Phụ nữ có thực sự bẩm sinh giàu lòng thấu cảm hơn đàn ông?
Sự khác biệt về thấu cảm giữa hai giới bắt nguồn từ kỳ vọng xã hội, chứ không phải sinh học.
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
- Phụ nữ thường tự báo cáo rằng họ thấu cảm hơn trong các bảng câu hỏi.
- Các chỉ dấu sinh lý và hành vi cho thấy sự khác biệt giới trong thấu cảm là rất nhỏ hoặc gần như không có.
- Lợi thế khiêm tốn của phụ nữ trong việc nhận diện cảm xúc phản ánh quá trình xã hội hóa và những gợi ý từ khuôn mẫu giới nhiều hơn là sinh học.
- Khuôn mẫu tạo ra những kỳ vọng bất công đối với phụ nữ và khiến đàn ông ngần ngại bước vào các vai trò chăm sóc.
Nếu bạn hỏi mọi người rằng ai thấu cảm hơn, đàn ông hay phụ nữ, có lẽ bạn sẽ nhận được một câu trả lời chắc nịch. Những câu chuyện văn hóa, từ các cuộc trò chuyện thường ngày cho đến lời phát biểu của những nhân vật công chúng như Đức Đạt Lai Lạt Ma, thường khắc họa thấu cảm như một phẩm chất mà phụ nữ bẩm sinh sở hữu dồi dào hơn.
Một số học giả cho rằng sự khác biệt này bắt nguồn từ sinh học. Bạn có thể từng nghe những khẳng định như “bộ não nữ giới được lập trình sẵn cho sự thấu cảm” hoặc rằng phụ nữ tiến hóa với khả năng thấu cảm cao hơn vì trong quá khứ, các bà mẹ là người chăm sóc chính. Những ý tưởng này nghe có vẻ hợp lý, nhưng chúng đơn giản hóa quá mức những gì dữ liệu thực sự cho thấy. Trong chừng mực nào đó, nếu có khác biệt giới trong thấu cảm, thì điều ấy hợp lý hơn khi được gắn với cách chúng ta nuôi dạy con trai và con gái, cũng như những vai trò mà xã hội mong đợi họ đảm nhận.
Các nghiên cứu dựa trên tự báo cáo quả thực thường cho thấy phụ nữ đạt điểm cao hơn trong các bảng hỏi về thấu cảm. Dường như phụ nữ cảm thấy cần nói rằng mình thấu cảm hơn so với đàn ông. Tuy nhiên, những khác biệt ấy được giải thích rất thuyết phục bởi định hướng vai trò giới, tức mức độ mà mỗi người nhìn nhận bản thân (và tin rằng mình nên cư xử) theo những khuôn mẫu nam tính hay nữ tính quen thuộc. Khi tính đến yếu tố này, khoảng cách giới tưởng như rõ ràng ấy thu hẹp đáng kể, thậm chí biến mất hoàn toàn.

Image: cheapbooks/Shutterstock
Bức tranh còn trở nên thú vị hơn khi ta rời khỏi các bảng câu hỏi. Khi các nhà nghiên cứu đo lường biểu cảm khuôn mặt và ngôn ngữ cơ thể mang tính thấu cảm của đàn ông và phụ nữ đối với người khác, họ chỉ tìm thấy những khác biệt rất nhỏ, hoặc không có gì đáng kể.
Trái lại, phụ nữ thường xuyên vượt trội hơn đàn ông trong các nhiệm vụ nhận diện cảm xúc, nơi bạn phải suy đoán chính xác người khác đang cảm thấy gì. Trung bình, phụ nữ đạt điểm cao hơn khoảng một phần tư độ lệch chuẩn. Sự khác biệt này xuất hiện ở nhiều nền văn hóa và nhiều hình thức kiểm tra. Thoạt nhìn, điều đó có vẻ là bằng chứng cho sự “lập trình sinh học”, nhưng bản thân các bài kiểm tra lại dựa trên những kỹ năng được hình thành qua xã hội hóa. Chẳng hạn, cha mẹ có xu hướng nói chuyện về cảm xúc với con gái nhiều hơn con trai, giúp các bé gái sớm luyện tập việc gọi tên cảm xúc và đọc hiểu những tín hiệu tinh tế. Khi bạn lớn lên trong môi trường được dẫn dắt bằng ngôn ngữ cảm xúc, bạn sẽ trở nên thành thạo hơn trong việc nhận ra nó ở người khác. Và khi các chuẩn mực giới toàn cầu nhất quán khuyến khích những khuôn mẫu ấy, sự tương đồng giữa các nền văn hóa trở nên điều dễ hiểu.
Các khuôn mẫu còn tác động trực tiếp đến hiệu suất ngay tại thời điểm thực hiện nhiệm vụ. Khi phụ nữ được nói rằng một nhiệm vụ là “bài kiểm tra độ nhạy cảm trong giao tiếp”, lĩnh vực mà giới của họ thường được cho là vượt trội — họ làm tốt hơn nam giới. Nhưng nếu cùng nhiệm vụ ấy được đóng khung là liên quan đến “xử lý thông tin phức tạp”, khoảng cách giới lập tức biến mất.
Khi ghép tất cả bằng chứng lại với nhau, kết luận trở nên rõ ràng: Những khác biệt giới trong thấu cảm không phải là sự thật sinh học bất biến. Chúng nảy sinh từ kỳ vọng xã hội, những khuôn mẫu được học hỏi, và áp lực từ định kiến.
Những niềm tin này không hề vô hại. Giả định rằng phụ nữ “bẩm sinh” thấu cảm hơn tạo ra những kỳ vọng phi thực tế trong cả bối cảnh nghề nghiệp lẫn đời sống cá nhân. Những phụ nữ không phù hợp với khuôn mẫu, chẳng hạn chấm bài nghiêm khắc cho học sinh hay thể hiện ít sự mềm mỏng cảm xúc, có thể phải đối mặt với phản ứng tiêu cực. Các khuôn mẫu ấy cũng gây tổn hại cho đàn ông, bởi những người đàn ông bộc lộ sự ấm áp chân thành có nguy cơ bị đánh giá là “không nam tính”. Thậm chí, định kiến còn có thể trở thành cái cớ cho những hành vi thiếu thấu cảm ở đàn ông, ngầm củng cố ý nghĩ rằng đó đơn giản là “bản chất” của họ.
Khuôn mẫu thu hẹp cơ hội: Chúng đẩy phụ nữ vào các vai trò chăm sóc và kéo đàn ông ra xa những vai trò ấy. Đồng thời, chúng che khuất một cách hiểu đầy hy vọng và chính xác hơn về thấu cảm: rằng đó là một năng lực phổ quát của con người, điều mà ai trong chúng ta cũng có thể nuôi dưỡng và hoàn thiện, chứ không phải một đặc tính cố định bị chia cắt theo giới. Khi ta từ bỏ ý niệm rằng thấu cảm là một “đặc quyền nữ giới”, ta mở ra không gian để tất cả mọi người cùng trưởng thành, biết quan tâm, và tham gia trọn vẹn hơn vào các mối quan hệ, gia đình, nơi làm việc và cộng đồng.
References
Martingano, A. J., Konrath, S., Blanch‐Hartigan, D., Davis, M. H., Hall, J. A., Ruben, M. A., ... & Schwartz, R. (2025). Seven Empathy Myths: Correcting Misconceptions About a Complex Construct. Social and Personality Psychology Compass, 19(10), e70093.
Nguồn: Are Women Really Naturally More Empathic Than Men? | Psychology Today
Tác giả: Alison Jane Martingano Ph.D.
.png)
