điên nặng. Trưởng khoa của tôi biết chuyện của tôi và tôi tin rằng thông tin đó chắc chắn đã được chuyển lên cấp trên. Trong bất cứ trường hợp nào, ông chủ nhiệm của tôi cũng giải quyết vấn đề theo đúng nguyên tắc y học. Lần đầu tiên ông đề cập đến chủ đề này bằng cách tiến đến bên tôi trong một cuộc họp, quàng tay qua người tôi và nói: “Tôi hiểu cô đang có một số vấn đề về tâm lý. Tôi rất lấy làm tiếc. Hãy cố gắng uống Lithi đều đặn”. Sau đó, ông thường xuyên hỏi tôi xem tình hình ra sao và nhắc nhở tôi uống thuốc đều đặn. Ông là người thẳng thắn, tích cực giúp đỡ người khác và chưa một lần nào gợi ý tôi ngừng hay cắt giảm công việc ở bệnh viện.

Tuy nhiên, tôi rất lo ngại việc công khai bệnh tình của mình với người khác. Cơn loạn thần kinh đầu tiên của tôi xảy ra rất lâu trước khi tôi nhận được giấy phép hành nghề của Hội đồng Kiểm tra y học California. Trong khoảng thời gian từ khi tôi bắt đầu uống Lithi đến khi tôi hoàn tất bài kiểm tra viết và kiểm tra vấn đáp ở Hội đồng, tôi phát hiện ra nhiều sinh viên y khoa, thực tập sinh và bác sỹ điều trị tâm thần đã bị tước quyền tiếp tục học tập, vì mắc bệnh thần kinh. Ngày nay, tình trạng này đã giảm đi, hầu hết các trường đại học và sau đại học đã khuyến khích những sinh viên bị bệnh đi điều trị, để sau đó có thể trở lại với công việc của mình ở bệnh viện. Còn thời kỳ đó, trong những năm đầu làm giáo viên đại học ở UCLA, tôi luôn bị ám ảnh bởi mối lo sợ rằng nếu bệnh tình của tôi bị phát hiện và được báo cáo tới một bệnh viện hay hội đồng kiểm tra nào đó, tôi có thể bị yêu cầu từ bỏ công việc giảng dạy và điều trị của mình.

Tuy áp lực rất cao, nhưng nói chung là tôi yêu thích công việc của mình. Y học đem lại nhiều lối sống phong phú và thú vị, được đi lại nhiều, hầu hết đồng nghiệp đều là những người sáng suốt, thông minh và cùng quyết tâm vượt qua khó khăn để kết hợp giữa công tác điều trị thực tế với viết sách báo và giảng dạy. Những áp lực công việc đã làm nặng nề thêm những biến động tâm thần của tôi, cho dù đã dịu bớt, ngay cả khi tôi đang uống Lithi. Phải mất vài năm sau, mọi chuyện mới trở nên ổn định. Khi tôi khoẻ mạnh, đó là cơ hội rộng mở để tôi viết, suy nghĩ, khám cho bệnh nhân và giảng dạy. Còn khi ốm thì quả là khủng khiếp: Mỗi lần như vậy có thể kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Khi đó tôi treo tấm biển “MIỄN QUẤY RẦY” ra ngoài cửa, rồi ngồi nhìn chăm chăm mà vô vọng ra ngoài cửa sổ, ngủ, mưu toan tự tử hoặc ngồi nhìn con chuột bạch - vật kỷ niệm trong một cơn điên mua sắm của tôi chạy lăng xăng quanh chiếc chuông nhỏ. Trong những dịp như thế, tôi không thể hình dung ra điều gì để viết và cũng không đủ khả năng lĩnh hội được một bài báo nào mà tôi cố gắng đọc. Còn việc giám sát thực tập sinh hay giảng dạy thì quả là quá sức.

Tuy nhiên, có một sự bù đắp giống như thủy triều. Khi bị trầm cảm, tôi chẳng lĩnh hội được gì, nhưng cũng không bị mất đi những kiến thức vốn có. Khi bị điện nhẹ, tôi có thể hoàn thành một bài viết chỉ trong một ngày, ý tưởng cứ thế tràn tới và tôi có thể hoạch định các chương trình nghiên cứu mới, nắm bắt nhanh kết quả điều trị bệnh nhân và giải quyết hàng đống công việc hành chính của một giám đốc bệnh viện. Giống như mọi thứ trong cuộc đời, những điều tồi tệ luôn được bù đắp bằng những điều tốt đẹp và những điều tốt đẹp đến lượt nó lại bị những điều tồi tệ chen lấn. Đó là một cuộc đời điên khùng, nhưng mãnh liệt, một sự pha trộn của những điều tuyệt vời, khủng khiếp, tệ hại, vô cùng khó khăn, vinh quang, dễ dàng, phức tạp, vui vẻ và những cơn ác mộng không bao giờ chấm dứt.

Thật may là tôi có những người bạn của tôi, có thể là họ cũng hơi điên khùng một chút, hoặc họ có lòng khoan dung độ lượng rất cao, họ sẵn sàng tha thứ cho những thay đổi vốn đã trở thành nền tảng tâm lý của tôi. Tôi đã dành rất nhiều thời gian cho họ trong những năm làm trợ giảng. Tôi cũng đi rất nhiều, cả vì công việc lẫn đi chơi, và chơi bóng với thực tập sinh, bạn bè và đồng nghiệp. Tuy nhiên, thể thao chỉ vui vẻ khi Lithi cho phép tôi điều phối được hành động của mình. Điều này không chỉ đúng với môn bóng, mà cả với môn cưỡi ngựa nữa. Cuối cùng tôi đã phải từ bỏ môn cưỡi ngựa trong vài năm, sau khi bị ngã quá nhiều lần trong một lần lên ngựa. Nay khi nhìn lại, tôi thấy điều đó cũng không có gì quá tệ hại. Tuy nhiên, quả thật là mỗi khi phải từ bỏ môn thể thao nào đó, tôi không phải chỉ từ bỏ những vui thú mà môn thể thao ấy mang lại, mà phải từ bỏ cả một phần cuộc sống của mình như là một vận động viên. Bệnh hưng - trầm cảm đã buộc tôi phải đối mặt với nhiều khía cạnh của tuổi già - cả về thể lực lẫn tâm thần – hàng chục năm trước tuổi của mình.

Cuộc đời lao đi thật nhanh, với những xung khắc xô đập nhau mạnh mẽ để tranh giành vị thế và ảnh hưởng của nó. Khi tôi điên, nhịp sống như chậm lại, khi tôi bình thường, sự điên cuồng trong người được kiềm chế; còn khi suy sụp thì mọi vận động trong tôi gần như ngừng lại. Ngoài bác sĩ tâm thần của tôi ra, không có ai để tôi có thể giãi bày những khó khăn mà tôi đang phải đối mặt. Cũng có thể có ai đó nhưng tôi chưa bao giờ dám thử. Ngoài tôi ra, hầu như không có một phụ nữ nào khác trong khoa tâm thần người lớn. Có phụ nữ trong bộ phận tâm thần, nhưng họ tập trung hết trong khoa trẻ em. Họ hay trốn tránh, vả lại họ cũng đã có quá nhiều chuyện trong khoa của mình rồi. Mặc dù hầu hết các đồng nghiệp nam của tôi là công bằng, và nhiều người rất sẵn lòng giúp đỡ, nhưng một số người vẫn cho rằng phụ nữ cần phải được kiểm nghiệm trước khi có thể tin cậy họ.

Ông Hàu (Oyster) là một người như vậy. Ông ta được đặt cho cái tên ấy vì sự lươn lẹo và bản chất trơn tuột của ông ta. Ông Hàu là một giáo sư cao cấp. Ông ta kẻ cả, đỏm dáng và có tất cả sự phức tạp về trí tuệ và tâm lý mà người ta có thể nghĩ tới ở loài thân mềm. Ông ta đánh giá phụ nữ qua bộ ngực, chứ không phải bằng trí tuệ của họ và điều làm cho ông ta phải phát cáu là hầu hết phụ nữ có cả hai thứ đó. Ông ta cũng cho rằng thật là sai lầm khi phụ nữ lạc vào giới nghiên cứu y học và tôi là người luôn làm cho ông ta khó chịu. Chúng tôi cùng là thành viên trong Ủy ban Tuyển dụng và Bổ nhiệm nhân viên trong khoa. Tôi là phụ nữ duy nhất trong Ủy ban có 18 thành viên này. Vào những dịp ông ta tới dự cuộc họp của Ủy ban- ông Hàu nổi tiếng là người kiếm được nhiều tiền nhất trong quỹ thời gian ông ta dành cho bệnh viện ít nhất- tôi luôn tìm cách ngồi đối diện với ông Hàu để được chứng kiến những thất bại của ông ta.

Tôi luôn có cảm giác rằng ông ta nghĩ tôi là một cái gì đó hơi đột biến, bởi vì tôi không bao giờ tìm cách né tránh, cho dù tôi không được bảo vệ bằng cuộc sống hôn nhân. Về phần mình, thỉnh thoảng tôi cũng chúc mừng ông ta, vì đã cố gắng để tuyển dụng thêm phụ nữ vào trong khoa. Ông ta không khôn ngoan, không có khả năng hài hước và cũng chưa bao giờ cố gắng hóm hỉnh. Thỉnh thoảng ông ta liếc nhìn về phía tôi một cách nghi ngờ và nhếch mép cười khó chịu. Ngoại trừ việc ông ta là người có thực quyền ở trong khoa ra, ông ta chỉ là một chàng ngốc đáng yêu. Ông ta bô bô nói rõ quan điểm của mình về phụ nữ ở mọi nơi. Những lời gợi ý tình dục của ông ta thật kinh tởm, còn thái độ kể cả của ông ta mỗi khi nói chuyện với tôi hay với các nữ thực tập sinh hoặc nữ bác sĩ trong khoa thì quả là khó chịu. Xét dưới nhiều góc độ, ông ta giống như một bức tranh biếm họa của chính mình. Là nữ nhân viên dưới quyền ông ta cũng giống như phải xuất phát chậm mười giây trong cuộc đua 100 mét vậy. Thật may là việc bổ nhiệm và cất nhắc giáo viên thường xuyên ở trường đại học đã có cơ chế kiểm soát và cân bằng lẫn nhau và hệ thống này khá công bằng, ít nhất cũng là ở hai trường đại học mà tôi biết rõ nhất Trường Đại học California và Johns Hopkins. Tất nhiên là những người như ông Hàu thì chẳng bao giờ làm cho hệ thống ấy vận hành một cách trơn tru được.

Sau khi vất vả lần mò trong mê cung của nghề nghiệp, cuối cùng tôi cũng nhận được thư của Hội đồng quản trị thông báo tôi được nâng bậc, trở thành thành viên vĩnh viễn của Hiệp hội các giáo sư. Tôi ăn mừng sự kiện này trong vài tuần. Một trong những người bạn tốt nhất của tôi đã tổ chức một bữa tiệc tối rất thân mật cho khoảng ba mươi người, trong một đêm đẹp trời của California. Tối hôm đó, lan can trong vườn nhà chị phủ đầy hoa và nến. Quả là không thể đẹp hơn thế. Gia đình tôi đóng góp sâm banh và tặng tôi luôn cả bộ ly Baccarat để uống sâm banh nữa. Đó là khoảnh khắc tuyệt vời đối với tôi. Hơn ai hết, gia đình và bạn bè tôi hiểu rằng đây là bữa tiệc mừng sau nhiều năm tôi vật lộn với bệnh thần kinh nghiêm trọng và vượt qua một nấc thang nữa trên con đường học vị.

Tuy nhiên, tôi chỉ thực sự thấm thía việc được nâng bậc khi một người bạn của tôi, một thành viên trong Câu lạc bộ Bohemian chỉ toàn nam giới, tới nhà tôi cùng với một vài chai rượu vang dành riêng cho câu lạc bộ của anh. “Xin chúc mừng giáo sư”, anh ta nói và đưa cho tôi chai rượu, “Hoan nghênh bà vào câu lạc bộ chỉ toàn có nam giới.”

 

(hết phần II)

Đọc tiếp phần III và IV ở đây

Bạn có thể quan tâm

Ý kiến

Tags :

Cùng chuyên mục

Sức Khỏe Tinh Thần
Nếu đứa trẻ dễ tổn thương của chúng ta tổn thương, bị bỏ rơi, xấu hổ, hoặc bị ngó lơ, thì nỗi đau, nỗi buồn và sự tức giận của đứa trẻ sẽ tồn tại mãi bên trong chúng ta.
Sức Khỏe Tinh Thần
Phần 3 - Tình yêu, thuốc chữa trị
Sức Khỏe Tinh Thần
phần 2 - Điên không đẹp thế
Sức Khỏe Tinh Thần
Đó là một trạng thái tâm thần đáng sợ nhưng mang lại cảm giác rất tuyệt vời. Đó là sự kích động đến cao độ như một đứa trẻ, đồng bóng như một cô gái mới lớn, phiền muộn đến ngã lòng như một thiếu nữ và rồi chìm vào chu
Sức Khỏe Tinh Thần
Làm thế nào để biết được bạn đang có những tiến triển tâm lý khả quan (và đang dần hồi phục) sau một tuổi thơ không mấy hạnh phúc?
Tâm hồn không tĩnh lặng (Phần 3-4) Cuốn sách dành cho người mắc chứng Rối loạn lưỡng cực
Tâm hồn không tĩnh lặng (Phần 2) Cuốn sách dành cho người mắc chứng Rối loạn lưỡng cực