Bản lĩnh đích thực không phải là "vực dậy như chưa hề tổn thương"

ban-linh-dich-thuc-khong-phai-la-vuc-day-nhu-chua-he-ton-thuong

Tôi không thích cách người ta hay nói về bản lĩnh kiên cường: nó vô hình trung đè nặng lên vai mỗi người kỳ vọng phải lập tức quay trở về trạng thái như xưa. Nhưng hành trình chữa lành thực sự đâu có diễn ra theo cách đó.

"Kiên cường" từ bao giờ đã trở thành một trong những lời ngợi khen được ưa chuộng nhất. Người ta tán dương những đứa trẻ kiên cường, những nhân viên kiên cường, những người bệnh kiên cường, và cả những cộng đồng kiên cường. Từ ngữ ấy xuất hiện nhan nhản trong tôn chỉ của trường học, trong email của các tập đoàn và cả trong những phòng tham vấn tâm lý. Nghe thật nhân văn và đầy khích lệ. Thế nhưng, thường thì nó lại ẩn chứa một dụng ý khác: nó giúp kẻ buông lời khen ngợi có cớ để quay lưng bước đi mà không phải bận lòng.

Khi ai đó dán nhãn một người là "kiên cường", họ đang tự trấn an bản thân rằng bất kể biến cố gì vừa ập xuống đời người kia, nó chẳng thực sự làm thay đổi điều gì cả, không thay đổi nạn nhân, và dĩ nhiên, càng không chạm đến chính họ. Đó giống như một tấm bùa hộ mệnh để người ta phủi bỏ trách nhiệm.

Trong ngành kỹ thuật, "độ kiên cường" (sức bền vật liệu) mang một định nghĩa rất tường minh: tốc độ một hệ thống quay trở lại trạng thái ban đầu sau khi gặp sự cố. Là một cây cầu mất bao lâu để ngừng rung lắc sau trận động đất. Là một mạng lưới điện mất bao lâu để ổn định lại sau khi bị quá tải.

Ngành sinh thái học đã mượn thuật ngữ này từ sớm và ở nhiều khía cạnh, họ cũng áp dụng chung một tư duy như vậy, đo lường bản lĩnh sống của một hệ sinh thái bằng khoảng thời gian nó cần để thiết lập lại thế cân bằng. Nhưng vào thập niên 1970, nhà sinh thái học C. S. Holling đã thúc đẩy khái niệm này theo một hướng đi rất khác. Ông lập luận rằng, bản lĩnh sinh thái đích thực không phải là việc cố co mình để bật nảy lại trạng thái cũ, mà là sự bền bỉ trường tồn: khả năng của một hệ thống có thể hấp thụ những biến động, tự tổ chức lại và tiếp tục bước tiếp, giữ vững căn tính của mình, dù thường là trong một hình hài đã đổi thay.

Sự khác biệt đó vô cùng quan trọng. Nhưng nó lại không thể lan tỏa vẹn nguyên. Bên ngoài những tài liệu sinh thái học, và ngay cả bên trong ngành này ngày một nhiều hơn, định nghĩa kỹ thuật mang tính giản đơn đã giành chiến thắng. Điều dễ dàng len lỏi qua các ngành học để đi vào đời sống đại chúng không phải là cái nhìn sâu sắc, đa tầng của Holling, mà là một ý niệm an toàn và tiện lợi hơn nhiều, một sự "kiên cường" đã bị tước đi những gai góc góc cạnh, bị gọt giũa mềm yếu đi, chỉ còn trơ trọi lại như một sự cam chịu, nhẫn nhục chịu đựng.

Photo by ArtMarie/Getty Images

Chính vì thế mà khái niệm "kiên cường" lại có sức hút mãnh liệt đến vậy trong văn hóa đại chúng. Một phần sức hút ấy đến từ việc gọi ai đó là "kiên cường", theo nghĩa gồng mình chịu đựng, nghe thật tử tế. Nó mang lại cảm giác của một lời động viên chứ không phải là sự phán xét. Thế nhưng, ban phát lòng tốt mà không gánh vác chút trách nhiệm nào thực chất chỉ là một cách để tự trấn an bản thân, để tin rằng rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi. Từ "kiên cường" như một liều thuốc an thần giúp người nói tự nhủ rằng họ đã làm tròn bổn phận của mình rồi.

Trong quân đội, "sự kiên cường" từng được dùng như một lời tán dương cho việc cắn răng chịu đựng những điều kiện sống vốn dĩ có thể ngăn ngừa hoặc cải thiện được. Người ta dùng từ ngữ ấy như một dấu chấm hết cho mọi cuộc đối thoại, dập tắt mọi suy ngẫm hay nỗ lực cải tổ sâu xa hơn. Nếu bản thân bạn đã đủ kiên cường, thì hệ thống quản lý chẳng cần phải thay đổi để tốt hơn nữa. Ngay cả khi được thốt ra với ý tốt, cách chúng ta dùng từ "kiên cường" trong giao tiếp hằng ngày thường lại vô tình trở thành tấm khiên che chắn cho những tổ chức lỗi thời, mục nát xung quanh một con người đang phải chịu đựng tổn thương.

Trong khoa học, bản chất của một biến động là nó sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống. Trận cuồng phong càn quét qua bờ biển không làm cho bãi cát "kiên cường" theo cách hiểu thông thường của chúng ta. Nó nhào nặn lại, định hình lại bãi cát ấy (khiến nó trở nên kiên cường đích thực theo định nghĩa của Holling). Trận hỏa hoạn thiêu rụi một cánh rừng không đưa đất trời trở về nguyên trạng, mảnh đất ấy đã bị tái cấu trúc, và những mầm xanh mọc lại sau đó sẽ là một sự sống hoàn toàn mới. Chúng ta chưa bao giờ nói đủ về cái giá của việc "vực dậy sau giông bão": những hao mòn rệu rã, những mô sẹo hằn sâu, và những tổn thương âm ỉ chẳng thể nào lành lặn nguyên vẹn. Chúng ta mải miết ngưỡng mộ vẻ ngoài như đã bình phục của một ai đó mà quên đong đếm những vết xước họ phải gom nhặt suốt chặng đường qua.

Đằng sau những lời ca tụng sự kiên cường còn ẩn chứa một cái bẫy thống kê đầy tinh vi: hiệu ứng thiên kiến kẻ sống sót. Văn hóa hiện đại luôn tung hô những người vượt qua nghịch cảnh và xem họ là minh chứng sống cho thấy hệ thống vẫn vận hành tốt. Nhưng chúng ta lại quá thường xuyên ngoảnh mặt làm ngơ, không đếm xỉa đến những mảnh đời đã ngã xuống chỉ vì họ thiếu đi bệ đỡ của sự hỗ trợ, sự an toàn, hay một chút may mắn để có thể chống chọi đến cùng. Lời ngợi khen đã thay thế cho trách nhiệm giải trình.

Và cứ thế, chúng ta vô tình thừa nhận một bộ lọc vốn chỉ chọn ra những kẻ may mắn, rồi trìu mến gọi đó là sự kiệt xuất.

Guồng máy bào mòn ấy vẫn âm thầm vận hành ở bất cứ nơi nào mà xã hội chỉ dùng sự cam chịu để định nghĩa thành công. Tôi nhìn thấy điều đó trong sự thanh lọc nghiệt ngã của giới học thuật, nơi chúng ta chỉ kiểm kê và tung hô những "kẻ chiến thắng" giành được học hàm giáo sư, mà ngó lơ bóng ma của biết bao nhà nghiên cứu lỗi lạc đã bị gạt ra rìa chỉ vì một đợt cắt giảm kinh phí hay vì thiếu đi một bệ đỡ gia thế. Tôi nhìn thấy nó trong những đêm trắng kiệt quệ vì thiếu ngủ của các bác sĩ nội trú, trong canh bạc cân não đầy rủi ro của những nhà khởi nghiệp, và trong cả những cộng đồng sơ xác đang gồng mình "vực dậy" sau thiên tai.

Trong mọi hoàn cảnh, nhiều người vẫn coi chặng đường ấy là một cuộc đua sòng phẳng theo năng lực, để rồi thản nhiên quên đi vai trò của hoàn cảnh khi dòng đời dồn nắn họ vào những nút thắt eo hẹp. Xã hội hiện đại quy chụp vị thế của kẻ sống sót là nhờ lòng kiên trì, mà nhắm mắt làm ngơ trước những lưỡi hái vô hình – như một lời khuyên sai lầm hay đơn thuần là một vận rủi, đã gạt phăng đi tất cả những người còn lại. Bằng cách chỉ chăm chăm nhìn vào những ai bước lên bục vinh quang, chúng ta vô tình thừa nhận một bộ lọc vốn chỉ chọn ra những kẻ may mắn, rồi trìu mến gọi đó là sự kiệt xuất.

Chính vì vậy mà những câu chuyện về sự kiên cường lại có sức mê hoặc đến thế: chúng soi ánh hào quang vào kẻ sống sót, và xóa nhòa đi cả một hệ thống đứng sau đã tạo ra cuộc sàng lọc sinh tồn ngay từ thuở ban đầu.

Tôi thích một cách ví von khác, một hình ảnh gần gũi với sinh học hơn và bớt tự huyễn hoặc bản thân hơn. Khi bạn nâng tạ, bạn đang gây áp lực và làm tổn thương các bó cơ. Bạn làm rách các sợi cơ. Sau đó, nếu bạn nghỉ ngơi, ăn uống và phục hồi, cơ thể sẽ tái tạo lại chúng mạnh mẽ hơn. Áp lực cộng với sự phục hồi mới bằng sự trưởng thành. Nhưng nếu bạn bỏ qua việc nghỉ ngơi hay dinh dưỡng, bạn sẽ chẳng thể khỏe hơn, bạn chỉ chuốc lấy chấn thương. Thay vì là một dạng của sự kiên cường, quá trình phát triển cơ bắp thực chất là một sự thích nghi.

Suy nghĩ ấy cũng hoàn toàn đúng đắn với đời sống cảm xúc hay các mối quan hệ. Bạn sụp đổ, bạn sửa chữa, rồi bạn xây dựng lại một điều gì đó hoàn toàn mới. Bản thân nghịch cảnh không làm bạn mạnh mẽ lên, chính cách bạn phản hồi với nó mới làm nên điều đó. Không có phục hồi, sẽ chẳng có sự trưởng thành nào cả. Ở trong phòng tập, chúng ta hiểu rất rõ nguyên lý này. Nhưng ở trong đường đời, chúng ta lại vờ như những tổn thương chưa từng xảy ra, rồi ngạo nghễ gọi đó là sức mạnh.

Cơ bắp không hề yêu thích những vết rách; chúng tái tạo là vì cơ thể được chăm sóc

Chính vì vậy, dưới góc nhìn xã hội, tôi thấy cách người ta bàn về sự kiên cường thật hèn nhát. Nó gọt giũa cho nỗi đau trở nên gọn gàng, ngăn nắp. Nó thay thế trách nhiệm bằng sự ngưỡng mộ suông. Ngợi ca sự cam chịu bao giờ cũng dễ dàng hơn là thay đổi hoàn cảnh, và dễ chịu hơn rất nhiều so với việc phải thực sự ở lại và chứng kiến những khổ đau.

Khi tự huyễn hoặc mình là kẻ kiên cường, chúng ta đang che đậy một sự thật rằng sự trưởng thành luôn đớn đau và luôn để lại những tỳ vết. Chúng ta hành xử như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, như thể những trải nghiệm đắng cay có thể được gột rửa dễ dàng như những giọt mồ hôi. Nhưng cơ thể chúng ta luôn ghi nhớ. Những mối quan hệ của chúng ta luôn ghi nhớ. Và cộng đồng của chúng ta cũng luôn ghi nhớ.

Tôi cũng cực kỳ định kiến với phiên bản khoa học đại chúng của khái niệm "vô hại trước biến cố" (khả năng phản gãy rách). Đây là khái niệm được phổ biến bởi nhà thống kê Nassim Nicholas Taleb trong cuốn sách Antifragile (2012) của ông, với lập luận rằng một số hệ thống không chỉ sống sót qua các cú sốc mà còn thực sự hưởng lợi từ chúng. Lối tư duy này đã biến những biến động thành đức hạnh và thần thánh hóa nỗi đau. Sự trưởng thành đích thực không bao giờ thờ phụng đau khổ; nó tôn trọng đau khổ. Cơ bắp không hề yêu thích những vết rách; chúng tái tạo là vì cơ thể được chăm sóc chu đáo sau đó. Nếu thiếu đi sự chăm sóc, những tổn thương sẽ chỉ chồng chất theo thời gian.

Vậy đâu là lối thoát thay thế? Chúng ta chẳng cần một thuật ngữ thời thượng mới nào cả. Cái chúng ta cần là một từ ngữ trung thực. Có lẽ là "bồi đắp nội lực". Có lẽ chỉ đơn giản là "phục hồi". Hoặc có lẽ là "tái hòa nhập".

Những từ này chẳng thể đem ra làm truyền thông thương mại như "khóa đào tạo bản lĩnh kiên cường", nhưng chúng mô tả chính xác những gì thực sự có ích: một môi trường cho phép sự chữa lành và sửa chữa được diễn ra. Đối với một đứa trẻ, điều đó nghĩa là những người trưởng thành vững chãi, những nhịp sinh hoạt bình yên có thể đoán trước, và những cơ hội để nghỉ ngơi, kết nối lại. Đối với người lớn, đó là sự cho phép bản thân được sống chậm lại, được tìm kiếm sự chăm sóc, được xây dựng lại niềm tin, và được bắt đầu lại từ những điều nhỏ bé nhất. Không một điều nào trong số đó phù hợp để in lên một bức áp phích truyền cảm hứng, nhưng chúng thực sự có cứu cánh.

Khi chúng ta bảo ai đó hãy kiên cường, nghĩa là ta đang bắt họ phải giữ nguyên như cũ

Nếu chúng ta dạy trẻ thơ cách một sự phục hồi thực sự diễn ra, rằng mọi hệ sinh thái đều cần những khoảng lặng để ngơi nghỉ, cần dưỡng chất và một cảm giác an toàn, chúng ta có lẽ sẽ thôi gán cho các em hai chữ "kiên cường" để bắt đầu nâng đỡ các em bằng những hành động thực tế. Và nếu chúng ta biết đối xử với chính bản thân mình như một cơ thể sống bằng xương bằng thịt, chúng ta có lẽ sẽ ngừng đo lường sức mạnh bằng việc ta đã sắt đá không nao núng ra sao, mà bắt đầu đo đếm nó bằng việc ta đã chữa lành tổn thương tốt thế nào.

Khi con trai tôi phải trải qua những ngày đầu đời trong phòng chăm sóc đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh, chẳng một ai gọi thằng bé là kiên cường cả. Mọi sự chú ý lúc ấy đều đổ dồn vào việc giữ cho các chỉ số ổn định, theo dõi sát sao, nâng đỡ và phục hồi. Không một ai kỳ vọng đứa trẻ ấy phải lập tức "vực dậy như chưa hề có cuộc chia ly". Ai nấy đều hiểu sâu sắc rằng việc chữa lành luôn đòi hỏi sự chăm sóc, thời gian và sự bảo bọc. Đó mới chính là hình hài của một sự phục hồi đích thực, và thật đáng kinh ngạc khi thấy chúng ta từ bỏ mô hình ấy nhanh đến thế nào ngay khi một đứa trẻ vừa chạm đến độ tuổi có thể nhận những lời ngợi khen thay vì sự chở che.

Ngôn từ chúng ta chọn dùng có sức nặng rất lớn. Khi chúng ta bảo ai đó hãy kiên cường, nghĩa là ta đang bắt họ phải giữ nguyên như cũ. Nhưng khi chúng ta nói về sự phục hồi, ta đang mở ra một lời mời gọi cho sự đổi thay. Một đằng trốn tránh nỗi đau; một đằng tôn vinh nó. Một đằng hình dung về một chiếc lò xo co bật lại trạng thái ban đầu; một đằng lại hình dung về một quá trình hàn gắn, sửa chữa bằng thời gian và lòng trắc ẩn.

Nếu tôi bị gãy chân, chẳng ai bắt tôi phải lập tức bật dậy bước đi. Người ta sẽ mong tôi được nghỉ ngơi, bồi bổ và tập vật lý trị liệu. Chúng ta cũng nên dành sự bao dung dịu dàng như thế cho những thương tổn vô hình, những vết thương về mặt xã hội, cảm xúc hay cả niềm tin đạo đức. Sự kiên cường bảo ta hãy "quay về chốn cũ". Sự phục hồi lại thầm thì hãy "trưởng thành lên". Tôi không cần một sự kiên cường gồng gượng. Tôi cần một sự tiến bước, tốt đẹp hơn mỗi ngày. 

Tác giả

Philip T. Starks là một nhà sinh thái học hành vi và là phó giáo sư sinh học tại Đại học Tufts ở bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Ông đã công bố hơn 70 công trình nghiên cứu được bình duyệt về các loài động vật xã hội, cùng nhiều bài phê bình khoa học và các chương sách chuyên khảo. Những bài tiểu luận tâm huyết của ông thỉnh thoảng cũng được xuất hiện trên các tạp chí uy tín như Nature (Futures), Scientific AmericanJAMA.

Biên tập bởi Christian Jarrett

Nguồn: True resilience is not about bouncing back | Tạp chí psyche.co

menu
menu