Sự tiếp nối của cách giáo dục qua các thế hệ

su-tiep-noi-cua-cach-giao-duc-qua-cac-the-he

Người ta vẫn bảo rằng chúng ta sẽ không giẫm vào vết xe đổ của thế hệ trước, mà sẽ vấp phải những sai lầm theo cách khác.

Biết bao người làm cha, làm mẹ từng lớn lên trong những mái nhà không trọn vẹn đều mang theo mình một lời thệ nguyện: Họ sẽ không đối xử với con cái như cách cha mẹ đã từng đối xử với họ. Viễn cảnh ấy thật mạnh mẽ và rõ ràng, nhưng đôi khi, phía sau quyết tâm "phải khác đi" ấy lại là một khoảng trống định hướng, liệu đâu mới là lối đi đúng đắn?

Là một nhà phân tâm học với hơn hai mươi năm trong nghề, và sâu sắc hơn cả là với tư cách một người làm cha làm mẹ, tôi đã chứng kiến điều này lặp đi lặp lại dưới nhiều dáng vẻ khác nhau. Tất cả chúng ta đều mang trong lòng một chiếc bóng của tổ ấm thuở ngây thơ, chiếc bóng ấy ẩn hiện trong vô thức và luôn tìm cách âm thầm định hình cuộc sống của ta.

Những xung đột tâm lý thường thôi thúc chúng ta làm điều đúng đắn, nhưng lại bằng một phương thức sai lầm. Điều khiến lời thệ nguyện năm xưa trở nên khó vẹn toàn không phải vì cha mẹ có tâm địa xấu xa. Sự tổn thương tự nối dài chính bằng sự bủa vây của vô minh và sự vô minh ấy luôn có những lối mòn rất riêng mà ta có thể nhận diện, gọi tên và từng bước tháo gỡ.

Những lối mòn ẩn giấu: So sánh, Phủ nhận và Trốn tránh

Sự tiếp nối của những tổn thương trong cách nuôi dạy con cái qua các thế hệ thường hiển hiện qua ba lối mòn, chúng hay đan cài vào nhau hoặc thay nhau làm chủ tâm thức ta tùy thuộc vào từng thời điểm và hoàn cảnh.

Sự so sánh. Người làm cha mẹ thường tự đặt mình lên bàn cân với đấng sinh thành ngày trước để thấy mình đã làm tốt hơn: Họ lo cho con cái miếng ăn giấc ngủ, chu cấp đủ đầy, và không dùng đến đòn roi. Những nền tảng cơ bản ấy là có thật và vô cùng ý nghĩa, nhưng vô tình, họ lại biến cái "nền nhà" ấy thành cái "trần nhà" giới hạn chính mình. Họ chẳng thể nhìn ra những điều mình đang thiếu sót: sự ân cần, dịu dàng, thấu hiểu, và nỗ lực nhìn ngắm thế giới qua đôi mắt của một đứa trẻ. Họ không cảm nhận được nét mặt của chính mình, không nghe thấy giọng điệu của bản thân, vốn có thể đang tràn ngập sự áp đặt, thất vọng hay hằn học, trong khi bản thân họ lại nhạy cảm đến nhói lòng trước từng cử chỉ không lời của người khác.

Sự phủ nhận. Bản sắc của người làm cha mẹ lúc này được xây dựng hoàn toàn xung quanh những chữ "không", không đòn roi, không sa đọa rượu chè, không lặp lại những gì mình từng phải gánh chịu. Thế nhưng, khoảng trống mà những chữ "không" ấy để lại chẳng thể tự lấp đầy bằng sự ấm áp. Thay vào đó, nó thường bị bủa vây bởi sự bực dọc, chủ nghĩa hoàn hảo, cảm giác khiên cưỡng, sự nôn nóng, hay đôi khi là sự nuông chiều trong tội lỗi, hoặc những hành vi bù đắp thái quá. Họ có thể chu cấp thật đủ đầy ở một khía cạnh nào đó, nhưng lại vô tình quên mất rằng tiền tài vật chất chẳng thể thay thế cho hơi ấm, sự nâng đỡ hay lòng bao dung.

Thông thường, những bậc cha mẹ này đang áp đặt lên con cái mình chính những kỳ vọng khắt khe mà họ từng buộc phải tự gánh vác khi còn nhỏ, những ngày tháng thiếu vắng sự vỗ về về cảm xúc, thậm chí là cả chỗ dựa vật chất, và thường phải đối mặt không chỉ với sự bỏ bê mà còn là cả sự bạo hành. Cái tiêu chuẩn nghiệt ngã giúp họ sinh tồn năm xưa nay lại trở thành chiếc thước đo họ đặt lên vai con mình, một cách vô thức. Và chỉ khi nhận ra được điều đó, một chương mới chữa lành mới có thể bắt đầu.

Sự trốn tránh. Lối mòn thứ ba này mang tổn thương sâu sắc nhất về mặt tâm lý: trốn tránh chính thiên chức của mình. Những người cha, người mẹ ấy thường không có một hình mẫu trọn vẹn về việc làm cha mẹ là thế nào, và cay đắng thay, họ thậm chí còn không biết rằng mình đang thiếu đi khái niệm ấy. Họ có thể làm tốt vai trò của một người chu cấp kinh tế, hay một người quán xuyến việc nhà, nhưng hai tiếng "cha" hay "mẹ" thiêng liêng lại là điều khiến họ nhói lòng mỗi khi thực sự nghĩ đến. Họ có lẽ chưa bao giờ tự hỏi thiên chức ấy thực sự ý nghĩa là gì, và nếu có hỏi, họ cũng thật khó để thấu cảm khi chưa từng được chở che trong một tình yêu như thế.

Đôi khi, họ gom góp nhặt nhạnh từng mảnh ký ức từ những người nuôi dưỡng khác, một người thầy, cha mẹ của bạn bè, hay một người cô, người chú, để học cách hành xử sao cho giống một người làm cha làm mẹ. Nhưng một điểm tựa tinh thần gắn kết và vẹn nguyên thì mãi lung lay, một điểm tựa lẽ ra phải được vun đắp từ một mối quan hệ an yên, vững chãi và đủ đầy với chính đấng sinh thành của họ. Thế nhưng, điều kỳ diệu và đáng trân quý là, chỉ cần có thời gian và một môi trường chữa lành phù hợp, con người ta vẫn có thể tái sinh và dựng xây nên một tổ ấm kiên cường từ chính những mảnh vỡ vụn lượm lặt ấy.

Kế thừa những phần thưởng từ quá khứ

Khi sự tỉnh thức muộn màng cuối cùng cũng chạm đến, nó thường kéo theo một cảm giác tội lỗi và hối hận sâu sắc; lúc này, lòng trắc ẩn với chính mình, thứ xoa dịu duy nhất, lại trở nên thật xa xỉ. Cảm giác ấy vừa lạ lẫm, vừa bị bủa vây bởi điều mà các nhà nghiên cứu gọi là "nỗi sợ sự trắc ẩn". Đây là một hiện tượng tâm lý đã được chứng minh: những người có xu hướng khắc kỷ và hay tự chỉ trích bản thân không chỉ thấy việc bao dung với chính mình là khó khăn, mà họ còn xem đó là một mối đe dọa thực sự. Như thể chỉ cần buông lơi sự khắt khe ấy một chút thôi là cả thế giới bên trong họ sẽ sụp đổ, và cái áp lực nội tâm dai dẳng kia chính là sợi dây duy nhất đang giữ cho mọi thứ không bị tan tành (Gilbert và các cộng sự, 2011). Hiểu được điều này tự thân nó đã là một liều thuốc, hóa ra việc ta kháng cự lòng trắc ẩn không phải là một khiếm khuyết về nhân cách, mà là một hệ quả tất yếu từ một quá khứ thương tổn cụ thể; và cũng như mọi điều có thể dự đoán trước, tổn thương này hoàn toàn có thể được nhận diện và chữa lành.

Đứa trẻ lớn lên trong những gia đình như thế chẳng hề biết rằng cuộc sống có thể diễn ra theo một cách khác. Ta không thể biết những gì mình chưa từng được thấy; thế nên, đứa trẻ buộc phải học cách tự đóng bớt các giác quan để có thể bình yên sống dưới một mái nhà. Bởi để sinh tồn, việc đeo lên mình một chiếc "kính che mắt" là điều bắt buộc. Đôi khi, một chuyến ghé thăm nhà người khác có thể làm rạn nứt lớp màng bọc ấy, nếu đứa trẻ có thể kết nối được dòng cảm xúc của mình, nhưng thông thường là không thể, vì chiếc kính che mắt vẫn đang làm quá tốt phần việc của nó.

Thay vào đó, những gì được hình thành lại là một dạng năng lực thấu cảm vô cùng đặc biệt, một sự nhạy cảm tinh tế trước từng biểu cảm nhỏ nhặt hay ý định của người khác. Khả năng này được mài dũa từ chính bản năng sinh tồn, và có thể giúp ích rất nhiều cho họ trong cuộc sống sau này. Sự nhạy cảm ấy tồn tại song hành cùng một sự đứt gãy kết nối với chính cảm xúc của bản thân trong hiện tại; họ thường có xu hướng đóng băng tâm lý mỗi khi cố gắng bày tỏ những điều quan trọng. Đó là những góc tối lớn trong tâm hồn mà họ có mơ hồ nhận ra, nhưng rồi chọn cách né tránh, quen dần với nó, và cuối cùng là lãng quên. Những lối mòn tâm lý này tuy kiên cố nhưng không phải là bất biến; và chính sự nhạy cảm tinh tế kia, món quà được đánh đổi bằng cả một thời thơ ấu gian truân, sẽ trở thành nguồn lực quý giá nhất khi họ cuối cùng cũng biết cách hướng nó vào bên trong để thấu cảm với chính mình.

Trong tâm lý học, điều này được gọi là "năng lực phản chiếu của cha mẹ", khả năng vừa thấu suốt được thế giới nội tâm của chính mình, vừa đồng thời ôm ấp được thế giới nội tâm của con trẻ. Khi năng lực ấy bị bóp méo bởi những tổn thương chưa được chữa lành trong quá trình trưởng thành, vết thương thế hệ sẽ tiếp tục truyền lại, không phải vì cha mẹ cố tình, mà vì họ thiếu đi sự tỉnh thức (Wang, 2022; Moser và các cộng sự, 2019). Nhưng một khi sự tỉnh thức được khơi dậy, cục diện của mọi tổn thương sẽ hoàn toàn thay đổi.

Uốn cong một lối mòn

Sự gián đoạn của những tổn thương thế hệ hiếm khi được bắt đầu từ sự tò mò thuần túy. Nó thường nhen nhóm từ khát khao muốn sửa chữa những rạn nứt trong mối quan hệ. Câu hỏi "Làm sao để đập tan lối mòn này?" là một khởi đầu tốt, nhưng xét cho cùng, lại chưa thực sự đúng hướng. Bởi chính việc "đập vỡ" hay "làm gãy" mọi thứ vốn dĩ đã là một tổn thương rồi.

Uốn nắn, chuyển dịch, vun đắp thói quen, tập buông bỏ những điều cũ kỹ để học lại những điều mới mẻ, đây mới là những phương cách thực sự chuyển hóa tâm thức. Dẫu rằng, trên cái nền của một hành trình kiên định dài lâu, đôi khi vẫn có những khoảnh khắc thức tỉnh bất chợt và những bước ngoặt thay đổi hành vi rõ rệt. Nỗi sợ phải phơi bày sự tổn thương đã giấu nhẹm đi phần lớn nỗ lực này, khiến những người xung quanh dễ hiểu lầm rằng họ thật ích kỷ hay quá bận rộn. Bản thân quá trình học hỏi này cần phải mang một dáng vẻ hoàn toàn khác: chậm rãi chứ không vội vã áp lực, là một sự đầu tư trọn đời chứ không phải là chuỗi những chiến thắng chớp nhoáng. Đó là một chặng đua marathon trường kỳ, chứ không phải là những cú chạy nước rút nối tiếp nhau.

Đôi khi, người ta chọn cách thay đổi hành vi trước, rồi mới từ từ nhìn thấy quả ngọt từ phản ứng của con trẻ. Trải nghiệm ấy có thể lay động tận tâm can khi họ nhận lại một phản hồi rất khác, một phản hồi tràn ngập yêu thương, là tiếng cười hạnh phúc chứ không phải là nỗi sợ hãi co mình.

Những ai thực lòng muốn nhìn nhận lại bản thân và dành thời gian cho điều đó chắc chắn sẽ tiến bước. Dẫu vậy, việc chứng kiến con trẻ lớn lên mỗi ngày đôi lúc giống như một chiếc đồng hồ đang tích tắc đếm ngược, vô tình tạo nên áp lực và khiến chúng ta có những phút giây bế tắc đến muốn buông xuôi. Đôi khi sẽ có những chuyển biến bất ngờ và mọi nỗ lực đều được đền đáp xứng đáng; nhưng hãy nhớ rằng, đạt được 70% chặng đường sau vài năm vẫn tốt hơn nhiều so với việc chỉ thay đổi chút ít qua từng tháng rồi lại rơi vào lối cũ.

Lời thệ nguyện "phải khác đi" năm nào sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu thiếu đi một chỗ dựa tinh thần đúng đắn, đặc biệt là đối với những người luôn mang nặng chủ nghĩa hoàn hảo và khắt khe với chính mình. Chỉ khi những tổn thương bắt đầu được gọi tên và phơi bày ra ánh sáng, sự thay đổi mới thực sự hiển hiện. Và chính những bản năng sinh tồn mạnh mẽ từng gìn giữ lối mòn cũ năm xưa, giờ đây khi được định hướng lại, sẽ trở thành thứ sức mạnh kiên cường nhất giúp họ cắt đứt vòng lặp tổn thương mãi mãi.

References

Brenner, G. H. (2019, September 28). The effect of abuse on maternal parenting and brain activity. Psychology Today. psychologytoday.com/us/blog/experimentations/201909/the-effect-abuse-maternal-parenting-and-brain-activity 

Brenner, G. H. (2020, September 26). What parenting styles set kids up for emotional abuse? Psychology Today. psychologytoday.com/us/blog/experimentations/202009/what-parenting-styles-set-kids-emotional-abuse

Borg, M. B., Jr., Brenner, G. H., & Berry, D. (2015). Irrelationship: How we use dysfunctional relationships to hide from intimacy. Central Recovery Press. (ISBN: 978-1-942094-00-5) 

Gilbert, P., McEwan, K., Matos, M., & Rivis, A. (2011). Fears of compassion: Development of three self-report measures. Psychology and Psychotherapy: Theory, Research and Practice, 84(3), 239–255. doi.org/10.1348/147608310X526511

Wang, X. (2022). Intergenerational effects of childhood maltreatment: The roles of parents’ emotion regulation and mentalization. Child Abuse & Neglect, 128, 104940. doi.org/10.1016/j.chiabu.2021.104940 (sciencedirect.com)

Moser, D. A., Suardi, F., Sancho Rossignol, A., Vital, M., Manini, A., Rusconi Serpa, S., & Schechter, D. S. (2019). Parental reflective functioning correlates to brain activation in response to video-stimuli of mother–child dyads: Links to maternal trauma history and PTSD. Psychiatry Research: Neuroimaging, 293, 110985. doi.org/10.1016/j.pscychresns.2019.09.005 (access.archive-ouverte.unige.ch)

Tác giả: Grant Hilary Brenner MD, DFAPA

Nguồn: The Intergenerational Transmission of Parenting | Psychology Today

menu
menu