Tại sao nhiều người lại cảm thấy phẫn nộ với sự phục hồi
Phục hồi không chỉ là việc bật nảy trở lại và ngó lơ cảm xúc.
Ý CHÍNH
- Sự phẫn nộ với sức mạnh phục hồi là phản ứng phổ biến khi bị áp lực phải "chỉ cần mạnh mẽ lên" trước những khó khăn.
- Để thực sự trở nên kiên cường, con người cần nhìn nhận bản thân trong bối cảnh cụ thể và áp dụng những phát kiến mới của khoa học.
- Khả năng phục hồi được xây dựng tốt nhất trong các mối quan hệ và cộng đồng chân thành, biết quan tâm.
- Tương tự như sự tích cực độc hại và những áp lực tạo động lực, việc tống khát thông điệp về sự phục hồi đã bắt đầu tạo ra cảm giác khó chịu cho một số người.
Với nhiều người, năng lực phục hồi từng được tung hô như hành trình của một anh hùng vượt qua căng thẳng chỉ trong một nốt nhạc, bật nảy trở lại với tốc độ phi thường nhờ vào khả năng tự lực cánh sinh vô song, trong khi hoàn toàn phớt lờ những điều kiện vốn dĩ đã đẩy chúng ta vào thế phải tự mình kiên cường ngay từ đầu. Khi sự phục hồi được vẽ ra theo kiểu cũ, cho rằng thích nghi hay trở thành một con người đáng khâm phục chỉ đơn thuần là chuyện có đủ ý chí thép hay không, thì chẳng có gì khó hiểu khi chúng ta trở nên cay đắng và bất mãn.
Sự phẫn nộ với sức mạnh phục hồi, phản ứng chống đối lại những lời thúc giục sáo rỗng, mang tính tích cực độc hại nhằm bắt ta che giấu, chế ngự cảm xúc và "hãy cứ mạnh mẽ lên" như những cỗ máy chịu đựng, đang ngày càng gia tăng, và điều đó hoàn toàn có lý do. Những định kiến về sự phục hồi kiểu này rất đáng bị thách thức. Chúng không chỉ đi lệch hướng mà còn cản trở việc hiểu đúng về cách nuôi dưỡng một sức mạnh phục hồi đích thực.
Trước hết, khả năng phục hồi phải được đặt vào đúng bối cảnh. Không ai trong chúng ta sống trong một khoảng không chân không. Khi chúng ta trải qua tổn thương hay đau khổ, đó là một phản ứng tương thích và tự nhiên với môi trường xung quanh, chứ không phải một sự thất bại về mặt đạo đức. Một góc nhìn mang tính hệ thống về khả năng phục hồi, nơi ghi nhận và tính đến những hoàn cảnh mà con người đang phải đối mặt, là điều vô cùng thiết yếu.
Khả năng phục hồi cũng cần được xem xét dựa trên những phát kiến mới nhất của khoa học não bộ. Đã qua rồi cái thời chúng ta đánh giá nó như một thước đo về phẩm chất hay sự cứng cỏi của một cá nhân.
Bất chấp những quan niệm phổ quát lâu nay, chúng ta không nhất thiết phải kiên định không lay chuyển trước áp lực thì mới được coi là có khả năng phục hồi. Trên thực tế, các nghiên cứu cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể trở nên kiên cường hơn khi biết thừa nhận khó khăn và mở lòng tìm kiếm sự giúp đỡ.

Tái định hình khả năng phục hồi dựa trên cơ sở khoa học về những điều giúp chúng ta sống tốt có thể tạo tiền đề tốt hơn để chúng ta nuôi dưỡng nó. Hãy cùng cân nhắc những góc nhìn tái định hình thiết yếu sau:
- Phục hồi là một tiến trình, không phải là một nét tính cách.
Nhiều người tin rằng một ai đó sinh ra đã sở hữu sẵn hoặc hoàn toàn thiếu vắng khả năng phục hồi, đó là một quan niệm đã cũ kỹ. Các tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra rất rõ ràng: sự phục hồi cần có thời gian. Những trải nghiệm với nỗi đau có thể giúp chúng ta bồi đắp lòng trắc ẩn, sự linh hoạt và tính xoay xở, nhưng điều đó không thể diễn ra chỉ sau một cú bật công tắc. Khả năng hấp thụ và chuyển hóa những bài học từ khó khăn hoàn toàn có thể được nuôi dưỡng theo thời gian bằng sự chú tâm, thay vì tự cho rằng mình mang một bộ gen không may mắn hay bằng cách nào đó đã bỏ lỡ mất "bí kíp" để luôn giữ bình tĩnh và tiếp tục bước tiếp.
- Phục hồi không phải là bật nảy trở lại và đè nén những cảm xúc tiêu cực.
Gồng mình giả vờ như bản thân vẫn ổn khi đang kiệt sức là một vật cản, chứ chẳng thể hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần. Chúng ta không phải là những quả bóng cao su. Việc đứng dậy ngay sau khi bị quật ngã mà không nhìn nhận lại bài học hay vỗ về bản thân có thể dẫn đến những hệ lụy không lường trước. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng những thực hành như Tỉnh thức (Mindfulness), vốn tập trung vào sự chấp nhận các cảm xúc khó khăn, có thể giúp chúng ta làm chủ và vượt qua chúng một cách hiệu quả hơn nhiều so với việc phớt lờ chúng một cách trắng trợn.
- Phục hồi là việc phát huy các yếu tố bảo vệ, chứ không phải là sở hữu một cuộc sống hoàn hảo.
Cuộc sống vốn nhiều thách thức. Các mối quan hệ luôn phức tạp. Công việc và học tập có thể rút cạn năng lượng của chúng ta. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chủ nghĩa hoàn hảo đã tăng vọt 33% trong 10 năm qua.
Chúng ta đang quá khắt khe với chính mình. Mạng xã hội khiến ta cảm thấy như thể mình là một kẻ thất bại thảm hại nếu chưa gặt hái được những thành tựu rực rỡ để chạm tới các mục tiêu cuộc đời ở tuổi 20. Chúng ta rất dễ cảm thấy mình yếu kém và không thành công khi những hình mẫu về một cuộc sống "hoàn hảo như trên Instagram" hiện diện ở khắp mọi nơi.
Thế nhưng, các nghiên cứu đã khẳng định áp đảo về sức mạnh của các yếu tố bảo vệ trong cuộc sống của chúng ta. Những yếu tố này bao gồm các mối quan hệ chân thành và biết quan tâm, việc sống đúng với các giá trị của bản thân, thực hành sự trân trọng và lòng biết ơn, dành thời gian hòa mình vào các hoạt động thư giãn, vui vẻ, duy trì sự hài hước, cũng như khả năng nhìn lại những trải nghiệm trong quá quá khứ để giải quyết các vấn đề hiện tại. Chẳng có cuộc sống nào là hoàn hảo, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tập trung xây dựng những yếu tố bảo vệ, vốn là những lớp đệm giảm chấn vô cùng cần thiết trước những cú giáng tất yếu của cuộc đời.
- Phục hồi diễn ra trong một cộng đồng.
Chủ nghĩa cá nhân cực đoan có thể cản trở khả năng phục hồi. Các mối quan hệ và cảm giác thuộc về một tập thể gắn liền với việc tạo ra môi trường an toàn tâm lý – một cảm giác gắn kết mà không phải lo sợ bị coi thường hay soi xét. Việc biết rằng mình không cô độc và có những người luôn ủng hộ ta sống đúng với các giá trị bản thân sẽ giúp tạo ra động lực cùng một mục đích chung. Sức mạnh phục hồi được bồi đắp khi chúng ta cùng chung tay tìm ra những điều giúp nâng đỡ chính mình. Những mối quan hệ bộc bạch, chân thành và biết quan tâm chính là khía cạnh cốt lõi của khả năng phục hồi đích thực.
Sự phẫn nộ với sức mạnh phục hồi là hoàn toàn có cơ sở khi nó bắt nguồn từ những định nghĩa kiểu cũ đè nặng sự xấu hổ và những khẩu hiệu đã xa rời thực tế. Thế nhưng, khi chúng ta tái định hình năng lực phục hồi dựa trên cơ sở khoa học, ta có thể khai thác tối đa tiềm năng thích ứng của bản thân mà không cần phải ngó lơ những phức tạp mà ta đang nỗ lực vượt qua. Thay vì tự áp lực bản thân phải hoàn hảo hay cố giấu đi những cảm xúc khó khăn, chúng ta có thể phát huy các yếu tố bảo vệ, bao gồm cả những mối quan hệ nơi ta cảm thấy an toàn và thực sự được thấu hiểu.

