Thói quen số 1 của những người tự tin

thoi-quen-so-1-cua-nhung-nguoi-tu-tin

Tự tin chưa bao giờ là điểm vạch xuất phát. Nó vốn dĩ là trái ngọt ở cuối hành trình.

Hãy thử nhớ lại lần gần nhất bạn ngập ngừng không dám giơ tay trong một cuộc họp, chần chừ chưa gửi đi lá thư ngỏ ý hợp tác, hay im lặng giữa một căn phòng đầy những người bạn hằng kính trọng. Lúc đó, có phải bạn đang chờ đợi một cảm giác sẵn sàng, một sự chắc chắn mười mươi? Nói cách khác, bạn cũng như số đông chúng ta, đang ngồi đợi sự tự tin tìm đến. Nhưng theo các nghiên cứu tâm lý học suốt nhiều thập kỷ qua, chính sự chờ đợi ấy lại là rào cản lớn nhất khiến sự tự tin mãi ngoài tầm với.

Trong thế giới tâm lý học, tự tin có lẽ là một trong những khái niệm bị hiểu lầm nhiều nhất. Chúng ta thường xem nó như một thứ xúc cảm tự đến rồi đi, hoặc là món quà trời ban, bằng không thì ta sẽ phải chịu phần thua thiệt mãi mãi. Thế nhưng, góc nhìn này dường như đã bị đảo ngược. Các nghiên cứu liên tục chỉ ra rằng: tự tin không phải là điều kiện cần để bắt đầu hành động. Nó là quả ngọt sinh ra từ chính hành động đó.

Huyền thoại mang tên "Cảm giác tự tin"

Mô hình tự tin thụ động thường thì thầm trong đầu bạn những lời thế này: “Cứ đợi mình thấy tự tin đã, rồi mình mới làm.” Với hầu hết chúng ta, lập luận ấy nghe thật hợp lý, thậm chí còn mang dáng dấp của sự chín chắn, trách nhiệm. Dại gì mà lao mình vào một việc khi bản thân chưa sẵn sàng?

Ngặt nỗi, sự tự tin lại không vận hành theo lối đó. Nó không tự nhiên từ trên trời rơi xuống chỉ vì ta đã kiên nhẫn đợi chờ hay chuẩn bị đủ đầy. Theo nhà tâm lý học Albert Bandura, người có công trình nghiên cứu về "niềm tin vào năng lực bản thân" (self-efficacy) được trích dẫn nhiều bậc nhất lịch sử ngành, nguồn cội mạnh mẽ nhất của sự tự tin chính là điều ông gọi là "trải nghiệm làm chủ": sự tích lũy những minh chứng thực tế có được từ việc ta thực sự bắt tay vào làm.

Trong nghiên cứu nền tảng của mình, Bandura đã chứng minh điều này qua một loạt thử nghiệm nổi tiếng trên những người mắc hội chứng sợ rắn nghiêm trọng. Kết quả ông thu được vô cùng kinh ngạc: những người dám chạm vào nỗi sợ của mình, dám bước về phía thứ khiến họ bất an, lại là những người có sự bứt phá ngoạn mục về lòng tự tin và niềm tin vào bản thân sau đó. Sự tự tin ấy không đến từ lời an ủi, cũng chẳng nhờ sự dẫn dắt suông, mà nó được thắp lên từ chính hành động.

 Hệ quả từ điều này mang một sức nặng rất lớn. Bộ não của chúng ta không hề tái đánh giá năng lực của bản thân dựa trên những dự định tốt đẹp trong đầu, cũng chẳng dựa vào những lời động viên từ người khác, hay những tháng ngày âm thầm chuẩn bị một mình. Nó chỉ thay đổi cái nhìn khi chúng ta thực sự hành động. Hiểu theo cách này, sự tự tin chính là một tấm văn bằng được xây đắp từ những minh chứng thực tế, và cách duy nhất để thu thập những minh chứng ấy là bước đi.

Image: Source: Tabitha Turner / Unsplash

Thói quen tạo nên sự khác biệt của những người tự tin

Thói quen tách biệt một người thực sự tự tin với phần còn lại chính là: họ chọn hành động ngay giữa lòng sự bất an, thay vì ngồi đợi cho cảm giác bất an ấy qua đi. Xin đừng nhầm lẫn thói quen này với sự liều lĩnh, liều mạng hay cố tình kìm nén những hoài nghi về chính mình.

Những người tự tin không phải là một bộ tộc đặc biệt sinh ra đã không biết sợ hãi. Khoa học chưa bao giờ ủng hộ câu chuyện hoang đường ấy. Điều mà các nghiên cứu chứng minh là người tự tin có một mối quan hệ hoàn toàn khác biệt với sự bấp bênh, vô định. Nói một cách giản dị, qua năm tháng rèn luyện, họ đã học được cách bước đi song hành cùng nỗi sợ, chứ không đứng lại đợi nỗi sợ tan biến rồi mới đi.

Các nghiên cứu về "hội chứng không chịu nổi sự bất định" (intolerance of uncertainty), tức là mức độ một người cảm thấy kiệt quệ và đau khổ trước những điều mơ hồ, sẽ giúp chúng ta thấu hiểu vì sao điều này lại quan trọng đến thế.

Các tiểu luận được xuất bản trên những tạp chí tâm lý học uy tín đều chỉ ra một mẫu số chung: những ai càng chật vật khi đối mặt với sự mơ hồ thì chất lượng cuộc sống càng giảm sút, tư duy càng kém linh hoạt và họ có xu hướng né tránh những trải nghiệm mới.

Nhưng mấu chốt nằm ở chỗ, liều thuốc chữa lành ở đây không phải là xóa sạch đi sự bấp bênh của cuộc đời. Mà đó là việc ta tự cho phép mình tiếp xúc liên tục, lặp đi lặp lại với những điều chưa rõ ràng, cho đến khi cảm giác khó chịu ấy trở nên quen thuộc và nằm trong tầm kiểm soát. Suy cho cùng, tự tin chính là một quá trình rèn luyện để dung nạp và bao dung với cả những điều bất định.

Hình ảnh một người tự tin giữa đời thực

Hãy thử hình dung về hai cộng sự tài năng ngang nhau trong một buổi họp đội ngũ. Một người xung phong dẫn dắt một dự án mới dù trong lòng chưa hoàn toàn chắc chắn mình có thể gánh vác nổi hay không. Người kia, dù năng lực chẳng hề kém cạnh, lại chọn lui lại chờ đến khi bản thân cảm thấy chuẩn bị chu đáo hơn. Sáu tháng trôi qua, người thứ nhất đã có cho mình một bảng thành tích thực tế cùng một cái nhìn mới mẻ, chính xác hơn về thực lực của bản thân. Người thứ hai vẫn ôm giữ những dự định, với một niềm tin vào chính mình chẳng chút đổi thay, được xây lên từ sự lặng im và bất động.

Lớp mặt cắt này cũng hiện lên tương tự trong những câu chuyện giao tế thường nhật. Một người cảm thấy vô cùng lạc lõng, lo âu trước những sự kiện kết nối công việc nhưng vẫn chọn bước đến; họ chủ động mở lời bắt chuyện với một ai đó bất chấp cảm giác bồn chồn trong ngực, để rồi theo thời gian, sự tự nhiên cứ thế được khơi dòng. Ngược lại, người cứ mãi đợi đến khi tâm trạng thực sự thoải mái mới chịu dấn thân sẽ chẳng bao giờ gom nhặt đủ chất liệu thực tế để bộ não tái đánh giá chính mình. Sự chờ đợi ấy, trớ trêu thay, lại càng làm trầm trọng thêm nỗi sợ hãi mà nó vốn dĩ muốn xoa dịu.

Mảnh ghép của sự sáng tạo và dấn thân: Điều này đúng với cả những bước đi mạo hiểm trong hành trình sáng tạo hay khởi nghiệp.

Người dám gửi đi bản thảo khi nó còn chưa hoàn mỹ, người dám bắt đầu hành trình khi thời cơ chưa hẳn là lý tưởng, người dám gọi một cuộc điện thoại quyết định trước khi sự chắc chắn kịp định hình, đó mới là người nhận về những phản hồi. Có phản hồi, ta mới có thể tinh chỉnh; và từ sự tinh chỉnh ấy, hình thái duy nhất của một sự tự tin bền vững mới được khai sinh: một sự tự tin được kết tinh từ những minh chứng có thật của cuộc đời.

Công tắc bạn cần bật để trở nên tự tin hơn

Có một nút thắt thần kinh rất thú vị mà chúng ta nên thấu hiểu ở đây. Về mặt sinh lý học, những trải nghiệm thể chất của sự lo âu và sự hào hứng gần như là hai anh em sinh đôi. Cả hai đều làm nhịp tim đập nhanh dồn dập, đẩy các giác quan vào trạng thái cảnh giác cao độ và kích hoạt một luồng năng lượng mạnh mẽ dâng trào trong cơ thể. Điều duy nhất khiến chúng rẽ lối chính là cái nghĩa lý, là cái "nhãn dán" mà tâm trí ta gán cho chúng.

Một nghiên cứu vào năm 2014 của một nhà khoa học tại Đại học Harvard, được công bố trên Tạp chí Tâm lý học Thực nghiệm, đã phát hiện ra một điều kỳ diệu: những người biết "tái định nghĩa" nỗi lo âu trước giờ G thành sự hào hứng, chỉ bằng cách thầm thì với chính mình rằng “mình đang rất hào hứng” thay vì cố ép bản thân phải bình tĩnh lại, đã có màn thể hiện tốt hơn rõ rệt trong mọi thử thách, từ diễn thuyết trước đám đông, đàm phán thương lượng cho đến cả những bài kiểm tra toán học.

Luồng năng lượng bồn chồn ấy không hề biến mất, nhưng ý nghĩa của nó đã hoàn toàn đổi thay. Và chính sự thay đổi trong tâm thức ấy đã xoay chuyển cả hành vi của họ. Đây cũng là điều mà những người tự tin đã học được, dù đôi khi chỉ là một phản xạ tự nhiên trong vô thức. Tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực trước một cuộc đối thoại cam go không phải là một tấm biển báo "Dừng lại". Đó là tín hiệu cho thấy khoảnh khắc này thực sự quan trọng với cuộc đời bạn. Họ đã thôi không để những hồi chuông báo động ấy định đoạt các quyết định của mình. 

Tác giả: Mark Travers Ph.D.

Nguồn: The No. 1 Habit All Confident People Have | Psychology Today

menu
menu