Nguồn gốc của chứng ái kỷ
Nguồn gốc của chứng ái kỷ bắt nguồn từ kiểu gắn bó của một người.
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
- Hiểu được nguồn gốc của chứng ái kỷ giúp chúng ta tìm cách nhận diện và giải quyết vấn đề này.
- Cách một nhân vật gắn bó chủ chốt liên tục phản hồi hoặc không phản hồi trước những nhu cầu của trẻ góp phần định hình kiểu gắn bó của trẻ.
- Kiểu gắn bó không an toàn là một yếu tố dự báo xu hướng ái kỷ ở tuổi trưởng thành.
Ai trong chúng ta cũng có những khuynh hướng ái kỷ nhất định. Tuy nhiên, khi những khuynh hướng ấy trở nên quá mức, chúng có thể khiến một người không còn tạo được cảm giác an toàn về mặt cảm xúc trong các mối quan hệ thân thiết. Họ khó đặt mình vào vị trí của người khác, khó đồng cảm, khó thực sự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, khó tự nhìn lại bản thân và nhận thức được lời nói, hành động của mình ảnh hưởng đến những người thân yêu ra sao.
Họ cũng có thể mang tâm thế của một nạn nhân, dùng vị thế ấy như một tấm khiên để né tránh trách nhiệm. Bằng cách viết lại lịch sử theo cách có lợi cho mình, họ tự đặt mình vào vai “nạn nhân” trong mọi tình huống, còn bạn trở thành “kẻ phản diện”. Điều này có thể khiến họ vô cớ công kích bạn, đồng thời bóp méo con người và ý định của bạn. Thế nhưng, khi mọi chuyện dần lắng xuống, họ lại tiếp tục cuộc sống như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Bạn có thể phải chịu đựng những tổn thương sâu sắc, trong khi họ thậm chí không nhận ra rằng mình vẫn đang liên tục làm tổn thương bạn. Bởi họ bóp méo sự việc để luôn nhìn nhận bản thân là người vô tội. Tuy nhiên, sự thiếu tự nhận thức và những nhận thức sai lệch của họ không thể là cái cớ để biện minh cho hành vi ngược đãi về mặt cảm xúc đối với người khác. Bạn cũng không thể tiếp tục dung túng cho họ bằng cách đánh đổi chính sự bình yên và sức khỏe tinh thần của mình. Đó là một tình thế vô cùng khó khăn, dường như không có lối thoát.
Tuy nhiên, nếu mọi người được trang bị kiến thức về nguồn gốc của chứng ái kỷ, nó bắt đầu từ đâu và hình thành như thế nào, họ có thể tìm ra những cách thức để bảo vệ bản thân. Quan trọng hơn, với tư cách là một cộng đồng, chúng ta có thể cùng nhau tìm cách ngăn chặn những khuynh hướng ấy hình thành ngay từ đầu.

Image by Mohamed_hassan from Pixabay
Mối liên hệ giữa kiểu gắn bó không an toàn và chứng ái kỷ
Các nghiên cứu cho thấy chứng ái kỷ có thể bắt nguồn, ít nhất một phần, từ kiểu gắn bó không an toàn. Điều này không có nghĩa là nếu bạn cảm thấy bất an trong một mối quan hệ, thì bạn đương nhiên có kiểu gắn bó không an toàn. Chẳng hạn, một người có khuynh hướng ái kỷ có thể khai thác những bất an của bạn bằng cách lúc thì nồng nhiệt, lúc lại lạnh nhạt, cùng nhiều cách thức khác. Mặt khác, trong nhiều trường hợp, nếu bạn nhận thức được những bất an của mình và mỗi ngày đều nỗ lực đối diện với chúng, bạn có thể đủ vững vàng để chấp nhận và xử lý những khiếm khuyết của bản thân. Thay vì phóng chiếu chúng lên người khác, bạn chủ động nhận trách nhiệm về chúng. Đây là một dấu hiệu của kiểu gắn bó an toàn.
Vậy hãy cùng quay trở lại từ những ngày đầu tiên của cuộc đời. Nếu không có những khiếm khuyết nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển, mọi trẻ sơ sinh đều chào đời với một hệ thần kinh được lập trình sẵn để hình thành sự gắn bó. Bất kể nền văn hóa nào, trẻ sơ sinh cũng khóc, quờ quạng tìm kiếm, giao tiếp bằng mắt, mỉm cười, bập bẹ, tìm vú mẹ theo phản xạ và thường xuyên thể hiện sự ưu tiên dành cho người chăm sóc chính của mình. Khi người chăm sóc chính nhạy bén với cảm xúc của trẻ, họ có thể nhận ra những tín hiệu mà em bé phát ra và kiên trì đáp lại bằng sự đồng cảm. Điều đó có nghĩa là họ thường xuyên đáp ứng những nhu cầu của trẻ, đồng thời an ủi và vỗ về trẻ mỗi khi em rơi vào trạng thái đau khổ hoặc bất an. Cùng vui mừng trước những thành tựu của trẻ và phản chiếu những biểu cảm, hành động của trẻ trong lúc chơi đùa cũng là những nhiệm vụ quan trọng của cha mẹ, góp phần củng cố mối gắn bó an toàn giữa em bé và nhân vật gắn bó chủ chốt của mình. Dần dần, em bé hình thành niềm tin vào người chăm sóc và cảm nhận được rằng mình được yêu thương. Kết quả là một ý thức lành mạnh về giá trị bản thân được hình thành, tạo nền tảng để khi trưởng thành, người đó đủ vững vàng để đối diện với những khiếm khuyết của mình, biết đồng cảm, có trách nhiệm với hành vi của bản thân và biết đặt mình vào vị trí của người mình yêu thương để cố gắng thấu hiểu họ hơn, ngay cả khi hai người có cảm xúc hoặc quan điểm khác biệt.
Ngược lại, khi người chăm sóc chính quá chìm đắm trong thế giới của bản thân và không sẵn sàng đáp ứng về mặt cảm xúc, họ có thể bỏ lỡ những tiếng khóc cầu cứu của trẻ sơ sinh, đồng thời có xu hướng xem em bé như một gánh nặng… gần như thể những nhu cầu của trẻ là điều phiền toái mà họ buộc phải chịu đựng. Vì nhìn nhận em bé như một người đang cản trở cuộc sống của mình, họ cho rằng việc phớt lờ, gạt bỏ những nhu cầu của trẻ hoặc quở trách trẻ vì có những nhu cầu ấy là điều hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Sự bỏ bê kéo dài định hình kiểu gắn bó không an toàn (né tránh) như thế nào?
Nếu trẻ sơ sinh thường xuyên bị phớt lờ trong những khoảng thời gian dài, hết lần này đến lần khác, dù đã phát ra những tín hiệu cho thấy mình đang đau khổ và cần được giúp đỡ, trẻ sẽ phải trải qua nỗi đau tinh thần sâu sắc. Niềm tin của trẻ vào người chăm sóc bắt đầu suy giảm. Nếu tình trạng này tiếp diễn trong phần lớn hai năm đầu đời, niềm tin của trẻ vào nhân vật gắn bó chủ chốt có thể dần tan biến, khiến trẻ thu mình và rút lui. Trẻ ngừng phát tín hiệu cầu cứu, bởi mỗi lần bị phớt lờ, nỗi đau lại càng trở nên dữ dội, đến mức gần như không thể chịu đựng nổi.
Trẻ dần học được rằng mình chỉ có thể dựa vào chính mình. Việc bộc lộ sự yếu mềm, đặt niềm tin vào người khác, biết đồng cảm và có trách nhiệm với hành vi của bản thân gần như trở thành những điều bất khả thi, bởi trẻ hiếm khi được trải nghiệm những điều ấy trong mối quan hệ gắn bó đầu đời. Trẻ có xu hướng thu mình vào thế giới nội tâm, tập trung bảo vệ bản thân trước mọi tổn thương có thể xảy đến.
Cơ chế phòng vệ và khuynh hướng lấy bản thân làm trung tâm này có thể dần bén rễ, như một cách bảo vệ cái tôi vốn mong manh đến mức dễ bị tổn thương. Khi trưởng thành, người đó có thể luôn cảm thấy mình phải nắm thế thượng phong trong các mối quan hệ, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc đối xử tàn nhẫn về mặt cảm xúc với người bạn đời để đạt được mục đích. Đây thường được gọi là kiểu gắn bó không an toàn (né tránh).
Gần như gây ra những tổn hại tương tự là trường hợp nhân vật gắn bó chủ chốt phản ứng thất thường và khó đoán trước với em bé. Có lúc họ an ủi, vỗ về trẻ, nhưng cũng có lúc lại bỏ mặc em. Đứa trẻ không thể tin tưởng rằng người chăm sóc sẽ giúp đỡ mình, bởi nhân vật gắn bó này đã thể hiện sự thiếu nhất quán nghiêm trọng trong suốt những khoảng thời gian dài. Vì vậy, trẻ không dám bộc lộ sự yếu mềm hay phát tín hiệu cầu cứu, bởi trẻ không biết liệu mình sẽ được vỗ về hay bị khước từ. Mâu thuẫn nội tâm ấy trở nên dữ dội đến mức trẻ không dám mạo hiểm tìm kiếm sự an ủi.
Thay vào đó, trẻ liên tục nổi những cơn giận dữ dữ dội, kéo dài và thể hiện các hành vi chống đối nhằm buộc nhân vật gắn bó của mình phải ở gần, đồng thời tìm cách kiểm soát họ. Đối với trẻ, kiểm soát quan trọng hơn sự gần gũi, bởi người chăm sóc đã quá thiếu đáng tin cậy. Trẻ cảm thấy mình phải kiểm soát nhân vật gắn bó ấy vì mối liên kết giữa hai người quá mong manh, không đủ để trẻ an tâm dựa vào. Điều này thường dẫn đến những hành vi kiểm soát người khác về mặt cảm xúc khi trưởng thành và thường được gọi là kiểu gắn bó không an toàn (hỗn loạn).
Các nghiên cứu cũng cho thấy kiểu gắn bó không an toàn, dù là kiểu né tránh hay kiểu hỗn loạn, đều có thể dự báo khuynh hướng ái kỷ ở tuổi trưởng thành. Ngược lại, kiểu gắn bó an toàn có thể dự báo trí tuệ cảm xúc ở tuổi trưởng thành. Trong bối cảnh hiện nay, những mối liên hệ này dường như là những khái niệm vô cùng quan trọng mà chúng ta cần hiểu rõ.
Tìm đọc Bộ Sách Kẻ Ái Kỷ + Kháng Ái Kỷ

