Khả năng chịu đựng sự cô độc vốn dĩ tựa vào cảm giác được chở che

kha-nang-chiu-dung-su-co-doc-von-di-tua-vao-cam-giac-duoc-cho-che

Nỗi chơi vơi khi làm mẹ hòa lẫn trong niềm đau mất mát đã dạy tôi điều mà phân tâm học luôn khẳng định: ta cần một điểm tựa bình yên mới có thể tĩnh tại khi một mình.

Sau khi con trai chào đời, tôi bỗng dưng mắc một thói quen lạ lùng: đánh thức con chỉ để chắc chắn rằng thằng bé vẫn đang ngủ say. Con thường chìm vào giấc nồng với đôi môi hé mở, thỉnh thoảng tợp tợp như đang nhấm nháp vị sữa, hơi thở đều đặn và sâu. Thằng bé hoàn toàn thư thái, một cơ thể nhỏ bé đang học cách trao đi sự tin cậy. Thế rồi tôi xuất hiện, gập người bên nôi, lóng ngóng như một nhân viên y tế tập sự giữa một cuộc diễn tập cứu nạn. Tôi cúi sát để lắng nghe nhịp thở rõ rành rành của con, áp tay để cảm nhận hơi ấm không thể lẫn vào đâu được. Đôi khi tôi đặt nhẹ tay lên lồng ngực con, khẽ khàng thôi, vừa đủ để xác nhận sự sống vẫn hiện hữu nhưng cũng hy vọng không làm con thức giấc. Vậy mà, hầu như lần nào thằng bé cũng giật mình tỉnh dậy, bỏ lại tôi đứng đó với "chứng cứ" rành rành trên tay.

Giấc ngủ của con là điều kiện duy nhất khiến tôi đôi khi cảm thấy an yên khi đối diện với chính mình, nhưng tôi lại chưa dám tin vào sự bình yên ấy. Thế là tôi cứ liên tục ngắt quãng nó, chẳng khác nào một kẻ cứ thổi vào ngọn nến chỉ để kiểm tra xem lửa có còn đang cháy hay không.

Chúng ta có đủ từ ngữ để định nghĩa những trải nghiệm như tôi đã trải qua. Ta gọi tên chúng là lo âu, trầm cảm, hay rối loạn điều chỉnh sau sinh. Nhưng không có danh xưng nào chạm được tới cái cảm giác hoang mang nhất trong lòng tôi: đó không hẳn là nỗi sợ, cũng chẳng phải sự vô cảm, mà là việc tôi đã đánh mất khả năng được nghỉ ngơi khi ở một mình.

Lúc đó, tôi không hề nhận ra mình đang phải gồng gánh quá nhiều thứ trên vai. Cha tôi vừa qua đời, còn trí nhớ của mẹ thì đang vỡ vụn từng ngày. Là con một, tôi trở thành điểm tựa duy nhất để chăm sóc mẹ, trong khi vẫn phải tất bật nuôi nấng một đứa trẻ đang tuổi chập chững ở nhà. Cùng lúc đó, những hệ thống hỗ trợ từng giúp sẻ chia trách nhiệm cũng dần rạn nứt khắp nơi. Những trận cháy rừng biến ngày thường thành những cuộc sơ tán khẩn cấp. Rồi đại dịch ập đến, quấn chặt công việc, chuyện nuôi con và cả nỗi đau tang tóc vào trong những giờ khắc dài dặc không dứt. Với tôi, gánh nặng của việc "chở che" không hề bắt đầu từ khi có em bé. Đứa trẻ chỉ là nơi khiến gánh nặng ấy trở nên trĩu nặng hơn mà thôi.

Nhưng tầm nhìn của tôi khi ấy đã thu hẹp đến mức chẳng còn thấy được bối cảnh rộng lớn ấy nữa. Nếu sự cô độc không còn giúp tôi hồi sức, tôi lại cứ ngỡ mình cần phải cố gắng hơn, bằng cách ngủ tốt hơn, thực hành chánh niệm hay rèn luyện kỷ luật khắt khe hơn. Phải mất một thời gian dài tôi mới hiểu ra rằng, đó không phải là thất bại cá nhân, mà là vì sự cô độc ấy đang phải gồng mình gánh vác quá nhiều mệt mỏi vượt quá sức chịu đựng của nó.

Photo by Flavia Morlachetti/Getty Images

Phân tâm học mang đến một góc nhìn để ta soi rọi sự thay đổi này, dẫu rằng những câu chuyện ấy thường được kể từ những ngày đầu đời xa xôi. Nhà phân tâm học người Anh Donald Winnicott từng cho rằng, khả năng tự tại khi một mình không phải là một nét tính cách bẩm sinh, mà là thứ được bồi đắp từ trải nghiệm. Câu nói nổi tiếng nhất của ông về sự cô độc ẩn chứa một nghịch lý đầy chủ ý: "Nền tảng của năng lực biết ở một mình chính là trải nghiệm được ở một mình dưới sự hiện diện của một ai đó." Ý ông muốn nói rằng, ta chỉ học được cách nghỉ ngơi, vui chơi và suy ngẫm đơn độc sau khi đã nếm trải cảm giác được đồng hành một cách tin cậy, khi có một người bên cạnh, không can dự thô bạo nhưng cũng chẳng hề rời bỏ. Theo thời gian, cảm giác được chở che ấy sẽ thấm sâu vào bên trong, biến sự cô độc thành một chốn bình yên thay vì một khoảng trống chênh vênh, phơi trải.

Thế nhưng, Winnicott đã không lý giải hết những điều kiện để tạo nên sự hiện diện ấy. Các học giả nữ quyền như Nancy Chodorow từ lâu đã lập luận rằng việc chăm sóc một ai đó vốn dĩ phụ thuộc vào cách mà sự chăm sóc ấy được xã hội tổ chức và sẻ chia. Một sự hiện diện ân cần, không lo âu đòi hỏi phải có sự ổn định, thời gian và cả những điểm tựa từ cộng đồng. Theo nghĩa đó, khả năng biết ở một mình thực chất tựa trên những tầng tầng lớp lớp sự chở che đan lồng vào nhau, lớp này làm điểm tựa cho lớp kế tiếp.

Dù có người bạn đời thương yêu và cùng nhau gánh vác, tâm trí tôi chưa bao giờ thôi canh cánh.

Trong những tác phẩm sau này, Winnicott tập trung vào cái mà ông gọi là "môi trường thuận lợi": những sự hỗ trợ bình dị giúp một con người có thể tiếp tục sống và cảm thấy mình thực sự hiện hữu theo thời gian. Ông cho rằng, sự trưởng thành cần có "sự cung ứng đầy đủ từ môi trường" và "những điều chỉnh tiệm tiến phù hợp với nhu cầu cá nhân", không chỉ ở tuổi dại khờ mà trong suốt cả cuộc đời. Từ góc độ này, sức khỏe tâm lý không chỉ dựa vào những ký ức tuổi thơ, mà còn phụ thuộc vào việc liệu hoàn cảnh hiện tại có đủ vững vàng để khiến sự cô độc trở nên an toàn hay không.

May mắn cho thiên thần nhỏ của chúng tôi, tôi không phải là người duy nhất cầm lái con thuyền này. Nhưng thật không may cho chính tôi, tôi dường như chẳng thể nào thả mình nghỉ ngơi dựa trên sự bao bọc của người bạn đời. Khi con ngủ, chồng tôi cũng ngủ theo, anh chìm vào giấc nồng một cách tự nhiên như thể đó là lẽ xoay vần của thế giới. Sự điềm tĩnh của anh không phải vì ngây ngô. Nó là một sự vững chãi tự thân. Còn tôi, dù có người đồng hành yêu thương và cùng nhau san sẻ mọi việc, tâm trí tôi chưa bao giờ thực sự rời khỏi vị trí canh gác của mình.

Nói cách khác, nỗi cô độc mà tôi đang vật lộn bên trong không phải là sự vắng bóng của con người, mà là sự đổ vỡ của niềm tin vào bất cứ điều gì ngoài chính bản thân mình. Cảm giác như thể danh sách liên lạc khẩn cấp của tôi đã tan biến chỉ sau một đêm, và tôi bị bỏ lại để tự mình gánh vác tất thảy. Chẳng còn lấy một khoảng trống nào cho những suy tư.

Đây chính là lúc Wilfred Bion, một nhà tư tưởng phân tâm học người Anh khác, giúp tôi soi sáng những gì đang xảy ra với mình, đó là khi những trải nghiệm ập đến nhanh hơn mức tâm trí có thể thấu hiểu. Theo góc nhìn của Bion, tư duy không phải là điều dĩ nhiên mà là một thành quả, nó phụ thuộc vào việc ta có đủ điểm tựa để chuyển hóa cảm xúc thành suy nghĩ hay không. Khi áp lực không được giải tỏa, khi mọi thứ đổ dồn quá nhiều mà chẳng có nơi nào để đặt để, thì trải nghiệm sẽ không bao giờ trở thành sự chiêm nghiệm. Thay vào đó, nó xả ra bằng hành động và sự canh cánh đề phòng.

Từ lăng kính này, vấn đề không nằm ở chỗ một người có đang đơn độc về mặt hình thể hay không, mà là liệu tâm trí họ có được tự do bay bổng hay vẫn đang phải gồng mình trực chiến. Khi sự cảnh giác thay thế cho cảm giác được vỗ về, thời gian ở một mình không còn là sự nghỉ ngơi nữa. Nó trở thành một ca làm việc khác.

Điều này không chỉ xảy đến với những người mới làm cha mẹ. Khi con người ta mất đi việc làm, sự chăm sóc y tế, sự bảo hộ của pháp lý hay mái nhà nương thân, tầm mắt họ sẽ thu hẹp lại và sự cô độc bị lấp đầy bởi những kế hoạch dự phòng thầm lặng. Thời gian ở một mình trở thành một nơi chốn khác để người ta âm thầm xoay xở cho sự sinh tồn của chính mình.

Cái vẻ ngoài tưởng như là sự trưởng thành thực chất chỉ là một "bản ngã giả tạo" đầy thạo việc.

Nhìn lại, tôi thấy cuộc đời mình đã hoàn toàn tự tái tổ chức quanh những việc phải làm không ngơi nghỉ: những tấm thiệp chúc mừng, những danh sách mua sắm, những cuốn sách nuôi dạy con. Tôi học thuộc lòng ngôn ngữ của sự chăm sóc và dựa dẫm vào những kịch bản dạy con vốn chẳng cần nhiều suy nghĩ hay sự hiện diện của cảm xúc. Con thấy buồn cũng không sao; nhưng đánh người là không tốt đâu. Con muốn mẹ ôm một cái hay muốn có không gian riêng ngay lúc này nào? Lúc đó, tôi không hề phản ứng bằng trực giác; tôi đang gồng mình để bao bọc cả hai mẹ con. Những kịch bản ấy giữ cho con tôi vững vàng và giữ cho tôi không tan vỡ, khi tôi cứ cố công giữ cho ngọn nến khỏi tắt.

Vào thời điểm đó, tôi cứ ngỡ nỗi đau mất mát đã dạy bảo mình, rằng nó làm tôi trở nên cẩn trọng và trách nhiệm hơn, "người lớn" hơn trong từng nghi thức và khuôn phép. Tôi tưởng tượng rằng mình đã trở thành cái khung đỡ vững chắc vốn đã biến mất quanh chúng tôi. Theo cách nói của Winnicott, cái vẻ ngoài tưởng như trưởng thành ấy thực chất chỉ là một "bản ngã giả tạo" đầy thạo việc, một cách để chèo lái cuộc sống khi ta không có đủ sự hỗ trợ để sống hồn nhiên hay vui chơi. Nhưng đó không phải là sự trưởng thành. Đó là áp lực không thể hóa thành suy tư, nên đành đóng băng lại thành sự cảnh giác. Những gì lẽ ra đã có thể trở thành nỗi thương đau lại cô đặc thành một mùa đông nặng nề mà tôi đã lầm tưởng là sự chín chắn của tuổi trưởng thành.

Điều thực sự bắt đầu thay đổi bản chất trong dòng suy nghĩ và những khoảng lặng riêng tư của tôi không phải là một sự giác ngộ cao siêu nào, mà lại là một sự chuyển biến trong hoàn cảnh sống và các mối quan hệ đời thường. Dưới sức nặng của sự kiệt quệ, tôi bắt đầu tựa lòng mình nhiều hơn vào cuộc hôn nhân, để người bạn đời cùng gánh vác những điều mà bấy lâu tôi vẫn khư khư coi là trách nhiệm của riêng mình. Tôi tìm đến sự giúp đỡ có trả phí, nhiều hơn mức mà người ta cho là cần thiết để chèo lái việc nuôi con và chăm sóc gia đình; và tôi vẫn luôn trăn trở về việc sự nhẹ lòng ấy lại được phân chia không đồng đều, phụ thuộc vào đặc quyền kinh tế hơn là nhu cầu thực sự. Tất cả những điều này không giúp hóa giải những mất mát mà tôi đang mang nặng, nhưng nó giúp san sẻ bớt sức nặng của sự "chở che" và trao cho trách nhiệm một nơi chốn khác để nương náu. Chỉ đến lúc đó, tâm trí tôi mới có được chút khoảng không để làm việc gì đó khác hơn là việc canh chừng.

Cũng chỉ đến lúc ấy, công việc của sự "than khóc" (theo cách hiểu của Melanie Klein) mới thực sự bắt đầu. Klein, một nhà phân tâm học với những tư tưởng đã tạc nên diện mạo đời sống cảm xúc thế kỷ 20, quan niệm rằng thương tiếc không phải là sự buông bỏ, mà là học cách nâng niu cả những mảng màu sáng và tối của cùng một mối quan hệ mà không tách rời chúng ra. Sự thương tiếc sắp xếp lại thế giới nội tâm để những gì đã mất có thể được mang theo bên mình mà không cần phải thần thánh hóa hay chối bỏ. Sự kết nối trở nên khả thi một lần nữa, không phải một sự kết nối đã được gạn đục khơi trong, mà là một sự kết nối chân thực. Bà gọi năng lực tạo nên điều này là "trạng thái trầm cảm"), không có nghĩa là sự u sầu, mà là khả năng chấp nhận những cảm xúc trái chiều trong lòng.

Khi năng lực ấy bị quá tải, tâm trí sẽ tự giản lược hóa mọi thứ để phòng vệ. Mọi việc bỗng chỉ còn là an toàn hay nguy hiểm, là sống hay là chết. Đó chính xác là lý do tại sao sự cảnh giác của tôi sau khi sinh con lại giống như một sự khước từ mọi sắc độ trung gian. Nhiệm vụ của tôi, như tôi hằng cảm nhận, là giữ cho đứa trẻ luôn nằm ở phía "đúng" của mọi lằn ranh. Cái giá phải trả cho đòi hỏi đó là quá lớn, bởi lẽ sự nghỉ ngơi luôn cần một sự bất định có thể chấp nhận được. Ngủ là một sự buông mình, và ta chẳng thể nào buông mình khi bản thân tự phong mình là rào chắn duy nhất trước vực thẳm.

Đã có chỗ cho những điều khờ dại và cả những lúc chẳng biết gì, cho phép mọi thứ được chông chênh mà không cần vội vàng nắn chỉnh cho ngay ngắn.

Khi sự thương tiếc bắt đầu vận hành, những lằn ranh ấy dần nới lỏng và một thế giới nội tâm sâu sắc, đa diện sẽ trở về. Đứa trẻ có thể vừa căng tràn sự sống, vừa mỏng manh dễ tổn thương. Tôi có thể vừa ngập tràn yêu thương, lại vừa đầy rẫy những khiếm khuyết. Thế giới này có thể bị tổn thương nhưng vẫn là nơi đáng sống. Không có tiếng còi báo động nào vang lên. Mặt đất vẫn vững vàng dưới chân. Nỗi cô độc hiện hữu lúc này mang một sức nặng riêng của nó. Đó không phải là nỗi cô độc của sự biến mất, mà là sự hiện diện bình yên khi không còn ai giám sát.

Theo thời gian, những điểm tựa ấy bắt đầu tìm về và trú ngụ lại trong sâu thẳm lòng tôi. Tôi thôi không còn gồng mình chống chọi với những viễn cảnh đổ vỡ. Nhưng chỉ khi gánh nặng của việc "chở che" không còn là của riêng mình, nỗi đau mất mát mới có thể thực sự chảy trôi qua tâm hồn tôi. Vẫn còn đó những nỗi buồn, và các mối quan hệ vẫn mang một sức nặng hiện hữu, bởi đây là một cách yêu thương đầy chân thực và không che giấu. Thế nhưng, giờ đây đã có chỗ cho những điều khờ dại và cả những lúc chẳng biết gì, cho phép mọi thứ được chông chênh mà không cần vội vàng nắn chỉnh cho ngay ngắn.

Tôi thường nghĩ về điều này khi đứng xem cậu con trai bảy tuổi diễn kịch ở trường. Thằng bé được giao một vai trái ngược hoàn toàn với tính cách của mình – một chú bướm, với đôi cánh lụa và chẳng hiểu sao lại đội thêm một chiếc mũ rơm. Tôi thì mệt mỏi, còn con thì ngượng ngùng đến phát ngất, nhưng rồi cả hai chúng tôi đều đã có mặt ở đó.

Tại một khoảnh khắc nào đó giữa buổi diễn, con tìm thấy tôi dưới hàng ghế khán giả và ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Những gì truyền qua giữa hai mẹ con lúc ấy không hẳn là sự trấn an, mà giống như một lời cho phép: không phải để trốn chạy, cũng không phải để gò ép khoảnh khắc này thành một điều gì đó thật trang trọng, mà là để cứ ở lại với cảm xúc ấy và xem điều gì sẽ xảy đến tiếp theo.

Thế rồi con bắt đầu nhập cuộc. Con làm chậm lại các động tác vũ đạo. Con thêm thắt vài cử chỉ điệu đà đầy chuẩn xác, một cái nhướng mày hóm hỉnh, một cái giơ ngón tay cái đúng nhịp phách. Có phải con vừa lắc hông không nhỉ? Con để cho sự lóng ngóng của bộ trang phục trở thành một phần của màn trình diễn thay vì cố gắng gồng mình vượt qua nó. Những gì vốn dĩ gây bối rối bỗng chốc trở nên hài hước. Khán giả cười rộ lên, không phải tiếng cười lịch sự hay gượng gạo, mà là sự nhẹ nhõm và đồng cảm. Đúng rồi, chuyện này thật nực cười. Và đúng thế, nó cũng thật tuyệt vời làm sao.

Tôi nghĩ, đây chính là điều mà Winnicott muốn nói. Không phải cô độc là một đức hạnh hay độc lập là một thành tựu về đạo đức, mà chính việc được ai đó bao bọc một cách tin cậy đã giúp ta có thể thả lỏng để trở về với chính mình. Nó tạo ra một sự an toàn nội tại đủ lớn để ta dám vui chơi, dám ngẫu hứng, dám hiện diện mà không cần sự canh chừng thường trực. Theo thời gian, trải nghiệm được đồng hành ấy cứ tiếp diễn mãi trong tâm khảm, trở thành một cách để ta bầu bạn với chính bản thân mình.

Ta không chỉ học điều này một lần duy nhất thuở ấu thơ. Ta vẫn luôn phải học đi học lại nó, thường là qua những mất mát và nhọc nhằn. Sự cô độc, nếu hiểu theo cách này, không phải là sự đối nghịch với sự gắn kết. Nó chính là một trong những cách thầm lặng nhất để sự gắn kết ấy mãi mãi được vẹn nguyên.

Tác giả

Elizabeth Burns Dyer không chỉ là một người cầm bút, một nhà tham vấn tâm lý, mà còn là một nghiên cứu sinh tiến sĩ tâm lý học lâm sàng với tấm bằng Tiến sĩ Sử học trong tay. Những trang viết của cô dấn thân vào hành trình khám phá sự chở che, lòng cậy trông, và cách mà đời sống riêng tư của mỗi người đang âm thầm gánh vác thay cho những đứt gãy của các thiết chế xã hội. Các tác phẩm của cô đã và đang ra mắt bạn đọc trên các tạp chí như The Nation, Dwell, và Zócalo Public Square.

Biên tập bởi Christian Jarrett 

Nguồn: The capacity to be alone depends on the sense of being held | Tạp chí Psyche.co

menu
menu