Cứu với! Não quá tải rồi
Khi công việc chồng chất, khả năng xoay xở của bộ não lại giảm xuống. Những chiến lược từ lĩnh vực thần kinh–công thái học có thể giúp ta trút bớt gánh nặng nhận thức.
Hầu như bậc cha mẹ nào cũng có một phiên bản rất riêng của cảnh tượng này, đặc biệt trong thời kỳ đại dịch COVID-19: buổi tối sau một ngày làm việc dài. Bạn bắt đầu nấu bữa ăn, nhưng cảm giác chẳng khác nào cố nấu nướng giữa một trận bão tuyết. Lũ trẻ khóc ầm lên, nồi mì trên bếp sôi trào, điện thoại rung liên hồi với cuộc gọi mà bạn mong đợi sau buổi phỏng vấn xin việc, chuông cửa vừa reo, và trong nhà chỉ có mỗi mình bạn là người lớn.
Giờ hãy thử tưởng tượng có ai đó bước đến giữa lúc hỗn độn ấy và nói: “Này, tôi có thanh sô-cô-la đây. Tôi có thể đưa ngay cho bạn cùng với năm đô, hoặc nếu bạn đợi nửa tiếng, tôi sẽ đưa sô-cô-la và mười đô.” Trong lúc bạn đang nhẹ nhàng gỡ một đứa trẻ bám chặt vào chân mình và với tay tắt bếp, bạn đáp: “Cứ để sô-cô-la với năm đô lên bàn rồi đi đi.” Quyết định chớp nhoáng ấy giúp bạn bớt đi một điều phải nghĩ – và bớt đi một người đứng chật trong bếp. Bạn chẳng còn thì giờ để cân nhắc lựa chọn tưởng như tốt hơn: cùng một thanh sô-cô-la nhưng gấp đôi số tiền, giá như bạn có thể chờ.
Bây giờ hãy hình dung có những hệ thống hỗ trợ giúp gánh bớt phần nào sức nặng đó. Một chiếc bếp tự động hạ lửa khi cảm biến nhận ra nước đang sôi trào. Một trợ lý kỹ thuật số nhận cuộc gọi sau ba hồi chuông và nói: “Xin lỗi, tôi đang bận vài phút, vui lòng gọi lại sau năm phút.” Một cảm biến trước hiên nhà phát ra giọng nói nghiêm nghị đã ghi sẵn (kèm có thể là tiếng chó sủa vang dội) rằng: “Không tiếp thị.” Còn lũ trẻ thì… ừm, chuyện đó vẫn chưa có công nghệ nào lo nổi, ít nhất là lúc này. Nhưng nếu mọi thứ khác đã được giao cho những “trợ thủ” số, bạn hẳn có thể bình tĩnh hơn để trì hoãn thanh sô-cô-la và nhận được gấp đôi số tiền.
Những bậc cha mẹ quá tải không phải là những người duy nhất cần vài món đồ giúp dỡ bớt hành lý tinh thần. Có một nghiên cứu yêu cầu các phi công bấm nút mỗi khi họ nghe thấy tiếng chuông báo khủng hoảng trong buổi mô phỏng chuyến bay; vậy mà trong hơn một phần ba trường hợp, các phi công tình nguyện đã không hề nhận ra âm thanh ấy, bản thân điều đó cũng đủ đáng báo động. Các nhà nghiên cứu còn tiến hành đo điện não đồ (EEG) của họ trong quá trình thử nghiệm. Kết quả EEG cho thấy, trong não bộ, những đòi hỏi dồn dập của kịch bản bay căng thẳng đã tạo nên một “nút thắt cổ chai” về nhận thức mà ngay cả tiếng báo động khẩn cấp cũng không thể xuyên qua.
Các nhà nghiên cứu thần kinh–công thái học đang tìm cách phá vỡ sự hỗn loạn ấy. Họ theo dõi những gì diễn ra trong cơ thể khi sự chú ý, chức năng điều hành, cảm xúc và tâm trạng của ta lên xuống thất thường. Họ thậm chí còn xem xét cách các phản ứng sinh lý thay đổi đồng bộ với nhau ra sao.
Những học giả trong lĩnh vực này mong muốn cải thiện mức độ an toàn ở các môi trường như hàng không, nơi những bi kịch đời thực có thể bắt nguồn từ sai sót con người. Họ dùng các phương pháp của khoa học thần kinh để hiểu bộ não đang làm việc thế nào và vì sao đôi khi nó phạm phải những lỗi lầm hay bỏ sót mang tính thảm họa, chẳng hạn như không nhận ra một tiếng chuông báo động dồn dập và chói gắt. Khi các mô hình ấy được nhận diện, máy móc có thể được dùng để phát hiện và đồng hành cùng “đối tác” con người, giúp san sẻ gánh nặng và ngăn những kết cục không mong muốn.
Chúng ta cần đến sự trợ giúp bởi nguồn lực của mình vốn hữu hạn. Bộ não con người không phải là một cỗ máy xử lý thông tin quay vù vù vô tận. Nó là một cấu trúc sống, giống như cây sồi hay chú chim cánh cụt; nó chỉ có một dung lượng nhất định, được nuôi bằng một lượng năng lượng cũng hữu hạn. Khối lượng công việc nhận thức chính là phần tài nguyên mà ta phải dùng để đưa ra một quyết định hay hoàn thành một nhiệm vụ.

Working and schooling at home, Miami, Florida, 8 September 2020. Photo by Jayne Gershen/Bloomberg/Getty
Trong trường hợp này, hệ thống suy xét nằm ở phía trước não, nơi gọi là vỏ não trước trán. Tình trạng quá tải của nó khi chịu áp lực có thể được thấy rất rõ qua bài kiểm tra N-back, một bài tập dồn ép trí nhớ làm việc. Trí nhớ làm việc là “khoảng không” nơi ta phác giữ thông tin để dùng ngay tức thì, chẳng hạn như mã pin của cuộc họp Zoom mà ta sắp tham gia. Trong bài N-back, người làm bài phải cố nhớ xem một mục trong chuỗi có phải là thứ mình đã gặp trước đó hay không. Ban đầu khá dễ với chỉ một mục, nhưng khi số lượng tăng lên, không ít vỏ não trước trán chạm đến giới hạn và bắt đầu hoạt động kém hiệu quả. Có nghiên cứu cho thấy khi con số “n” trong chuỗi lên tới bảy, vỏ não trước trán gần như buông tay đầu hàng. Kết quả là khả năng ra quyết định sụp đổ.
Bởi thế, mỗi khi bị quá tải, ta dễ đưa ra những lựa chọn bốc đồng hơn, không còn đủ sức để suy xét thấu đáo như mong muốn.
Ai trong chúng ta cũng từng nếm trải cảm giác quá tải nhận thức ấy. Khi có quá nhiều đòi hỏi đổ dồn lên sự chú ý, trí nhớ và chức năng điều hành, ta cạn kiệt không gian trong đầu, bắt đầu bỏ sót nhiều thứ, làm hỏng kế hoạch và phạm những sai lầm then chốt.
Ngày nay, nhân loại đang phải đối diện với mức độ quá tải lớn hơn bất cứ thời nào trước đây. Bạn phải đủ lớn tuổi mới còn nhớ được quãng thời gian mà với nhiều người, công việc kết thúc lúc 5 giờ chiều thứ Sáu và hiếm khi quay lại quấy nhiễu cho tới sáng thứ Hai. Thời ấy đã xa rồi. Bây giờ, đồng nghiệp hiện diện ngay trong không gian riêng, thậm chí trong túi áo, suốt 24 giờ mỗi ngày, 365 ngày mỗi năm nhờ email, tin nhắn, mạng xã hội. Và không chỉ người ở chỗ làm. Người từ khắp nơi đều có mặt trong đời sống của ta, mang theo cơn lũ thông tin đổ vào não từ muôn nhánh sông nhỏ trên chiếc điện thoại thông minh.
Từ góc nhìn thần kinh–công thái học, ta có thể bắt đầu tìm cách làm nhẹ bớt gánh nặng này, bằng những “trợ cụ” dù là cơ học, số hóa hay rất tự nhiên. Dẫu chính các thiết bị ấy cũng là đường dẫn cho không ít sự quá tải, chúng đồng thời có thể trở thành giải pháp cần thiết để giảm bớt áp lực của thế giới hiện đại.
Những món đồ hỗ trợ đã giải phóng tâm trí bao thế hệ khỏi việc phải tự mình lần theo dòng chảy thời gian. Có lẽ chúng xuất hiện từ thuở con người biết dùng công cụ. Cuốn lịch cổ xưa nhất từng được phát hiện cho thấy tổ tiên ta đã theo dõi chu kỳ Mặt trăng từ 10.000 năm trước, không chỉ dựa vào trí nhớ mà còn nhờ vào những hố nhỏ được đào cẩn thận, xếp thành hình các pha trăng. Công trình lịch bằng đất ấy, được tìm thấy ở Scotland năm 2013, thậm chí còn đánh dấu cả ngày đông chí.
Người Hy Lạp cổ đại đã đưa mọi thứ tiến thêm một bậc cách đây vài thiên niên kỷ với một cỗ máy phức tạp mang tên cơ chế Antikythera, đôi khi được gọi là chiếc máy tính cổ nhất thế giới mà ta từng biết. Nó có thể được dùng để theo dõi chu kỳ Mặt trăng, vị trí các hành tinh, thậm chí cả những vòng lặp của các kỳ thi đấu như Thế vận hội Olympic. Từ bàn tính gảy cho đến sự ra đời của máy tính bỏ túi điện tử, những công cụ ấy đã giải phóng tâm trí bao thế hệ khỏi việc phải tự mình lần mò dòng chảy thời gian hay thực hiện những phép tính dù khá đơn giản, điều đó tốt hay xấu còn tùy cách nhìn. Và ngày nay, chúng ta lại càng cần đến chúng hơn bao giờ hết.
Dẫu các nghiên cứu hiện đại sử dụng những thiết bị tinh vi để xác định nơi sóng não đổi nhịp hay nhịp tim tăng lên, thực ra ta chẳng cần công nghệ mới biết lúc nào, nói một cách chung nhất, bộ não mình đang cần một “người bạn” hỗ trợ theo lối thần kinh–công thái học.
Người bạn ấy không nhất thiết phải là máy móc. Các nghiên cứu cho thấy những người ở bên nhau – trong tình yêu, công việc hay học tập – có thể dần xuất hiện sự đồng điệu trong sóng não, rung lên cùng một nhịp với nhau. Một nghiên cứu trình bày tại Hội nghị Thần kinh–công thái học ở Munich năm 2021 còn gợi ý rằng sự đồng bộ này vượt xa sóng não. Các tác giả ghi nhận nhịp tim và phản ứng da của những sinh viên học chung một lớp có xu hướng hòa nhịp với nhau hơn so với những người học cùng bài nhưng ở các lớp khác. Kết luận của họ là những chỉ số ấy có thể dùng để nhận ra lúc sinh viên mất tập trung. Nhưng phát hiện đó cũng cho thấy sự đồng điệu có thể nảy sinh khi những tâm trí được quy tụ trong một cộng đồng tri thức, nơi việc cùng chia sẻ gánh nặng tạo ra thêm không gian chung cho suy nghĩ và giải quyết vấn đề.
Ý niệm về một tâm trí tập thể nói rằng, với một loài mang tính xã hội như chúng ta, trạng thái tự nhiên không phải là một bộ óc xuất chúng đơn lẻ gánh hết mọi việc, mà là cả một cộng đồng các bộ óc được tiến hóa để cùng vận hành. Đây không phải là ý tưởng mới. Steven Sloman, đồng tác giả cuốn Ảo tưởng về tri thức: Vì sao ta không bao giờ suy nghĩ một mình (2017), cùng hai cộng sự gần đây đã đề xuất rằng khi sử dụng bộ não cá nhân, ta thực chất đang dựa vào những mảnh ghép từ các bộ não khác, trong điều họ gọi là “cộng đồng tri thức”.
Một luận điểm họ phát triển là sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng ta trong việc giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định, thậm chí cả trong ký ức. Sự lệ thuộc ấy khiến ta thường “gửi nhờ” thông tin ra ngoài, dựa vào các mối liên kết với người khác để có được điều mình cần, thay vì tự giữ hết trong đầu. Như họ nhận xét, ta không ngừng kết nối với những bộ não khác – không chỉ quanh mình mà còn xuyên qua thời gian và không gian (giống như bạn và tôi đang kết nối lúc này), tiếp nhận thông tin từ những tâm trí khác và dệt chúng vào vốn hiểu biết của riêng mình. Ta thậm chí có thể tiếp nhận ý tưởng của những người đã mất từ hàng nghìn năm trước, miễn là họ để lại dấu tích cho hậu thế.
Khi ta đan cài những sợi tri thức gom góp từ nhau thành một khuôn mẫu xã hội có thể cùng nhận diện, ta có văn hóa. Văn hóa vừa là phúc lành, vừa có thể là gánh nặng. Cecilia Heyes, nghiên cứu viên cao cấp về khoa học sự sống lý thuyết tại All Souls College, Đại học Oxford, là tác giả cuốn Những trợ cụ nhận thức: Sự tiến hóa văn hóa của tư duy(2018). Trong một bài viết cho Aeon, bà lập luận rằng con người không sinh ra đã có bản năng sẵn có cho những hành vi mà ta xem là mang tính xã hội, nhưng ta được trang bị các công cụ như trí nhớ, sự chú ý và khả năng nhận ra khuôn mẫu để học hỏi những thực hành ấy. Tiến hóa trao cho ta bộ đồ nghề cơ bản, còn văn hóa tận dụng các công cụ đó theo cách xã hội để nhào nặn kỹ năng, và mỗi nền văn hóa lại làm điều ấy theo một lối rất riêng.
Heyes viết về quá trình ấy bằng những thuật ngữ kiểu Darwin: có những biến thể của các thực hành tồn tại được trong môi trường nhất định, còn những biến thể khác thì dần phai biến. Những gì còn lại có thể được truyền tiếp qua con đường “học hỏi xã hội”.
Khi gánh nặng nhẹ đi, ta có thể có thêm thời gian cho lối suy nghĩ chậm rãi – thứ đánh thức những công cụ giải quyết vấn đề tốt nhất trong ta.
Bà gọi những phương tiện ta sử dụng theo lối xã hội nhưng không mang tính bẩm sinh là “trợ cụ nhận thức”. Với các công cụ bẩm sinh, bà cho rằng ta có thể dựng nên những “trợ cụ” hữu ích về mặt xã hội, chẳng hạn như việc bắt chước người khác – nền móng quan trọng của sự phát triển xã hội. Những trợ cụ ấy có thể là lối tắt mang màu sắc thần kinh–công thái học, để ta không phải học lại ý nghĩa của một nụ cười trong mỗi lần gặp gỡ; tính tự động của hiện tượng giúp dành chỗ trong bộ não cho những tiến trình khác.
Khi cùng nhau làm một việc – đi dạo, nấu ăn hay dùng bữa – ta cũng đồng thời chạm vào tâm trí của nhau, và gần như chắc chắn sẽ sẻ chia những gì đang chất chứa trong đó. Nhờ sự qua lại ấy, ta san sẻ cả những trăn trở, ước mơ và niềm vui, và trong một cách sẻ chia lành mạnh, ta nhận về sự nâng đỡ, một tia thấu hiểu hay niềm hạnh phúc chân thành. Trong hệ thống người–với–người này, ta trút bớt phần nào gánh nặng nhận thức, mời những bộ não khác cùng tham gia giải quyết vấn đề, mang đến kinh nghiệm hữu ích để hiểu thấu nó, hoặc đơn giản là cùng gánh cảm xúc, khiến sức nặng vơi đi một nửa.
Heyes cho rằng nếu điều bà gọi là “lý thuyết trợ cụ” là đúng, bước kế tiếp sẽ là chính những công cụ trong thực hành văn hóa của ta có thể “kích thích sự tiến hóa văn hóa nhanh chóng của các năng lực tinh thần”.
Như thể xác nhận dự đoán ấy, chúng ta đã chứng kiến những thay đổi lớn trong điểm số các bài kiểm tra nhận thức kể từ khi công nghệ hiện đại xuất hiện. Nhiều người tin rằng chỉ số IQ là có thật và thậm chí khá ổn định suốt đời – cả hai điều này tôi đều đặt dấu hỏi trong cuốn sách Bộ não được may đo (2021). Thực tế, IQ đã tỏ ra là một thước đo đáng kinh ngạc về mức độ thiếu ổn định qua năm tháng, chịu ảnh hưởng của động lực người làm bài, địa vị kinh tế – xã hội, khoảng cách thu nhập, giáo dục và nhiều yếu tố khác. Có lẽ một minh chứng tiêu biểu cho sự biến đổi ấy là “hiệu ứng Flynn”, dường như ủng hộ dự đoán rằng các trợ cụ nhận thức có thể thúc đẩy những đổi thay nhanh chóng trong “năng lực tinh thần” của chúng ta.
Hiệu ứng Flynn là sự dịch chuyển mà nhà nghiên cứu trí tuệ người New Zealand James Flynn, nay đã quá cố, ghi nhận trong các xã hội hiện đại. Ông nhận thấy chỉ trong vài thập kỷ giữa thế kỷ 20, điểm IQ đã tăng mạnh đến mức nếu so theo chuẩn cũ, cả những quốc gia ngày nay cũng có thể được xếp vào nhóm “thiên tài”. Flynn cho rằng có lẽ những đòi hỏi giải quyết vấn đề ngày càng cao của xã hội hiện đại, cùng các phương pháp giáo dục được cập nhật, đã góp phần giải thích vì sao điểm IQ tăng lên chỉ sau một hai thế hệ. Những công cụ bẩm sinh mà ta mài sắc khi lớn lên bên cạnh các công cụ nhận thức của đời thực hẳn đã tương tác với nhau, để rồi nổi lên như một đặc điểm mang tính toàn cầu.
Tuy vậy, có một điều khác mà công nghệ đã làm được: giải phóng không gian nhận thức của chúng ta (trừ khi bạn kiểm tra mạng xã hội tới 5.000 lần mỗi ngày). Chẳng hạn, ta không còn phải dùng trí nhớ làm việc bẩm sinh để ghi nhớ số điện thoại, đường đi hay thậm chí lịch trình hằng ngày. Khi gánh nặng vơi đi, ta đơn giản có thể có nhiều thời gian hơn cho lối suy nghĩ chậm rãi, thấu đáo, thứ đánh thức những công cụ giải quyết vấn đề tốt nhất và giữ ta khỏi những sai lầm.
Một số nghiên cứu cho thấy những người có điểm IQ cao hơn có thể gánh vác khối lượng nhận thức lớn hơn so với người có điểm thấp. Một cách lý giải khả dĩ là họ có hiệu quả xử lý tốt hơn, và hiệu quả cao đồng nghĩa với việc dùng ít tài nguyên hơn. Nếu các thiết bị công nghệ cũng nâng cao hiệu suất của ta theo cách tương tự và tạo ra một “kho dự trữ” nhận thức lớn hơn, thì phần đông chúng ta thực chất đã là một phần của hệ thống người–máy. Tương lai đã có mặt rồi.
Thực ra, những thiết bị công nghệ ấy hiện diện ở khắp nơi. Một vấn đề then chốt trong các tình huống con người mắc những sai lầm nghiêm trọng và tốn kém là làm sao duy trì sự chú ý và tránh để tâm trí lang thang. Các nghiên cứu cho thấy khi ta mất đi sự tập trung cần thiết, hoạt động của vỏ não trước trán, nơi trú ngụ của mọi điều trưởng thành và suy xét trong bộ não, cũng suy giảm. Các chuyên gia gợi ý ba hướng để ngăn khu vực này rơi vào tình trạng sụp đổ hiệu năng. Một là thay đổi cách con người phải tương tác với nhiệm vụ, hay điều chỉnh “giao diện người dùng”; hai là điều chỉnh chính nhiệm vụ, làm nó nhẹ hơn về mặt nhận thức; và ba là cảnh báo người dùng khi họ đang tiến gần tới ngưỡng sụp đổ trong ra quyết định để họ có thể kịp thời đối phó.
Dù công nghệ cao hay không, những “trợ cụ” số giúp trút bớt gánh nặng ấy đã hiện diện mạnh mẽ. Thông báo lịch là một cách để ngăn một ngày dày đặc khỏi làm tràn các “ngăn tủ” ký ức. Tôi cài đến ba lần nhắc cho mỗi sự kiện, trước hai ngày, trước một ngày và trước nửa giờ, và điều đó đã cứu tôi không ít lần khỏi quên những cuộc hẹn quan trọng.
Thế nhưng, giống như các phi công không nghe thấy tiếng chuông báo động, những email nhắc việc ấy dần mất đi sức mạnh bám vào tâm trí tôi. Vì vậy tôi thêm một bước nữa: chuyển email nhắc cuối cùng lên đầu hộp thư và đánh dấu chưa đọc để nó hiện chữ in đậm. Dù đã ba mươi năm sống cùng email, những thư “Chưa đọc” vẫn luôn kéo trọn sự chú ý của tôi. Cho tới khi cuộc họp thật sự diễn ra, tôi liên tục nhìn thấy dòng chữ in đậm ấy như một lời nhắc lặng lẽ. Ít nhất với tôi, mẹo thần kinh–công thái học này giúp kéo tôi ra khỏi trạng thái lơ đãng hay mải mê công việc đến quên thời gian, kích hoạt lại hoạt động thần kinh để tôi làm việc tốt hơn và không bỏ lỡ cuộc hẹn. Nói theo ngôn ngữ nghiên cứu, tôi đã “điều chỉnh giao diện người dùng”.
Chúng ta cũng có thể điều chỉnh các công việc hằng ngày để giảm bớt gánh nặng nhận thức mà chúng đặt lên vai. Tìm cách biến những hoạt động đòi hỏi cao thành điều quen thuộc, máy móc hơn là một mẹo, chẳng hạn ăn cùng một món cho bữa trưa mỗi ngày. Một chiến lược khác là hạn chế số việc nặng đầu óc phải làm cùng lúc, như chọn sẵn quần áo cho ngày mai từ tối hôm trước thay vì vừa làm vừa cuống cuồng đưa bọn trẻ đến trường. Một trong những điều chỉnh thần kinh–công thái học giản dị nhất là phân bổ nhiệm vụ vào những khung giờ thưa thớt để chúng không dồn ứ cùng lúc. Nếu việc nấu sẵn bữa tối cả tuần vào một chiều Chủ nhật thong thả giúp bạn tránh năm buổi tối “quá tải trong bếp”, thì đó hẳn là một thay đổi rất đáng giá.
Những rủi ro dữ dội nhất lại gắn với tình trạng bị “đánh cắp não”, khi các thiết bị đời thực trở thành cánh cửa để những kẻ xấu lợi dụng.
Bên cạnh việc dựng lên những chỗ dựa cá nhân để cứu lấy khuôn mặt và bộ não của mình, ta còn có thể thử mở rộng không gian bên trong tâm trí. Hoạt động thể chất là một phương pháp mà phần lớn chúng ta đều với tới được. Một nghiên cứu nhỏ được trình bày tại Hội nghị Thần kinh–công thái học năm 2021 cho thấy ở những nam thanh niên, lượng ôxy tăng lên ở vỏ não trước trán sau bài tập đạp xe một chân có liên hệ với sự cải thiện tức thì trong các bài kiểm tra chức năng điều hành. Kết quả này tương hợp với nhiều nghiên cứu khác, ở cả nam giới trẻ và người cao tuổi ở những mức độ khác nhau. Phần lớn đều chỉ ra vai trò của dòng máu và sự cung cấp ôxy, kèm theo bằng chứng về việc gia tăng một phân tử thúc đẩy sự hình thành những kết nối mới giữa các nơ-ron. Những tác động ấy có thể dẫn đến quá trình xử lý nhận thức hiệu quả hơn, mang lại cảm giác gánh nặng trong đầu bỗng nhẹ đi.
Chúng ta thậm chí có thể tự thực hiện những “nghiên cứu thần kinh–công thái học” cho chính mình, để có một ô cửa nhìn vào những gì xảy ra khi bản thân rơi vào trạng thái quá tải. Có lẽ chưa đủ để báo cho ta biết lúc nào đang ở sát bờ vực sụp đổ trong ra quyết định, nhưng ngày đó có thể không còn xa.
Các thiết bị “đeo được”(đồng hồ thông minh, máy theo dõi sức khỏe…) đã có thể giám sát sự thay đổi và độ biến thiên của nhịp tim, cả hai đều điều chỉnh theo gánh nặng nhận thức. Như bạn đoán, nhịp tim sẽ tăng khi ta bị quá tải. Trong một chuyến đi gần đây, khi phải lái xe nhiều giờ giữa băng tuyết hiểm trở, thiết bị đeo của tôi thông báo rằng nhịp tim đã tăng thêm vài nhịp mỗi phút, và mức tăng ấy kéo dài suốt hành trình đầy lo âu. Nghiên cứu còn cho thấy độ biến thiên nhịp tim giảm xuống khi quá tải, phản ánh khả năng thích ứng kém linh hoạt trước những biến động bên ngoài. Những phản hồi kiểu này với người dùng vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, nhưng chúng ta đang tiến gần hơn tới ngày có thể hỏi chính chiếc đồng hồ trên tay để hiểu về trạng thái bên trong mình.
Những chỉ số ấy đã và đang được áp dụng trong những tình huống đúng nghĩa “sống còn” ở các sân khấu lớn hơn. Các nhà nghiên cứu từng xem xét việc dùng chúng để theo dõi đội ngũ làm việc trong phòng điều khiển của NASA trong các sứ mệnh sao Hỏa. Nhân viên điều khiển phải tương tác với các xe tự hành trên sao Hỏa với độ trễ tín hiệu lên tới 26 phút. Theo lịch trình đều đặn trong 90 “sol” đầu tiên (một ngày sao Hỏa dài 24 giờ 40 phút), những người gửi lệnh cho xe và tải dữ liệu về phải làm việc theo các ca thất thường suốt giai đoạn ấy. Sự lệch pha giữa ngày trên sao Hỏa và ngày trên Trái đất khiến giờ bắt đầu các ca liên tục thay đổi: có thể là 8 giờ sáng tuần này nhưng gần năm tiếng sau vào cùng ngày của tuần kế tiếp. Những xáo trộn lớn ấy đe dọa làm rối loạn bộ não rất “Trái đất” của con người đang phải thích nghi. Giữa các khoảng nghỉ, nhóm phải lên kế hoạch gửi cho xe danh sách nhiệm vụ tiếp theo, có thể dài đến hàng trăm lệnh. Chỉ một lệnh sai lạc cũng có thể, theo một ước tính, gây tổn thất tới 400 triệu đô la.
Một số nhiệm vụ có thể được tự động hóa và giao cho máy móc, nhưng không phải tất cả. Vì thế, người ta ngày càng quan tâm tới việc theo dõi các chỉ số sinh lý của nhân viên phòng điều khiển để tìm những dấu hiệu báo trước của sự mệt mỏi nhận thức, điềm báo cho nguy cơ sai sót tăng cao.
Để chuẩn bị cho ngày có thể phát triển những hệ thống giám sát như thế, các nhà nghiên cứu đã lập ra một danh sách gồm 28 “thước đo khối lượng công việc”, có thể kết hợp với nhau để nhận diện những mô hình gắn với trạng thái dễ phạm sai lầm. Những chỉ số ấy bao gồm độ biến thiên nhịp tim, tần suất chớp mắt, mẫu giọng nói, độ giãn đồng tử và các bản ghi EEG. Ý tưởng là các thuật toán sẽ dùng lượng thông tin này để điều chỉnh yêu cầu công việc đặt lên con người trong các nhóm “người–robot”, dù những mô hình ấy dường như vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Mỗi cá nhân dĩ nhiên không phải NASA, nhưng chúng ta có thể tiếp cận vài chỉ số tương tự như giới nghiên cứu. Một nhóm đang phát triển các thiết bị đeo cho học sinh và giáo viên, có khả năng phát hiện thay đổi về thân nhiệt, nhịp tim và “hoạt động điện da”. Mục tiêu của họ là “nâng cao nhận thức” về thói quen học tập, theo dõi những xu hướng hữu ích để điều chỉnh nhằm giảm quá tải… đồng thời giúp giáo viên dự đoán mức độ chú tâm và hứng thú của học sinh đối với một hoạt động.
Với sự chuẩn bị cẩn trọng (tôi biết chứ – nhìn lại cái gọi là “kế hoạch” thời đại dịch mà xem), ta có thể nhấn mạnh những mặt lợi trong mối tương giao giữa mình với máy móc – và với cả nhau. Hãy tưởng tượng một tương lai nơi máy móc trở thành cây cầu nối giữa các “trợ cụ nhận thức” và ký ức của chúng ta. Bằng cách ấy, ta có thể lấp đầy những khoảng trống trong “trợ cụ” của riêng mình, hay thực sự trải nghiệm cảm giác trở thành một người khác. Khi ký ức bắt đầu nhạt phai hoặc cần được kiểm chứng, việc lưu trữ và truyền tải ký ức ra bên ngoài để đưa vào một bộ não khác hoàn toàn có thể trở thành phương thức bảo tồn. Đó sẽ là một con đường hoàn toàn mới để gìn giữ những hồi ức tổ tiên và kết nối với các bộ não của quá khứ.
Dĩ nhiên có chút gì đó rờn rợn trong vài kế hoạch như thế. Chúng ta có vô vàn điều phải bận tâm khi nghĩ đến một thế giới của giao diện não–máy và những đồng nghiệp người–máy. Những rủi ro dữ dội nhất nằm ở khả năng bị “đánh cắp não”, khi các thiết bị đời thực trở thành cánh cửa để kẻ xấu đọc trộm suy nghĩ, phát hiện những khoảnh khắc mong manh và khai thác thông tin. Còn đó cả những bất bình đẳng sẽ tạo nên khoảng cách: ai được dùng chúng cho mục đích tốt hay xấu, ai dễ tổn thương trước mặt trái, và ai có thể tiếp cận lợi ích mà chúng mang lại.
Có thể, như Heyes hình dung, ta sẽ dùng những công cụ bẩm sinh để tiến hóa, chỉnh sửa và tái tạo các “trợ cụ nhận thức”. Nhưng những trợ cụ thật sự cần ta để mắt và tỉnh táo lại chính là những thứ ta xem là hữu ích nhưng cũng ẩn chứa bóng tối. Loài người đã nhiều lần để công nghệ chạy nhanh hơn việc đặt ra ranh giới chống lại sự lạm dụng và bóc lột, dù ta hoàn toàn có đủ trí lực tập thể để làm điều đó. Thật khó mà lạc quan về cách ta sẽ sử dụng những quyền năng lớn lao ấy. Nhưng ta cũng cần nhớ rằng chính sự lạc quan của con người cũng là một công cụ, một công cụ cần được tiết chế, như mọi thứ khác trong tay ta.
Tác giả
Emily Willingham là một cây bút người Mỹ. Bà là tác giả của Phallacy: Những bài học về đời sống từ dương vật động vật (2020) và Bộ não được may đo: Từ ketamine, keto cho đến tình bằng hữu – cẩm nang để sống dễ chịu hơn và suy nghĩ thông minh hơn (2021). Bà hiện sống tại vùng vịnh San Francisco.
Biên tập bởi Pam Weintraub.
Nguồn: Help! Brain overload | Tạp chí Aeon.co
.png)
