Chúng ta ích kỷ đến mức nào?
Một cuộc tranh luận lâu đời về bản tính con người đang được thổi bùng trở lại nhờ những phát hiện mới xoay quanh sợi dây mong manh giữa hợp tác và cạnh tranh.
Đọc các tác phẩm kinh điển về sinh học tiến hóa khó mà khiến người ta lạc quan về bản chất con người. Từ cuốn The Descent of Man của Charles Darwin năm 1871 trở đi, giữa các nhà sinh học đã hình thành một sự thấu hiểu căn bản rằng các sinh vật, đặc biệt là con người, tiến hóa để tối đa hóa lợi ích cá nhân. Chúng ta hành động nhằm thúc đẩy thành công của chính mình hoặc của gia đình mình. Sự tử tế, ngược lại, chỉ là một ảo ảnh, và đạo đức nói chung cũng chỉ là điều hư cấu. Xã hội sinh học, trào lưu từng gây nhiều tranh cãi vào nửa sau thế kỷ 20, đã buộc chúng ta phải đối diện với bản chất lạnh lùng, toan tính của một loài đã được nhào nặn bởi tiến hóa sinh học.
Thế nhưng gần đây, các nhà nhân học và tâm lý học đã bắt đầu phản biện lại cái nhìn bi quan ấy. Hàng chục cuốn sách trong thập kỷ qua tập trung vào khả năng hợp tác của con người, coi đó như thành phần bí mật giúp chúng ta chinh phục hành tinh này. Chúng ta cùng làm việc với nhau, dùng trí thông minh, ngôn ngữ và vô vàn kỹ năng để bồi đắp những nền văn hóa phức tạp, phát triển công nghệ và giải quyết các vấn đề trong xã hội lẫn môi trường sống. Ngay từ nhỏ, ta đã học được những quy tắc của cộng đồng mình, và chính những quy tắc được in dấu qua văn hóa ấy đã tạo nên các tập thể gắn kết, an toàn, giúp loài người đặt chân tới những vùng đất khắc nghiệt nhất và vượt lên trên những nhóm người thiếu thiện chí, không biết cách chung tay.
Câu chuyện ấy cứu chúng ta khỏi nỗi ngượng ngùng khi phải thừa nhận rằng sự ích kỷ sinh học, việc chỉ hành động để tối đa hóa thành công theo kiểu Darwin, mới là nền tảng của mọi hành vi. Nó cũng tương hợp với một số nhận định của giới nhân học rằng con người cổ xưa từng sống bình đẳng, trong những nhóm nhỏ ít thứ bậc cố định, nơi các thủ lĩnh (nếu có) chỉ có quyền lực hạn chế và cả cộng đồng sẽ cùng chống lại bất kỳ ai tìm cách thống trị.
Nhưng cũng giống như xã hội sinh học trước đây, cách nhìn đó chỉ đúng một nửa. Trên thực tế, khuynh hướng khai thác, lừa lọc và cạnh tranh của chúng ta cũng quan trọng không kém gì sự hợp tác trong câu chuyện tiến hóa của loài người. Chúng ta không tiến hóa để chỉ biết hợp tác hay chỉ biết cạnh tranh, mà tiến hóa với khả năng làm cả hai, cùng với trí khôn đủ để che giấu sự cạnh tranh khi cần, hay gian lận khi tin rằng mình có thể thoát tội. Vì thế, hợp tác là điều chúng ta cần nuôi dưỡng, chứ không phải thứ có thể mặc nhiên trông đợi.

Photo by Sanjay Kanojia/AFP/Getty Images
Cuộc tranh luận hiện đại về việc con người về bản chất là hợp tác hay cạnh tranh bắt nguồn từ cuốn Mutual Aid năm 1902 của Pyotr Kropotkin, một nhà tư tưởng vô chính phủ đã rút ra quan điểm về nhân tính từ việc quan sát các loài vật giúp đỡ lẫn nhau giữa miền hoang dã khắc nghiệt của Siberia. Kropotkin tin rằng chỉ nhờ sự phụ thuộc lẫn nhau mà bất kỳ loài nào mới có thể tồn tại trước những cuộc đấu tranh với thú săn mồi, với bạo lực và với môi trường, những hiểm nguy luôn bủa vây từng cá thể. Giống như bao loài khác, từ cá dưới nước, thú trên cạn đến chim trên trời, chúng ta cũng phải dựa vào nhau để sống còn và sinh sôi.
Nhìn bề ngoài, quan điểm của Kropotkin dường như đối lập với Darwin, người đề cao cuộc đấu tranh sinh tồn và tranh giành bạn tình của từng cá thể như động lực căn bản của tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên. Hai trụ cột cạnh tranh để tồn tại và cạnh tranh để sinh sản, lần lượt là chọn lọc tự nhiên và chọn lọc giới tính, đối với Darwin chính là nền móng của sự sống sinh học. Ngược lại, với Kropotkin và những người cùng chí hướng, trọng tâm lại nằm ở cách mỗi cá thể hành động vì lợi ích của cả loài: sự tương trợ lẫn nhau mang đến một đời sống tốt đẹp và an toàn hơn cho tất cả.
Ngày nay, cuộc tranh luận về cơ bản vẫn vậy, chỉ khác ở ngôn ngữ và công cụ chúng ta dùng để lập luận. Các thí nghiệm do giới nhân học và tâm lý học tiến hành trên khắp thế giới tìm cách đánh giá con người cư xử hợp tác đến mức nào trong muôn vàn hoàn cảnh, với những ranh giới ý thức hệ khá rõ giữa một bên ủng hộ mô hình con người vị kỷ và bên kia tin vào bản tính thiện lành.
Chẳng hạn, trong một nghiên cứu nổi tiếng năm 2001, các nhà nhân học đã làm việc với 15 cộng đồng quy mô nhỏ để xem họ hành xử ra sao trong một thí nghiệm kinh tế mang tên “trò chơi tối hậu thư”. Trong trò chơi này, nhà nghiên cứu trao cho người chơi thứ nhất một khoản tiền nhất định, tương đương giá trị tiền công một hoặc hai ngày lao động tại địa phương. Người đó sẽ quyết định chia cho người chơi thứ hai bao nhiêu, và người nhận có quyền chấp nhận hoặc từ chối. Nếu chấp nhận, cả hai nhận số tiền như đã thỏa thuận; nếu từ chối, cả hai đều trắng tay.
Người ta cho rằng chúng ta đối xử với nhau công bằng hơn nhiều so với điều có thể dự đoán bằng phép tính kinh tế lạnh lùng.
Trong một thế giới chỉ bị chi phối bởi tư lợi, ta sẽ nghĩ người thứ nhất sẽ đưa ra mức thấp nhất có thể, còn người thứ hai sẽ chấp nhận bất kỳ đề nghị nào. Có còn hơn không, dẫu phần “có” ấy có bất công đến đâu với mỗi bên.
Nhưng dĩ nhiên, những người tham gia ở các cộng đồng nhỏ không chơi theo cách đó. Các đề nghị gần như không bao giờ thấp hơn 25 phần trăm tổng số tiền, và ở một số nhóm như người Aché tại Paraguay hay người Lamelara ở Indonesia, mức chia thường còn cao hơn một nửa.
Một số nhà khoa học, nổi bật là nhà kinh tế Ernst Fehr, đã dựa vào kết quả này để bảo vệ quan điểm rằng con người “dị ứng với bất công”, nghĩa là chúng ta là loài gần như phổ quát không ưa sự bất bình đẳng. (Trong các tài liệu, người ta cũng hay dùng thuật ngữ “tính vị tha xã hội”.) Do sự khó chịu mang tính tập thể ấy, chúng ta được cho là cư xử công bằng với nhau hơn nhiều so với điều mà một phép tính lợi ích khô khan có thể dự đoán.
Từ đó, những ý tưởng này mở rộng thành một lý thuyết hiện đại về “siêu hợp tác”, nhưng kèm theo một điểm khác biệt: thay vì nhấn mạnh “lợi ích của cả loài” như Kropotkin từng chủ trương, các nhà nghiên cứu tập trung vào cách con người hành xử trong phạm vi nhóm. Chúng ta học cách hợp tác trong nhóm vì phụ thuộc lẫn nhau để sinh tồn: những mối quan hệ có đi có lại trở nên thiết yếu mỗi khi ai đó thất bại trong săn bắt, hái lượm hay canh tác. Việc chia sẻ dựa trên nhu cầu, khi người ta chỉ xin giúp đỡ lúc thực sự cần, chẳng hạn khi mùa màng thất bát, là đặc điểm quen thuộc của các cộng đồng nhỏ trên khắp thế giới.
Những chuẩn mực địa phương quy định cách con người hợp tác được lan truyền qua quá trình học hỏi xã hội. Vì thế, dù việc sẻ chia theo nhu cầu là thực hành phổ biến, hình thức của nó vẫn phụ thuộc vào từng nền văn hóa cụ thể. Osotua (nghĩa là “dây rốn”) là mối ràng buộc gắn kết hai người Maasai ở Kenya và Tanzania trong sự nương tựa trọn đời. Việc phản bội osotua được cho là điều chưa từng xảy ra, và thậm chí con cháu còn có thể kế thừa mối gắn bó thiêng liêng ấy từ thế hệ trước.
Theo lối suy nghĩ này, những nhóm biết hợp tác hiệu quả hơn sẽ vượt trội và đánh bại những nhóm không làm được điều đó. Đây là một phần của tiến trình rộng lớn hơn mang tên “chọn lọc nhóm văn hóa”, phiên bản hiện đại của khái niệm tương trợ mà Kropotkin từng cổ xúy hơn một thế kỷ trước. Chỉ khác là thay vì hành động vì lợi ích của cả loài, chúng ta hành động vì lợi ích của chính nhóm mình. Sự phụ thuộc lẫn nhau, theo giả thuyết ấy, sẽ nuôi dưỡng lòng trung thành.
Nếu ý niệm về chọn lọc nhóm văn hóa là đúng, thì những vấn đề ta thấy trên thế giới ngày nay nên được nhìn như hệ quả của xung đột giữa các nhóm, chứ không phải bên trong mỗi nhóm. Những chuyện như xung đột quốc tế sẽ bắt nguồn từ khác biệt về chuẩn mực và giá trị xã hội, thay vì do sự thiếu vắng tinh thần vị tha chung của các thành viên. Chọn lọc nhóm văn hóa khuyến khích ta tìm nguyên nhân ở bên ngoài hơn là nhìn vào bên trong.
Nhưng ý tưởng ấy bắt đầu lung lay khi soi xét kỹ hơn. Polly Wiessner, một nhà nhân học đã gắn bó hàng chục năm với người Ju/’hoansi ở sa mạc Kalahari, kể lại điều xảy ra khi bà tự tiến hành những thí nghiệm tương tự. Trong quá trình thực hiện, bà nói rõ với những người tình nguyện rằng mình chỉ hành động thay mặt cho một người khác, nhà kinh tế nổi tiếng Ernst Fehr; đó là mối quan tâm của ông ấy, bà nhấn mạnh, còn bản thân bà hoàn toàn không bận tâm họ sẽ chơi thế nào và dù họ làm gì cũng sẽ không có bất kỳ hệ quả nào. Bà viết:
Một vài người hỏi lại tôi lần nữa liệu có thật là danh tính của họ sẽ không bị tiết lộ hay không; khi được xác nhận, họ bắt đầu đẩy thêm những đồng xu, từng đồng một, về phía mình. Thỉnh thoảng có người còn ngập ngừng hỏi: “Bà chắc là bà không lừa tôi chứ?”
Với Wiessner, vấn đề không nằm ở chỗ người Ju/’hoansi đặc biệt ích kỷ; mà là ở việc thí nghiệm đã tạo ra một tình huống xã hội khác hẳn đời sống thường ngày. Khi đặt ai đó vào một trò chơi nơi danh tính bị che giấu và mọi hậu quả đều bị loại bỏ, ta đã xóa đi rất nhiều áp lực thông thường chi phối sự hợp tác, danh tiếng, các mối quan hệ lâu dài, khả năng bị trả đũa, hay cái giá của việc bị nhìn thấy là kẻ tham lam. Nói cách khác, thứ ta đo được không phải là “mức độ hợp tác của con người ấy”, mà là cách họ hành xử trong một bối cảnh bị lược bỏ, nơi hợp tác và phản bội mang những rủi ro hoàn toàn khác.
Hợp tác không đồng nghĩa với việc bản chất là người biết hợp tác
Nhận thức căn bản ấy đã xuyên suốt hàng chục năm nghiên cứu về sinh học của sự hợp tác. Ngay cả những mô hình toán học đầu tiên đặt tính có đi có lại làm trung tâm của đời sống xã hội con người cũng xem sự phản bội là điều phụ thuộc vào bối cảnh: việc quay lưng trở nên hấp dẫn khi cơ hội gặp lại trong tương lai rất ít, khi người kia không thể đáp trả một cách đáng kể, hay khi danh tiếng của ta khó bị tổn hại. Nhìn từ góc độ đó, hợp tác không phải thứ có thể mặc nhiên giả định; nó là điều đời sống xã hội phải tạo điều kiện để nảy sinh và đáng để gìn giữ.
Trong suốt thập niên 1970, 80 và có lẽ kéo dài đến tận ngày nay, hàng nghìn mô hình máy tính được xây dựng nhằm giải thích con người hợp tác như thế nào và vì sao lại thế đã bỏ lỡ điểm mấu chốt này. Phổ biến nhất, các nhà nghiên cứu khám phá sự tiến hóa của hợp tác thông qua “Thế lưỡng nan của tù nhân”. Ở dạng đơn giản nhất của trò chơi, hai người có thể chọn hợp tác hoặc phản bội. Trong khi cùng hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai, cùng phản bội gây thiệt hại cho cả đôi bên, thì việc phản bội một đối tác đang hợp tác lại là lựa chọn tối ưu cho cá nhân, còn hợp tác với kẻ phản bội sẽ dẫn tới kết cục tệ nhất. (Trò chơi mang tên “Thế lưỡng nan của tù nhân” vì kịch bản giả định là hai tội phạm bị cảnh sát thẩm vấn riêng rẽ và được yêu cầu tố giác lẫn nhau. Nếu anh tố cáo đồng bọn, anh sẽ nhận mức án nhẹ hơn nhiều.)
Các nhà nghiên cứu đã phát triển vô số biến thể của thế lưỡng nan này để giải thích vì sao sự hợp tác có thể được duy trì trong đời sống rộng lớn hơn. Có mô hình nhấn mạnh việc trừng phạt kẻ phản bội; có mô hình chỉ xem xét khả năng hai người sẽ còn gặp lại nhau trong tương lai. Nhưng điểm then chốt là hầu như tất cả đều xem “người hợp tác” và “kẻ phản bội” như những đặc điểm cố định của từng cá nhân. Một người chơi được định nghĩa bởi xu hướng hợp tác của họ, giống như cách ta nói về một kẻ bán đứng bạn bè rằng “một lần phản bội là mãi mãi phản bội”.
Tôi luôn thấy giả định ấy có vấn đề. Cũng như bất kỳ ai cũng có thể lừa dối bạn đồng hành khi khả năng bị phát hiện thấp, chúng ta sai lầm khi cho rằng người từng hợp tác trong một trò chơi sẽ hợp tác trong mọi trò chơi. Hành động hợp tác không đồng nghĩa với việc bản chất là người biết hợp tác.
Các mô hình không thể và cũng không biết phân biệt giữa sự hợp tác do bị ép buộc với sự hợp tác xuất phát từ động cơ vị tha.
Trong công trình học thuật của mình, tôi đã đào sâu sự khác biệt ấy, nhằm xác định tầm quan trọng của những gì ẩn sau vẻ bề ngoài trong các tương tác xã hội. Vài năm trước, tôi xây dựng một mô hình máy tính để xem xét việc những biểu hiện giả tạo có thể tác động thế nào đến hợp tác. Chẳng hạn, nếu một “tác nhân”, đại diện cho một con người trong thế giới mô phỏng, nhận thấy rằng việc phản bội trong Thế lưỡng nan của tù nhân có khả năng bị phát hiện và trừng phạt, tác nhân đó sẽ chọn hợp tác. Nhưng nếu sự phản bội dễ dàng qua mặt mà không ai hay biết, họ sẽ quay lưng.
Mô hình cho thấy mức độ hợp tác vẫn duy trì khá cao, khoảng hai phần ba các tương tác, ngay cả khi phần lớn tác nhân thực chất thích phản bội mỗi khi có cơ hội. Trong khi các mô hình cũ đánh giá sự hợp tác trong thế lưỡng nan từng kết luận rằng việc trừng phạt sẽ loại bỏ hoàn toàn kẻ phản bội khỏi cộng đồng, đúng như những người ủng hộ thuyết chọn lọc nhóm văn hóa lập luận, thì sự khác biệt giữa biểu hiện bên ngoài và động cơ bên trong khiến việc loại bỏ ấy trở nên khó khăn hơn nhiều. Ta không thể trừng phạt kẻ phản bội nếu không biết họ là ai.
Tôi gọi đó là vấn đề của cơ hội. Khi bất kỳ thực thể nào hợp tác, dù là một tác nhân trong máy tính, một vi khuẩn, chuột chũi hay con người, chúng ta không có cách nào xác quyết rằng sự hợp tác ấy xuất phát từ chủ ý thật sự, hay chỉ vì không có cơ hội thuận lợi để phản bội.
Cách con người dùng ngôn ngữ để nói về hợp tác trong đời thực cho thấy rõ vấn đề này đang vận hành ra sao. Các mô hình, theo bản chất và yêu cầu của chúng, luôn mơ hồ: chúng không kể cho ta điều gì ngoài việc một số tác nhân được lập trình đã hợp tác, phản bội, bị trừng phạt… Một mô hình không thể cho biết liệu một tác nhân đã tự chọn hợp tác hay bị buộc phải làm thế (trường hợp thứ hai, trong đời thường, ta gọi là sự cưỡng ép). Và trong cuộc sống, không ít lần chúng ta bị ép phải hợp tác với người khác dù chẳng hề muốn, từ việc trả giá cao cho thực phẩm và đi lại, bỏ phiếu cho một chính trị gia chỉ vì họ “đỡ tệ hơn” người kia, cho đến việc ký thỏa thuận bảo mật để có được một công việc. (Hãy nghĩ đến điều này mỗi khi bạn nghe câu: “Cảm ơn sự hợp tác của bạn.”)
Các mô hình không thể và cũng không biết phân biệt giữa sự hợp tác do bị ép buộc với sự hợp tác xuất phát từ động cơ vị tha. Thế nhưng đôi khi, các thí nghiệm hành vi lại có thể làm được điều đó. Khác xa với hình dung rằng chúng ta là loài ghét bất công và luôn hành động chống lại nó, con người thường chỉ tuyên xưng khao khát công bằng, còn những hành vi thuần vị kỷ thì được giữ lại cho những lúc ta tin rằng mình sẽ không phải trả giá.
Những bằng chứng về hiện tượng gọi là “tín chỉ đạo đức” đã củng cố nhận định này. Nói ngắn gọn, nếu tôi tin rằng mình từng hành xử đạo đức trong quá khứ như quyên góp, làm việc tại bếp ăn cho người vô gia cư…, tôi sẽ dễ biện minh hơn cho những hành động thiếu đạo đức về sau.
Năm 2011, các nhà nghiên cứu cho thấy người tham gia có xu hướng gian lận trong một bài kiểm tra toán cao hơn nếu trước đó họ có cơ hội bày tỏ sự ủng hộ các nguyên tắc đạo đức, nhưng chỉ khi họ có thể tự hợp lý hóa rằng việc gian lận không thực sự vi phạm chuẩn mực của mình. Đáng chú ý, đến năm 2024, hai nhà nghiên cứu phát hiện rằng những doanh nghiệp tự nguyện ký vào “Tuyên bố về Mục đích của Doanh nghiệp” của Business Roundtable năm 2019, văn bản đề cao giá trị cho tất cả mọi người chứ không chỉ cổ đông, lại có khả năng vi phạm luật môi trường và lao động cao hơn.
Và gần đây hơn nữa, các nghiên cứu về việc sử dụng những mô hình ngôn ngữ lớn như ChatGPT cho thấy cơ hội gắn chặt với sự thiếu trung thực đến mức nào. Trong chuỗi thí nghiệm này, các nhà khoa học quan sát cách người tham gia hành xử khi có thể giao phó quyết định cho trí tuệ nhân tạo. Bối cảnh là một trò chơi tung xúc xắc, trong đó số càng cao thì lợi ích tài chính càng lớn. Khi phải tự báo kết quả, phần lớn người chơi vẫn khá trung thực; nhưng khi được ủy thác cho một tác nhân AI, hành vi thay đổi rõ rệt. Nếu họ chỉ cần đưa ra chỉ dẫn mơ hồ như “hãy tối đa hóa lợi nhuận”, mức độ trung thực giảm mạnh, chưa tới một phần năm kết quả được báo cáo chính xác.
Có vô số ví dụ về việc con người né tránh trách nhiệm đạo đức bằng cách viện dẫn “tín chỉ” quá khứ, bằng những lập luận tự bào chữa, hay đơn giản là chớp lấy cơ hội. Nhìn tổng thể, niềm tin rằng mình là người tốt vì những nguyên tắc từng tuyên bố hay những việc tử tế đã làm có thể khiến ta dễ dàng hợp lý hóa việc nắm lấy cơ hội để hành xử bất công ngay lúc này.
Khi việc lách luật mang lại lợi ích mà chẳng ai hay biết, đó gần như luôn là nước đi thắng thế ở bất cứ đâu.
Nhà khoa học hành vi Jason Dana và các cộng sự cho biết con người thường tìm kiếm một “khoảng lách đạo đức” trong các trò chơi kinh tế, những con đường để lựa chọn bất công mà vẫn không cảm thấy tội lỗi. Điều quan trọng nhất, theo nhóm nghiên cứu, nhiều khi không phải là sự công bằng, mà là khả năng tránh né trách nhiệm, đôi lúc bằng cách viện cớ không biết ai bị tổn hại và bị tổn hại ra sao:
Trong hàng loạt vụ bê bối tài chính gần đây, các nhân vật cấp cao bị cáo buộc sai phạm thường chỉ bị quy trách nhiệm khi chứng minh được rằng họ đã biết rõ những tổn hại gây ra. Chúng tôi lưu ý rằng cách tiếp cận này đã bỏ qua những nỗ lực mà các giám đốc có thể thực hiện để cố tình duy trì sự “không biết” của mình.
Khi nhìn cách con người nhanh chóng bấu víu vào kẽ hở và lời bào chữa, ta rất dễ đổ lỗi cho hệ thống, rằng luật pháp phương Tây, thị trường hay chính trị đã dạy ta hành xử như thế. Nhưng tôi không nghĩ chủ nghĩa cơ hội bắt đầu từ đó. Nó còn nguyên sơ hơn nhiều: khi việc cắt xén mang lại lợi ích mà không ai phát hiện, hãy nghĩ đến chuyện trốn thuế, thì đó là lựa chọn khôn ngoan gần như ở bất cứ nơi đâu. Chúng ta có thể thiết kế đủ thứ luật lệ để khuyến khích hợp tác, nhưng không thể xóa đi sự thật nền tảng rằng gian lận thường đem lại lợi lộc khi nó được che giấu.
Quy mô nhóm ngày càng lớn, thể hiện qua những xã hội phân tầng mà phần đông chúng ta đang sống, tạo ra vô vàn cơ hội để lừa lọc hơn rất nhiều so với quá khứ tiến hóa. Sự bình đẳng thường thấy ở các cộng đồng nhỏ như người Aché có lẽ phản ánh việc thiếu cơ hội “ăn theo” hơn là một thiên hướng công bằng bẩm sinh. Việc ai cũng biết mặt nhau trong cùng một lán trại, lựa chọn sống gần họ hàng, cùng với kỳ vọng tập thể rằng mọi người sẽ tuân theo chuẩn mực địa phương, đã duy trì sự hợp tác, dù ngay cả trong các xã hội nhỏ, người ta vẫn tìm cách lợi dụng lẫn nhau. Những người đàn ông lớn tuổi chẳng hạn thường thống trị nhóm, và việc bóc lột phụ nữ cùng đàn ông trẻ đã được ghi nhận khá nhiều trong các tài liệu dân tộc học về những bộ tộc du mục và săn bắt hái lượm trên khắp thế giới.
Trong kho tàng ghi chép dân tộc học toàn cầu còn vô số ví dụ khác về sự lợi dụng. Ý tưởng cho rằng loài người từng sống hoàn toàn bình đẳng cho tới khi nông nghiệp xuất hiện phần lớn chỉ là một huyền thoại giúp ta cảm thấy dễ chịu hơn về bản tính của mình. Nó nuôi dưỡng hy vọng rằng rồi một ngày chúng ta sẽ vượt qua được bất công do việc từ bỏ lối sống săn bắt hái lượm gây nên.
Thay vì quy mọi vấn đề hiện nay cho cạnh tranh giữa các nhóm hay cấu trúc xã hội, quy tắc cốt lõi cho bất kỳ hệ thống xã hội nào phải là: hãy chờ đợi sự lợi dụng ở nơi nào nó có thể xảy ra. Mỗi nhóm, mỗi xã hội và mỗi nền văn hóa, dù lớn hay nhỏ, đều tồn tại những điểm yếu mà một số người sẽ tìm cách khai thác vì lợi ích riêng. Câu hỏi thực sự là những điểm yếu ấy tác động ra sao tới văn hóa nói chung, và liệu chúng ta đang sống trong một xã hội tưởng thưởng cho sự ngay thẳng – hay cho sự khôn khéo, tinh vi và cơ hội.
Trong thế giới hiện đại, cũng như trong quá khứ tiến hóa, câu trả lời nghiêng về vế sau. Tất cả những gì thay đổi kể từ khi nông nghiệp ra đời chỉ là số lượng và hình thức của các cơ hội để “ăn theo” và bóc lột. Do đó, khi công nghệ ngày càng phát triển và quy mô nhóm ngày càng mở rộng, ta nên lường trước rằng con người sẽ sáng tạo ra những cách thức ngày càng tinh vi để phản bội hiệu quả hơn, và tiến hóa sẽ ưu ái những kẻ làm điều đó giỏi nhất.
Khuynh hướng liên tục phát triển chiến lược mới để cạnh tranh này là một phần của giả thuyết “bộ não xã hội”, do nhà tâm lý học Nicholas Humphrey đề xuất. Trong bài viết mang tính nền tảng năm 1976, Humphrey lập luận rằng chức năng chủ yếu của trí tuệ con người là để điều hướng môi trường xã hội, chứ không phải thế giới vật chất.
Một hàm ý của giả thuyết ấy là giả định rằng trong mọi xã hội đều tồn tại những con người cơ hội, chỉ tuân theo chuẩn mực địa phương chừng nào việc đó còn mang lại lợi ích. Ở nơi khác, tôi gọi họ là những “đối thủ vô hình”. Chẳng hạn, các tín đồ tôn giáo cuồng nhiệt hay những người sùng bái chính trị trên khắp thế giới có thể tuân thủ mọi quy tắc của nhóm, từ nghi lễ đến ý thức hệ, cho tới khi họ đạt được vị trí quyền lực. Sau đó, họ có thể lợi dụng người khác và hành xử ích kỷ theo ý mình. Điều này phần nào lý giải vì sao nhiều nghiên cứu cho thấy những người mang khuynh hướng tâm thần lại có khả năng cao bước vào các vị trí quyền lực, ví dụ trong doanh nghiệp hay chính trị. Việc tuân thủ luật lệ mà không thực sự tin vào chúng hóa ra lại là chiến lược hữu hiệu để leo lên đỉnh cao.
Thừa nhận mà nói, những lập luận này khiến thế giới nghe thật ảm đạm. Người ta dễ nghĩ rằng nếu câu chuyện tiến hóa của loài người không phải bức tranh hồng về hợp tác, công bằng và tương trợ mà bao thế hệ học giả đã ca ngợi hơn một thế kỷ qua, thì tương lai chẳng còn gì đáng mong đợi. Có quá nhiều vấn đề từ bất bình đẳng chồng chất, niềm tin công cộng suy giảm, đến hành tinh nóng lên từng ngày và nguy cơ ngày càng lớn từ những công nghệ như AI, để ta có thể hy vọng rằng một loài mang quá khứ u tối và tầm thường lại đủ sức vượt lên chính mình mà kiến tạo một ngày mai tốt đẹp.
Nhưng tôi cho rằng sự bi quan ấy đặt sai chỗ, và việc thành thật đối diện với chính mình mới là bước đầu tiên quan trọng nhất mà chúng ta có thể cùng nhau thực hiện. Điều đó đòi hỏi ta phải nhìn nhận thực tế về giống loài mang tên Homo sapiens. Trước hết, chúng ta không bẩm sinh đã biết hợp tác, nhưng mang trong mình khả năng để hợp tác – cũng giống như ta mang khả năng bóc lột và ích kỷ. Ở cấp độ mỗi cá nhân, điều quan trọng nằm ở cách ta lựa chọn đối xử với người khác.
Câu hỏi thực sự là: kiểu môi trường nào sẽ giúp ta dễ làm điều đúng đắn hơn?
Thứ hai, cũng như không tồn tại một “người hợp tác” thuần túy, không có cái gọi là “kẻ ăn theo” cố định. Đó chỉ là những nhãn dán ta dùng trong mô hình và thí nghiệm cho tiện. Cách con người hành xử, và đặc biệt là cách ta mô tả các hành vi xã hội, luôn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Cùng một người có thể sống rất đạo đức trong bối cảnh này nhưng lại không như thế ở bối cảnh khác, đúng như các nghiên cứu về “tín chỉ đạo đức” đã chỉ ra. Tính linh hoạt trong hành vi, khả năng thích nghi với tình huống, là một trong những đặc điểm cốt lõi của chúng ta. Những tiến trình tâm lý tiến hóa chi phối quyết định của con người không thể bị nhốt trong các mô hình hay trò chơi giản lược. Bất kỳ ai cũng có thể trở thành một “đối thủ vô hình”.
Chính vì thế mà các chuẩn mực xã hội ở cấp địa phương quan trọng đến vậy. Nếu hợp tác không phải phẩm chất cố định mà là kết quả mong manh, lệ thuộc vào bối cảnh, thì câu hỏi mấu chốt phải là: kiểu môi trường nào giúp con người dễ làm điều tử tế hơn, và khiến việc lặng lẽ phản bội trở nên khó khăn hơn? Nhà kinh tế đoạt giải Nobel Elinor Ostrom từng lập luận rằng những chuẩn mực cộng đồng chính là nền móng của mọi nỗ lực nghiêm túc nhằm thúc đẩy hợp tác: hãy nhìn vào cách con người cư xử trong không gian gần gũi của họ để hiểu cách họ kiềm chế sự ích kỷ vô độ. Cũng như cơ thể tiến hóa hệ miễn dịch để chống lại những tế bào ích kỷ âm thầm phá hoại tổng thể, xã hội cần những chuẩn mực và các thiết chế bảo vệ chúng, để nhận diện và kìm hãm những mầm mống cạnh tranh nảy nở trong bóng tối.
Bồi đắp sự phụ thuộc lẫn nhau ở cấp cộng đồng, cùng những chuẩn mực từng được hình thành để giúp chúng vận hành hòa hợp, vì thế là điều cốt yếu để chống lại sự bóc lột sinh ra từ các đối thủ vô hình. Đừng bao giờ cố áp đặt hợp tác từ trên xuống. Thay vào đó, như nhà kinh tế Noreena Hertz đề xuất, ta cần thay thế khẩu hiệu “lòng tham là tốt” trong khuôn khổ tư bản bằng một tâm thế hướng về cộng đồng và cổ vũ hợp tác; nhận ra rằng tất cả chúng ta đều sống tốt hơn khi cùng chung tay chính là trực giác then chốt để xây dựng một môi trường vị tha và bình đẳng cho tương lai.
Giáo dục là nơi hành trình ấy bắt đầu, không phải như lời giáo huấn đạo đức, mà như tri thức chung về chính mình: nó giúp ta nhìn rõ những cám dỗ bên trong và chuyển hóa sự thấu hiểu ấy thành những giàn đỡ thực tế, luật pháp, trường học, các quy tắc công dân – biết tưởng thưởng cho hợp tác và nâng cái giá của sự lợi dụng. Gian lận sẽ không bao giờ biến mất, và luôn có những người tìm kiếm lợi thế cho riêng mình, nhưng trí tuệ đặc biệt của chúng ta nằm không chỉ ở khả năng khai thác, mà còn ở việc nhận diện sự bóc lột và biết cách liên kết để chống lại nó. Hãy đầu tư vào tri thức ấy, vào những thiết chế địa phương khiến công bằng được trân trọng và đền đáp, để mở rộng không gian nơi hợp tác và bình đẳng có thể bền bỉ sinh sôi.
Tác giả
Jonathan R Goodman là một nhà khoa học xã hội đang làm việc tại Viện Wellcome Sanger và Đại học Cambridge, Vương quốc Anh. Ông là tác giả cuốn Invisible Rivals: How We Evolved to Compete in a Cooperative World (Những đối thủ vô hình: Cách chúng ta tiến hóa để cạnh tranh trong một thế giới hợp tác), xuất bản năm 2025.
Biên tập bởi Pam Weintraub.
Nguồn: How selfish are we? | Tạp chí Aeon.co
.png)
