Tác giả: Kay Redfield Jamison

Tựa gốc: An Unquiet Mind: A Memoir of Moods and Madness

Tựa Việt: Tâm hồn không tĩnh lặng

Độ dài: 327 trang

Phát hành: năm 2007 NXB Thông tấn

 

PHẦN III

TÌNH YÊU, THUỐC CHỮA TRỊ

Một sỹ quan và một chàng trai lịch thiệp

 

Đã có lúc tôi thực sự tin rằng mỗi người chỉ phải trải qua một mức độ đau đớn nhất định trong cuộc đời. Vì bệnh hưng - trầm cảm đã đem đến cho tôi biết bao khổ sở và bất ổn mỗi khi nó giở chứng, nên tôi nghĩ rằng cuộc đời sẽ bù đắp cho tôi theo cách khác. Tuy nhiên, khi đó tôi lại cũng tin rằng tôi vẫn có thể bay trong bầu trời đầy sao và lượn theo chiếc vành đẹp đẽ của Sao Thổ. Suy nghĩ của tôi dường như vẫn chỉ là một cái gì đó có tính ước nguyện. Còn Robert Lowell, tuy hay điên nhưng ít khi xuẩn ngốc, thì lại biết cách tận hưởng những giây phút hạnh phúc ngắn cuối đường hầm, thì đó là ánh sáng của đoàn tàu điện ngầm đang tới.

Đã có lúc - nhờ Lithi, nhờ thời gian qua đi và nhờ tình yêu của một người đàn ông Anh cao và đẹp trai - tôi đã lờ mờ hình dung ra tia sáng ở cuối đường hầm và tôi cảm nhận được rằng một cuộc sống ấm cúng và được bảo đảm đang trở lại.

Tôi biết rằng tâm hồn có thể được chữa lành một cách tuyệt vời nếu như có cơ hội và sự kiên nhẫn, dịu dàng có thể chắp nối được những mảnh vỡ tan tành của thế giới lại với nhau. Chúa có thể kết hợp những nhân tố rời rạc, một bác sỹ tâm thần hạng nhất, cùng sự dịu dàng và tình yêu của một người đàn ông lại với nhau để làm cho mọi thứ trở lại bình thường.

Tôi gặp David ngay trong năm đầu tiên làm giáo viên ở UCLA. Đó là đầu năm 1975, sáu tháng sau khi tôi bị điện năng và đầu óc tôi khi đó chỉ toàn những hình ảnh mờ ảo và mỏng manh về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Đầu óc tôi như trượt trên lớp băng mỏng, tính khí của tôi rất dễ nổi cáu, trong khi cuộc sống thật của tôi chủ yếu chỉ diễn ra trong một dải bóng tối dài và hẹp. Tuy nhiên, những hành động công khai của tôi lại nằm trong khuôn khổ bảo thủ bình thường, nhờ đó mà xét về bề ngoài, mọi chuyện nói chung là ổn, ít nhất cũng là đối với sự nghiệp của tôi.

Hôm ấy, tôi mở cửa phòng làm việc cho các bệnh nhân nội trú, khác với mỗi khi tôi thấy khó chịu - nhưng không phải vì bệnh nhân, mà vì hôm đó có cuộc họp của nhân viên bệnh viện. Trong cuộc họp ấy, các y tá có thể trút hết những bực dọc dồn nén lên các bác sỹ điều trị. Đến lượt mình, các bác sỹ lại bực bội bào chữa rằng họ có quyền quyết định cuối cùng và họ ở cấp cao hơn. Còn trưởng khoa thì bất lực, để cho sự oán giận, ghen tị và căm thù cá nhân bao trùm bầu không khí của cuộc họp. Trong khoa ấy, việc chăm sóc bệnh nhân thường bị đẩy lui lại phía sau, để nhường phần ưu tiên cho cuộc chiến không khoan nhượng và ích kỷ giữa các nhân viên. Bao giờ tôi cũng cố trì hoãn tới phút chót mới bước vào phòng họp, tìm một chiếc ghế ở xa khu chiến tuyến và ngồi xuống để chờ những điều khó chịu sắp xảy ra.

Tôi ngạc nhiên khi bác sỹ tâm thần của khoa bước vào phòng họp cùng với một người đàn ông cao và khá đẹp trai. Anh ta nhìn tôi, nở một nụ cười tuyệt vời. Anh là giáo sư thỉnh giảng và là bác sỹ tâm thần của Quân y Hoàng gia Anh đang nghỉ phép. Chúng tôi gần như thích nhau ngay lập tức. Chiều đó, chúng tôi cùng uống cà phê trong nhà ăn tự phục vụ của bệnh viện. Tôi bỗng thấy mình cởi mở với anh tới mức, đã lâu lắm rồi, tôi không nói chuyện với ai thoải mái đến vậy. Anh nói năng nhỏ nhẹ, khá trầm lặng, suy tư và không ép quá mức tới tâm trạng vẫn chưa bình phục hẳn của tôi. Cả hai chúng tôi cùng yêu thích âm nhạc và thơ. Chúng tôi cùng có những trải nghiệm trong cuộc sống nhà binh. Do tôi đã từng học ở Xcốtlen (Scotland) và Anh, nên chúng tôi cũng có nhiều kỷ niệm về những thành phố, bệnh viện và miền quê ở Anh. Anh muốn tìm hiểu về sự khác biệt trong phương pháp điều trị tâm lý ở Mỹ và Anh, nên tôi giúp anh tìm hiểu một trong những bệnh nhân phức tạp nhất của tôi. Đó là một cô gái bị tâm thần phân liệt, luôn tin rằng mình là một phù thủy. Anh nhanh chóng phát hiện ra những vấn đề trong điều trị và liệu pháp tâm lý làm cho cô ta chậm thoát ra khỏi tâm trạng hoảng loạn của mình. Anh rất tốt bụng với cô và mặc dù về cơ bản, cô ta vẫn coi anh là bác sỹ, nhưng giống như tôi sau này - cô ta đã nhanh chóng cảm thấy rằng cô có thể hoàn toàn tin cậy ở anh. Anh thẳng thắn, nhưng chân tình và tôi thích thú được chứng kiến việc anh phân chia, rồi lại phân chia các câu hỏi để chinh phục niềm tin của cô và giúp cô thoát ra khỏi tính đa nghi của mình.

Những tháng David ở UCLA, chúng tôi hay ăn trưa với nhau, thường là ở trong vườn nhiệt đới của trường đại học. Anh nhiều lần mời tôi đi ăn tối và lần nào tôi cũng phải nói với anh rằng tôi không thể, vì tôi vẫn là một phụ nữ có chồng, lại đang sống cùng với chồng sau một thời gian chia tay. Anh trở lại Luân Đôn và mặc dù thỉnh thoảng chúng tôi vẫn viết thư cho nhau, nhưng tôi luôn ngập đầu với công việc giảng dạy, điều hành bệnh viện, nâng cao chuyên môn và những vướng mắc trong cuộc sống hôn nhân. Một trận điện tồi tệ khác lại ập tới, và như một lẽ đương nhiên, tiếp sau đó là thời kỳ hoàn toàn suy sụp kéo dài.

Tôi và chồng tôi mặc dù vẫn là những người bạn thân và thỉnh thoảng vẫn gặp nhau, nhưng cuối cùng cũng phải quyết định rằng hôn nhân của chúng tôi là không thể khôi phục được nữa. Sau khi tôi bị bỏ mặc trong lần điên đầu tiên, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng hôn nhân của chúng tôi có bất cứ cơ may thực sự nào được cứu vãn. Tuy nhiên, cả hai chúng tôi đều đã cố thử nối lại. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều, thảo luận về những sai lầm của chúng tôi và khả năng nối lại, trong những bữa ăn và bên những cốc rượu vang. Chúng tôi đã rất thiện chí và chăm Sóc lẫn nhau, nhưng không gì có thể nối lại hôn nhân của chúng tôi, sau tất cả những gì đã xảy ra khi tôi mắc bệnh. Trong khoảng thời gian này, tôi viết thư cho David thông báo cho anh biết rằng cuối cùng tôi đã chia tay chồng. Cuộc sống cứ thế trôi đi, với những cuộc họp ở bệnh viện, tiếp tục viết bài, khám cho bệnh nhân và giảng dạy cho các bác sỹ điều trị, thực tập sinh và sinh viên. Tôi vẫn nơm nớp lo sợ rằng người ta có thể phát hiện ra tôi đã bị bệnh rất nặng và tâm trạng của tôi vẫn còn rất mong manh, nhưng thật kỳ cục và may mắn, nhạy cảm và khả năng quan sát tốt không phải bao giờ cũng là một phẩm chất của các nhà tâm lý.

Thế rồi một hôm, hơn mười tám tháng kể từ khi David rời UCLA, tôi trở về phòng làm việc và thấy anh đang ngồi trên ghế của tôi, nghịch chiếc bút chì và cười rất tươi. Anh nói, nửa như cười: “Chắc chắn bây giờ thì em có thể đi ăn tối với anh được rồi. Anh đã chờ đợi quá lâu và phải đi một chặng đường quá dài vì nó”. Tất nhiên là tôi đồng ý và chúng tôi đã có vài ngày tuyệt vời ở Los Angeles trước khi anh trở lại nước Anh. Anh rủ tôi sang Luân Đôn ở cùng anh vài tuần. Mặc dù tôi vẫn đang trong giai đoạn hồi phục sau đợt trầm cảm kéo dài, mà suýt dẫn tới tự tử, và tôi cũng vẫn còn lưỡng lự vì sợ thần kinh của tôi không chịu đựng nổi, nhưng không hiểu bằng cách nào đó tôi vẫn biết rằng được ở bên anh chắc sẽ tốt hơn cho tôi. Và quả thật nó rất tốt cho tôi. Chúng tôi đã có những buổi tối cuối xuân đi dạo bên nhau rất lâu trong công viên St. James, ăn tối ở câu lạc bộ của anh nhìn xuống sông Thames và tổ chức những bữa ăn ngoài trời công viên Hyde gần nơi anh ở. Tình trạng suy. sụp, lo sợ và mất niềm tin trong tôi bỗng dần biến mất. Tôi lại bắt đầu thích thưởng thức âm nhạc và hội hoạ. Tôi đã cười trở lại và lại bắt đầu làm thơ. Tình cảm mãnh liệt trong những đêm dài và sáng sớm đã làm cho tôi lại tin vào, hay nhớ lại tầm quan trọng của ý niệm sống để yêu và yêu để sống.

Ban ngày David làm việc ở bệnh viện, nên tôi lại hoà mình vào Luân Đôn, nơi tôi đã từng gắn bó. Tôi lang thang đi bộ rất lâu trong công viên, đến thăm nhiều lần Tate, đi vòng quanh Victoria và Albert mà không có mục đích gì cả, rồi tới Bảo tàng Tự nhiên và Bảo tàng Khoa học. Một hôm, theo gợi ý của David, tôi đi thuyền từ cảng Westminster tới Greenwich và ngược lại. Một ngày khác, tôi đi tàu hoả tới Canterbury. Tôi đã không trở lại Canterbury trong nhiều năm và trước đây tôi chỉ thấy nó qua đôi mắt hơi điên, nhưng không thể nào quên được. Tôi đã có những ký ức huyền ảo nhưng tồn tại rất lâu về những ô cửa kính sơn sẫm màu sặc sỡ, về những âm thanh ớn lạnh và khung cảnh mờ tối của nơi xảy ra vụ giết hại Becket, cùng những vệt nắng lướt trên nền nhà thờ. Lần này tuy tôi quỳ xuống trong trạng thái không bị ngất ngây, nhưng tôi không có niềm tin khi cầu nguyện và tôi có cảm giác như một người xa lạ. Đó vẫn là cảm giác về một Canterbury tĩnh lặng và dịu dàng mà tôi đã có.

Đúng lúc đang quỳ gối cầu nguyện, tôi chợt nhớ ra rằng tôi đã quên không uống Lithi tối hôm trước. Tôi thò tay vào túi lấy thuốc, mở lọ thuốc ra và ngay lập tức tôi đánh đổ toàn bộ thuốc ra nền nhà thờ. Nền nhà thờ bẩn thỉu, xung quanh có rất nhiều người và tôi vô cùng xấu hổ khi phải cúi xuống nhặt những viên thuốc. Không chỉ xấu hổ, đó cũng là lúc tôi nhận ra rằng tôi sẽ phải đề nghị David kê cho tôi một đơn thuốc khác. Điều đó cũng có nghĩa là tôi sẽ buộc phải nói thật với David về bệnh tình của mình. Tôi không thể không cay đắng nghĩ rằng Chúa hiếm khi mở cánh cửa này ra mà không đóng cánh cửa khác lại. Tuy nhiên, tôi không thể không mua thuốc mới. Lần trước tôi không uống Lithi và ngay lập tức đã bị điện trở lại. Tôi không thể sống tiếp một năm nữa như những gì tôi vừa mới trải qua.

Đêm đó, trước khi đi ngủ, tôi nói với David về bệnh hưng - trầm cảm của mình. Tôi lo sợ nghĩ tới phản ứng của anh và tự giận mình tại sao không nói với anh sớm hơn. Anh im lặng trong một khoảng thời gian rất dài và tôi đoán rằng anh đang tính tới những tác động, cả về у học lẫn con người, của những gì tôi vừa nói. Tôi không nghi ngờ rằng anh đã yêu tôi, nhưng giống như tôi, anh hiểu rõ những bất ổn mà căn bệnh này gây ra. Anh là một sỹ quan quân đội, gia đình anh rất bảo thủ và anh khao khát có con, trong khi hưng - trầm cảm lại là căn bệnh có tính di truyền. Đó cũng là căn bệnh người ta không dám nói ra, một căn bệnh không thể dự báo trước được và không ít trường hợp dẫn tới cái chết. Ước gì tôi đã không nói với anh chuyện này, ước gì tôi là một người bình thường và ước gì tôi đang ở bất kỳ đâu đó trừ chỗ này. Tôi cảm thấy thật xuẩn ngốc khi hy vọng ai đó có thể chấp nhận những gì tôi vừa nói và tôi sẵn sàng chấp nhận một cuộc chia tay tinh tế và lịch sự. Dù sao thì chúng tôi cũng chưa kết hôn và chúng tôi cũng chưa sống với nhau một cách nghiêm túc trong một thời gian dài.

Cuối cùng, khi sự im lặng kéo dài phải đến hồi kết thúc, David ôm lấy tôi và nói bằng một giọng nhỏ nhẹ: “Anh rất thông cảm với em”. Tôi nhẹ cả người và sững sờ trước sự thật hiển nhiên trong điều anh vừa nói. Đó là sự cảm thông và cuối cùng cũng đã có người hiểu được tôi. Giữa lúc tâm hồn tôi đang dịu lại, thì một ốc đảo hài hước nhỏ bé trong đầu tôi lại lĩnh hội những điều David nói theo một nghĩa khác, và tôi coi câu nói của anh như được rút ra từ một cuốn tiểu thuyết của P.G. Wodehouse vậy. Tôi nói với anh về điều này và nhắc anh nhớ lại nhân vật Wodehouse, người đã phàn nàn rằng mặc dù trên thực tế không phải là anh ta bất bình, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là anh ta hài lòng. Cả hai chúng tôi cùng cười rất lâu. Mặc dù trong tiếng cười ấy vẫn còn chứa đựng những âu lo, nhưng tảng băng đáng sợ giữa hai chúng tôi đã được phá vỡ.

David rất tốt bụng và sẵn sàng chấp nhận. Anh hỏi tôi hết câu hỏi này đến câu hỏi khác về những gì tôi đã trải qua, điều gì là tệ hại nhất, tôi sợ nhất cái gì và anh có thể giúp gì cho tôi mỗi khi tôi bị bệnh. Sau cuộc nói chuyện ấy, mọi chuyện đối với tôi dường như dễ dàng hơn. Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình không đơn độc khi đối phó với những nỗi đau và sự bất ổn của căn bệnh này và tôi nhận thấy rõ ràng rằng anh thực sự muốn hiểu rõ căn bệnh của tôi để có thể chăm sóc tôi. Và anh đã bắt đầu chăm sóc tôi ngay từ đêm đó. Tôi giải thích với anh rằng do tác dụng phụ hiếm khi xảy ra của Lithị đối với cả thị lực lẫn khả năng tập trung, nên về cơ bản, tôi không thể đọc quá một, hai đoạn sách cùng. một lúc. Thế là anh đọc cho tôi nghe: anh đọc thơ, Wilkie Collins và Thomas Hardy, với một tay ôm tôi trên giường và thỉnh thoảng lại vuốt tóc tôi cứ như tôi là một đứa trẻ vậy. Từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, với sự kiên nhẫn và tế nhị vô bờ, sự dịu dàng của anh cả niềm tin của anh vào tôi, tin vào tình trạng của tôi và tin vào nền tảng sức khoẻ của tôi - đã từng bước đẩy lùi nỗi lo sợ trong tôi về tâm trạng và bạo lực không thể dự báo được.

Chắc chắn David biết rõ rằng tôi đã mất hết hy vọng trở lại cuộc sống bình thường, nên anh đã tìm cách trấn an và từng bước tạo dựng niềm tin trong tôi một cách có hệ thống. Tối hôm sau, khi trở về nhà, anh thông báo với tôi rằng anh đã mời hai sỹ quan cấp cao của Quân đội Anh, mà cả hai đều đã từng mắc chứng hưng - trầm cảm, tới ăn tối. Những buổi tối chúng tôi ở cùng với hai sỹ quan này và phu nhân của họ là không thể nào quên được. Một trong hai người là tướng. Ông lịch lãm, dịu dàng và rất thông minh. Sự sáng suốt của ông là điều không phải bàn cãi. Ngoại trừ những dấu hiệu thiếu ngủ thỉnh thoảng hiện ra trong đôi mắt và những nét u sầu nhẹ được khéo léo che đậy khi nói chuyện, ông rất giống với mẫu người năng động, tự tin và dễ chịu mà người ta có thể bắt gặp trong các bữa tiệc lớn ở Luân Đôn hay Oxford, Viện sỹ quan kia cũng rất tuyệt vời, niềm nở, hóm hỉnh và giống như vị tướng, anh ta cũng hay nói “khiếp quá, khiếp quá” đặc giọng của tầng lớp thượng lưu. Đôi mắt của anh ta thỉnh thoảng cũng hiện lên những nét buồn. Tuy nhiên, anh là một người bạn tuyệt vời và nhiều năm sau vẫn là một người bạn gần gũi của chúng tôi.

Trong những bữa ăn tối, chúng tôi không bao giờ đề cập tới bệnh hưng - trầm cảm và bầu không khí hoàn toàn bình thường của những buổi tối ấy đã làm cho tôi tin tưởng hơn và quả thật là rất quan trọng đối với tôi. Giới thiệu tôi với hai người đàn ông “bình thường”, mà cả hai cùng ở trong thế giới giống như tôi đã biết hồi nhỏ, chỉ là một trong rất nhiều việc làm tốt đẹp mà David đã dành cho tôi. Như Robert Louis Stevenson đã từng viết: “Trong lịch sử tốt bụng của loài người, chỉ cần một người cũng có thể làm cho thế giới trở nên đẹp đẽ hơn. Nếu không phải nhờ nó, nhờ tác động của những lời nói, cái nhìn và những lá thư ân cần... thì tôi buộc phải nghĩ rằng cuộc đời chúng ta chỉ là sự nhạo báng của thế giới tâm hồn tệ hại”. Từ khi biết David, tôi không bao giờ nhìn cuộc đời từ góc độ tồi tệ nữa.

Tôi rời Luân Đôn với cảm giác lo sợ, nhưng David đã thường xuyên viết thư và gọi điện cho tôi. Cuối mùa thu năm ấy, chúng tôi lại được sống bên nhau ở Washington, và do tôi đã trở lại với chính mình, nên tôi đã sống theo đúng cách mà tôi không hề có trong nhiều năm. Những ngày tháng 11 năm ấy đã đọng lại trong trí nhớ của tôi như những vòng xoáy dịu dàng, nhưng mãnh liệt của những chuyến đi dạo rất lâu trong gió lạnh, tới thăm những ngôi nhà cổ, những nhà thờ cổ, những mảnh vườn từ thế kỷ 18 ở Annapolis được phủ một lớp tuyết mỏng và những dòng sông chảy ra Vịnh Chesapeake đã bắt đầu đóng băng. Tối đến, chúng tôi cùng ăn anh đào khô, ăn tối trên đường và nói với nhau mọi chuyện. Còn đêm đến, chúng tôi sống trong tình yêu tràn ngập và những giấc ngủ không hề bị quấy nhiễu, mà đã lâu lắm rồi tôi hằng mong ước nhưng không có được.

David trở lại Luân Đôn, tôi trở về Los Angeles, chúng tôi thường xuyên viết thư và nói chuyện với nhau, chúng tôi nhớ nhau và cùng lao vào công việc của riêng mình. Tháng 5, tôi trở lại Anh và chúng tôi đã có hai tuần cùng hưởng những ngày đầu hè ở Luân Đôn, Dorset và Devon. Một buổi sáng chủ nhật, sau lễ cầu nguyện ở nhà thờ, chúng tôi cùng leo lên đỉnh đồi để lắng nghe tiếng chuông nhà thờ. Tôi bỗng thấy David dừng lại, đứng như trời trồng và thở một cách khó nhọc. Anh nói đùa là vì đêm phải tập thể dục quá nhiều. Chúng tôi cùng cười và bỏ qua chuyện đó.

David được điều sang làm việc tại Bệnh viện của Quân đội Anh ở Hồng Công và anh vạch kế hoạch để tôi tới thăm anh ở đó. Anh thông báo cho tôi chi tiết kế hoạch mà anh đã dàn xếp cho các buổi tối của riêng chúng tôi, cho những cuộc gặp với ai và những buổi cắm trại ở những hòn đảo gần đó. Tôi nóng lòng mong tới ngày được ở cùng anh. Nhưng rồi vào một buổi tối, không lâu trước ngày tôi dự định sang với anh, khi tôi đang ngồi ở nhà viết một chương cho cuốn sách giáo khoa thì có tiếng gõ cửa. Khi đó đã khá muộn và tôi không nghĩ lại có ai gõ cửa vào giờ ấy. Tôi đột nhiên nhớ tới lời mẹ tôi nói về nỗi khiếp đảm của các bà vợ phi công mỗi khi cha tuyên uý gõ cửa. Tôi mở cửa và đó là một công văn ngoại giao. Bức thư của viên sỹ quan chỉ huy của David viết, trong khi đi làm nhiệm vụ ở Cátmandu, David đã đột ngột qua đời vì bệnh tim. Khi đó anh 44 tuổi, còn tôi 32 tuổi.

Tôi hẫng người. Tôi nhớ là đã cố ngồi xuống, quay lại với công việc, viết một chút nữa rồi gọi điện cho mẹ tôi. Tôi cũng nói chuyện với bố mẹ của David và với viên sỹ quan chỉ huy của anh. Ngay cả khi chúng tôi đang thảo luận về kế hoạch tang lễ, tôi vẫn không tin rằng anh đã chết. Tang lễ của David phải lui lại khá lâu, do quân đội yêu cầu phải khám nghiệm tử thi, trước khi thi thể của anh được đưa về Anh. Tôi đã trải qua đủ loại cảm xúc trong cơn sốc ấy. Tôi mua vé máy bay, lên giảng đường vào sáng hôm sau, triệu tập với cuộc họp với các nhân viên bệnh viện, gia hạn hộ chiếu, xếp vội quần áo vào va li và cẩn thận gom tất cả những lá thư mà David đã viết cho tôi. Khi ngồi trên máy bay, tôi máy móc xếp những lá thư của David theo thứ tự thời gian và quyết định sẽ đọc lại những lá thư này sau khi tới Luân Đôn. Ngày hôm sau, khi ngồi trong công viên Hyde để đọc lại thư, tôi đã không thể đọc nổi một nửa lá thư đầu tiên, tôi bật khóc và không kìm lại được. Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không đọc lại bất cứ lá thư nào của anh nữa.

Tôi tới Harrods mua mũ đen cho buổi tang lễ, rồi sau đó ăn trưa với viên sỹ quan chỉ huy của David tại câu lạc bộ của anh ta. Anh là bác sỹ trưởng về tâm thần của Quân đội Anh một con người tận tụy với công việc, tốt bụng, thẳng thắn và rất hiểu biết. Anh ta đã từng phải tiếp những phụ nữ có chồng đột ngột qua đời và hiểu nỗi lòng của họ, nhưng rõ ràng là anh ta đã sửng sốt khi biết tôi vẫn chưa bắt đầu quen với sự thật rằng David đã chết. Anh nói với tôi rất lâu về David, về những năm anh biết và làm việc cùng với David. Anh ta ca ngợi David là một bác sỹ và một con người tuyệt vời. Anh ta nói với tôi rằng “có thể là rất khó khăn, nhưng cũng tốt” nếu anh ta đọc cho tôi nghe một đoạn báo cáo khám nghiệm tử thi của David. Về bề ngoài, đây có vẻ như là nhằm thuyết phục tôi rằng bệnh nhồi máu cơ tim của David là không có cách gì chữa khỏi và sự can thiệp của y học cũng chẳng giúp ích được gì. Nhưng trên thực tế, rõ ràng là anh ta biết rằng những ngôn ngữ y học lạnh lùng sẽ gây sốc cho tôi và buộc tôi phải đối mặt với sự thật. Tuy nhiên, những chi tiết y học khủng khiếp đã không đưa tôi tiến gần hơn tới sự thật bao nhiêu. Thay vào đó, chính câu nói của viên thiếu tướng rằng “một sỹ quan trẻ đã áp tải thi thể của Đại tá Laurie trên chuyến bay của Không quân Hoàng gia Anh từ Hồng Công về sân bay Brize Norton” lại đưa tôi trở về với thực tế. David không còn là Đại tá Laurie nữa, không còn là Bác sỹ Laurie nữa, mà chỉ còn là một thi thể.

Quân đội Anh đã rất tốt với tôi. Theo cách hiểu của quân đội, hy sinh, đặc biệt là cái chết bất ngờ, về cơ bản đã được xác định trước. Vì thế, nghi thức tang lễ của quân đội tự nó muốn nói lên rằng đó là kết cục đã được dự báo, an ủi thân nhân, ca ngợi người nằm xuống và mang đầy tính tôn giáo. Bạn bè và các sỹ quan đồng đội của David rất thẳng thắn, hóm hỉnh, thực tế và đầy lòng thương cảm. Họ nói rằng họ tin tôi sẽ vượt qua tất cả, nhưng họ cũng vẫn làm tất cả những gì có thể để giúp tôi xoa dịu bớt nỗi buồn khủng khiếp này. Họ không bao giờ để tôi một mình, nhưng cũng không bao giờ lảng vảng gần đó, họ mang anh đào và rượu uytxki đến cho tôi và tư vấn pháp lý cho tôi. Họ thường xuyên nói về David, một cách công khai và hài hước, làm cho tôi không còn nhiều cơ hội để buồn phiền.

Khi cử hành tang lễ, viên thiếu tướng cứ nằng nặc đòi tôi cùng hát những bài thánh ca. Anh ta ôm lấy tôi trong suốt khoảng thời gian đặc biệt khó khăn này. Anh ta cười toáng lên khi tôi nói nhỏ vào tai anh ta - giữa lúc các sỹ quan và các quý ông đang ca ngợi David - rằng ước gì tôi cũng có thể đứng lên tuyên bố với mọi người rằng David cũng rất tuyệt vời trên giường ngủ. Bất chấp nỗi khiếp đảm của tôi trước việc một người đàn ông cao gần 1,9 mét biến thành một hộp tro nhỏ và bất chấp việc tôi muốn lùi lại phía sau cách xa ngôi mộ của anh, anh ta vẫn đẩy tôi lên phía trước để tôi tận mắt chứng kiến, để tôi nhận tro và tin rằng mọi chuyện đã kết thúc.

Tôi dành khoảng thời gian còn lại ở Anh với bạn bè và dần dần, tôi bắt đầu hiểu được rằng tương lai mà tôi trông đợi, tình yêu và sự trợ giúp mà tôi phụ thuộc vào, đã không còn nữa. Tôi nhớ lại hàng nghìn chuyện liên quan tới David, với biết bao tiếc nuối về những cơ hội bị bỏ lỡ, về những cuộc cãi vã tệ hại không cần thiết và tôi hiểu rằng không gì có thể làm thay đổi thực tế được nữa. Biết bao ước mơ đã bị mất: mọi kế hoạch của chúng tôi về một gia đình ngập tràn tiếng trẻ; và mọi thứ dường như trong tầm tay, đã tiêu tan. Rất đau khổ, nhưng thật may là nó hoàn toàn khác với sự suy sụp. Buồn, khủng khiếp, nhưng không tuyệt vọng. Cái chết của David đã không ném tôi vào bóng đêm không chịu đựng nổi và ý nghĩ tự tử không hề lướt qua trong đầu tôi. Tôi đã được an ủi rất nhiều nhờ sự bù đắp và lòng tốt vô bờ của bạn bè, gia đình và cả những người xa lạ nữa. Ví dụ, hôm tôi rời Anh để trở về Mỹ, nhân viên làm thủ tục lên máy bay của Hãng hàng không Anh đã hỏi tôi đến Anh vì công việc hay đi nghỉ. Mọi sự điềm tĩnh mà tôi cố giữ trong gần hai tuần qua đột nhiên vỡ ra. Tôi giải thích, qua hai hàng nước mắt, mục đích chuyến đi của mình và nhân viên ấy đã ngay lập tức nâng hạng ghế cho tôi và xếp tôi vào vị trí để tôi có thể riêng tư nhất. Dường như David đã báo trước cho các nhân viên phục vụ trên máy bay, vì họ rất tốt bụng, quan tâm đến tôi hơn bình thường và để cho tôi được tự do với suy nghĩ của mình. Từ ngày đó, khi có thể, tôi luôn bay với Hãng hàng không Anh. Và mỗi lần như thế, tôi lại nhớ tới những cử chỉ tốt bụng nho nhỏ.

Tôi trở về nhà, trở về với một núi công việc mà nói chung là tốt cho tôi, và rất não lòng khi trở về với cả một vài lá thư của David được chuyển tới khi tôi đi vắng nữa. Trong những ngày sau đó, tôi còn nhận được hai lá thư khác nữa của David bị chuyển chậm, và cuối cùng những lá thư như thế đương nhiên không tới nữa. Theo thời gian, cú sốc về cái chết của David cuối cùng cũng nguôi ngoai. Vài năm sau cái chết của David, tôi được người ta yêu cầu nói về chuyện này. Tôi kết thúc buổi nói chuyện bằng một bài thơ của Edna St. Vincent Millay:

Thời gian chẳng thể giúp nguôi ngoai; Thế là anh nói dối.

Ai nói nỗi đau sẽ dịu đi theo tháng ngày bận rộn!

Tôi nhớ anh trong từng tiếng mưa rơi. 

Vẫn muốn có anh khi thủy triều rút nước. 

Tuyết năm ngoái bắt đầu tan trên sườn núi, 

Và những chiếc lá cũ đã tàn rũa bên đường, 

Nhưng nỗi đắng cay vẫn còn nguyên đó 

Chồng chất trong tim em, nỗi đau vẫn nhói. 

Biết bao nơi em không dám tới, 

Chỉ vì nơi đó vẫn còn nguyên dấu tích của anh, Rồi em tới một nơi tĩnh lặng, 

Nơi anh chưa từng đến bao giờ 

Em nghĩ nó sẽ không gợi nhớ đến anh 

Nhưng em sững sờ,

Bởi nỗi nhớ anh bỗng ào ào tràn tới

Thời gian cuối cùng cũng làm dịu nỗi đau. Tuy nhiên, nó cũng bắt người ta phải trả giá, không dễ chịu chút nào. Thời gian là vậy.

Họ nói với anh rằng trời đã đổ mưa

Trong suốt vài năm sau đó, nỗi đau và sự bất ổn từ cái chết của David và từ căn bệnh của chính mình đã làm giảm rất nhiều kỳ vọng của tôi về cuộc sống. Tôi co mình lại và chủ tâm không mở cửa với thế giới bên ngoài nếu như không cần thiết. Tôi lao vào công việc. Điều hành bệnh viện, giảng dạy, nghiên cứu và viết sách không thể thay thế được tình yêu, nhưng nó cũng khá thú vị và làm cho cuộc sống vừa bị phá vỡ của tôi có một chút ý nghĩa nào đó. Sau khi đã biết tới những hậu quả tệ hại của việc uống rồi lại ngừng uống Lithi, nay tôi đã tự giác uống thuốc đều đặn và tôi phát hiện ra rằng cuộc đời là có thể dự báo được và ổn định hơn nhiều so với trước kia tôi vẫn nghĩ. Tâm trạng của tôi vẫn còn căng thẳng và tính khí của tôi vẫn rất dễ bị kích động, nhưng nay tôi đã có thể vạch ra những kế hoạch ổn định hơn nhiều và những cơn suy sụp nay đã thưa hơn và ít nghiêm trọng hơn.

Dù thế, tâm hồn tôi vẫn chưa lành. Trong suốt tám năm kể từ khi trở thành giáo viên đại học, bất chấp những tháng tôi bị điện và suy sụp kéo dài, việc tôi mưu toan tự tử và cái chết của David. tôi chưa bao giờ phải nghỉ việc quá lâu, hay phải rời khỏi Los Angeles để chữa trị, hay che giấu nỗi đau khủng khiếp của mình. Vì thế, tận dụng một trong những đặc ân cao của giáo sư, tôi quyết định đi nghỉ phép năm kết hợp với nghiên cứu ở Anh. Giống như ở St. Andrews nhiều năm trước đây, chuyến đi ấy đem lại cho tôi khoảng thời gian nghỉ ngơi tuyệt vời và dễ chịu. Tình yêu, khoảng thời gian dài cho chính mình và cuộc sống tuyệt vời ở Luân Đôn và Oxford đã tạo cơ hội cho cả tâm hồn và trí tuệ tôi dần hàn gắn lại hầu hết những mảnh vỡ trước đây.

Lý do học thuật để tôi tới Anh là nghiên cứu về hiện tượng rối loạn tâm thần ở các nghệ sỹ và nhà văn nổi tiếng của Anh và để viết một cuốn sách giáo khoa về bệnh hưng - trầm cảm mà tôi đang viết cùng với một đồng nghiệp. Thời gian của tôi được chia cho công việc ở Trường Y Bệnh viện St. George ở Luân Đôn và Trường Đại học Oxford. Đó là hai nơi khác hẳn nhau, mỗi nơi tuyệt vời theo một cách. St. George là một bệnh viện kết hợp với giảng dạy lớn, nằm giữa một trong những vùng nghèo nhất của ngoại ô Luân Đôn. Đó là nơi nhộn nhịp và đáng yêu, rất phù hợp với một bệnh viện kết hợp với giảng dạy. Nó có lịch sử tồn tại 250 năm và đó là nơi Edward Jenner, bác sĩ phẫu thuật lỗi lạc John Hunter, cùng nhiều bác sỹ và nhà khoa học nổi tiếng khác trong lịch sử y học đã từng làm việc. Bệnh viện này là nơi yên nghỉ cuối cùng của con bò Blossom, con bò mà Jenner đã từng sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm vắcxin đậu mùa. Bộ da ghẻ lở mà vĩ đại của con bò ấy vẫn được treo trong tủ kính ở thư viện của trường y. Lần đầu tiên nhìn thấy nó từ xa và khi không đeo kính, tôi nghĩ đó là một bức tranh kỳ quặc, nhưng hấp dẫn nhờ chính vẻ kỳ cục của nó. Tôi vui sướng khi biết đó chính là bộ da bò, nhưng không phải của con bò bình thường, mà là một con bò nổi tiếng trong giới y học. Có một cái gì đó thật tuyệt vời mỗi khi làm việc gần Blossom và tôi đã có nhiều giờ ở gần đó, làm việc, suy nghĩ về công việc và thỉnh thoảng nhìn lên bộ da nhiều màu sắc và quyến rũ của nó.

Oxford lại hoàn toàn khác. Tôi là hội viên nghiên cứu cao cấp của Trường đại học Merton, một trong ba trường đại học đầu tiên của Oxford được thành lập từ thế kỷ 13. Nhà thờ của trường Merton cũng được xây dựng cùng thời gian này và một số ô cửa kính sơn rất đẹp của nhà thờ có niên đại từ ngày đó. Thư viện của trường, được xây dựng một thế kỷ sau đó, là một trong những thư viện Trung cổ đẹp nhất của Anh. Đây cũng là thư viện đầu tiên xếp sách đứng trên giá, thay vì để nằm trong những chiếc hòm. Bộ sưu tập những cuốn sách in đầu tiên nghe nói phải chật vật lắm mới đưa được vào thư viện, bởi vì trường này tin rằng sách in chỉ là một loại mốt nhất thời và không thể thay thế được cho những bản viết tay. Một số niềm tin khác thường kiểu ấy - bất chấp những thực tế của thời hiện đại hay tương lai đang đến gần - vẫn hiện hữu trong trường, trong sự sáng tạo, đa dạng, bực mình hay dễ chịu, tuỳ theo tâm trạng và hoàn cảnh khác nhau.

Tôi sống trong một căn hộ nhiều phòng tuyệt đẹp của Merton, nhìn xuống sân chơi. Tôi đọc (mặc dù vẫn còn khó khăn) và viết trong bầu không khí hoàn toàn tĩnh lặng, chỉ bị phá vỡ khi nhân viên phục vụ của trường mang cà phê, vào buổi sáng, và trà, vào buổi chiều, đến cho tôi. Bữa trưa bao giờ tôi cũng ăn cùng các đồng nghiệp cao cấp, đó là điều rất thú vị, nhất là khi có đủ mặt các giáo sư và giảng viên cao cấp thuộc đủ các khoa trong trường. Ở đó có đủ các nhà sử học, toán học, triết học và văn học. Mỗi khi có dịp ngồi cạnh ông Alister Hardy, một nhà sinh vật biển, một con người tuyệt vời và rất có khiếu kể chuyện, tôi lại được nghe ông nói hàng giờ về chương trình khoa học khám phá Nam cực trước đây của ông, và thảo luận về công trình nghiên cứu hiện nay của ông về bản chất của đức tin tôn giáo. Chúng tôi cũng rất quan tâm tới William James và bản chất của trạng thái mê li (ecstasy). Ông liên tục nhảy từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ văn học tới sinh học và thần học, mà chẳng khó khăn gì.

Merton không chỉ là trường cổ nhất và giầu nhất trong hệ thống của Trường Đại học Oxford, mà nó còn tự hào là nơi có đồ ăn ngon nhất và có hầm rượu vang tốt nhất nữa. Vì thế, tôi thường tới dự những bữa tiệc tối của Trường Oxford. Đó là những buổi tối giống như những buổi tối từng có rất lâu trong quá khứ: người ta nhấm nháp một chút rượu anh đào và nói chuyện với các giảng viên của trường, trước khi bữa tối bắt đầu, mọi người lần lượt tiến vào phòng ăn cổ kính và đẹp đẽ; các sinh viên nữ trong bộ áo dài đen kiễng chân chào khi các giảng viên bước vào. Cả giảng viên lẫn sinh viên cùng cúi đầu cầu nguyện bằng tiếng Latinh, rồi tất cả cùng đợi ông hiệu trưởng ngồi xuống. Nhưng chỉ ngay sau đó là những tiếng ầm ĩ của sinh viên tranh nhau ghế, cười nói và hò hét từ bàn nọ sang bàn kia.

Ở bàn trên, các cuộc thảo luận và sự kích động được kiềm chế hơn. Bao giờ đó cũng là những cuộc trao đổi kiểu Oxford cổ, thường là thông minh, vui vẻ, nhưng thỉnh thoảng cũng khó chịu. Những món ăn tuyệt vời và những loại rượu vang hảo hạng được liệt kê trên bảng thực đơn trang trí cầu kỳ và trang nhã. Chúng tôi rời phòng ăn lớn, bước vào phòng ăn nhỏ hơn, riêng tư hơn, để cùng hiệu trưởng và các đồng nghiệp uống rượu brandi và rượu vang đỏ, ăn hoa quả và mứt gừng. Tôi nghĩ người ta khó có thể làm nổi bất cứ việc gì sau những bữa tiệc tối như vậy, nhưng hầu hết các giảng viên của trường Oxford mà tôi gặp đều viết ít nhất bốn cuốn sách khác nhau về một chủ đề nào đó. Vì thế, có lẽ họ đã may mắn có được, hoặc đã rèn luyện được, những lá gan và bộ óc khác người. Còn về phần mình, rượu brandi và rượu vang đỏ đã làm tôi chính choáng. Sau khi lên chuyến tàu cuối cùng về Luân Đôn, tôi chỉ còn có thể ngồi nhìn đăm đăm vào màn đêm qua cửa sổ, thả mình hàng giờ vào những thế kỷ khác và hạnh phúc chìm đi giữa những thế giới và kỷ nguyên khác nhau.

Mặc dù tôi tới Oxford vài lần mỗi tuần, nhưng cuộc sống của tôi tập trung chủ yếu ở Luân Đôn. Tôi dành nhiều thời gian thả bộ trong những công viên và thăm viện bảo tàng, còn trong những ngày nghỉ cuối tuần tôi thường cùng bạn bè tới Đông Sussex, đi men theo những quả đồi nhìn xuống eo biển Măngsợ. Tôi lại tập cưỡi ngựa. Những cảm nhận tuyệt vời về cuộc sống và sự sống dường như đã trở lại với tôi mỗi khi tôi cưỡi ngựa xuyên qua màn sương sớm ở công viên Hyde vào những buổi sáng cuối thu se lạnh, hay khi phi nước đại xuyên qua những cánh rừng sồi và vượt qua các trang trại ở vùng nông thôn Somerset. Tôi đã quên mất cảm giác thả mình trong gió, mưa và cảnh đẹp trước đây, nhưng tôi vẫn cảm nhận được cuộc sống đang trở lại với cơ thể và tâm hồn, mà từ lâu đã chết hay ngủ đông trong tôi.

Một năm ở Anh đã giúp tôi nhận ra rằng trước đây tôi chỉ vật lộn và chống chọi với cuộc sống và tìm cách né tránh những nỗi đau, chứ không can dự tích cực vào chúng để tìm lối thoát cho cuộc sống. Cơ hội giúp tôi tránh xa những gì gợi nhớ về bệnh tật và cái chết, tránh xa cuộc sống cuồng nhiệt và không phải lo lắng tới trách nhiệm giảng dạy và điều hành bệnh viện lần này khác hẳn với những năm tôi học đại học ở St. Andrews. Nó mang đến cho tôi sự thanh bình vốn đã lảng tránh tôi và tạo cho tôi khung cảnh để chữa lành vết thương và suy ngẫm, nhưng quan trọng nhất là nó giúp tôi lành bệnh. Nước Anh không có sức lôi cuốn kỳ diệu như St. Andrews - tôi nghĩ là không có gì kỳ diệu cho tôi nhưng nó lại giúp tôi trở lại với chính mình và đem lại cho tôi những hy vọng về cuộc sống. Nó cũng đem lại cho tôi niềm tin về tình yêu.

Cuối cùng tôi đã quen với sự thật rằng David đã chết. Tới thăm ngôi mộ của anh ở Dorset vào một ngày chủ nhật lạnh lẽo, tôi sững sờ trước vẻ đáng yêu của khu vườn nhà thờ, nơi anh được chôn cất. Tôi không nhớ nhiều lắm về khu vườn này trong ngày tang lễ, nhất là sự thanh bình và vẻ đẹp của nó. Tôi nghĩ rằng sự tĩnh lặng trong ngày tang lễ chỉ là sự cảm thông, chứ không phải là sự yên bình mà người ta muốn có. Tôi đặt một bó hoa violet lên mộ anh và ngồi xuống, lần theo từng chữ khắc tên anh trên tấm bia đá granít và nhớ lại những ngày chúng tôi sống bên nhau ở Anh, Washington và Los Angeles. Mọi chuyện dường như đã qua đi từ lâu lắm rồi, nhưng tôi như vẫn nhìn thấy anh cao, đẹp trai, khoanh tay đứng cười trên đỉnh đồi, trong một chuyến chúng tôi đi dạo ở vùng nông thôn Anh. Tôi vẫn thấy như anh đang ở bên tôi, cùng tôi quỳ xuống, âu yếm hôn nhau trên chuyến tàu điện ở St. Paul. Tôi vẫn nhận thấy một cách rất rõ ràng cánh tay anh ôm chặt lấy tôi, bảo vệ tôi, làm cho tôi cảm thấy an toàn và thoải mái trong một thế giới đầy rẫy những điều phiền muộn. Hơn bất cứ điều gì khác, tôi ước gì anh nhìn thấy tôi khoẻ mạnh và đã đền đáp được phần nào lòng tốt và niềm tin mà anh đã dành cho tôi. Tuy nhiên, khi ngồi đó bên cạnh mộ anh, tôi nghĩ nhiều đến những gì mà David đã bỏ lỡ do qua đời quá sớm. Sau hơn một giờ đồng hồ chìm trong suy tư, tôi chợt nhận ra rằng lần đầu tiên tôi nghĩ tới những gì David bị bỏ lỡ, hơn là những gì mà cả hai chúng tôi có thể bị lỡ.

David đã yêu và chấp nhận tôi một cách khác thường. Sự tốt bụng và kiên định của anh đã níu kéo và cứu sống cuộc đời tôi, nhưng anh đã ra đi. Cuộc đời - nhờ có anh và bất chấp cái chết của anh - vẫn diễn ra. Và nay, bốn năm sau cái chết của anh, tôi đã tìm thấy một tình yêu hoàn toàn khác và một niềm tin mới vào cuộc sống. Tình yêu và niềm tin ấy đến với tôi qua một người đàn ông Anh lịch thiệp, hơi buồn và rất đẹp trai, người mà tôi đã gặp hồi đầu năm đó. Cả hai chúng tôi đều biết rằng do hoàn cảnh cá nhân và nghề nghiệp, mối quan hệ giữa chúng tôi sẽ chấm dứt vào cuối năm đó, nhưng - bất chấp và có thể vì chính điều đó - mối quan hệ này cuối cùng đã thành công trong việc khôi phục lại tình yêu, tiếng cười và ước vọng cho một cuộc đời khép kín và một trái tim băng giá.

Chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên trong một bữa tiệc tối ở Luân Đôn, trong chuyến thăm Anh lần trước của tôi. Thật kỳ lạ và không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Như mãi sau này chúng tôi thừa nhận, cả hai chúng tôi cùng không để ý đến bất cứ ai . khác trên bàn tiệc hôm đó và cả hai cùng có cảm giác rất kỳ lạ. Vài tháng sau, khi tôi trở lại Luân Đôn trong chương trình nghỉ kết hợp với nghiên cứu của mình, anh đã gọi điện mời tôi đi ăn tối. Khi đó, tôi đang thuê một căn nhà nhỏ ở Nam Kensington nên chúng tôi đã tới một nhà hàng ăn gần đó. Cả hai chúng tôi lại cùng có cảm giác giống như lần đầu gặp mặt. Tôi như bị thôi miên trước sự thấu hiểu của anh về tôi, trong khi cơ thể tôi như bị ngập chìm trước vẻ cường tráng của anh. Rất lâu trước khi bữa ăn kết thúc, cả hai chúng tôi cũng hiểu rằng chúng tôi đã vượt qua ngưỡng có thể quay trở lại.

Trời đổ mưa khi chúng tôi rời nhà hàng. Anh quàng tay qua người tôi khi chúng tôi cùng chạy vội về căn hộ của tôi. Về tới nơi, anh vẫn giữ tôi rất lâu trong khoảng cách rất gần. Tôi cảm thấy và ngửi thấy mùi nước mưa trên áo khoác của anh, cảm thấy cánh tay anh quàng qua người tôi và nhớ lại những cảm giác tuyệt vời mà mưa, tình yêu và cuộc sống có thể mang lại. Đã khá lâu rồi, tôi không hề có một người đàn ông nào. Anh biết điều ấy và tỏ ra rất tốt bụng, tế nhị và say đắm tôi. Chúng tôi luôn liếc nhìn nhau và vì cả hai đang cùng có tâm trạng và cảm xúc mạnh, nên chúng tôi rất dễ an ủi nhau, nhưng cũng biết lảng tránh nhau khi cần thiết. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Anh có khả năng quan sát tuyệt vời, thông minh, nhiệt tình và thỉnh thoảng lại đượm buồn. Anh nhanh chóng trở thành người thấu hiểu tôi hơn bất kỳ ai khác. Anh hiểu sự phức tạp của cảm giác và tâm trạng, mà chẳng khó khăn gì - những trải nghiệm của chính anh đã giúp anh hiểu và tôn trọng những điều vô lý, sự kích động, những nghịch lý, sự thay đổi và mâu thuẫn trong tôi. Chúng tôi cùng yêu thơ, nhạc, yêu truyền thống và yêu cả những điều không chính đáng nữa. Chúng tôi cùng nhìn thấy mặt tối của những gì sáng nhất và cũng thấy được mặt sáng của những gì ảm đạm và tăm tối nhất.

Chúng tôi đã tạo ra một thế giới riêng của những cuộc thảo luận, dục vọng và tình yêu, giữa sâm banh, hoa hồng, tuyết và mưa và sống trong ốc đảo của cuộc sống hồi sinh cho cả hai. Tôi không ngần ngại nói với anh mọi chuyện về mình và giống như David, anh thấu hiểu bệnh hưng - trầm cảm của tôi. Phản ứng đầu tiên của anh, sau khi tôi kể hết với anh, là anh đưa hai tay ôm lấy khuôn mặt tôi, hôn lên hai má tôi và nói: “Anh đã yêu em bằng cả trái tim mình”. Anh im lặng một lát rồi nói thêm: “Điều đó không hoàn toàn làm anh ngạc nhiên. Tuy nhiên, nó giải thích cho anh hiểu những mong manh trong cảm xúc của em. Anh rất mừng vì em đã nói với anh chuyện này”. Anh đã nói thật lòng mình. Đó không phải là những lời nói chỉ để che lấp cảm giác khó xử. Tất cả những gì anh làm và anh nói sau cuộc nói chuyện ấy đã chứng minh rằng anh thật lòng. Anh hiểu những mong manh của tôi, quan tâm tới nó và tính tới nó trong những kế hoạch của mình. Tuy nhiên, anh cũng biết và yêu những sức mạnh trong tôi. Anh luôn nhớ cả hai điểm đó để vừa tránh gây tổn thương tới căn bệnh của tôi, vừa trân trọng những điểm mạnh của tôi, mà anh cho là đã đưa niềm say mê vào cuộc sống, tình yêu và công việc.

Tôi kể cho anh nghe những vấn đề mà tôi gặp phải khi uống Lithi, nhưng tôi cũng nói với anh rằng cuộc đời tôi đã phụ thuộc vào Lithi. Tôi cũng nói với anh rằng tôi đã thảo luận với bác sỹ tâm thần của mình về khả năng giảm bớt liều dùng Lithi, với hy vọng tránh bớt những tác dụng phụ của thuốc. Tôi mong mỏi điều này, nhưng lại cũng lo sợ rằng bệnh điên của tôi có thể tái phát. Anh nói rằng có thể tôi sẽ không có thời kỳ nào an toàn và được chăm sóc tốt hơn lúc này để làm việc đó và anh hứa sẽ giúp tôi vượt qua giai đoạn này. Sau khi thảo luận với bác sỹ tâm thần của tôi ở Los Angeles và ở Luân Đôn, tôi bắt đầu cắt giảm, từng tí một, liều lượng Lithi. Kết quả thật tuyệt vời. Nó giống như tôi được tháo băng mắt, sau nhiều năm bị mù vậy. Vài ngày sau khi giảm liều lượng Lithi, tôi đi bộ trong công viên Hyde, dọc theo con kênh uốn khúc, tôi chợt nhận thấy bước chân của mình hoạt bát hơn và tôi nhìn thấy, nghe thấy nhiều điều mà trước đây như bị lọc qua lớp sương mù dày đặc vậy. Tiếng kêu của những con vịt nghe dứt khoát hơn, rõ hơn và mạnh hơn. Những tiếng động ở bên đường nghe rành rẽ hơn nhiều. Tôi cảm thấy mình năng động hơn và nhiều sinh lực hơn. Đáng kể nhất là tôi lại có thể đọc mà chẳng khó khăn gì. Tóm lại là sự thay đổi rất đáng kể.

Tối hôm đó, trong lúc ngồi chờ người đàn ông Anh buồn rầu, nhưng mạnh mẽ của tôi xuất hiện--tôi vừa thêu đăng ten, vừa ngắm tuyết rơi và nghe nhạc của Chopin và Elgar - tôi bỗng thấy tiếng nhạc rất rõ ràng và sầu thảm, tôi cũng thấy việc ngắm tuyết rơi và chờ đợi anh vừa đẹp, vừa buồn biết bao. Tôi nhận ra nhiều vẻ đẹp hơn, nhưng cũng thấy nhiều nét buồn hơn. Khi anh tới - lịch thiệp, vừa từ một bữa tiệc tối chính thức nào đó trở về, với chiếc cà vạt đen và khăn quàng buổi tối bằng lụa trắng gấp lại và quàng lệch quanh cổ, còn tay thì cầm một chai rượu sâm banh - tôi liền mở bản Sonata cung Xi giáng D.960 viết cho đàn piano của Schubert, được xuất bản sau khi ông qua đời. Đó là bản tình ca đẹp, âm vang mãi trong đầu, tôi ngập tràn cảm xúc và bật khóc. Tôi khóc vì trước đây đã bỏ qua những nét sầu thảm và mãnh liệt của bản nhạc mà tôi không biết và khóc vì vui sướng đã lại cảm nhận được nó. Cho tới tận bây giờ, mỗi lần nghe khúc nhạc này, tôi lại như chìm đi trong cảm giác buồn sâu lắng, đẹp đẽ tối hôm đó, trong tình yêu mà tôi có quyền được biết.

Một lần, sau vài ngày chúng tôi hoàn toàn không liên hệ gì với thế giới bên ngoài, anh mua về cho tôi một tuyển tập thơ về tình yêu. Anh đánh dấu một bài thơ rất ngắn, nhưng lại bắt được cái hồn, không chỉ của những ngày tuyệt vời, tràn đầy cảm xúc mạnh mẽ ấy, mà suốt cả năm đó:

Cảm ơn em vì dịp nghỉ cuối tuần say đắm.

 Họ nói với anh rằng trời đã đổ mưa.

TÌNH YÊU DÕI NHÌN BỆNH ĐIÊN

Tôi lo sợ phải rời nước Anh. Tâm thần của tôi đã ổn định trong một khoảng thời gian rất dài, trái tim tôi đã mang một sức sống mới và đầu óc tôi đã tỉnh táo, sau khi được tận hưởng cảm giác mới về Oxford và St. George nhờ dùng ít thuốc hơn. Tôi ngày càng khó hình dung ra việc phải từ bỏ nhịp sống đều đặn mà tôi đã tự tạo ra cho mình trong những ngày ở Luân Đôn. Tôi càng khó hình dung hơn việc phải mất đi những cảm xúc mạnh mẽ và sự thấu hiểu lẫn nhau mà tôi đã có trong những đêm ở Luân Đôn. Nước Anh là nơi đã chôn vùi hầu hết những nghi ngại thường trực trước kia của tôi về “chuyện gì sẽ xảy ra nếu.”, “vì sao” và “điều gì có thể đã xảy ra”. Đó cũng là nơi chôn vùi, theo một cách hoàn toàn khác, cuộc chiến chống Lithi của tôi, một cuộc chiến tuy chẳng có gì đáng kể, nhưng tôi lại đã từng thất bại khi cưỡng lại những suy nghĩ của chính mình. Tôi đã phải trả giá đắt cho điều đó bằng khoảng thời gian đã mất, và nay khi đã cảm nhận lại được chính mình, tôi không muốn mất thêm bất kỳ một khoảng thời gian nào nữa, vì cuộc đời này không đáng để bị mất đi.

Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi là một năm vẫn qua đi, Tuyết và các loại rượu mạnh làm ấm lòng người trong mùa đông nước Anh đã phải nhường chỗ cho những cơn mưa nhẹ và các loại rượu vang trắng đầu hè. Hoa hồng và ngựa đã bắt đầu xuất hiện trong công viên Hyde; hoa táo trong mờ và lộng lẫy đã nở rực trên cành trong công viên St. James; và ánh nắng mùa hè đã bắt đầu rực rỡ chỉ ít ngày trước hôm tôi phải ra đi. Thật khó khăn khi phải nhớ lại cuộc sống của tôi ở Los Angeles, nhất là việc phải trở về với những ngày bận rộn, điều hành bệnh viện của một trường đại học lớn với những bệnh nhân ốm yếu, lại phải dạy học và khám cho một hàng dài bệnh nhân ngồi chờ. Tôi bắt đầu nghi ngờ không biết mình có còn nhớ chi tiết các bước tiến hành nghiên cứu và kiểm tra tâm thần hay không, chứ đừng nói gì đến việc dạy người khác phải làm như thế nào. Tôi ngần ngại rơi nước Anh, lại càng ngần ngại trở về với thành phố nơi tôi đã không chỉ quen với sự nghiệp học thuật đầy vất vả, mà cả với những cơn suy sụp, kiệt sức, lạnh lẽo và tàn nhẫn sau mỗi trận điên, và cả với trò giả dối làm ra vẻ mình khoẻ mạnh trong khi tôi đang ốm và phải cố tìm cách tỏ ra hài lòng, trong khi tâm trạng của tôi thật khủng khiếp.

Tuy nhiên, linh tính ấy của tôi hoàn toàn sai. Một năm qua không chỉ là kỳ nghỉ giữa những tháng năm bận rộn, mà thực sự là khoảng thời gian giúp tôi hồi phục. Tôi lại thấy thích thú với công tác giảng dạy, lại tìm thấy niềm vui như hồi đầu khi giám sát công tác điều trị của các bác sỹ và thực tập sinh và việc khám cho bệnh nhân đã tạo cho tôi cơ hội đưa một số bài học mà tôi đã rút ra được từ kinh nghiệm của chính mình vào thực tiễn. Sự suy sụp về tinh thần đã gây ra những tổn thất lâu dài và khủng khiếp, nhưng thật kỳ lạ, chỉ đến khi tôi thấy mình khoẻ mạnh, năng động và phấn khởi trở lại, tôi mới thực sự cảm nhận được những thiệt hại ghê gớm ấy.

Công việc đã diễn ra khá trôi chảy. Tôi dành phần lớn thời gian để viết sách giáo khoa về bệnh hưng - trầm cảm, mà tôi là đồng tác giả. Tôi vui sướng trước việc này tôi đã có thể dễ dàng đọc, phân tích và nhớ những bài giảng y học, mà cho tới rất gần đây tôi vẫn còn phải vất vả lắm mới lĩnh hội được. Tôi hài lòng nhận thấy phần tôi viết trong cuốn sách giáo khoa là sự tập hợp của khoa học, thực tế điều trị trong bệnh viện và kinh nghiệm của cá nhân mình. Tôi e ngại rằng những kinh nghiệm này có thể ảnh hưởng quá mức tới những điều tôi viết - do nội dung hay do cách nhấn mạnh - nhưng đồng tác giả của cuốn sách đã hiểu rõ bệnh tình của tôi và nhiều bác sỹ và nhà khoa học khác cũng đã xem xét góp ý cho những điều chúng tôi viết. Dù vậy thỉnh thoảng tôi cũng tự thấy mình đã tô đậm một số khía cạnh mà tôi đã từng trải qua, để nhấn mạnh một số hiện tượng hay cách điều trị cụ thể trong bệnh viện. Nhiều chương tôi viết về tự tử, tuân thủ việc uống thuốc, tuổi thơ và thời thanh niên, liệu pháp tâm lý, hiện tượng trong bệnh viện, sự sáng tạo, tính cách cá nhân và sự giao tiếp, sự rối loạn suy nghĩ, nhận thức và sự hiểu biết - đã chứa đựng trong đó niềm tin mạnh mẽ của tôi rằng đây là những lĩnh vực thường bị xem nhẹ. Các chương khác - như về nghiên cứu bệnh học, lạm dụng rượu và ma túy, và đánh giá mức độ điên và trầm cảm - lại chủ yếu nhằm xem xét lại những tài liệu hiện hành về bệnh tâm thần.

Trong chương viết về hiện tượng trong bệnh viện - các đặc trưng cơ bản của bệnh điện và hưng cảm, trầm cảm và rối loạn, và tâm tính xoay chuyển đã làm nổi bật các hiện tượng trong bệnh viện--tôi đã không chỉ dựa vào các công trình nghiên cứu của các bác sỹ nổi tiếng, như Giáo sư Emil Kraepelin và nhiều nhà nghiên cứu khác đã từng có các công trình nghiên cứu sâu rộng về đề tài này, mà còn dựa vào cả những bài viết của chính các bệnh nhân hưng-trầm cảm. Rất nhiều bài viết này là của các nhà văn và nghệ sỹ, những người đã mô tả một cách chính xác và sống động về bệnh điện, trầm cảm và tâm trạng rối loạn của họ. Hầu hết phần còn lại là lời kể của các bệnh nhân của tôi hoặc những đoạn trích từ các tài liệu về bệnh tâm thần. Trong một vài trường hợp, tôi sử dụng cả những trích đoạn mà tôi đã viết về những trải nghiệm của chính mình để phục vụ cho công tác giảng dạy những năm trước đó. Vì thế, trong các chương về điều trị trong bệnh viện, xen giữa chu kỳ lặp lại của triệu chứng và những hiện tượng ở bệnh nhân, cùng những trích đoạn rút ra từ các tài liệu kinh điển của Châu Âu và Anh, là những đoạn thơ, tiểu thuyết và tự truyện do chính những người mắc chứng hưng - trầm cảm viết ra.

Rất nhiều lần, xuất phát từ kinh nghiệm của chính mình và thực tiễn ở bệnh viện, tôi đã nhấn rất mạnh tới nguy cơ chết người của bệnh hưng - trầm cảm, nỗi sợ chết người ở bệnh rối loạn thần kinh và tầm quan trọng của việc thuyết phục những bệnh nhân không chịu uống Lithi hoặc các loại thuốc theo đơn khác để kiểm soát tâm trạng của mình. Việc tách khỏi những cảm giác và quá khứ của chính mình để có thể viết sách một cách có tri thức và học thuật hơn đã buộc tôi phải hồi tưởng lại mọi chuyện và sắp xếp những rắc rối mà mình đã trải qua theo một trình tự có chủ đích hơn. Những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này thường không chỉ thú vị, mà còn mang lại niềm hy vọng thực tế về một phương pháp điều trị mới. Mặc dù thỉnh thoảng người ta vẫn rất khó chịu khi thấy những cảm xúc và hành vi phức tạp của bệnh tâm thần được diễn giải một cách ngớ ngẩn trong triệu chứng chẩn đoán, nhưng nói chung người ta cũng thường bắt gặp những phương pháp và phát hiện mới trong lĩnh vực điều trị đang phát triển nhanh này.

Thật kỳ lạ cuối cùng tôi lại yêu thích cách đánh giá và phân tích qua việc sử dụng nhiều tư liệu và bảng biểu. Quả là hơi buồn ngủ khi phải đưa hết con số này đến con số khác, hết tỷ lệ phần trăm này đến tỷ lệ phần trăm khác vào bảng tổng hợp tóm tắt; rồi phê phán những phương pháp đã được sử dụng trong các công trình nghiên cứu trước; để qua đó rút ra những nhận xét từ hàng lô cuốn sách và tài liệu đã nghiên cứu. Giống như khi tôi hoảng sợ hoặc khó xử hồi còn nhỏ, tôi phát hiện ra rằng việc đặt ra nhiều câu hỏi, tìm ra lời lý giải thích hợp nhất, rồi lại đặt thêm câu hỏi, là phương pháp tốt nhất để thoát khỏi những băn khoăn và không bị bó hẹp trong một khuôn khổ kiến thức nhất định.

Việc cắt giảm lượng Lithi đã không chỉ giúp tôi suy nghĩ rõ ràng hơn, mà nó còn làm cho những cảm giác sống động và mạnh mẽ trở lại với cuộc đời tôi. Đây là những nhân tố đã từng hình thành cốt cách tính khí bình thường của tôi và sự thiếu vắng chúng đã tạo ra khoảng cách khủng khiếp trong cách tôi phản ứng với thế giới bên ngoài. Sự cứng nhắc trong tâm trạng và tính khí của tôi, hậu quả của việc sử dụng Lithi liều cao, đã làm cho khả năng phản ứng với ức chế của tôi kém hơn so với khi dùng Lithi liều thấp. Giống như những bộ luật của California được soạn thảo để hạn chế thiệt hại của những trận động đất, việc sử dụng Lithi liều thấp đã cho phép trí tuệ và tâm thần của tôi được linh hoạt hơn. Dần dần, tôi bắt đầu nhìn ra xung quanh và phát hiện ra rằng đó chính là sự cân bằng và có thể dự báo được mà hầu hết mọi người đều có, như một điều hiển nhiên trong suốt cuộc đời họ.

Khi còn là sinh viên đại học tôi có trợ giáo cho một học sinh mù về môn thống kê. Nhờ con chỉ dẫn đường, mỗi tuần anh ta đến phòng làm việc nho nhỏ của tôi ở tầng hầm của toà nhà bệnh viện tâm thần một lần. Quá trình làm việc với anh ta đã tác động đến tôi rất nhiều. Tôi thấy anh ta rất vất vả mới có thể làm được những việc mà đối với tôi là rất hiển nhiên. Tôi cũng thấy mối quan hệ vô cùng chặt chẽ giữa anh ta với con chó giống coli, mà cứ mỗi lần đưa anh ta đến văn phòng của tôi là nó lại khoanh tròn nằm ngủ. Khi đã quen nhau, tôi hỏi anh ta thấy mù thế nào; là một sinh viên trẻ, bị mù trong trường Đại học California, thì tình hình ra sao; và cuộc sống của anh ta thế nào khi phải phụ thuộc vào người khác để học tập và tồn tại. Vài tháng sau khi tôi nghĩ rằng mình đã hiểu một chút gì đó, dù nhỏ, về cuộc đời anh ta, thì anh ta đề nghị tôi tới trợ giảng cho anh ta ở phòng đọc dành cho người mù trong thư viện của trường đại học, thay vì anh ta phải tới phòng làm việc của tôi.

Lần mò mãi tôi mới tìm ra phòng đọc ấy và bước vào. Tôi sững người và hoảng sợ khi thấy căn phòng gần như tối đen. Căn phòng lặng như tờ, không một ngọn đèn, trong khi năm sáu học sinh đang chúi đầu vào cuốn sách của họ hoặc đang chăm chú nghe bài giảng của các giáo sư mà họ ghi âm lại. Cảnh tượng ấy làm tỏi ớn lạnh xương sống. Nghe tiếng tôi tới, anh học sinh của tôi liền đứng dậy, bước tới chỗ công tắc điện và bật đèn cho tôi. Đó chính là một trong những khoảng khắc rõ ràng nhất để tôi nhận ra rằng chúng ta đã chẳng hiểu gì hết và không hề có một sự cảm thông thực sự nào với thế giới của người khác. Khi tôi ngày càng bước vào thế giới của cuộc sống ổn định và có thể dự báo được hơn, thì tôi cũng bắt đầu nhận thấy rằng tôi biết rất ít về nó, cũng như không hề có một ý niệm thực tế nào về cuộc sống trong thế giới ấy. Xét dưới nhiều khía cạnh, tôi là người lạ trong thế giới bình thường.

Đó là một suy nghĩ tỉnh táo ở khoảng giao thời. Tính khí của tôi vẫn thường thay đổi và chao đảo, đủ để làm cho tôi thỉnh thoảng có cảm giác đê mê, vượt ra ngoài suy nghĩ bình thường. Bệnh điên trắng này tạo ra cảm xúc mãnh liệt, sự hồ hởi cao độ, tạo ra niềm tin tuyệt đối và làm cho ý tưởng dễ dàng tuôn trào. Đó chính là lý do làm cho tôi khó chấp nhận việc uống Lithi trong một thời gian dài đến thế. Tuy nhiên, khi tình trạng suy sụp đến chắc chắn xảy ra sau đó, tôi lại nhận ra rằng tôi đang mắc một căn bệnh tồi tệ, mà có thể phá hủy mọi niềm vui, hy vọng và nghị lực. Tôi bắt đầu thèm muốn sự ổn định mà hầu hết các đồng nghiệp của tôi đều có. Tôi cũng bắt đầu biết cách tranh thủ thời gian trước khi đầu óc tôi trở nên bồng bềnh như đi trên mặt nước vậy. Quả thật là hầu hết khối lượng công việc của tôi được hoàn thành trong những ngày và những tuần hứng khởi, nhưng những dự án và ý tưởng mới nảy sinh trong giai đoạn này lại phải được hoàn thành trong thời kỳ trầm cảm sau đó. Tôi luôn phải đuổi theo cái đuôi của bộ óc của chính mình, thoát ra rồi lại rơi vào những tâm trạng và trải nghiệm mới. Tuy nhiên, những cảm giác mới này bắt đầu thiếu cả hình thức lẫn bản chất mới và nó chỉ còn là sự tích tụ đơn thuần những gì tôi đã từng biết, và không giúp tôi đi sâu tìm hiểu thêm những gì tôi đã từng trải nghiệm.

Tâm trạng cực điểm của tôi tuy khác xa so với trước kia, nhưng rõ ràng là sự không ổn định ở mức thấp, theo từng cơn, đã trở thành một phần của cuộc đời tôi. Sau nhiều năm, cuối cùng tôi cũng nhận ra rằng một sự ổn định nhất định về trí tuệ không chỉ là đáng mong muốn mà còn rất cần thiết nữa. Tuy nhiên, ở đâu đó trong trái tim mình, tôi vẫn tin rằng một tình yêu mãnh liệt và bền vững chỉ có thể có được trong cảm xúc mãnh liệt và hơi lộn xộn một chút. Có lẽ điều này đã làm cho tôi nghĩ rằng tôi phải sống cùng một người đàn ông có tính khí về cơ bản là giống mình. Tôi đã mất quá nhiều thời gian mới hiểu ra rằng sự lộn xộn và mãnh liệt không thay thế được cho tình yêu bền vững và nó cũng không cải thiện được cuộc sống thực tế. Những người bình thường không phải bao giờ cũng buồn tẻ. Trái lại, sự không ổn định và đê mê, tuy thường tạo ra cảm giác lãng mạn và cám dỗ hơn, nhưng về bản chất lại không có lợi cho việc cảm nhận và đánh giá ổn định về người khác (cho dù chúng không xung khắc nhau). Con người ta luôn có cảm giác trực quan về tình bạn và gia đình. Cảm giác đó sẽ ít mạch lạc hơn khi rơi vào trạng thái lãng mạn, vì nó phản ánh, phóng đại và chịu ảnh hưởng của tâm trạng và tính khí không ổn định của chính mình. Tôi sung sướng và cũng đau đớn không kém, khi nhận ra sự bền vững và phát triển của tình yêu, từ người chồng của tôi, người đã sống cùng tôi trong gần một thập kỷ.

Tôi gặp Richard Wyatt lần đầu tiên trong một bữa tiệc Giáng sinh ở Washington và chắc chắn là anh không giống một chút nào với mẫu người mà tôi hình dung. Tôi đã nghe nói về anh một nhà nghiên cứu nổi tiếng về bệnh tâm thần phân liệt, là Trưởng khoa Chức năng thần kinh của Viện Tâm thần quốc gia và là tác giả của hơn bảy trăm bài viết và cách khoa học nhưng tôi hoàn toàn không nghĩ rằng con người đẹp trai, khiêm tốn và lịch lãm một cách trầm lặng, đứng nói chuyện với tôi bên cây thông Giáng sinh cao lớn ấy, lại chính là anh. Anh không chỉ hấp dẫn, mà còn rất dễ nói chuyện. Những tháng sau đó, chúng tôi gặp nhau khá thường xuyên. Không đầy một năm sau khi chúng tôi gặp nhau, tôi trở lại Luân Đôn nghỉ sáu tháng theo tiêu chuẩn của UCLA. Đó là sáu tháng tuyệt vời. Sau đó tôi trở lại Los Angeles một thời gian để hoàn thành những công việc tồn đọng sau kỳ nghỉ phép và chuẩn bị kế hoạch chuyển về sống ở Washington. Mặc dù mọi chuyện giữa chúng tôi mới chỉ trải qua một thời gian ngắn, nhưng đó là mối quan hệ thú vị. Tôi thích được ở bên anh và phát hiện ra rằng anh không chỉ rất lịch lãm, mà còn giầu trí tưởng tượng, ham hiểu biết, cởi mở và rất dễ gần. Ngay từ khi đó, tức là mới chỉ ở giai đoạn rất sơ khai của mối quan hệ giữa chúng tôi, tôi đã thấy rằng tôi cần có anh trong cuộc đời. Tôi từ chức giáo sư thường xuyên ở trường y, tiếc nuối khi phải chia tay với Trường đại học California mà tôi yêu dấu và lo ngại tới tác động tài chính của việc từ bỏ nguồn thu nhập ổn định này. Sau đó là một chuỗi dài những bữa tiệc mà đồng nghiệp, bạn bè và sinh viên tổ chức chia tay tôi. Tuy nhiên, tựu trung lại, tôi rời Los Angeles mà không hối tiếc nhiều lắm. Đối với tôi, Los Angeles chưa bao giờ là “Thành phố của những thiên thần” và tôi vô cùng sung sướng khi được từ giã, trước hết là hàng trăm mét phía dưới - và sau đó là hàng nghìn dặm phía sau tôi - thành phố đầy ắp những ký ức suýt chết, sự trong trắng bị tan vỡ tâm hồn và trí tuệ thường xuyên bị phá vỡ. Cuộc sống ở California vẫn tốt và thậm chí rất tuyệt vời nữa, nhưng tôi đã không thể nhận ra được những điều tốt đẹp ấy vào thời điểm tôi trở lại Washington sinh sống. Vùng Đất hứa, với biết bao hy vọng, nhưng luôn lảng tránh và đầy phức tạp ấy đối với tôi vẫn chỉ là hứa hẹn.

Richard và tôi chuyển đến sống trong một ngôi nhà ở Georgetown và điều mà chúng tôi cùng cảm thấy đã nhanh chóng được bộc lộ. Đó là chúng tôi khác hẳn nhau: anh là người trầm tĩnh, trong khi tôi mạnh mẽ; tôi lúc nào cũng cuống lên với công việc, còn anh thì điềm tĩnh xử lý mọi chuyện; anh bình tĩnh, trong khi tôi rất dễ nổi nóng; và trong khi mọi chuyện của thế giới đến với anh một cách nhẹ nhàng, thậm chí như không, thì nó lại ào đến với tôi vừa thú vị, vừa đau khổ. Anh là một người ôn hoà trong hầu hết các trường hợp và gần như trong mọi lúc, trong khi tôi thường xem nhẹ mọi chuyện, hấp tấp trong cảm nhận và cũng thường phải vội vàng chìa tay ra với hy vọng hàn gắn những vết thương mà chúng tôi vừa gây ra cho nhau. Những buổi hoà nhạc và ca nhạc thính phòng mà tôi yêu thích lại là một sự tra tấn đối với anh. Tương tự như vậy, anh luôn khổ sở với những buổi nói chuyện dài và những dịp nghỉ dài quá ba ngày. Chúng tôi hoàn toàn không hợp nhau. Trong khi tôi thường xuyên hưng phấn hoặc rơi vào trạng thái suy sụp hoàn toàn, thì Richard, người luôn giữ được sự cân đối trong cảm xúc, lại cảm thấy khó có thể xử lý tâm trạng thường xuyên thay đổi của tôi - và tệ hại hơn nữa là anh không coi đó là vấn đề nghiêm trọng. Anh không biết phải làm gì với tôi. Nếu tôi hỏi anh đang nghĩ gì, thì đó chưa bao giờ là cái chết, là điều kiện sống, các mối quan hệ hay bản thân chúng tôi, mà thay vào đó là một vấn đề nào đó của khoa học và thường là về bệnh nhân. Anh theo đuổi khoa học và công tác điều trị với một lòng nhiệt tình giống hệt như sự lãng mạn mà tôi theo đuổi trong phần còn lại của cuộc đời mình.

Rõ ràng là anh không muốn nhìn một cách có ý nghĩa vào mắt tôi trong những bữa ăn tối kéo dài với rượu vang ngon và cũng không muốn thảo luận về văn học hay âm nhạc bên những tách cà phê và rượu poóctô trước giờ đi ngủ. Thực tế là anh không thể để lãng phí thời gian quá nhiều. Anh rất tập trung khi suy nghĩ, không uống nhiều rượu, không bao giờ đụng đến cà phê và không quan tâm lắm tới những rắc rối trong các mối quan hệ hay những hàm ý của nghệ thuật. Anh không chịu được thơ và rất ngạc nhiên trước việc tôi dành quá nhiều thời gian để đi lang thang, mà thường là không có mục đích, tới vườn thú, tới các phòng tranh, đi chơi cùng con chó của tôi - một con chó duyên dáng, rất độc lập, hơi nhút nhát, thuộc dòng chó săn nhỏ, mang tên Bí ngô- hay gặp gỡ bạn bè để cùng ăn sáng và ăn trưa. Dù vậy, trong nhiều năm chung sống với nhau, tôi chưa một lần nào nghi ngờ tình yêu mà Richard dành cho tôi, cũng như tình yêu của tôi đối với anh. Giống như cuộc sống, tình yêu kỳ lạ và phức tạp hơn nhiều so với những gì người ta được dạy dỗ khi lớn lên. Mối quan tâm chung của chúng tôi về tri thức - y học, khoa học và tâm lý - là rất mạnh, trong khi sự khác biệt giữa chúng tôi, cả về bản chất lẫn phong cách, lại tạo ra cho chúng tôi sự độc lập rất cao, điều vô cùng cần thiết cho cuộc sống, và chính nó cuối cùng đã gắn kết chúng tôi lại với nhau trong nhiều năm. Cuộc sống của tôi với Richard đã trở thành một bến đỗ an toàn, một bến cảng vô cùng thú vị, đầy tình yêu và sự ấm cúng và luôn mở cửa với đại dương. Tuy nhiên, giống như mọi bến cảng luôn tìm cách duy trì sự hấp dẫn và an toàn khác, nó vẫn chỉ là một điểm đến trong hành trình đi biển.

Khi lần đầu tiên tôi nói với Richard về bệnh hưng-trầm cảm của tôi, không lâu sau khi chúng tôi gặp nhau, anh đã thực sự sửng sốt. Khi đó, chúng tôi đang ngồi bên nhau trong phòng ăn lớn của khách sạn Del Coronado ở San Diego. Anh từ từ đặt chiếc bánh mì kẹp thịt đang ăn xuống, nhìn thẳng vào mắt tôi, không chớp, và nói cộc lốc: “Điều đó giải thích nhiều chuyện”. Anh là người rất tốt bụng. Giống như những gì David Laurie đã làm, anh hỏi tôi rất nhiều về căn bệnh mà tôi đang mắc và tác động của nó tới cuộc sống của tôi. Có lẽ vì cả hai người đều là bác sỹ điều trị nên anh cũng hỏi tôi hết câu hỏi này đến câu hỏi khác, mang nặng tính y học: như triệu chứng mỗi khi tôi bị điên là gì, tôi đã từng bị suy sụp tới mức nào, đã bao giờ tôi định tự tử chưa, tôi đã từng uống những loại thuốc nào trong quá khứ và hiện nay tôi đang uống thuốc gì, và tôi có bị các tác dụng phụ không. Giống như thường ngày, anh không quá xúc động. Cho dù điều đó có làm anh quan tâm đến đâu chăng nữa, anh vẫn tốt bụng và đủ thông minh để giữ kín nó ở trong lòng.

Tuy nhiên, tôi biết rõ rằng sự cảm thông kiểu này không phải bao giờ cũng biến thành sự thấu hiểu trong cuộc sống hàng ngày. Về cơ bản tôi rất nghi ngờ khả năng có ai đó không mắc căn bệnh này lại thực sự thấu hiểu được nó. Và cuối cùng có lẽ sẽ là vô lý nếu hy vọng người khác phải chấp nhận căn bệnh này ở một mức độ nào đó, điều mà người bệnh luôn hằng khao khát. Căn bệnh này không thể trông cậy vào sự cảm thông dễ dãi. Một khi tâm trạng hưng phấn biến thành giận dữ, bạo lực hay rối loạn tâm thần, thì giống như mọi người khác, Richard cũng khó có thể coi đó là một căn bệnh, mà thay vào đó anh có thể nhìn nhận nó như là một sự bướng bỉnh, giận giữ, vô lý hay đơn giản chỉ là một sự khó chịu. Những gì tôi phải trải qua, vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của mình, thì dường như anh cho rằng đó là hành vi có tính toán và cố tình gây hoảng sợ. Vào những thời khắc đó, tôi không thể nói cho anh hiểu sự tuyệt vọng và nỗi đau của mình. Sau đó, việc hàn gắn lại quan hệ, sau những hành động phá phách và những lời nói khủng khiếp, còn khó khăn hơn nhiều. Bệnh điên khủng khiếp này, cùng với sự kích động dữ tợn và man rợ của nó, rõ ràng là rất khó để Richard có thể hiểu được và cũng rất khó để tôi có thể giải thích.

Không tình yêu nào có thể chữa được bệnh điên hay giải tỏa được tâm trạng tồi tệ của người điên. Tình yêu có thể hỗ trợ, nhưng chỉ có thuốc mới làm dịu cơn điên. Mặt khác, trong hầu hết các trường hợp, bệnh liên lại thường giết chết tình yêu do không tin nhau, bi quan, bất bình, do những hành vi bất thường và đặc biệt là do tính khí hoang dại của người bệnh. Thời kỳ trầm cảm, buồn rầu hơn, ngủ nhiều hơn, chậm chạp hơn và ít bạo lực hơn diễn ra sau đó lại thường dễ được người khác cảm thông hơn. Thời kỳ u sầu tĩnh lặng vừa không đe dọa ai, vừa không vượt quá giới hạn có thể chấp nhận được, trong khi sự tức giận, bạo lực và gây phiền phức lại vừa đe dọa người khác, vừa vượt ra ngoài giới hạn thông thường. Tuy nhiên những trải nghiệm và tình yêu, theo thời gian, đã dạy cho cả hai chúng tôi biết cách đối phó với bệnh hưng - trầm cảm. Thỉnh thoảng, tôi vẫn cười và nói với anh rằng sự điềm tĩnh của anh có giá trị ngang với 300 miligram Lithi mỗi ngày đối với tôi và điều.đó dường như đúng.

Đôi khi giữa cơn điên loạn phá phách khủng khiếp, tôi cảm thấy sự điềm tĩnh của Richard ở bên và tôi nhớ tới nhận xét tuyệt vời của Byron về cầu vồng bên thác nước. Nó giống “Như hy vọng bên giường người chết”, cho dù “Tất cả như bị xé tan; Trong thác nước điên cuồng”, cầu vồng vẫn thản nhiên hiển hiện:

Tựa như giữa cảnh hoang tàn,

Tình yêu bình thản dõi nhìn bệnh điên.

Tuy nhiên, cho dù tình yêu không chữa trị được bệnh điện, nó vẫn là một liều thuốc cực mạnh. Giống như John Donne đã từng viết, tuy nó không được chiết xuất tinh khiết như mọi người từng nghĩ hay mong ước nhưng tình yêu vẫn tồn tại và phát triển.

PHẦN IV

TÂM HỒN KHÔNG TĨNH LẶNG

Nói về điên

Không lâu trước khi tôi rời Los Angeles đi Washington, tôi nhận được một lá thư lăng mạ và khó chịu nhất mà người ta đã từng viết cho tôi. Đó không phải là lá thư của đồng nghiệp hay bệnh nhân, mà của một phụ nữ, người này sau khi xem thông báo về một buổi nói chuyện của tôi, đã cảm thấy bị xúc phạm vì tôi đã dùng từ “điên” trong tiêu đề bài giảng của mình. Bà ta viết rằng tôi vô cảm, đần độn và rõ ràng là không hiểu biết một chút gì về nỗi thống khổ mà người ta phải chịu đựng khi mắc một căn bệnh tệ hại như bệnh hưng-trầm cảm. Bà viết rằng tôi cũng chỉ là một bác sỹ nữa đang leo lên nấc thang học vị bằng cách giẫm lên xác những người mắc bệnh tâm thần. Tôi bị sốc trước những lời lẽ dữ tợn của bức thư, rất bực mình, nhưng cuối cùng lại suy nghĩ rất lâu và rất nghiêm túc về từ điên.

Ngôn từ được sử dụng để miêu tả và nói về bệnh thần kinh hàm chứa rất nhiều thứ khác nhau - sự sinh động, sáo rỗng, độ chính xác về y học và triệu chứng bệnh tất cả được pha trộn với nhau, làm cho nó trở nên rối rắm, gây hiểu nhầm và dần dần bị mất đi ý nghĩa truyền thống của ngôn từ ấy. Vị trí của những từ như “điên”, - “dở người”, “khùng”, “gàn” và “bệnh tâm thần” nay không còn rõ ràng trong xã hội đang ngày càng nhạy cảm với cảm xúc và quyền lợi của những người mắc bệnh tâm thần nữa. Vậy có nên để những từ và cụm từ có ý nghĩa và thường là dí dỏm như “Đón tàu nhanh đến Thành phố Sóc”, “Chỉ thiếu vài quả táo cho buổi cắm trại”, “Ngắn tường”, “Quanh chỗ cong” hay “Mất bong bóng” (từ lóng của lính tàu ngầm Anh chỉ bệnh điên) thay cho những ngôn từ nhất thời được coi là “đúng” hay “có thể chấp nhận được”?

Một trong những người bạn của tôi, phải vào bệnh viện tâm thần vì một trận điên nặng, đã buộc phải tham gia một chương trình trị liệu theo nhóm trước khi xuất viện. Chương trình này nhằm nâng cao ý thức, khuyến khích những người sắp trở thành cựu bệnh nhân không sử dụng hoặc không cho phép sử dụng trước mặt họ những từ như “sốc”, “bánh trái cây”, “điên rồ”, “chập mạch”, “gàn” hay “cuồng”. Người ta cho rằng việc sử dụng những từ này có thể “kéo dài tình trạng thiếu tự trọng và tự bôi xấu mình”.

Người bạn của tôi cho rằng chương trình này là kẻ cả và lố bịch. Nhưng có đúng thế không? Một mặt, đó là lời khuyên dáng hoan nghênh và mang tính chuyên môn cao, cho dù nó hơi nghiêm khắc quá. Nỗi đau khi nghe những từ này, trong một khung cảnh hay với một giọng điệu không thích hợp, là rất đáng kể và nó cũng có thể kéo dài ký ức về sự vô tình và định kiến. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cho phép sử dụng vô tội vạ những ngôn từ như vậy sẽ không chỉ gây ra nỗi đau cho người khác, mà còn trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sự phân biệt đối xử trong công việc, bảo hiểm và xã hội nói chung.

Mặt khác, nếu cho rằng việc từ bỏ một cách cứng nhắc những từ và cụm từ đã tồn tại qua nhiều thế kỷ sẽ tác động mạnh tới thái độ của công chúng, thì cũng chưa có gì là chắc chắn. Đó là sự ảo tưởng về một câu trả lời đơn giản cho một vấn đề vô cùng phức tạp và phớt lờ vai trò vô cùng to lớn của sự hóm hỉnh và mỉa mai trong việc góp phần làm thay đổi xã hội và tính vị kỷ của con người. Rõ ràng là cần phải có những ngôn từ tự do, phong phú, hóm hỉnh và trực tiếp nói về tình trạng tâm thần và cách hành xử không bình thường. Tương tự như vậy, rõ ràng là cũng rất cần có sự thay đổi quan điểm của xã hội về bệnh tâm thần. Vấn đề là trong khung cảnh nào và nhấn mạnh đến mức nào. Ví dụ khoa học đòi hỏi phải sử dụng những ngôn từ rất chính xác. Trong khi đó, sự e ngại và hiểu nhầm của công chúng, nhu cầu của khoa học, sự ngớ ngẩn của việc đại chúng hoá môn tâm lý học và mục tiêu bảo vệ sức khoẻ thần kinh lại luôn được pha trộn với nhau trong một sự rối rắm đầy xung khắc.

Một trong những ví dụ rõ nhất là việc sử dụng nhầm lẫn từ “rối loạn lưỡng cực”. thuật ngữ được xác định trong Sách hướng dẫn chẩn đoán và thống kê (DSM-IV), một cuốn sách có uy tín về chẩn đoán do Hiệp hội Tâm thần Mỹ xuất bản thay cho từ “bệnh hưng - trầm cảm” truyền thống. Mặc dù tôi luôn nghĩ rằng mình mắc chứng “hưng trầm cảm”, nhưng chẩn đoán DSM-IV chính thức của tôi lại viết rằng tôi “bị rối loạn lưỡng cực I; định kỳ tái phát, có những đặc tính tâm thần nặng; hồi phục hoàn toàn giữa các kỳ bị bệnh” (Một trong nhiều tiêu chí chẩn đoán của DSM-IV mà tôi đã “mắc” và yêu thích, là “tham gia quá hăng hái vào những hoạt động ưa thích”). Là một bác sỹ điều trị và một nhà nghiên cứu, tôi hoàn toàn tin tưởng rằng để bảo đảm tính chính xác và độ tin cậy, các công trình nghiên cứu khoa học và điều trị cần phải sử dụng những ngôn từ chính xác và phải dựa trên những tiêu chí chẩn đoán rõ ràng, vốn là nền tảng của DSM-IV. Không một bệnh nhân nào hay gia đình họ được chữa bệnh chu đáo chỉ bằng những ngôn từ thanh nhã và diễn cảm, nếu như đó là những ngôn từ không chính xác và mang nặng ý kiến chủ quan. Tuy nhiên, với tư cách một con người và một bệnh nhân, tôi thấy từ “lưỡng cực” là khá lạ lẫm và khó chịu. Tôi cho rằng từ này là không rõ nghĩa và phản ánh không chính xác thực trạng căn bệnh của tôi. Trong khi đó, thuật ngữ “bệnh hưng - trầm cảm” dường như lại thâu tóm được cả bản chất và mức độ nghiêm trọng của căn bệnh mà tôi đang mắc phải và không che đậy thực trạng của căn bệnh này.

Hầu hết các bác sỹ điều trị và nhiều bệnh nhân cảm thấy rằng từ “rối loạn lưỡng cực” có vẻ ít bêu xấu bệnh nhân hơn là cụm từ “bệnh hưng-trầm cảm”. Có thể đúng, nhưng cũng có thể không đúng. Tất nhiên những bệnh nhân mắc phải chứng bệnh này cần được quyền lựa chọn thuật ngữ nào mà họ cảm thấy dễ chịu nhất. Tuy nhiên, có hai câu hỏi được đặt ra ở đây: Liệu thuật ngữ “lưỡng cực” có chính xác về mặt y học không và liệu việc thay đổi tên gọi có làm tăng sự thừa nhận của xã hội đối với căn bệnh này hay không? Trả lời cho vấn đề thứ nhất, liên quan tới sự chính xác: Thuật ngữ “lưỡng cực” là chính xác khi chỉ một người vừa mắc bệnh điên (hay dạng nhẹ của bệnh điện) vừa mắc chứng trầm cảm, để phân biệt với những người chỉ mắc bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, việc phân loại bệnh rối loạn tâm thần thành lưỡng cực và đơn cực, với hàm ý phân biệt giữa bệnh trầm cảm và hưng trầm cảm - xét cả về mặt điều trị lẫn nguyên nhân bệnh học - thì lại không phải lúc nào cũng rõ ràng và không được hậu thuẫn về mặt khoa học. Tương tự như vậy, nó làm cho người ta hiểu rằng trầm cảm tách hẳn ra ở một cực riêng và điện tồn tại độc lập ở một cực khác. Cách phân cực hại tình trạng bệnh lý này đi ngược lại với tất cả những gì chúng ta đã biết về bản chất dao động của bệnh hưng - trầm cảm; nó bỏ qua một câu hỏi vẫn được đặt ra là phải chăng bệnh điên, xét đến cùng, chỉ là một hình thức cực điểm của bệnh trầm cảm; và nó cũng làm lu mờ tầm quan trọng của hiện tượng pha trộn giữa điên - và - trầm cảm, điều thường xảy ra và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều trị, đồng thời cũng là cốt lõi của nhiều vấn đề lý luận quan trọng liên quan tới căn bệnh này.

Tuy nhiên, một câu hỏi khác cũng được đặt ra là phải chăng cách phân biệt lại bệnh thần kinh chỉ đơn thuần được bắt nguồn từ sự thay đổi của ngôn ngữ, hay do đòi hỏi của dư luận; hay xuất phát từ các biện pháp điều trị thành công, như sử dụng Lithi, thuốc chống co giật, thuốc chống suy nhược và thuốc chống loạn thần kinh; hay được bắt nguồn không chỉ từ các biện pháp điều trị thành công, mà trong chừng mực nào đó còn phản ánh cả quan điểm của dư luận và báo chí (ví dụ như tác động của Prozac tới quan điểm và sự hiểu biết của công chúng về bệnh trầm cảm chẳng hạn); hay xuất phát từ việc phát hiện ra những nguyên nhân về gien hay sinh học của bệnh thần kinh; hay bắt nguồn từ những tiến bộ của kỹ thuật chụp ảnh não, như PET hay MIR, giúp chúng ta xác định được vị trí và sự tồn tại cụ thể của bệnh này bằng hình ảnh; hay xuất phát từ những tiến bộ của kỹ thuật thử máu mà cuối cùng đã làm tăng độ tin cậy về mặt y học đối với việc chẩn đoán và điều trị những căn bệnh tâm lý; hay bắt nguồn từ các bộ luật, ví dụ như Luật đối xử với người tàn tật; và từ kết quả của các chương trình cải cách y tế. Thái độ của công chúng đối với các bệnh thần kinh đang thay đổi, cho dù lãnh đạm, và những thay đổi đó bắt nguồn từ sự kết hợp của các nhân tố - điều trị thành công, tư vấn và luật pháp.

Các tổ chức tư vấn bảo vệ sức khoẻ thần kinh chủ yếu bao gồm các bệnh nhân, các thành viên trong gia đình họ và các chuyên gia về sức khoẻ thần kinh. Họ có tác động một cách hiệu quả tới việc hướng dẫn dư luận, báo chí, các chính quyền bang và chính phủ trung ương. Mặc dù hình thức hoạt động và mục tiêu khác nhau, nhưng các tổ chức này đã hỗ trợ trực tiếp cho hàng chục nghìn bệnh nhân và gia đình họ; nâng cao cấp độ chăm sóc y tế trong cộng đồng, thông qua việc đòi các nhà tâm lý và tâm thần học phải kiên trì điều trị và tôn trọng bệnh nhân, nếu không sẽ bị tẩy chay; và vận động các nghị sỹ quốc hội (mà nhiều người trong số họ đã từng mắc bệnh rối loạn tâm thần hoặc có các thành viên trong gia đình họ mắc bệnh tâm thần) tăng ngân sách cho các chương trình nghiên cứu, đòi quyền bình đẳng cho những người mắc bệnh tâm thần và thông qua các đạo luật cấm phân biệt đối xử về việc làm và bảo hiểm đối với những người mắc bệnh tâm thần. Các tổ chức này cùng với các nhà khoa học và các bác sỹ điều trị - đã làm cho cuộc sống của tất cả những người mắc bệnh tâm thần chúng ta trở nên dễ chịu hơn, cho dù chúng ta tự gọi mình là điện, hay viết thư phản đối những người gọi căn bệnh này là điên. Nhờ có họ mà nay chúng ta đã có thể thảo luận một cách thoải mái về những điểm hay của ngôn từ liên quan đến tình trạng của chính chúng ta và của con người.

Đường xoắn rắc rối

Ngồi trên chiếc ghế, mà có thể dễ dàng chuồn ra cửa sau của phòng họp, Jim Watson vặn vẹo chân tay, nhìn chằm chú, soi mói, rồi lại liếc nhìn đi nơi khác và ngáp dài. Những ngón tay của ông đan kết vào nhau đặt trên đầu liên tục gõ nhịp. Sự chú ý của ông thường xuyên thay đổi, từ những dữ liệu đang được trình bày trên hội trường, đến tờ Thời báo New York trên tay, hay thả mình theo những suy nghĩ viển vông của chính mình. Jim không biết giả vờ chú ý, nếu như ông thấy chán, nhưng cũng khó có thể biết Jim có thực sự quan tâm tới vấn đề khoa học đang được trình bày - gien và sinh học phân tử của bệnh hưng - trầm cảm - hay đang nghĩ tới các vấn đề chính trị, những chuyện tầm phào, tình yêu, các nhà tài trợ tiềm tàng cho Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor, tới kiến trúc, quần vợt, hay bất cứ thứ gì mà ông đang quan tâm vào thời điểm ấy. Jim là một người mạnh mẽ và rất thẳng thắn. Đối với tôi, ông là một người tuyệt vời và hấp dẫn. Jim là một người rất độc lập và trong thế giới đang ngày càng nhạt nhẽo này ông thực sự là một chú ngựa vằn trong đàn ngựa. Người ta có thể lập luận rằng một khi đã giành giải thưởng Nobel nhờ những đóng góp vào việc phát hiện ra cấu trúc của cuộc sống, thì tính độc lập và độc đáo của ông cũng là dễ hiểu, nhưng rõ ràng là chính những phẩm chất - mạnh mẽ, cạnh tranh, giàu trí tưởng tượng và không chấp nhận thần tượng--đã thúc đẩy ông theo đuổi việc nghiên cứu cấu trúc của DNA.

Jim là con người đầy sinh lực. Những bước đi của ông, cả về tri thức lẫn thực tế, là không dễ gì theo kịp, và việc cố gắng theo ông, trong các cuộc thảo luận bên bàn ăn, hay khi đi bách bộ trong sân của Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor đều rất khó khăn. Vợ ông vẫn nói rằng bà có thể biết Jim ở nhà hay không chỉ đơn thuần bằng mức độ năng lượng mà bà cảm nhận được trong không khí. Bất kể ông là một con người như thế nào, thì trước hết và trên hết, ông là một nhà lãnh đạo khoa học. Cho tới rất gần đây ông vẫn là giám đốc của một trong những phòng thí nghiệm sinh học phân tử hàng đầu thế giới, Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor và là giám đốc đầu tiên của Trung tâm quốc gia về nghiên cứu gien người. Vài năm qua, ông chuyển sang quan tâm nghiên cứu vai trò của gien trong bệnh hưng - trầm cảm.

Do sự hiểu biết của khoa học về bệnh hưng-trầm cảm phụ thuộc rất nhiều vào sinh học phân tử, nên tôi đã dành ngày càng nhiều thời gian cho lĩnh vực này. Đó là một thế giới kỳ lạ, phát triển xung quanh sự kết hợp không bình thường của các loại thực vật và động vật - ngô, ruồi giấm, men bia, chuột, người và cá - và chứa đựng những điều kỳ lạ, tiến hoá rất nhanh và thỉnh thoảng lại làm nảy sinh những thuật ngữ mới, nghe như ngôn ngữ thơ ca vậy, như “sinh sản vô tính”, “biến đổi gien”, “ba đường xoắn ốc”, “DNA cởi trói”, “chất thử kamikaze”, “nhiễm sắc thể lang thang”, “kẻ săn tìm gien” và “bản đồ gien”. Rõ ràng đây là lĩnh vực nghiên cứu nền tảng cơ bản nhất của kiến thức và tìm hiểu sự tương thích về mặt sinh học giữa vi lượng và hạt cơ bản.

Hội nghị mà Watson nhìn chăm chú, vặn vẹo chân tay và ngáp dài là hội nghị chuyên đề về cơ sở gian của bệnh hưng-trầm cảm. Hội nghị tập trung các nhà tâm lý học, các nhà nghiên cứu gian và các nhà sinh học phân tử, những người đang tham gia một cách tích cực, bằng cách này hay cách khác, vào việc nghiên cứu vai trò của gien trong bệnh hưng-trầm cảm. Hội nghị là dịp để các nhà nghiên cứu chia sẻ thông tin với nhau về phương pháp nghiên cứu, về những phát hiện của họ và về huyết thống gian của các dòng họ có người mắc bệnh. Phả hệ từ đời này đến đời khác được chiếu lên màn ảnh; có những dòng họ chỉ có rất ít thành viên mắc bệnh, trong khi có những dòng họ có rất nhiều hình vuông và hình tròn bị bôi đen hoàn toàn, ám chỉ những người đàn ông, hay đàn bà trong họ tộc đó bị mắc bệnh hưng-trầm cảm. Những hình tròn hay hình vuông bội đen một nửa chỉ những người mắc bệnh trầm cảm và những chữ “s”, dấu nhân hay dấu gạch chéo chỉ những người đã từng có ý định tự tử. Mỗi hình đen hoặc đen một nửa chỉ một người đã từng có những giai đoạn điện năng. Những gia tộc có nhiều hình vuông hay hình tròn đen hoàn toàn lại chính là những dòng họ cho nhiều thông tin hữu ích về gien hơn. Nhìn quanh hội trường, tôi có cảm giác rằng trong các nhà khoa học này, và đâu đó trong các dòng họ này, người ta sẽ tìm ra vị trí của gien hay những gien gây bệnh hưng - trầm cảm. Đó sẽ là điều tuyệt vời, bởi vì một khi những gian này được xác định, thì sau đó sẽ là khả năng chẩn đoán sớm và chính xác hơn nhiều và cuối cùng là các biện pháp điều trị cụ thể hơn, an toàn hơn và ít gây tác dụng phụ hơn nhiều.

Phần chiếu phim đèn chiếu kết thúc, màn ảnh được kéo lên và tôi nhìn ra ngoài, phía sau Jim Watson. Xa xa những cây táo làm cho tôi nhớ lại chuyến đi xuôi dòng Mississippi nhiều năm về trước. Mogens Schou, nhà tâm lý Đan Mạch, người đi đầu trong nỗ lực quảng bá Lithi như một biện pháp điều trị bệnh hưng - trầm cảm, đã cùng tôi quyết định bỏ một ngày họp của hội nghị hàng năm của Hiệp hội Tâm thần Mỹ để tranh thủ tham quan, nhân dịp tới New Orleans. Chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là bơi thuyền xuôi dòng sông Mississippi. Đó là một ngày tuyệt vời và sau khi thảo luận với nhau về nhiều đề tài khác nhau, Mogens quay sang hỏi thẳng tôi: “Tại sao cô lại thực sự quan tâm tới việc nghiên cứu bệnh rối loạn tâm thần?”. Chắc khi đó tôi đã sững người và lúng túng, như tôi cảm thấy thế, nên ông đã thay đổi chiến thuật và nói: “Tại sao tôi lại không nói cho cô biết lý do tôi nghiên cứu bệnh rối loạn tâm thần nhỉ?”. Thế là ông kể cho tôi nghe về bệnh trầm cảm và bệnh hưng-trầm cảm trong gia đình ông, về những tổn thất mà nó gây ra và chính vì điều đó mà nhiều năm trước ông đã miệt mài tìm kiếm các loại thuốc và phương pháp mới điều trị bệnh tâm thần. Khi bài báo của John Cade về sử dụng Lithi để điều trị bệnh điện năng xuất hiện lần đầu tiên trên một tạp chí y học tin cậy của Ôxtrâylia năm 1949, Mogens đã chộp lấy ý tưởng đó và ngay lập tức bắt tay vào quá trình thử nghiệm nghiêm túc về mặt y học để khẳng định hiệu quả và độ an toàn của loại thuốc này. Ông kể một cách khá thoải mái về lịch sử mắc bệnh thần kinh trong gia đình mình và nhấn mạnh rằng đó chính là động cơ cá nhân mạnh mẽ thúc đẩy tất cả các công trình nghiên cứu của ông. Ông ám chỉ một cách rõ ràng rằng ông nghi mối liên hệ của tôi với bệnh hưng - trầm cảm cũng là vì động cơ cá nhân tương tự.

Tôi có cảm giác như bị mắc bẫy, nhưng cũng thấy nhẹ người. Tôi quyết định thành thật kể cho ông nghe về bản thân và gia đình. Sau đó, cả hai chúng tôi cùng vẽ phả hệ lên giấy ăn. Tôi ngạc nhiên khi thấy trong phả hệ của mình có quá nhiều hình vuông và hình tròn được bôi đen, hoặc được bôi đen cùng với một dấu hỏi ở dưới (ví dụ tôi biết em trai của ông nội tôi đã phải sống gần như toàn bộ quãng đời trưởng thành của mình trong nhà thương điên, nhưng không biết chính xác ông được chẩn đoán mắc bệnh gì). Bệnh hưng - trầm cảm đã thường xuyên lặp lại trong ba thế hệ mà tôi biết trong gia đình bố tôi. Những dấu hoa thị, ám chỉ người đã từng có ý định tự tử, dầy đặc như bầu trời sao. Trong khi đó, phả hệ bên mẹ tôi lại sạch bong. Có lẽ là không tiện lắm khi so sánh sự khác biệt về bản chất con người giữa bố và mẹ tôi, nhưng đây là một ví dụ rất cụ thể về sự khác biệt giữa họ, và được thể hiện rất rõ ràng bằng sự tương phản giữa màu trắng và đen. Mogens, sau khi phác họa xong phả hệ của mình, liếc nhìn số thành viên bị mắc bệnh trong gia đình tôi, đã cười lớn và thừa nhận bị thua trong “trận chiến của những chiếc hộp đen”. Ông để ý thấy rằng vòng tròn ám chỉ tôi được bôi đen toàn bộ và có một dấu hoa thị cạnh đó - thật tuyệt vời khi có thể biểu thị mưu toan tự tử của một người chỉ bằng một dấu hiệu đơn giản! Sau đó, chúng tôi nói chuyện với nhau rất lâu về bệnh tình của tôi, về Lithi và những tác dụng phụ của nó và về ý định tự tử của tôi.

Buổi nói chuyện với Mogens vô cùng hữu ích, . một phần vì ông đã rất khuyến khích tôi đưa những trải nghiệm của chính mình vào các công trình nghiên cứu, vào các bài viết và giảng dạy, và một phần vì tôi được nói chuyện với một giáo sự cao cấp, người không chỉ thấu hiểu những gì tôi đã trải qua, mà còn là người đã từng sử dụng những kinh nghiệm của chính mình để tạo ra sự khác biệt to lớn cho cuộc sống của hàng trăm nghìn người, trong đó có chính bản thân tôi. Bất kể cuộc chiến của tôi với Lithi ra sao, điều vô cùng rõ ràng đối với tôi là nếu không có nó, tôi có thể đã chết từ lâu, hoặc đang bị nhốt trong khoa tâm thần của bệnh viện bang. Tôi là một trong nhiều người mà cả cuộc đời mình chịu ơn những hình vuông và hình tròn màu đen trong cây phả hệ của Schou.

Do hưng - trầm cảm là một căn bệnh do gien gây ra, nên không có gì đáng ngạc nhiên khi nó tạo ra những trạng thái tâm lý vô cùng phức tạp và thường là khó tính. Một trong những cực điểm của căn bệnh là nó làm cho người ta có cảm giác vô cùng xấu hổ và tội lỗi. Nhiều năm trước đây khi sống ở Los Angeles, tôi đã tới văn phòng của một bác sĩ khám bệnh, theo lời khuyên của một đồng nghiệp. Sau khi khám cho tôi và phát hiện ra rằng tôi đã sử dụng Lithi trong nhiều năm, ông liền hỏi một loạt câu hỏi về lịch sử bệnh thần kinh của tôi. Ông cũng hỏi tôi có ý định có con không. Cho tới thời điểm ấy, nói chung là tôi luôn được các bác sỹ điều trị bằng cả trí thông minh lẫn sự cảm thông, nên không có lý do gì để tôi không nói thẳng lịch sử bệnh điện và trầm cảm kéo dài của mình. Tuy nhiên, tôi cũng nói rõ rằng tôi là người “có phản ứng tốt với Lithi” và tôi rất muốn có con. Ngay lập tức, ông ta hỏi lại tôi rằng tôi sẽ xử lý thế nào về việc uống Lithi trong thời kỳ mang thai. Tôi nói với ông ta rằng tôi thấy rất rõ việc không uống Lithi sẽ nguy hiểm tới căn bệnh của tôi hơn nhiều so với những tác dụng mà nó có thể gây ra cho sự phát triển của bào thai, nên tôi sẽ tiếp tục uống Lithi. Tuy nhiên, khi tôi chưa nói hết câu, ông ta đã xen vào và hỏi tôi có biết hưng - trầm cảm là một căn bệnh do gien gây ra hay không. Máu như bốc lên đầu và tôi cảm thấy cần phải nói cho ông ta biết rằng tôi đã dành gần như toàn bộ cuộc đời sự nghiệp của mình vào nghiên cứu chứng hưng - trầm cảm và theo bất cứ tiêu chuẩn nào tôi cũng không phải là kẻ ngu xuẩn. Tôi nói: “Tất nhiên là tôi biết”. Đúng lúc đó, bằng một giọng lạnh băng và hống hách mà tôi chưa từng nghe thấy cho tới tận ngày nay, ông ta tuyên bố: “Cô không nên có con. Cô đã bị mắc chứng hưng - trầm cảm”.

Tôi cảm thấy buồn nôn, rất chướng tai và vô cùng xấu hổ. Với quyết tâm kháng cự lại việc bị đẩy vào tình huống buộc con người ta phải có những phản ứng vô lý, tôi hỏi phải chăng mối quan tâm của ông ta về việc tôi có con hay không xuất phát từ ý nghĩ rằng với căn bệnh của mình, tôi không thích hợp để làm mẹ, hay chỉ đơn giản vì ông ta nghĩ rằng tốt nhất là không nên sản sinh thêm một người mắc bệnh hưng - trầm cảm nữa cho thế giới. Không hiểu ông ta cố tình phát lờ, hay không nhận thấy sự châm chọc của tôi, ông ta đáp: “Cả hai”. Tôi liền yêu cầu ông ta ra khỏi phòng, mặc nốt quần áo vào, gõ cửa phòng làm việc của ông ta, của ông ta một câu, rồi bỏ đi. Tôi sang bên kia đường, tới chiếc xe của tôi, ngồi xuống, người run lên và nức nở, cho tới khi mệt lả. Tàn nhẫn có nhiều hình thức và những gì ông ta đã làm với tôi không chỉ là tàn nhẫn, mà còn không có tính chuyên môn và dốt nát nữa. Nó đã gây ra những tổn hại lâu dài, giống như một vết cắt nhanh và rất sâu vào trái tim tôi vậy.

Thật kỳ lạ, tôi không có con, nhưng không phải vì tôi mắc chứng hưng - trầm cảm. Ngay cả trong những lúc suy sụp nhất, tôi cũng chưa bao giờ thấy hối tiếc vì mình đã sinh ra trong cuộc đời. Quả thực là tôi đã từng muốn chết, nhưng điều đó hoàn toàn khác với sự hối tiếc vì mình đã được sinh ra. Nhìn một cách tổng thể, tôi rất sung sướng vì mình đã được sinh ra, biết ơn cuộc sống và tôi không thể nghĩ tới việc sẽ chuyển giao cuộc sống này lại cho một ai đó. Cân nhắc mọi chuyện, tôi thấy mình đã có một cuộc đời tuyệt diệu - cho dù không ổn định và đôi khi khủng khiếp. Tất nhiên, tôi cũng đã từng có những mối quan tâm rất nghiêm túc: Tại sao người ta lại không thể có con? Tại sao một người, ví dụ như tôi, lại không thể chăm sóc con mình một cách chu đáo? Chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nếu như tôi rơi vào trầm cảm nặng? Điều đáng sợ hơn nhiều là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng khi tôi bị điên, khi tôi mất khả năng suy xét và tôi trở thành một con người bạo lực không kiểm soát được? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi phải chứng kiến những đứa con của mình vật lộn với chứng trầm cảm, suy sụp, tuyệt vọng, hoặc điên, nếu chúng bị nhiễm bệnh? Liệu tôi có săm soi, coi những triệu chứng hay sai lầm trong phản ứng thông thường của chúng như là dấu hiệu của bệnh tật? Tất cả những chuyện này đã được tôi nghĩ tới hàng nghìn lần, nhưng chưa bao giờ tôi nghi ngờ việc mình nên có con. Bất chấp thái độ máu lạnh của viên bác sỹ mà tôi đã tới khám bệnh, người đã bảo tôi không nên có con, tôi sẽ vẫn rất sung sướng nếu có đầy một nhà con, như tôi và David đã từng dự liệu. Tuy nhiên, mọi chuyện đã không xảy ra theo hướng đó: David đã chết, trong khi Richard - người đàn ông duy nhất tôi muốn có con cùng, sau khi David qua đời - thì lại đã có tới ba đứa con trong lần hôn nhân trước.

Không có con là điều đáng tiếc lớn nhất trong đời tôi. Tuy nhiên, rất may là tôi có hai cháu trai và một cháu gái - đứa nào cũng tuyệt vời và khá thành công trong cuộc sống - và khỏi cần phải nói, tôi đã có mối quan hệ rất tốt với chúng. Làm cô là một điều tuyệt vời, nhất là khi các cháu là những người biết suy nghĩ, độc lập, chín chắn, hài hước, thông minh và giàu trí tưởng tượng. Khó có thể tìm ra được điều gì đó không tuyệt vời trong quan hệ với chúng. Những đứa cháu trai, giống như bố chúng, quan tâm tới nghiên cứu toán học và kinh tế. Chúng là các chàng trai trẻ trầm lặng, hóm hỉnh, có suy nghĩ độc lập, nhã nhặn và đẹp trai. Còn cô cháu gái của tôi thì còn rất trẻ, nay mới có mười một tuổi, nhưng đã giành giải thưởng quốc gia về văn và rất quyết tâm trở thành một nhà văn. Người ta thường thấy cháu cuộn tròn trên ghế, viết nguệch ngoạc một cái gì đó, hỏi mọi người về từ ngữ và con người, chăm sóc đủ loại vật nuôi trong nhà, hay nhanh nhảu lên tiếng trước để bảo vệ chính kiến của mình trong các cuộc trò chuyện của gia đình. Cháu là một người sôi nổi, nhạy cảm, độc đáo và luôn có khả năng bảo vệ ý kiến của mình trước một tập thể gia đình toàn những người ăn nói lưu loát, gồm hai anh, bố mẹ và những người lớn khác. Tôi không thể hình dung ra khoảng trống khủng khiếp tới mức nào trong cuộc đời mình nếu như tôi không có ba đứa cháu này.

Mặc dù tôi luôn ủng hộ những nỗ lực tìm ra gien gây bệnh hưng - trầm cảm, nhưng điều mà tôi quan tâm là việc tìm ra những gian này sẽ có tác dụng như thế nào. Rõ ràng là việc chẩn đoán tốt hơn, sớm hơn và cụ thể hơn, nhờ các công trình nghiên cứu gien, sẽ dẫn tới những phương pháp điều trị ít gây phiền toái hơn, nhờ đó mà nó mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho các bệnh nhân hưng - trầm cảm, cho gia đình họ và cho xã hội nói chung. Những lợi ích này sẽ đến, vấn đề chỉ còn là thời gian. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra trong các cuộc kiểm tra chẩn đoán bào thai? Liệu những người sắp làm bố, làm mẹ có sẵn sàng từ bỏ bào thai mang theo gien của bệnh hưng-trầm cảm, ngay cả khi căn bệnh này có thể chữa trị được? (Điều thú vị là trong một cuộc điều tra gần đây của Trường Đại học Johns Hopkins, trong đó người ta đã hỏi các ông bố, bà mẹ mắc chứng hưng - trầm cảm và vợ hoặc chồng của họ, về việc họ có từ bỏ bào thai bị nhiễm bệnh không, thì kết quả cho thấy chỉ có rất ít người nói sẵn sàng từ bỏ). Liệu chúng ta có sẵn sàng làm cho thế giới này trở nên nhạt nhẽo hơn, đồng nhất hơn, bằng cách loại bỏ những gien gây bệnh hưng - trầm cảm - một vấn đề khoa học rõ ràng là vô cùng phức tạp? Điều gì sẽ xảy ra với những người chấp nhận nguy cơ hưng trầm cảm, để cùng những người khác trong xã hội không ngừng thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật, doanh nghiệp, chính trị và khoa học? Liệu những người mắc bệnh hưng - trầm cảm có trở thành “những loài có nguy cơ tuyệt chủng”, giống như cú đốm hay báo xám?

Đây là vấn đề đạo lý rất khó giải quyết, nhất là khi bệnh hưng - trầm cảm có thể tạo ra những lợi thế nhất định cho cá nhân người bệnh và cho xã hội. Căn bệnh này, ở cả dạng nặng và nhẹ, rõ ràng là đã chứng tỏ những lợi thế của nó, không chỉ thông qua quan hệ với tâm trạng và trí tưởng tượng nghệ sỹ, mà còn thông qua những tác động tới rất nhiều nhà khoa học, doanh nghiệp, tôn giáo, quân sự và chính trị nổi tiếng. Nó cũng có những tác động khó thấy hơn - như tới cá tính, lối suy nghĩ và sự năng động - bởi vì đây là căn bệnh thường có những biểu hiện rất khác nhau về tâm trạng, thái độ và nhận thức. Tình hình còn phức tạp hơn, do ngoài gien ra, các nhân tố về sinh hoá và môi trường (như phơi nắng quá lâu hoặc ánh sáng thay đổi quá nhiều, mất ngủ dài, sinh con, sử dụng ma tuý hay uống rượu) cũng đóng góp một phần, cả vào việc gây bệnh, lẫn tác động tới tâm trạng của những người thành đạt. Các vấn đề khoa học và đạo lý này là có thật và rất may là nó đang được Dự án Gien của chính quyền liên bang, các nhóm khoa học và các nhà đạo đức xem xét một cách tích cực. Tuy nhiên, đây là vấn đề vô cùng phức tạp và nó sẽ còn là như vậy trong nhiều năm tới.

Khoa học tuyệt vời ở chỗ nó luôn đặt ra những vấn đề mới, sau khi đã giải quyết được các vấn đề cũ. Khoa học phát triển rất nhanh, thường là tuyệt vời, và cùng với sự phát triển đó, nó tạo ra biết bao kỳ vọng.

Ngồi trên chiếc ghế cứng, bất tiện - vốn là một đặc trưng của các hội nghị y học - tôi như lãng quên thế giới. Đầu óc tôi như hơi bị thôi miên bởi tiếng lách cách chuyển hình ảnh của phim đèn chiếu. Mắt tôi vẫn mở, nhưng đầu óc tôi như đung đưa nhẹ nhàng trên cánh võng, ở tít tận góc xa của bộ não. Trong khi phòng họp vừa tối vừa ngột ngạt, thì ở bên ngoài lại rất đẹp và tuyết đang rơi. Tôi cùng một nhóm đồng nghiệp đang ở vùng núi Colorado và cho dù mỗi người theo đuổi một suy nghĩ riêng, tất cả chúng tôi đều trượt tuyết; tuy nhiên, cùng lúc đó, hơn một trăm bác sỹ vẫn đang ngồi trong phòng họp và tiếng lách cách của phim đèn chiếu vẫn vang lên đều đặn. Tôi lại nghĩ, có lẽ là hàng trăm lần, rằng điện không nhất thiết phải ngu xuẩn và nếu vậy thì tôi ở trong này làm quái gì, mà không ra ngoài kia trượt tuyết? Đột nhiên tai tôi vểnh lên. Một giọng nói tẻ nhạt đang lầm bầm “cập nhật thông tin về những kết cấu không bình thường ở não trong bệnh lưỡng cực”. Bộ não có kết cấu không bình thường của tôi đột nhiên rất tập trung và một luồng ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Giọng lầm bầm ấy tiếp tục: “Ở các bệnh nhân lưỡng cực mà chúng tôi nghiên cứu, số lượng các điểm có cường độ tín hiệu cao (những khu vực tập trung nhiều nước hơn) tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy có thể có những tế bào không bình thường. Đây chính là cái mà một số nhà thần kinh học gọi là “những vật thể sáng chưa xác định” hay UBO”. Cả hội trường cười vang.

Tôi, người không muốn mất thêm bất cứ một tế bào não nào nữa - chỉ có Chúa mới biết bao nhiều chất xám của tôi đã vượt Suối Vàng trong lần tôi suýt chết vì dùng Lithi quá liều - cũng cười, nhưng không nhiệt tình lắm. Diễn giả vẫn tiếp tục: “Ý nghĩa y học của những UBO này hiện vẫn chưa rõ, nhưng chúng tôi biết rằng chúng có liên quan tới một số hiện tượng khác, như bệnh Alzheimer, đa xơ cứng và suy giảm trí tuệ”. Tôi đã đúng, lẽ ra tôi nên ra ngoài trượt tuyết. Tuy nhiên, cưỡng lại những phán xét của mình, đầu tôi vẫn hướng về phía màn ảnh phim đèn chiếu. Đó là những hình ảnh có sức hút khá mạnh và tôi bị cuốn theo những hình ảnh chi tiết đến không ngờ về cấu trúc của bộ não, nhờ kỹ thuật chụp cộng hưởng từ (MRI) mới nhất. Đó là kỹ thuật chụp não cho hình ảnh vừa đẹp vừa rõ nét, đặc biệt là những bức ảnh MRI có độ nét cao và những bức ảnh chụp cắt lớp (PET) nhiều màu rất đẹp. Ví dụ với PET, khi phiền muộn, bộ não có hình ảnh tĩnh, màu xanh sẫm và lạnh, màu tía sẫm hay màu xanh lá cây, trong khi cũng bộ não đó khi hưng phấn lại sáng lên như cây thông đêm Giáng sinh vậy, với những đốm sáng đỏ, vàng và màu cam rất rõ. Chưa bao giờ sắc màu và cấu trúc của bộ não lại thể hiện một cách đầy đủ tâm trạng hướng nội và lạnh lẽo chết người của hiện tượng trầm cảm, và tâm trạng hứng khởi, rung động và sự can dự tích cực của bệnh điên đến thế.

Tôi thực sự phấn khích trước nền khoa học thần kinh hiện đại, nó vừa lãng mạn trong khám phá, vừa làm nảy sinh những hướng nghiên cứu mới. Đó là ngành khoa học thanh lịch, với các nhà nghiên cứu còn rất trẻ, nhưng tốc độ phát hiện vấn đề của nó lại rất tuyệt vời. Giống như các nhà sinh học phân tử, những người chẩn đoán não bằng hình ảnh hiểu rõ mặt trận khác thường mà họ đang vượt qua và nó đang làm cho những người có đầu óc trống rỗng và trái tim đá trở nên lạc lõng trước tập thể những người mạnh dạn và đầy hưng phấn.

Mặc dù rất thích thú với ngành khoa học này, tôi vẫn băn khoăn tự hỏi không hiểu sự hưng phấn cao trong não là nguyên nhân hay tác động của bệnh, và vấn đề này có rõ ràng thêm theo thời gian hay không; sự hưng phấn đó nằm vị trí nào trong bộ não và liệu nó có liên quan gì tới khó khăn định hướng và nhận dạng mà tội và nhiều người mắc bệnh hưng trầm cảm thường gặp phải hay không; và liệu não của những đứa trẻ có nguy cơ mắc bệnh hưng - trầm cảm, do bố, mẹ hoặc cả hai mắc bệnh này, những dấu hiệu trên có thể hiện trước khi chúng phát bệnh hay không. Khía cạnh bác sỹ điều trị trong tâm trí tôi bắt đầu nghiền ngẫm về những lợi thế của ngành chẩn đoán bằng hình ảnh và những phát hiện bằng hình ảnh để thuyết phục những bệnh nhân còn nghi hoặc của tôi rằng (a) họ có một bộ não, (b) trạng thái tâm lý của họ có liên quan tới não, và (c) nếu không uống thuốc đúng theo đơn nó có thể gây ra những tổn hại về não. Những suy ngẫm này đã kéo tôi ra khỏi cuộc họp trong giây lát, khi nó thay đổi từ góc độ của một bệnh nhân hưng-trầm cảm tới vai trò của một nhà chuyên môn đang nghiên cứu và điều trị căn bệnh này. Nhưng rồi cuối cùng những mối quan tâm và băn khoăn của cá nhân tôi đã trở lại.

Khi trở lại Trường Đại học Johns Hopkins, nơi tôi đang dạy học, tôi đã rất tích cực tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp đang nghiên cứu về thần kinh học và các đồng sự đang nghiên cứu về MRI. Tôi lao tới thư viện để đọc tất cả những gì liên quan. Cuối cùng, nó chỉ khẳng định cái đã được người ta xác định, đó là căn bệnh này nằm ở não, và đây chỉ là cách khác để nhìn thấy điều ấy mà thôi. Tiêu đề của những bài viết này đã hé mở nội dung của nó, như “Khối lượng hạch cơ bản và chất trắng kích thích cao ở những bệnh nhân mắc bệnh lưỡng cực”, “Cấu trúc não không bình thường ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực: Não thất to và tín hiệu kích thích tập trung cao”, “Phát hiện sự không bình thường ở vỏ não của bệnh nhân rối loạn lưỡng cực bằng phương pháp chụp cộng hưởng từ”, vận vân và vân vân. Tôi ngồi xuống và đọc tất cả. Một công trình nghiên cứu đã phát hiện ra rằng “trong 32 bệnh nhân hưng-trầm cảm được chẩn đoán bằng hình ảnh, 11 người (34,4%) có hình ảnh kích thích cao, trong khi chỉ có 1 người (3,2%) trong nhóm người bình thường để so sánh, có hình ảnh không bình thường như vậy”.

Tôi phớt lờ cái gọi là “nhóm người bình thường để so sánh” này và đọc tiếp. Tôi phát hiện ra rằng giống như điều vẫn thường xảy ra trong các lĩnh vực y học mới, nó đã làm nảy sinh nhiều câu hỏi hơn là những gì nó trả lời được và cũng chưa biết những phát hiện này sẽ có ý nghĩa gì: chúng có thể bắt nguồn từ những sai sót trong tính toán, có thể là kết quả của quá trình điều trị hay kiêng cữ, chúng cũng có thể xuất phát từ một lý do nào đó hoàn toàn không liên quan gì tới bệnh hưng - trầm cảm và cũng có thể vì nhiều lý do khác. Tuy nhiên, điều rất kỳ quặc là UB0 dường như có một ý nghĩa nào đó.

Và sau khi đọc hàng loạt bài nghiên cứu này, tôi cảm thấy tự tin hơn và ít hoảng sợ hơn. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học quả là đã tạo ra niềm hy vọng và nếu những thay đổi trong cấu trúc não quả thực có ý nghĩa, thì tôi rất sung sướng, vì nó đang được các nhà nghiên cứu hàng đầu mổ xẻ chúng. Nếu không có khoa học, chúng ta sẽ không có được những niềm hy vọng ấy. Hoàn toàn không có hy vọng.

Và cho dù thế nào chăng nữa, nó cũng đã tạo ra ý nghĩa mới cho khái niệm mất trí.

Đặc ân điều trị

Việc nói cho người khác biết rằng mình đang mắc chứng hưng - trầm cảm là chẳng dễ dàng gì; còn nếu nó dễ dàng thì quả thật là tôi chưa phát hiện ra. Mặc dù hầu hết những người mà tôi thông báo về bệnh tình của mình là những người hiểu biết - và một số rất đồng cảm - tôi vẫn bị ám ảnh trước những phản ứng tàn nhẫn, hạ cố hoặc thiếu sự cảm thông. Vì thế, ý nghĩ thông báo bệnh tình của mình ở một diễn đàn công khai vẫn là điều không thể tưởng tượng được đối với tôi. Sự ngần ngại này phần lớn là vì lý do chuyên môn, nhưng trong chừng mực nào đó còn vì phản ứng tàn nhẫn có chủ ý và những phản ứng khác từ các đồng nghiệp mà tôi bí mật kể cho nghe. Đó chính là điều làm cho tôi cay đắng nghĩ tới như là “Nhân tố Tim chuột”.

Tim Chuột (Mouseheart) là một đồng nghiệp cũ của tôi ở Los Angeles, người mà tôi đã từng nghĩ là bạn. Anh ta là một nhà phân tích tâm lý và tôi thường có thói quen đi uống cà phê sáng với anh ta. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng vui vẻ đi ăn trưa cùng nhau và nói chuyện về công việc và cuộc sống của chúng tôi. Sau một thời gian tôi bắt đầu có cảm giác không thoải mái, điều tôi vẫn thường gặp khi quan hệ bạn bè đạt tới một mức độ nhất định, nhưng tôi chưa nói gì cho họ biết về bệnh tình của mình. Lý do bởi đó không chỉ là một căn bệnh, mà còn là nhân tố ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống của tôi: tâm trạng, tính khí, công việc và phản ứng của tôi trước mọi chuyện xảy ra hàng ngày. Nếu không nói về bệnh hưng - trầm cảm của tôi, dù chỉ thảo luận về nó một lần, thì tình bạn giữa chúng tôi chắc chắn sẽ chỉ dừng lại ở mức hời hợt bề ngoài. Sau một hơi thở sâu, tôi quyết định nói cho anh ta biết.

Khi đó chúng tôi đang ở một nhà hàng sát bờ biển ở Malibu. Đó cũng là lúc tôi vừa trải qua một chu kỳ ngắn vừa điên, vừa suy sụp và định tự tử. Tôi dán mắt vào đống đá xa xa bên đại dương chờ phản ứng của anh ta. Quả là một sự chờ đợi kéo dài và lạnh lẽo. Cuối cùng tôi nhìn thấy nước mắt chảy trên mặt anh ta. Tôi nghĩ đó là phản ứng thái quá, nhất là khi tôi chỉ để lộ trạng thái điên ở mức nhẹ nhất và sự trầm cảm chỉ như một sự lãnh đạm. Dù vậy, tôi cũng vẫn cảm động trước việc anh ta dường như thấu hiểu những gian truân mà tôi phải trải qua. Tim Chuột lau nước mắt và nói, đơn giản là anh không tin điều đó và anh “vô cùng thất vọng”. Anh ta đã từng nghĩ rằng tôi là một người tuyệt vời và rất mạnh mẽ: Thế thì tại sao tôi lại có ý định tự tử được? Khi đó tôi nghĩ gì? Và đó là hành động hèn nhát và ích kỷ.

Tôi hoảng sợ nhận ra rằng anh ta đang nói rất nghiêm túc. Tôi như người chết đứng. Nỗi đau của anh khi biết tôi bị hưng - trầm cảm dường như còn tệ hại hơn căn bệnh thực sự trong người tôi. Trong ít phút, tôi thấy mình giống như Typhoid Mary vậy. Sau đó tôi cảm thấy mình bị phản bội, vô cùng xấu hổ và hoàn toàn bị bóc trần. Sự âu lo của anh quả là không có giới hạn. Anh hỏi, bằng một giọng nhỏ hẳn lại và với một mối quan tâm thực sự: Có thật tôi bị tâm thần không? Nếu thế, tôi có thực sự nghĩ rằng trong hoàn cảnh như vậy tôi vẫn có thể vượt qua được những sức ép của công tác nghiên cứu hay không? Tôi nói với anh, qua hai hàm răng nghiến chặt, rằng trên thực tế tôi đã vượt qua sức ép đó trong nhiều năm. Tôi cũng chỉ cho anh thấy sự thật rằng tôi trẻ hơn anh rất nhiều, nhưng tôi đã công bố nhiều công trình nghiên cứu hơn anh ta. Quả thật là tôi không nhớ nhiều lắm về khoảng thời gian còn lại của bữa ăn trưa ấy, ngoại trừ đó là một cực hình. Với một giọng mỉa mai, như để bỏ qua cho anh ta, tôi nói rằng anh không cần phải lo lắng, vì hưng - trầm cảm không phải là bệnh truyền nhiễm. Anh ta ngọ ngoạy trên ghế và nhìn đi nơi khác.

Sáng hôm sau, một bó hoa hồng đỏ được gửi tới bệnh viện của tôi, kèm theo một lời xin lỗi. Đó là một cử chỉ đẹp, tôi nghĩ, nhưng nó không làm dịu được vết thương do phản ứng của anh ta gây ra. Tôi hiểu sự bộc trực của anh hàm ý rằng anh là người bình thường, còn tôi thì không - và tệ hại nhất là câu nói chết người của anh ta: “Vô cùng thất vọng”.

Có rất nhiều lý do để tôi ngần ngại công khai bệnh hưng - trầm cảm của mình; có một số lý do cá nhân, nhưng phần lớn là vì lý do nghề nghiệp. Phần lớn các vấn đề cá nhân có thể được giải quyết nhờ quy định bảo vệ bí mật gia đình - nhất là khi căn bệnh này được coi là do gien di truyền - và nhờ thói quen coi các vấn đề cá nhân là chuyện riêng tư. Tôi rất lo ngại, có thể là hơi quá mức, về việc mọi người sẽ đánh giá về tôi và công việc của tôi ra sao một khi biết tôi mắc chứng hưng - trầm cảm. Chỉ có một ranh giới rất nhỏ giữa ngu đần và “không thích hợp”- ôi một từ tệ hại - và cũng chỉ có một khoảng cách mong manh giữa sự mạnh mẽ và thậm chí có thể hơi bạo lực một chút, với cái được coi là “không ổn định”. Và cho dù vì bất cứ lý do cá nhân phù phiếm nào, tôi vẫn lo sợ rằng ý định tự tử và sự trầm cảm của tôi sẽ bị một số người coi là yếu đuối hay “loạn thần kinh chức năng”. Trong chừng mực nào đó tôi sợ bị coi là yếu đuối và loạn thần kinh chức năng hơn là thỉnh thoảng bị rối loạn tâm thần. Cuối cùng, tôi rất sợ rằng sau khi nói ra hay viết ra những khía cạnh rất riêng tư trong cuộc sống của mình, một ngày nào đó gặp lại họ tôi sẽ bị họ tẩy chay. Là một người hay nói và nói năng rất tự do, tôi lo ngại rằng những trải nghiệm của mình sẽ trở nên xa vời, không thể với tới được và tụt lại quá xa ở phía sau. Tôi cũng lo ngại rằng những trải nghiệm đó sẽ trở thành của một ai đó, chứ không phải của chính mình.

Tuy nhiên, xét về bản chất, mối lo ngại lớn nhất của tôi là vì lý do nghề nghiệp. Ban đầu, chủ yếu tôi sợ Ủy ban Kiểm tra Y tế California có thể không cấp giấy phép hành nghề cho tôi, nếu họ biết rằng tôi mắc chứng hưng - trầm cảm. Theo thời gian, tôi ngày càng ít lo ngại về các biện pháp hành chính như vậy - chủ yếu vì tôi đã quen với hệ thống bảo đảm an toàn y tế rất tinh vi và dù sao thì tôi cũng đã thảo luận với những đồng nghiệp thân cận nhất của mình và với bác sỹ tâm thần của tôi về những tình huống khẩn cấp có thể xảy ra và cách xử lý tốt nhất trong những trường hợp đó. Tuy nhiên, tôi ngày càng lo ngại rằng công việc giảng dạy và nghiên cứu của tôi có thể bị tổn hại. Ở UCLA, tôi đã giảng dạy và giám sát một số lượng lớn bác sỹ tâm thần và thực tập sinh bệnh thần kinh trong bệnh viện tôi làm giám đốc. Ở Johns Hopkins, tôi cũng giảng dạy cho các bác sỹ và sinh viên y khoa ở khoa nội trú và ở bệnh viện điều trị bệnh nhân ngoại trú bị rối loạn tâm thần. Tôi e rằng các bác sỹ và thực tập sinh này, do nhận thức khác nhau của họ về tôi, có thể sẽ không nói cho tôi biết họ đang thực sự nghĩ gì hoặc không hỏi tôi những câu hỏi mà lẽ ra họ có thể và cần hỏi.

Nhiều mối lo ngại này đã được tôi đưa vào các công trình nghiên cứu hay bài viết của tôi. Tôi đã viết rất nhiều về chứng hưng - trầm cảm trên các tạp chí y học và khoa học. Liệu các công trình của tôi có bị các bạn đồng nghiệp nhìn lệch lạc đi do bệnh tình của tôi hay không? Đó là điều ám ảnh, cho dù trong khoa học, điều quan trọng là công trình của một ai đó cuối cùng có được người ta nhắc tới hay không. Định kiến cũng sẽ dịu đi theo thời gian. Tuy nhiên, tôi lo ngại phản ứng của các đồng nghiệp, một khi tôi công khai bệnh tình của mình: ví dụ khi tham dự một hội nghị khoa học và tôi đặt một câu hỏi hay tranh luận với một diễn giả nào đó, thì liệu câu hỏi của tôi có được người ta coi là của một người đã từng nghiên cứu và điều trị bệnh rối loạn tâm thần trong nhiều năm, hay sẽ bị coi là quan điểm, chủ quan của một người muốn đạt được mục tiêu cá nhân nào đó. Điều tồi tệ ở đây là nó làm mất đi tính khách quan của học vấn. Tuy nhiên, công việc của tôi đã thăng hoa rất nhiều nhờ xúc cảm mạnh mẽ và những kinh nghiệm của bản thân tôi. Nó đã tác động rất lớn tới công tác giảng dạy, tư vấn, điều trị và các chủ đề tôi chọn nghiên cứu: bệnh hưng - trầm cảm nói chung, và các khía cạnh tự tử, rối loạn tâm thần và tâm lý cụ thể của bệnh này, các biện pháp điều trị, hậu quả của việc không uống Lithi đúng chỉ dẫn, những biểu hiện tích cực của bệnh điện và chứng tâm tính xoay chuyển và tầm quan trọng của liệu pháp tâm lý.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là với tư cách một bác sỹ điều trị, tôi phải cân nhắc trước vấn đề mà Tim Chuột đã khéo léo đưa ra trong cuộc nói chuyện của chúng tôi ở Malibu: Tôi có thực sự nghĩ rằng những người mắc bệnh tâm thần vẫn có thể được phép điều trị bệnh nhân hay không?

Khi rời Trường Đại học California mùa đông 1986 để trở lại Washington, tôi rất mong được tiếp tục dạy học và muốn được nhận một học vị nào đó tại một trường đại học y. Richard, người đã từng tới trường y của Đại học Johns Hopkins, nghĩ rằng tôi sẽ yêu thích một công việc ở đây. Theo gợi ý của anh, tôi làm đơn xin vào giảng dạy tại Khoa Tâm thần và tôi bắt đầu dạy học ở Hopkins chỉ vài tháng sau khi trở lại miền Đông. Richard đã đúng, tôi yêu Hopkins ngay lập tức. Và đúng như anh dự đoán, một trong nhiều điều thú vị khi làm giáo viên ở Hopkins là trách nhiệm giảng dạy ở đây rất cao. Sự chăm sóc y tế tuyệt vời ở đây cũng là một nhân tố nữa, vấn đề chỉ còn là thời gian để những đặc ân điều trị trong bệnh viện phát huy tác dụng.

Với cảm giác thường trực là phải xem xét kỹ các mẫu giấy kê khai chính thức của bệnh viện, tôi bắt đầu soi xét đống giấy tờ trước mặt. Tôi ấn tượng với dòng chữ in BỆNH VIỆN JOHNS HOPKINS chạy suốt trên đầu tờ giấy. Nhìn xuống dưới, đúng như tôi dự đoán, là đơn xin đặc ân điều trị của bệnh viện. Với tư tưởng hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất, nhưng cũng sẵn sàng cho những điều tồi tệ nhất, tôi quyết định trả lời các câu hỏi “có hay không” trong bảng kê khai trước. Tôi nhanh chóng trả lời “không” cho một loạt câu hỏi về những sai sót nghề nghiệp, những bất minh trong bảo hiểm và bị kỷ luật về chuyên môn: Tôi có bị dính líu tới các vụ kiện tụng vì sai sót hoặc trách nhiệm pháp lý nghề nghiệp nào trước đây không? Tôi có bị hạn chế hay giới hạn nào về bảo hiểm sai sót nghề nghiệp không? Có bao giờ giấy phép hành nghề của tôi bị hạn chế, đình chỉ, bị đặt điều kiện, bị treo, bị nhắc nhở chính thức hoặc không chính thức, không được gia hạn hay bị thu hồi hay không? Đã bao giờ tôi bị một tổ chức y tế nào kỷ luật hay chưa? Tôi có đang bị một hình thức kỷ luật treo nào không?

Những câu hỏi này, ơn Chúa, thật dễ trả lời. Trong thời buổi hơi một chút là người ta lôi nhau ra toà này, thật may là cho tới lúc này, tôi đã cố gắng để không bị kiện vì những sai sót của mình. Tuy nhiên, phần kê khai tiếp theo về “Thông tin cá nhân” đã làm cho tim tôi đập nhanh hơn. Và đúng như tôi dự đoán, ngay sau đó tôi bắt gặp những câu hỏi mà không thể chỉ trả lời đơn thuần bằng cách đánh dấu vào ô “có” hay “không”:

Hiện nay bạn có đang mắc hay đang được điều trị bất cứ một căn bệnh hay dị tật nào, kể cả nghiện ma tuý hay rượu, mà có thể ảnh hưởng không tốt tới việc thực thi trách nhiệm và nghĩa vụ của bạn ở bệnh viện này không?

Những dòng phía dưới là lời cam kết chết người:

Tôi hiểu một cách đầy đủ rằng bất cứ lời khai man hay bỏ sót nào trong bản kê khai này cũng có thể dẫn tới việc tôi bị từ chối tiếp nhận hoặc ngay lập tức bị đuổi khỏi đội ngũ nhân viên bệnh viện.

Tôi đọc đi đọc lại mãi câu hỏi “Hiện nay bạn có đang mắc...”, suy nghĩ khá lâu và cuối cùng tôi quyết định viết ngay sau đó: “Căn cứ vào cuộc thảo luận với Chủ nhiệm Khoa Tâm thần...”. Viết đến đây tôi thấy nôn nao trong người, liền nhấc điện thoại gọi cho chủ nhiệm khoa của tôi ở Hopkins và đề nghị ông sắp xếp đi ăn trưa cùng tôi.

Khoảng một tuần sau đó chúng tôi gặp nhau nhà hàng của bệnh viện. Ông là một người hay nói và vui vẻ. Chúng tôi dành mấy phút để nói chuyện vui vẻ với nhau về các hoạt động trong khoa, về công tác giảng dạy, các chương trình tài trợ nghiên cứu và những thủ pháp điều trị tâm thần. Với đôi tay giữ chặt lấy đùi và cuống họng như tắc lại, tôi nói với ông về bản khai xin đặc ấn điều trị, về bệnh hưng - trầm cảm của tôi và những biện pháp điều trị mà tôi đang áp dụng. Đồng nghiệp thân nhất của tôi ở Hopkins đã biết về bệnh tình của tôi. Bao giờ tôi cũng nói với các bác sỹ thân cận nhất về bệnh tình của mình. Ví dụ ở UCLA, tôi đã nói rất chi tiết về bệnh tình của mình với những bác sỹ đã cùng tôi thành lập Bệnh viện Rối loạn Cảm xúc UCLA và sau đó với viên bác sỹ, người đã làm bác sỹ trưởng trong gần suốt thời gian tôi làm giám đốc bệnh viện này. Ông chủ tịch UCLA cũng biết tôi đang được điều trị bệnh hưng - trầm cảm. Khi đó cũng như bây giờ, tôi cảm thấy mình cần có sự bảo đảm an toàn, để phòng khi tôi có thể đưa ra những quyết định điều trị không thích hợp, do bị điên hay suy sụp nghiêm trọng. Nếu tôi không nói cho họ biết, không chỉ việc chăm sóc điều trị cho bệnh nhân có thể bị tổn hại, mà các đồng nghiệp của tôi còn có thể bị đẩy vào tình thế không thể bảo vệ được và có nguy cơ phải ra toà nữa.

Tôi đã nói rõ với từng bác sỹ mà tôi làm việc cùng rằng tôi đang được một bác sỹ tâm thần tuyệt vời điều trị, tôi vẫn uống thuốc đều đặn và không có bất cứ vấn đề gì về ma tuý hay rượu. Tôi cũng nói với họ rằng họ được tự do hỏi bác sỹ tâm thần của tôi bất cứ câu hỏi nào mà họ cảm thấy cần về bệnh tình và khả năng hành nghề của tôi (mặt khác tôi cũng đề nghị bác sỹ tâm thần thông tin cho tôi và cho bất cứ ai mà ông nghĩ là cần thiết, nếu ông thấy băn khoăn về các quyết định điều trị của tôi). Các đồng nghiệp của tôi đồng ý rằng nếu họ có bất cứ nghi ngờ gì về quyết định điều trị bệnh nhân của tôi họ sẽ nói thẳng với tôi, ngay lập tức tách tôi khỏi trách nhiệm điều trị và cảnh báo cho bác sỹ tâm thần của tôi biết. Tôi nghĩ tất cả họ đều đã gọi điện cho bác sỹ của tôi, vào lúc này hay lúc khác, để hỏi về bệnh tình và việc điều trị của tôi. Thật may là chưa có ai phải liên lạc với ông vì lo ngại tới khả năng hành nghề bác sỹ của tôi. Tôi cũng chưa bao giờ phải từ bỏ đặc ân điều trị của mình, cho dù chính tôi đã từng phải hủy bỏ hoặc đổi lịch khám cho bệnh nhân, khi tôi cảm thấy rằng điều đó là có lợi nhất cho họ.

Tôi vừa thận trọng, vừa may mắn. Bệnh tình của tôi hay của bất cứ bác sỹ nào cũng luôn có nguy cơ ảnh hưởng tới các quyết định điều trị bệnh nhân. Những câu hỏi trong bảng kê khai xin đặc ân của bệnh viện không bao giờ là không công bằng hay không thích hợp cả. Tôi không thích trả lời những câu hỏi đó, nhưng chúng hoàn toàn thích đáng. Những đặc ân điều trị đúng là đặc ân, chứ không phải quyền hành. Nguy hiểm thực tế chính là ở chỗ các bác sỹ điều trị (hay các nhà chính trị, phi công, doanh nghiệp, hay những người phải chịu trách nhiệm về phúc lợi và cuộc sống của nhiều người khác) - chỉ vì sợ nhục nhã, sợ mất những đặc ân của mình, sợ bị đuổi khỏi trường y, các trường đại học hay nơi cư trú của mình - mà ngần ngại không tới bác sỹ tâm thần điều trị. Một khi không được chữa trị hay không được giám sát, nhiều người sẽ mắc bệnh nặng và vì thế gây nguy hiểm không chỉ cho cuộc sống của chính họ, mà còn cho nhiều người khác nữa. Các bác sỹ tự điều trị tâm thần cho mình thường dẫn tới chỗ bị nghiện ma tuý hay nghiện rượu. Không ít trường hợp bác sỹ bị trầm cảm đã tự kê đơn thuốc chống suy nhược cho mình và hậu quả là vô cùng tệ hại.

Các bệnh viện và tổ chức chuyên ngành cần thừa nhận mức độ nguy hiểm mà các bác sỹ, y tá và nhà tâm lý không được điều trị có thể gây ra cho bệnh nhân. Tuy nhiên, các tổ chức này cũng cần khuyến khích các biện pháp điều trị hiệu quả và có tình, đồng thời hoạch định các cơ chế giám sát an toàn, thông minh và không gia trưởng. Rối loạn tâm thần, nếu không được điều trị, sẽ không chỉ gây nguy hiểm cho bệnh nhân, mà còn cho chính bác sỹ nữa. Hàng năm vẫn có rất nhiều bác sỹ - trong đó có nhiều bác sỹ giỏi - đã tự tử. Kết quả một cuộc điều tra gần đây cho thấy, số bác sỹ mà nước Mỹ bị mất chỉ riêng do tự tử mỗi năm, đã tương đương với số bác sỹ tốt nghiệp của một trường đại học y cỡ trung bình. Hầu hết các bác sỹ tự tử là do trầm cảm hay hưng - trầm cảm, mà cả hai căn bệnh này đều có thể chữa trị được. Điều bất hạnh là các bác sỹ không chỉ có tỷ lệ bị rối loạn tâm thần cao hơn dân số nói chung, mà còn được tiếp cận với nhiều biện pháp tự tử có hiệu quả hơn.

Các bác sỹ trước hết cần phải chữa lành bệnh cho chính mình, và họ cũng cần được tiếp cận các biện pháp điều trị tốt để chữa lành căn bệnh của họ. Hệ thống hành chính và y tế cần khuyến khích các bác sỹ chữa bệnh và đưa ra các quy định giám sát hợp lý, đồng thời không dung túng cho những bác sỹ không điều trị chu đáo hoặc gây tổn hại đến việc chăm sóc bệnh nhân. Như ông chủ nhiệm khoa của tôi vẫn thích nói, các bác sỹ có trách nhiệm điều trị bệnh nhân và bệnh nhân không có nghĩa vụ phải trả giá - cả theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen - cho các vấn đề và bệnh tình của bác sỹ. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm này của ông. Dù vậy, không phải là tôi không sợ hãi khi chờ đợi phản ứng của ông khi tôi nói với ông rằng tôi đang được điều trị bệnh hưng - trầm cảm và tôi cần phải thảo luận với ông về những đặc ân trong bệnh viện của tôi. Tôi nhìn gương mặt ông để đoán xem ông đang nghĩ gì. Đột nhiên, ông vươn người qua bàn, đặt tay lên bàn tay tôi và mỉm cười: “Kay à, tôi biết là cô mắc chứng hưng - trầm cảm”. Ông ngừng một lát rồi cười: “Nếu chúng ta loại tất cả những người mắc chứng hưng - trầm cảm ra khỏi đội ngũ giáo viên của các trường y, thì không chỉ đội ngũ giáo viên bị giảm đi rất nhiều, mà nó còn buồn tẻ biết bao”.

Cuộc sống tâm hồn

Như Byron đã nói, tất cả chúng ta được tổ chức một cách khác nhau. Mỗi người chúng ta vận động trong khuôn khổ tâm trạng của mình và chúng ta cũng chỉ sử dụng hết một phần khả năng của nó mà thôi. Ba mươi năm sống cùng bệnh hưng - trầm cảm đã làm cho tôi ngày càng nhận rõ cả những hạn chế lẫn khả năng của nó. Điềm báo tối tăm và chết người mà tôi cảm thấy khi còn là đứa trẻ ngước nhìn lên bầu trời trong xanh bao la, bị bao phủ bởi khói và lửa, vẫn luôn còn đó và thậm chí nó còn len lỏi vào những vẻ đẹp và sự sinh động của cuộc sống nữa. Tối tăm là một phần không thể thiếu trong cuộc đời tôi. Tôi dễ dàng nhớ lại những tháng ngày tàn nhẫn, tối tăm và kiệt quệ, cùng những nỗ lực đến ghê gớm để có thể giảng dạy, đọc, viết, khám cho bệnh nhân và duy trì các mối quan hệ. Nằm ở tầng sâu hơn, nhưng luôn sẵn sàng phối hợp với các dấu hiệu ban đầu của trầm cảm, là những hình ảnh bạo lực, điên khùng, cùng những hành vi đáng xấu hổ và man rợ tới mức không thể nào quên, và tệ hại hơn nữa là những tác động tàn nhẫn của chúng tới những nhân tố khác.

Tuy nhiên, cho dù tâm trạng và những ký ức này có khủng khiếp tới mức nào, thì nó cũng luôn được bù đắp bằng sự hưng phấn và sinh khí của các nhân tố khác. Mỗi khi cơn hưng phấn điện nhẹ dịu dàng lan tỏa khắp người tôi, thì tâm trạng của tôi lại tràn ngập cảm giác mạnh mẽ và nồng nàn - giống như con người ta cũng có thể bị chìm trong cảm giác nhức nhối của thế giới hồi ức vậy. Cảm giác mạnh mẽ của trạng thái điên khi đan xen với những trải nghiệm trong cuộc đời lại tạo ra mong ước được thấy lại những hồi ức cũ. Chính vì thế mà tâm trạng của tôi ngày nay là một sự pha trộn vừa ngọt ngào, vừa cay đắng giữa sự tồn tại khá dễ chịu và ổn định hiện nay với quá khứ phiền toái, nhưng mạnh mẽ.

Quá khứ thỉnh thoảng vẫn hiện về và sự cám dỗ muốn trở lại cảm giác hưng phấn trước kia vẫn còn đó, cho dù tần suất đã giảm dần. Tôi ngoái nhìn lại phía sau và vẫn cảm thấy sự hiện diện của một cô gái trẻ, mạnh mẽ và tiếp sau đó là một phụ nữ trẻ hung bạo, gây nhiều phiền toái, nhưng cả hai đều mang trong mình những giấc mơ cao đẹp, làm việc không mệt mỏi và chứa chan khát vọng lãng mạn. Làm sao người ta có thể nắm bắt lại cảm giác mạnh mẽ hay tái hiện sự hưng phấn đến cao độ của bệnh điên, với những điệu nhảy suốt đêm cho tới tận sáng hôm sau, bay vào bầu trời đầy sao và nhảy múa dọc theo vòng tròn đẹp đẽ của Sao Thổ? Làm sao người ta có thể kéo lại những ngày hè dài tràn ngập tình yêu thương, nhớ lại mùi tử đinh hương, cảm giác đê mê và rượu gin đổ tràn lối đi trong vườn, cùng những trận cười vang không ngớt cho tới tận khi mặt trời lên, hay xe cảnh sát ập tới?

Sự pha trộn của những ước muốn trước đây luôn tồn tại trong tôi. Đây dường như là điều không thể tránh khỏi trong bất cứ cuộc đời nào. Tuy nhiên, đối với tôi đó còn là sự quyện xoắn của nỗi nhớ quá khứ đến nao lòng, do đã từng được trải qua cảm giác vô cùng mạnh mẽ. Điều này làm cho việc từ bỏ quá khứ trở nên khó khăn hơn. Và đôi lúc, tôi vẫn tiếc nuối những cảm giác đã mất. Tôi nhớ cảm xúc mãnh liệt đã qua và tự thấy mình thỉnh thoảng vẫn vô tình vươn tay ra như muốn níu kéo nó lại, giống như tôi vẫn thỉnh thoảng đưa tay ra phía sau để đón mái tóc dài và dầy, nhưng đã mất từ lâu. Tuy nhiên, giống như dấu tích của tâm trạng, cảm giác ấy chỉ tồn tại như một bóng ma. Tôi không có nhu cầu bức bối phải tái hiện cảm xúc mạnh mẽ trước đây, mà hậu quả của nó là quá khủng khiếp, quá nguy hiểm và quá tệ hại.

Dù vậy, sức cám dỗ của tâm trạng tự do và hưng phấn vẫn rất mạnh, và điều thú vị là trong cuộc tranh cãi từ ngàn xưa giữa lý lẽ và cảm giác, phần thắng thường vẫn nghiêng về cảm giác. Trạng thái điện nhẹ thường tạo ra nhiều hy vọng và - trong một khoảng thời gian rất ngắn nó giống như mang lại mùa xuân giữa những ngày đông, hay tạo ra sức sống cho một thời kỳ mới. Tuy nhiên, thực tế và sự hủy hoại của việc bệnh tái phát vẫn đè bẹp ý muốn níu kéo lại những hồi ức, tiếc nuối và những giây phút tràn ngập cảm giác mạnh mẽ và dịu dàng trước đây. Nếu muốn níu kéo lại những cảm giác đó, tôi có thể dễ dàng thực hiện được bằng cách thay đổi chế độ uống thuốc, nhưng tôi đều nhanh chóng kiềm chế, vì tôi biết rõ sự thật lạnh lùng rằng cảm giác mạnh mẽ và dịu dàng ấy sẽ nhanh chóng biến thành sự điên khùng và sau đó là tình trạng điên loạn tới mức không thể kiểm soát nổi. Tôi rất sợ trở lại tình trạng trầm cảm một cách bệnh hoạn hay điên loạn một cách độc ác - mà cả hai đều có thể làm tan vỡ mọi khía cạnh của cuộc sống, mọi mối quan hệ và công việc vốn đang rất có ý nghĩa đối với tôi. Chính vì thế mà tôi chưa bao giờ nghiêm túc nghĩ tới việc thay đổi chế độ uống thuốc của mình.

Mặc dù về cơ bản tôi vẫn lạc quan rằng tôi sẽ khoẻ mạnh, nhưng tôi cũng biết rằng tương lai căn bệnh của mình là chưa có gì chắc chắn. Vì thế, tôi luôn chú ý theo dõi những bài nói về phương pháp điều trị mới đối với bệnh hưng - trầm cảm, nhiều hơn mức mà mối quan tâm nghề nghiệp của tôi đòi hỏi. Khi đi thăm một bệnh viện nào đó, tôi thường tới thăm khoa tâm thần, thăm những phòng tách riêng bệnh nhân, phòng điều trị bằng liệu pháp sốc điện (ECT), đi lang thang trong sân bệnh viện và đoán xem tôi sẽ ở đâu nếu phải nhập viện. Một phần tâm trí tôi vẫn nhắc nhở rằng tôi cần phải chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất và một phần khác của tâm trí lại tin rằng nếu chuẩn bị đầy đủ cho nó, điều tồi tệ nhất sẽ không xảy ra.

Nhiều năm chung sống với những chu kỳ cao trào của bệnh hưng - trầm cảm đã làm cho tôi thêm bình tĩnh, chuẩn bị tốt hơn và có khả năng xử lý tốt hơn những cơn thay đổi tâm trạng và sinh lực, do tôi chọn phương pháp uống Lithi liều thấp. Tôi hoàn toàn đồng ý với niềm tin tôn giáo của Eliot rằng mọi chuyện đều có lý do của nó và thời gian giúp người ta xây dựng nên mọi vật, nhưng thời gian cũng giúp gió phá vỡ ô cửa sổ đã lung lay”. Vì thế mà ngày nay, tôi đã có thể xử lý dễ dàng hơn những dao động của sinh lực, ý tưởng và sự phấn khích, vốn vẫn xảy ra với tôi. Đầu óc tôi thỉnh thoảng vẫn tràn ngập ánh sáng, tiếng cười, âm thanh và triển vọng. Tiếng cười, sự hồ hởi và thanh thản vẫn dâng lên trong tôi, tràn ra ngoài và lan rộng. Những thời khắc huy hoàng và loé sáng này thường tồn tại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, để rồi cuộc sống lại tiếp tục đi lên. Tâm trạng hứng khởi và tràn đầy hy vọng của tôi, giống như đang lướt trên nóc của vòng đu quay, luôn nhanh chóng rời trở lại trạng thái tối tăm và mệt mỏi. Thời gian sẽ trôi đi, tâm trạng này sẽ trôi qua và cuối cùng tôi lại là tôi. Nhưng vào một thời điểm nào đó trong tương lại, những khoảnh khắc phấn chấn lòng người này sẽ trở lại trong tâm hồn tôi.

Những khoảnh khắc duyên dáng và độc ác ấy cứ đến rồi lại đi. Chúng đã trở thành một phần máu thịt của cuộc đời tôi, tới mức mà những sắc màu và âm thanh hoang dại của nó nay đã ít lạ lẫm hơn và cũng ít mạnh mẽ hơn.

Tương tự như vậy, sự tăm tối và tồi tệ, mà chắc chắn sẽ xảy ra sau đó, cũng ít tối tăm và ít đáng sợ hơn. Melville đã từng nói: “Dưới những ngôi sao ấy là thế giới của ác quỷ đang bay lượn”. Tuy nhiên, cùng với thời gian, khi đã gặp nhiều ma quỷ, người ta sẽ ít sợ những con quỷ có thể gặp trong tương lai hơn. Mặc dù những cơn điên vào mùa hè thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trong tôi, nhưng những điều tệ hại nhất của nó đã không còn nữa, và hầu hết vẻ đẹp và hào quang trước đó cũng nhanh chóng trôi qua. Do sự đúc kết của thời gian, do sự từng trải của kinh nghiệm và do tác dụng của thuốc, nay chúng chỉ còn là những cơn điên ngắn vào mỗi tháng bảy, cho dù thỉnh thoảng chúng vẫn tạo ra tâm trạng đen tối và sự đam mê nồng nàn. Nhưng rồi chúng cũng qua đi. Những người đã trải qua cảm giác đó sẽ nhạy cảm hơn về cái chết và cuộc sống. Giống như sau khi nghe quá quen tai và quá tin vào tiếng chuông báo tử của John Donne, “những người phải chết” sẽ hướng mạnh hơn tới cuộc sống, mà nếu bình thường sẽ không có được.

Tất cả chúng ta đều xây dựng những con đê biển ở trong lòng để ngăn những điều phiền toái của cuộc sống và ngăn cả những sức mạnh ghê gớm trong chính tâm hồn mình. Cho dù bằng cách nào - tình yêu, công việc, gia đình, đức tin, bạn bè, sự khước từ, rượu, ma tuý hay bằng thuốc - chúng ta vẫn phải xây dựng con để ấy từ từ, từng hòn đá một, trong suốt cuộc đời mình. Một trong những khó khăn lớn nhất là làm thế nào để xây dựng một con để đủ cao và mạnh để tạo ra một bến đỗ thực sự và một thánh địa an toàn tránh mọi điều phiền toái và đau đớn, nhưng nó cũng phải đủ thấp và có thể thấm được để dòng nước tươi mát có thể đẩy lui dòng nước lợ. Đối với những ai có tính khí và tâm trạng giống như tôi, thuốc là thành phần không thể thiếu trong bức tường thành này. Nếu không có thuốc, chắc là tôi sẽ thường xuyên bị những con sóng tinh thần xô đẩy và có thể tôi đã bị chết hoặc điện nặng.

Tuy nhiên đối với tôi, tình yêu cũng là một | thành phần tuyệt vời trong bức tường thành ấy. Tình yêu giúp tôi ngăn chặn những điều khủng khiếp và tệ hại, nhưng cũng đồng thời cho phép cuộc sống, cái đẹp và sinh khí thấm vào trong tôi. Khi lần đầu tiên nghĩ tới việc viết cuốn sách này, tôi đã hiểu rằng đó phải là cuốn sách viết về tâm hồn và bệnh tâm thần trong cuộc sống Tuy nhiên, khi bắt tay vào viết, thì nó lại là cuốn sách viết cả về tình yêu. Tình yêu duy trì, tái tạo và bảo vệ cuộc sống. Mỗi khi tâm hồn và trái tim tôi dường như đã chết, thì tình yêu trở lại để tái tạo hy vọng và phục hồi cuộc sống của tôi. Tình yêu đã làm cho nỗi buồn trong tâm hồn nhẹ bớt và vẻ đẹp trong tâm hồn hiển hiện. Tình yêu không chỉ là tấm áo choàng, mà còn là ngọn đèn, soi rọi cho những ngày ẩm thấp và tối tăm.

Từ lâu tôi đã từ bỏ quan niệm cho rằng cuộc đời không có sóng gió, hay thế giới không có những mùa khô giết chết mọi vật. Cuộc sống quá phức tạp và thường xuyên thay đổi tới mức nó không thể là bất cứ thứ gì, trừ chính nó. Về bản chất, tôi là một người quá dễ thay đổi. Tuy nhiên, tôi cũng rất sợ sự can thiệp quá mạnh và không tự nhiên, nhằm kiểm soát quá nhiều những sức mạnh mà về bản chất là không thể kiểm soát nổi. Bao giờ cũng có những nhân tố thúc đẩy, gây rối và chúng sẽ còn đó cho tới khi, như cách nói của Lowell, đồng hồ được tháo ra khỏi cổ tay. Và cuối cùng, chính những giây phút riêng tư, bồn chồn, trống trải, tràn ngập niềm tin hay hăng hái đến điên khùng ấy lại tạo ra cuộc sống, làm thay đổi bản chất và hướng đi của cuộc đời sự nghiệp và tạo ra ý nghĩa và sắc màu cho tình yêu và tình bạn của mỗi con người.

LỜI KẾT

Tôi vẫn thường tự hỏi mình, nếu được chọn lựa, tôi có chọn bệnh hưng trầm cảm hay không. Nếu Lithi không có sẵn hay không có tác dụng đối với tôi, thì câu trả lời đơn giản là “không” và đó cũng là câu trả lời pha lẫn sự hoảng sợ. Tuy nhiên, Lithi đã có tác dụng đối với tôi và vì thế tôi nghĩ rằng mình có đủ khả năng đối mặt với câu hỏi này. Điều kỳ lạ là tôi nghĩ tôi có thể sẽ chọn bệnh này. Đây là vấn đề rất phức tạp. Tình trạng trầm cảm là vô cùng tệ hại, mà không một lời nào, một âm thanh nào hay một hình ảnh nào có thể miêu tả được. Tôi cũng không nói nhiều về tình trạng này nữa. Nó làm mất đi các mối quan hệ, do nghi ngờ, do không tin tưởng và thiếu tự trọng. Nó làm mất khả năng hưởng thụ cuộc sống. Nó làm cho người ta không thể đi lại, nói năng và suy nghĩ một cách bình thường. Nó mang tới sự kiệt quệ, những đêm dài khủng khiếp và những ngày dài hoảng sợ. Chẳng có gì tốt đẹp để nói về nó cả, ngoại trừ nó giúp bạn hiểu thế nào là già, thế nào là ốm yếu, thế nào là chết, thế nào là chậm hiểu, thế nào là vô duyên, mất lịch sự và thiếu hợp tác, thế nào là xấu xa, mất niềm tin vào cuộc sống, mất hứng thú trong quan hệ tình dục, không hiểu được những nét tinh tế của âm nhạc và mất khả năng làm cho chính bạn và những người khác có thể cười.

Một số người nói rằng họ biết thế nào là trầm cảm, bởi vì họ đã từng trải qua cuộc sống li hôn, mất việc hoặc mất quan hệ với một ai đó. Tuy nhiên, trải nghiệm này mang theo nó cảm giác thực. Còn trầm cảm thì vô vị, trống rỗng và không thể chịu đựng được. Nó làm cho người ta mệt mỏi. Khi bị trầm cảm, bạn không thể chịu đựng được sự có mặt của những người xung quanh. Họ có thể nghĩ rằng họ nên và thậm chí cố gắng ở lại bên bạn. Tuy nhiên, bạn biết và họ cũng biết rằng bạn là người chán ngắt tới mức không thể chịu đựng được. Bạn cáu kỉnh và hoang tưởng, không còn một chút hài hước nào và mất hết sinh khí, bạn chỉ trích hết thảy và đòi hỏi quá nhiều và không một lời an ủi nào có thể làm cho bạn hài lòng. Bạn hoảng sợ và ngày càng hoảng sợ. Bạn “chẳng phải là bạn một chút nào, nhưng sẽ sớm trở lại là bạn”. Tuy nhiên, bạn biết rằng bạn sẽ không thể.

Thế thì tại sao tôi lại muốn căn bệnh này?

Bởi vì, tôi thực sự tin rằng nhờ có nó mà tôi biết nhiều điều hơn và sâu sắc hơn; tôi có nhiều kinh nghiệm hơn và có cảm giác mạnh mẽ hơn; yêu nhiều hơn và cũng được yêu nhiều hơn; cười nhiều hơn vì đã từng phải khóc nhiều hơn; hiểu rõ hơn giá trị của mùa xuân vì đã từng trải qua những mùa đông; thấy cái chết đến sát bên mình và vì thế hiểu rõ hơn giá trị của cái chết - và cuộc sống, nhìn thấy những điều tốt đẹp nhất, cũng như những gì tệ hại nhất ở con người và dần dần nhận rõ giá trị của sự chăm sóc, lòng trung thành và sự giúp đỡ. Tôi thấy được bề rộng, chiều sâu, sự phóng khoáng của tâm hồn và trái tim tôi, thấy được sự mong manh của chúng và cũng thấy được lý do vì sao chúng không thể hiểu nổi. Khi trầm cảm, tôi đã từng phải bò qua phòng và đã từng phải bò như thế hết tháng này qua tháng khác. Tuy nhiên, khi bình thường hay khi bị điên, tôi lại chạy nhanh hơn, suy nghĩ nhanh hơn và yêu nhanh hơn hầu hết những người mà tôi biết. Tôi nghĩ rằng hầu hết những chuyện này là có liên quan tới căn bệnh của tôi - đó là sức sống mạnh mẽ truyền vào mọi việc và tầm nhìn rộng mà nó tạo ra trong tôi. Tôi nghĩ rằng căn bệnh đã giúp tôi kiểm nghiệm giới hạn của tâm hồn mình (một việc dù muốn cũng khó thực hiện được) và kiểm nghiệm giới hạn của sự dạy dỗ, của gia đình, của nền giáo dục và của bè bạn.

Vô vàn lần hưng cảm nhẹ và chính bệnh điện đã tạo ra trong tôi khả năng nhạy cảm, hiểu biết và suy nghĩ khác. Ngay cả khi bị tâm thần nặng rơi vào ảo giác, u mê hay điên loạn - tôi vẫn phát hiện ra những góc mới trong tâm hồn và trái tim mình. Một vài góc rất lạ thường và đẹp đẽ, tới mức nó làm cho tôi phải nghẹt thở và tôi có cảm giác rằng tôi có thể chết ngay lúc bấy giờ để giữ mãi những hình ảnh ấy. Có một vài góc rất kỳ cục và tệ hại, tới mức tôi không bao giờ muốn biết rằng chúng đang tồn tại ở đó hay muốn thấy lại chúng. Tuy nhiên, bao giờ cũng có những góc mới . và khi tư duy trở lại bình thường, nhà thuốc và tình yêu - tôi không thể hình dung được vì sao cuộc đời lại buồn tẻ đến thế, bởi vì tôi biết những góc đó là vô hạn và tầm nhìn của nó cũng là vô hạn.

 

HẾT