“Các can thiệp về khả năng phục hồi thực sự có hiệu quả” – vì sao kỹ năng đối diện và thích nghi nên trở thành nền tảng của giáo dục

cac-can-thiep-ve-kha-nang-phuc-hoi-thuc-su-co-hieu-qua-vi-sao-ky-nang-doi-dien-va-thich-nghi-nen-tro-thanh-nen-tang-cua-giao-duc

Việc giáo dục sớm, giúp người trẻ nhận diện những khuôn mẫu suy nghĩ tiêu cực và biết cách chăm sóc sức khỏe tinh thần của mình, có thể giúp phòng tránh nhiều vấn đề trong cuộc sống về sau.

Tôi khoảng 16 tuổi khi lần đầu rơi vào một đợt trầm cảm, nhưng phải đến năm 29 tuổi tôi mới tìm kiếm sự trợ giúp và nhận được chẩn đoán chính thức. Trong quãng thời gian ở giữa ấy, tôi luôn nghĩ rằng mình có thể tự mình vượt qua những cơn u tối. Thế nhưng những đợt sóng tuyệt vọng không hề dịu đi; chúng chỉ ngày một dâng cao. Tôi bị ám ảnh bởi một khao khát mãnh liệt: tan biến đi, không để lại bất kỳ dấu vết nào về sự tồn tại của mình trên đời này.

Tôi vô cùng may mắn khi đáp ứng tốt với một liệu trình trị liệu nhận thức – hành vi (CBT). Nhưng tôi không khỏi tự hỏi: liệu mình đã có thể tránh được bao nhiêu đau đớn nếu như ngay từ khi còn trẻ, tôi đã được học cách quản lý sức khỏe tinh thần tốt hơn, trước cả khi các triệu chứng kịp hình thành.

Chính từ những trăn trở ấy mà các nỗ lực mới nhằm xây dựng khả năng phục hồi tinh thần cho con người ra đời. Triết lý đằng sau rất đơn giản, và đã được áp dụng trong chăm sóc sức khỏe thể chất suốt nhiều thập kỷ: phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh.

“Việc can thiệp ngay khi những vấn đề vừa manh nha xuất hiện có thể giúp tránh được vô vàn khó khăn về sau, đồng thời hỗ trợ con người chuyển hướng sang những cách thích nghi lành mạnh hơn,” Jessica Schleider, phó giáo sư tại Đại học Northwestern (bang Illinois), chia sẻ.

Lợi ích của can thiệp sớm đúng với mọi lứa tuổi, nhưng đặc biệt quan trọng đối với thanh thiếu niên, điều mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gần đây đã nhấn mạnh trong các khuyến nghị nhằm cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người trẻ. “Khi có tới một phần ba các rối loạn sức khỏe tinh thần xuất hiện trước 14 tuổi, và một nửa trước 18 tuổi, hành động sớm là điều thiết yếu để giúp trẻ em và thanh thiếu niên phát triển, cũng như phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình,” WHO nêu rõ. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là tìm ra những cách thức phù hợp để đưa sự hỗ trợ ấy đến với họ và điều này thì nói dễ hơn làm.

Nhóm nghiên cứu ước tính rằng, cứ mỗi 30 người tham gia khóa học thì có 5 người được ngăn chặn không rơi vào mức độ khủng hoảng tâm lý cần can thiệp lâm sàng.

Lời hứa hẹn cùng những cạm bẫy tiềm ẩn của các can thiệp tăng cường khả năng phục hồi có thể được nhìn thấy rõ qua những nghiên cứu về thực hành chánh niệm. Chánh niệm là trạng thái nhận biết các trải nghiệm tinh thần và cảm giác cơ thể một cách không phán xét, không bị cuốn vào dòng suy nghĩ hay cảm xúc, từ đó giúp phá vỡ những vòng lặp suy tư dai dẳng. Dựa trên những nguyên lý này, các nhà tâm lý học đã thiết kế một chương trình kéo dài tám tuần mang tên liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (MBCT). Phương pháp này đã được chứng minh là có thể làm dịu các triệu chứng trầm cảm và giảm nguy cơ tái phát trong tương lai.

Vài năm trước, bác sĩ Julieta Galante khi đó đang công tác tại Đại học Cambridge, cùng các cộng sự đã khảo sát xem liệu một phiên bản điều chỉnh của chương trình này có thể giúp tăng cường khả năng phục hồi cho sinh viên đang đối mặt với áp lực thi cử hay không. Nghiên cứu được tiến hành dưới dạng thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, tiêu chuẩn vàng trong y học, với sự tham gia của hơn 600 người. Một nửa được phân vào nhóm tham gia khóa học chánh niệm trong học kỳ một hoặc hai, trong khi số còn lại nằm trong danh sách chờ, với cam kết sẽ được tham gia sau khi nghiên cứu kết thúc. Galante và các đồng nghiệp sau đó theo dõi mức độ căng thẳng tinh thần của họ trong suốt mùa thi vào tháng Năm và tháng Sáu.

Kết quả đúng như nhóm nghiên cứu kỳ vọng: chương trình chánh niệm đã giúp những người tham gia đối diện tốt hơn với giai đoạn đầy thử thách ấy. “Mức độ khổ tâm của họ được giữ ổn định, gần như không thay đổi so với trước khi bước vào thời gian ôn thi,” Galante – hiện là phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiêm niệm thuộc Trường Khoa học Tâm lý Melbourne (Úc) – cho biết. “Trong khi đó, mức độ căng thẳng của những sinh viên không tham gia khóa chánh niệm thì cứ tăng lên, tăng lên mãi.” Tính trung bình, nhóm nghiên cứu ước tính rằng cứ mỗi 30 người ghi danh tham gia khóa học thì có 5 người được ngăn không rơi vào mức khủng hoảng tâm lý cần can thiệp lâm sàng.

Với những lợi ích như vậy, thoạt nghe có vẻ hợp lý nếu triển khai các khóa học chánh niệm ở mọi cơ sở giáo dục. Thế nhưng, một nghiên cứu gần đây hơn lại khiến chúng ta cần dè dặt với sự hứng khởi ấy. Thử nghiệm My Resilience in Adolescence (Myriad) được tiến hành tại 85 trường học, với gần 8.400 học sinh trong độ tuổi từ 10 đến 14. Trong số đó, 42 trường được yêu cầu triển khai một chương trình đào tạo chánh niệm gồm 10 buổi học, còn các trường còn lại tiếp tục cung cấp những hỗ trợ thông thường trong khuôn khổ các tiết học giáo dục cá nhân, xã hội, sức khỏe và kinh tế (PSHE). Cuối năm học, các nhà nghiên cứu đánh giá mức độ trầm cảm và cảm nhận hạnh phúc chung của học sinh, và nhận thấy không có sự khác biệt nào giữa hai nhóm.

Illustration: Observer design

Theo Galante, khác biệt cốt lõi nằm ở cách tuyển chọn người tham gia. Trong nghiên cứu của bà, sinh viên tự nguyện tham gia, nên có lẽ họ sẵn sàng dấn thân và tiếp nhận nội dung khóa học hơn. Ngược lại, những học sinh trong nghiên cứu Myriad gần như bị “nhồi” tài liệu ngay trong giờ học, và vì thế có thể đã không thực sự chú tâm. Thực tế, nhóm nghiên cứu Myriad phát hiện rằng chưa đến 20% người tham gia duy trì việc thực hành chánh niệm tại nhà. “Phương pháp của nghiên cứu Myriad rất chặt chẽ, nên tôi tin vào những gì họ tìm thấy,” Galante nói. “Nhưng việc biến các can thiệp thành bắt buộc có lẽ không phù hợp với những thực hành như chánh niệm.”

Một lựa chọn khả thi hơn có thể là cung cấp đa dạng nguồn lực, để mỗi người tự chọn ra phương án phù hợp nhất với nhu cầu và mối quan tâm của mình. “Không có một khuôn mẫu chung cho tất cả,” Galante nhấn mạnh. Hiện nay, có rất nhiều lựa chọn sẵn có: từ giáo dục về các chiến lược đối phó và những kỹ thuật dựa trên bằng chứng nhằm cải thiện khả năng điều hòa cảm xúc; các chương trình vận động thể chất (đã được chứng minh là có lợi cho sức khỏe tinh thần); cho đến những hoạt động âm nhạc hay nghệ thuật khuyến khích sự sáng tạo và biểu đạt bản thân.

Dù mức độ hiệu quả có khác nhau, một phân tích tổng hợp gần đây đã kết luận rằng các can thiệp tăng cường khả năng phục hồi có thể cải thiện hạnh phúc tinh thần của con người, và đặc biệt hiệu quả trong việc làm thay đổi quỹ đạo tâm lý của những người đang ở mức nguy cơ “trung bình đến cao” phát triển rối loạn tâm thần. “Các can thiệp về khả năng phục hồi thực sự có tác dụng với rất nhiều người,” Jenny JW Liu, giáo sư nghiên cứu thỉnh giảng tại Đại học Western (London, Ontario), đồng thời là tác giả chính của công trình – chia sẻ.

Nhiều chiến lược trong số này thực chất dạy những kỹ năng cũng có thể được học trong các liệu pháp như CBT. “Ranh giới giữa phòng ngừa và điều trị không hề rõ ràng,” Schleider nhận định. “Xét về nội dung, thường thì chẳng có khác biệt mấy.”

Chẳng hạn, huấn luyện lòng trắc ẩn với bản thân tập trung vào việc làm dịu đi tiếng nói tự chỉ trích vốn thường chiếm lĩnh thế giới nội tâm của nhiều người. Thay vào đó, con người được khuyến khích đối xử với chính mình bằng sự tử tế, đồng thời nhận ra “tính nhân loại chung” trong nỗi đau và khổ sở của mình. Điều này giúp họ bớt cảm thấy cô đơn và bị tách rời khi đi qua những giai đoạn khó khăn.

Chúng ta có thể đo lường phẩm chất này bằng cách yêu cầu mọi người đánh giá mức độ đồng thuận với những phát biểu như: “Tôi cố gắng nhìn nhận những khiếm khuyết của mình như một phần của thân phận con người”, hay “Tôi cố gắng thấu hiểu và kiên nhẫn với những khía cạnh trong tính cách của bản thân mà tôi không thích”. Những thanh thiếu niên và người trẻ trưởng thành đồng tình với các quan điểm ấy ít có nguy cơ phát triển lo âu hoặc trầm cảm hơn. Điều quan trọng là: cách nhìn nhân ái hơn với chính mình này hoàn toàn có thể học được, và dường như chính điều đó đã góp phần nuôi dưỡng khả năng phục hồi trước các rối loạn tâm lý.

Một chiến lược liên quan khác là giáo dục con người về tính linh hoạt của não bộ, khả năng thay đổi những thói quen tinh thần của chính mình. Khi hiểu được điều này, con người sẽ bớt cảm giác bất lực, đồng thời nhận ra rằng mình có đủ năng lực để vượt qua những khó khăn đang đối diện, thay vì tuyệt vọng tin rằng cảm giác nặng nề này sẽ theo họ mãi mãi.

Những tác động mang lại có thể rất ấn tượng. David Yeager (Đại học Texas tại Austin) và Adriana Sum Miu (Đại học Emory, Atlanta, bang Georgia) đã mời các học sinh sắp bước vào trung học tham gia một bài học ngắn về khả năng thay đổi của con người. Bài học này bao gồm những kiến thức cơ bản về khoa học đằng sau tính dẻo của não bộ, kèm theo những câu chuyện cá nhân của các học sinh khác từng vượt qua khó khăn. Chín tháng sau, những em tham gia bài học này có nguy cơ phát triển trầm cảm thấp hơn khoảng 40% so với nhóm chỉ được học về việc cải thiện năng lực thể thao.

Chúng tôi đang hỗ trợ những cách hiểu linh hoạt và thích nghi hơn về căng thẳng, chẳng hạn nhìn nhận nó như một điều có thể thay đổi, chứ không phải thứ tất yếu gây tổn hại.

Cuối cùng, một dạng can thiệp khác nhắm tới việc thay đổi hành vi của con người. Sự khổ tâm về mặt tinh thần thường khiến chúng ta dần xa rời những điều vốn có ý nghĩa với mình, và chính điều đó lại càng kéo tâm trạng đi xuống. Một chiến lược mang tên “kích hoạt hành vi” được thiết kế để phá vỡ vòng luẩn quẩn này. Trước hết, bạn có thể quan sát và ghi nhận cách những sự kiện khác nhau trong tuần tác động đến tâm trạng của mình. Sau đó, bạn chủ động sắp xếp thêm những hoạt động mang lại cảm giác thỏa mãn và phát triển, dù đó là nuôi dưỡng các mối quan hệ ý nghĩa, vận động cơ thể, chơi nhạc hay học một kỹ năng mới. Các tài liệu của can thiệp này cũng thường đưa ra những gợi ý về tâm lý học động lực và việc hình thành thói quen.

“Ý tưởng cốt lõi là: điều bạn làm sẽ định hình cảm xúc của bạn,” Schleider giải thích. “Vì thế, việc tham gia vào những hoạt động có ý nghĩa, có giá trị, mang lại niềm vui hoặc giúp bạn tiến gần hơn đến mục tiêu, có thể tạo ra một vòng xoáy đi lên trong suy nghĩ.”

Những kỹ năng này có thể được giảng dạy trực tiếp, nhưng gần đây Schleider đã xây dựng một nền tảng trực tuyến mang tên Project Yes (Trao quyền và Hỗ trợ cho Thanh thiếu niên), giúp mọi người học cách quản lý sức khỏe tinh thần từ xa. Các mô-đun hiện có bao gồm Project Care, dạy về lòng trắc ẩn với bản thân; Project Personality, khám phá tính linh hoạt của tâm trí; và Project ABC (Action Brings Change – Hành động tạo nên thay đổi) – tập trung vào kích hoạt hành vi.

Mỗi mô-đun chỉ mất khoảng 20–30 phút để hoàn thành, nhưng các nghiên cứu của Schleider cho thấy những “can thiệp một phiên” này có thể tạo ra ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe tinh thần trong ngắn và trung hạn. Bà đã tuyển chọn 2.452 thanh thiếu niên tham gia nghiên cứu vào thời điểm cao trào của đại dịch Covid, giai đoạn đầy bất định, căng thẳng và cô đơn. Ba tháng sau, những người tham gia Project Yes báo cáo mức độ triệu chứng trầm cảm và rối loạn ăn uống thấp hơn đáng kể.

Những cải thiện này thường gắn liền với sự thay đổi trong cảm nhận của người tham gia về hy vọng và khả năng kiểm soát bản thân. “Chúng tôi đang giúp họ tiếp cận những cách hiểu thích nghi hơn về căng thẳng, nhìn nó như một thứ có thể uốn nắn và điều chỉnh, thay vì một lực phá hoại không tránh khỏi, đồng thời cung cấp cho họ những hành vi rất cụ thể để thử nghiệm,” Schleider nói.

Tiềm năng to lớn của các can thiệp này thực sự ấn tượng. Mục tiêu của chúng là bổ trợ cho những hình thức hỗ trợ khác, trở thành bước khởi đầu quan trọng, dễ tiếp cận, giúp những người dễ tổn thương xây dựng sức khỏe tinh thần ngay khi họ cần. “Tôi muốn chúng phổ biến như fluoride trong nước máy,” Schleider chia sẻ.

Dẫu đầy nhiệt huyết, bà vẫn nhấn mạnh rằng cần phải cân nhắc nhiều yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của một người, bao gồm hoàn cảnh gia đình và những vấn đề mang tính hệ thống rộng lớn hơn như bất bình đẳng hay định kiến, vốn đã được biết là có tác động mạnh mẽ đến sức khỏe tinh thần.

Liu cũng đồng tình rằng cần nhìn nhận bối cảnh rộng hơn. “Khả năng phục hồi không phải lúc nào cũng là nỗ lực của riêng từng cá nhân,” bà nói. “Nó còn gắn liền với những nguồn lực mà chúng ta có trong tay, môi trường sống xung quanh và cả bối cảnh địa chính trị.”

Giải quyết những vấn đề ấy chắc chắn là một nhiệm vụ nặng nề hơn nhiều so với thách thức vốn đã không hề nhẹ của việc giúp con người cải thiện các kỹ năng đối diện cá nhân. Tuy vậy, ở phương diện này, những tiến bộ khoa học gần đây vẫn mang lại những bước chuyển tích cực. “Điều tốt nhất chúng ta có thể làm là trang bị cho con người những công cụ tốt nhất mà chúng ta biết, những thứ có thể giúp mở ra một quỹ đạo cuộc sống tích cực hơn,” Schleider kết luận.

Tác giả: David Robson

Nguồn: ‘Resilience interventions do work’ – why coping strategies should be a staple of education | The Guardian

menu
menu