Điều giúp bạn thấy khá hơn có thể phụ thuộc vào nơi bạn đã lớn lên

dieu-giup-ban-thay-kha-hon-co-the-phu-thuoc-vao-noi-ban-da-lon-len

Những nghiên cứu về các cách thức con người thường dùng để đối diện với cảm xúc cho thấy hiệu quả của chúng khác nhau giữa các nền văn hoá

Trong nhiều thập kỷ, ngành tâm lý học đã liệt kê ra hàng loạt chiến lược để ứng phó với cảm xúc và chia chúng thành hai nhóm: “tốt” và “xấu”. Chẳng hạn, cách nhìn nhận lại một tình huống, như khi ai đó tự nhủ: Có lẽ thất bại này thực ra là cơ hội để mình trưởng thành, thường được xem là có lợi. Ngược lại, kìm nén cảm xúc của mình lại thường bị coi là có hại. Cách phân chia rạch ròi ấy đã len lỏi vào các video trên TikTok, những cuốn sách self-help, và cả trong các buổi trị liệu tâm lý.

Nhưng điều được xem như chân lý ấy không phải lúc nào cũng đứng vững. Ngày càng nhiều nghiên cứu cho thấy cùng một chiến lược có thể giúp ích trong hoàn cảnh này, nhưng lại gây hại trong hoàn cảnh khác. Khi bạn có phần nào quyền kiểm soát tình huống, chẳng hạn đang cố hoàn thành công việc trước một hạn chót quan trọng, thì việc cố gắng nghĩ khác đi để cảm thấy dễ chịu hơn có thể kém hiệu quả hơn so với việc lao vào làm. Thậm chí, nó còn có thể cản trở khả năng hoàn thành nhiệm vụ của bạn. Nhưng nếu bạn gần như không có chút kiểm soát nào, như khi mắc kẹt giữa dòng xe đông nghịt, thì thay đổi cách nhìn nhận lại có lẽ sẽ hữu ích hơn nhiều.

Các nhà tâm lý học từ lâu đã hiểu tầm quan trọng của bối cảnh, từ hoàn cảnh trước mắt của mỗi người cho đến nền văn hoá mà họ sống và trải nghiệm thế giới xã hội. Thế nhưng, cho đến gần đây, ý tưởng ấy vẫn thiên về lý thuyết hơn là thực hành. Dường như các nhà nghiên cứu thường hài lòng với việc nói rằng bối cảnh rất quan trọng, mà chưa chỉ ra cụ thể nó quan trọng như thế nào và vì sao. Ngay cả khi tìm hiểu sự khác biệt văn hoá trong trải nghiệm cảm xúc, họ cũng thường chỉ dừng lại ở việc so sánh phương Tây và phương Đông, hoặc chia các nền văn hoá theo hai nhãn “cá nhân” và “tập thể”, một cách phân đôi đơn giản khác.

Các đồng nghiệp của tôi và tôi muốn biết liệu những chiến lược ứng phó thường được gọi là “hữu ích” hay “có hại” có thực sự hoạt động giống nhau ở khắp mọi nơi, hay hiệu quả của chúng phụ thuộc vào bối cảnh văn hoá. Phần lớn những gì giới nghiên cứu biết về điều chỉnh cảm xúc, tức cách con người cố gắng tác động đến cảm giác của mình và cách mình bộc lộ cảm xúc, chủ yếu đến từ một nhóm xã hội nhất định. Những xã hội này thường là phương Tây, công nghiệp hoá, được giáo dục cao, giàu có và dân chủ (gọi tắt là WEIRD). Mở rộng phạm vi nghiên cứu có thể giúp làm rõ chiến lược nào thực sự hiệu quả, không chỉ với nhóm này mà còn với nhiều cộng đồng khác, và từ đó giúp mỗi người quản lý cảm xúc theo cách phù hợp với bối cảnh văn hoá của mình.

Với mục tiêu ấy, nhóm chúng tôi đã tổng hợp các phát hiện liên quan từ 37 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, dựa trên dữ liệu của hơn 150.000 người tham gia. Nhờ vậy, chúng tôi có thể xem xét cách hai chiến lược được nghiên cứu nhiều nhất, nhìn nhận lại và kìm nén, liên hệ với sức khỏe tinh thần ra sao trên khắp thế giới.

Nói rõ hơn, “nhìn nhận lại” về mặt nhận thức là việc thay đổi cách bạn suy nghĩ về một tình huống để làm thay đổi tác động cảm xúc của nó, chẳng hạn biến một thất bại thành cơ hội học hỏi. Còn “kìm nén biểu lộ” là việc kiềm chế không bộc lộ cảm xúc ra ngoài, như che giấu sự bực bội nơi công sở hay giấu đi chút hả hê trước vận rủi của người khác. Một lần nữa, trong thế giới phương Tây, nhìn nhận lại từ lâu đã được xem là có lợi cho sức khỏe tinh thần, còn kìm nén thì bị coi là bất lợi. Nhưng khi nhìn vào bộ dữ liệu toàn cầu của chúng tôi, câu chuyện không phải lúc nào cũng diễn ra như vậy.

Một lớp học ở Hefei, tỉnh Anhui, Trung Quốc, ngày 2 tháng 6 năm 2012. Ảnh: Stringer/Reuters

Thay vì chỉ so sánh phương Đông và phương Tây, hay các nền văn hoá thiên về cá nhân và tập thể, chúng tôi sử dụng một mô hình toàn diện hơn do nhà tâm lý học xã hội người Hà Lan Geert Hofstede phát triển. Mô hình văn hoá quốc gia của Hofstede đo lường các nền văn hoá dựa trên nhiều chiều cạnh khác nhau, dựa vào điểm trung bình mà người dân trong mỗi nền văn hoá tự đánh giá. Một số chiều cạnh đó gồm:

Tránh sự bất định. Ở Nhật Bản, nơi có mức độ tránh sự bất định cao, người ta thường ưa chuộng những quy tắc rõ ràng và nếp sinh hoạt có cấu trúc. Môi trường làm việc có thể nhấn mạnh vào quy trình chính thức để giảm thiểu tối đa những điều bất ngờ ngoài dự liệu.

Định hướng ngắn hạn so với dài hạn. Ở Trung Quốc, một nền văn hoá thiên về dài hạn, người ta có xu hướng coi trọng việc tiết kiệm tiền bạc và đầu tư cho giáo dục tương lai.

Cạnh tranh so với đồng cảm. Hàn Quốc, thường được xem là xã hội đề cao tính cạnh tranh, đặt giá trị rất cao vào thành tích trong học tập và công việc, với học sinh nỗ lực đạt điểm số cao nhất và giành suất vào các trường đại học danh tiếng.

Hưởng thụ so với tiết chế. Ở những nền văn hoá thiên về tiết chế hơn như Nga, người ta thường nhấn mạnh mạnh mẽ hơn vào bổn phận, kỷ luật và sự tự chủ, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc phải gác lại niềm vui cá nhân.

Từ bộ dữ liệu toàn cầu mà chúng tôi phân tích, một vài khuôn mẫu đã dần hiện ra. Chẳng hạn, ở những nền văn hoá khoan dung hơn với sự bất định, như Hoa Kỳ và Trung Quốc, chiến lược nhìn nhận lại về mặt nhận thức cho thấy nhiều bằng chứng về tính hữu ích hơn. Ở những nơi này, việc người ta tự báo cáo rằng mình thường dùng cách “nhìn lại” trong đời sống hằng ngày có liên hệ chặt chẽ hơn với sức khỏe tinh thần tốt, cả ở khía cạnh giảm bớt các triệu chứng tiêu cực (như trầm cảm, lo âu) lẫn gia tăng những trạng thái tích cực (như cảm giác an yên, hài lòng với cuộc sống).

Các nền văn hoá phương Đông như Trung Quốc và Nhật Bản thực ra có sự khác biệt đáng kể về mức độ tránh sự bất định.

Chúng tôi không thể khẳng định chắc chắn vì sao việc nhìn nhận lại có thể hữu ích hơn trong những nền văn hoá như vậy, dù có thể hình dung ra vài khả năng. Hãy thử nghĩ đến một tình huống gây bực bội: chuyến tàu bị trễ khi bạn đang trên đường đến một cuộc họp quan trọng. Ở một nền văn hoá đề cao sự chắc chắn, phản ứng thường thấy có thể là cố gắng giành lại quyền kiểm soát, như gọi điện báo trước, sắp xếp lại lịch trình, hoặc thấp thỏm theo dõi thời gian trễ, để không còn chỗ cho việc “nhìn lại” và diễn giải lại tình huống. Nếu không lấy lại được sự kiểm soát trong hoàn cảnh ấy, bạn có thể cảm thấy mình đã đi ngược kỳ vọng xã hội (chẳng hạn, gây ra sự bất định cho người khác).

Thế nhưng, trong một nền văn hoá dễ dàng chấp nhận sự bất định hơn, người ta có thể thoải mái hơn khi diễn giải lại sự chậm trễ ấy, xem đó là điều mình khó lòng thay đổi, hay chỉ là một trong vô vàn trục trặc nhỏ của một ngày dài, và chính cách nhìn ấy giúp làm dịu đi áp lực đang đè nặng trong lòng.

Dù văn hoá thường được hình dung như một ranh giới giữa Đông và Tây, các nền văn hoá phương Đông như Trung Quốc và Nhật Bản thực ra khác nhau đáng kể về mức độ tránh sự bất định, một khác biệt thường bị bỏ qua. Với một người lớn lên ở Nhật Bản, nơi sự chắc chắn và trật tự được đề cao, việc diễn giải lại một thất bại (Có lẽ vấp ngã này sẽ mở ra một cánh cửa khác) có thể mang lại cảm giác kém thỏa đáng, bởi chuẩn mực văn hoá ở đó là tìm cách giảm thiểu điều không chắc chắn. Ngược lại, một người lớn lên ở Trung Quốc, nơi sự mơ hồ được chấp nhận nhiều hơn, có thể cởi mở hơn với những cách hiểu khác (chẳng hạn: Bài kiểm tra này không định nghĩa con người mình, hay Mình có thể học được điều quý giá từ sai lầm này). Dĩ nhiên, trong cùng một nền văn hoá vẫn luôn có rất nhiều khác biệt giữa mỗi cá nhân; ở đây, chúng tôi đang nói đến xu hướng trung bình, mức độ hữu ích của việc nhìn nhận lại nói chung.

Chiến lược nhìn nhận lại cũng cho thấy mối liên hệ rõ hơn với việc giảm các triệu chứng tâm lý ở những nền văn hoá thiên về ngắn hạn, nơi con người tập trung nhiều hơn vào nhu cầu và kết quả trước mắt. Có thể vì trong những bối cảnh ấy, việc nhìn nhận lại giúp họ thích nghi khi tình huống trở nên cấp bách hoặc khó lường, mang đến một cách điều chỉnh cảm xúc nhanh chóng mà không cần chờ đợi giải pháp dài hạn. Chúng tôi cũng tìm thấy kết quả tương tự ở những nền văn hoá đề cao tính cạnh tranh. Trong những môi trường mà thất bại hay vấp ngã có thể bị cảm nhận như một mối đe doạ lớn, khả năng diễn giải lại thử thách có thể trở thành một lớp bảo vệ đặc biệt quan trọng.

Khi xem xét chiến lược kìm nén cảm xúc (thường bị gắn nhãn là “xấu”), chúng tôi nhận thấy nó liên hệ rõ ràng hơn với sức khỏe tinh thần kém ở những nền văn hoá đề cao sự hưởng thụ, nơi người ta nhấn mạnh nhiều hơn vào việc thỏa mãn, tận hưởng và bộc lộ cảm xúc, thay vì tiết chế. Ngược lại, trong những nền văn hoá coi trọng sự tiết chế hơn, việc kìm nén có thể ít gây hại cho hạnh phúc của con người. Trong các bối cảnh ấy, việc giữ lại cảm xúc có thể phù hợp với kỳ vọng xã hội và được xem như dấu hiệu của sự trưởng thành hoặc tôn trọng sự hài hoà chung. Khi kìm nén hòa hợp với “kịch bản” văn hoá xung quanh, nó có lẽ ít tạo ra cảm giác giả tạo, cô lập hay căng thẳng trong các mối quan hệ, những điều có thể khiến nó trở nên tổn hại ở nơi khác.

Tất cả những khuôn mẫu này đều dẫn đến một nhận ra mạnh mẽ: điều chỉnh cảm xúc không phải là chiếc áo may sẵn vừa với mọi người. Đó là sự tương tác giữa con người và môi trường họ sống. Chuẩn mực văn hoá, kỳ vọng xã hội và trải nghiệm cá nhân không chỉ định hình cách ta bộc lộ cảm xúc, mà còn ảnh hưởng đến cách ta lý giải những hoàn cảnh khó khăn, và liệu một phương pháp nào đó có thực sự hiệu quả với ta hay không.

Điều quan trọng là nhận ra rằng thứ đem lại cảm giác hữu ích cho người này hay điều sách vở gọi là “thích nghi tốt”, chưa chắc sẽ có tác dụng tương tự với một người đến từ nền văn hoá khác, hoặc trong một hoàn cảnh khác. Khuyến khích ai đó “hãy nhìn sự việc theo cách khác” hay khuyên họ đừng kìm nén cảm xúc không phải lúc nào cũng là điều nên làm. Với một số người, lời nhắn nhủ “hãy nghĩ khác đi” có thể khiến họ cảm thấy bị xem nhẹ, như thể thực tế xã hội họ đang sống không được thấu hiểu. Với người khác, sự kìm nén có thể phản ánh sức mạnh nội tâm hoặc sự hoà hợp với giá trị văn hoá của mình, chứ không phải là né tránh hay rút lui khỏi cảm xúc.

Cùng một phương pháp can thiệp có thể chạm đến mỗi người theo những cách khác nhau, tùy bạn là ai và bạn lớn lên từ đâu

Với điều đó trong tâm trí, không có gì ngạc nhiên khi ngay cả những phương pháp điều chỉnh cảm xúc đã được kiểm chứng kỹ lưỡng cũng không thể áp dụng một cách phổ quát cho tất cả mọi người. Một nghiên cứu toàn cầu gần đây đã thử nghiệm chương trình huấn luyện dựa trên chiến lược nhìn nhận lại ở 87 quốc gia và vùng lãnh thổ, và phát hiện rằng dù nó mang lại lợi ích cho phần lớn người tham gia, mức độ hiệu quả lại khác biệt đáng kể giữa nơi này với nơi khác.

Khoa học về điều chỉnh cảm xúc đang dần chuyển mình: từ câu hỏi “Chiến lược nào là tốt nhất?” sang những câu hỏi tinh tế hơn: “Trong hoàn cảnh nào, với ai, và vì sao một chiến lược lại giúp ích hay gây hại?”. Khi ai đó nói: “Đừng kìm nén nữa” hay “Hãy nhìn vào mặt tích cực”, lời khuyên ấy thường được định hình bởi những chuẩn mực cảm xúc và giả định văn hoá nhất định. Trong bối cảnh trị liệu, điều này có nghĩa là cùng một cách can thiệp có thể tạo ra những tác động khác nhau, tuỳ thuộc vào con người bạn và nơi bạn xuất thân. Một nhà trị liệu có thể khuyến khích ai đó tìm “tia sáng phía sau đám mây”, điều này sẽ hữu ích nếu người ấy sẵn sàng đón nhận những cách diễn giải khác nhau về sự việc. Nhưng với một người lớn lên trong nền văn hoá đề cao việc giành lại quyền kiểm soát và giải quyết vấn đề một cách trực diện, việc “nhìn nhận lại” có thể trở nên thiếu thuyết phục. Tương tự, trong khi nhiều người cảm thấy nhẹ nhõm khi có thể nói ra nỗi lòng của mình, thì với một số khác, việc bộc lộ nỗi buồn hay sự tổn thương một cách công khai có thể bị xem là không phù hợp, thậm chí là làm phiền người khác. Hãy thử hình dung bạn khẽ thúc một người bạn hay đồng nghiệp “mở lòng ra” chia sẻ cảm xúc: sự hữu ích của lời đề nghị ấy, phần nào đó, phụ thuộc vào nền tảng văn hoá của họ.

Thực tế, các nghiên cứu về mất mát và đau buồn cho thấy rằng việc tạm thời dựa vào những hành vi thường bị xem là không lành mạnh, chẳng hạn ở một mình, tách khỏi tương tác xã hội để làm tê đi nỗi đau, không nhất thiết dẫn đến tổn hại lâu dài. Hiện tượng này, được nhà tâm lý lâm sàng George Bonanno gọi là “coping ugly” (tạm hiểu là “vượt qua theo cách xù xì, không đẹp đẽ”), gợi ý rằng đôi khi điều trông có vẻ không lành mạnh lại chính là thứ giúp một người đi qua được một ngày đầy chông chênh. Những phát hiện ấy nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh, không chỉ là bối cảnh văn hoá, mà còn là hoàn cảnh cụ thể và thời điểm trong cuộc đời.

Chúng ta đang sống trong một thế giới với những “địa hình cảm xúc” vô cùng đa dạng. Dữ liệu xuyên văn hoá về điều chỉnh cảm xúc đã cho thấy điều đó, và mời gọi mỗi chúng ta suy nghĩ linh hoạt hơn về những cách ứng phó nào phù hợp với mình hay với những người ta yêu thương. Không chỉ có một cách đúng để cảm nhận, và cũng không chỉ có một cách đúng để đối diện với những cảm xúc ấy.

Tác giả: Mark Chen là trợ lý giáo sư sắp nhận nhiệm vụ tại Khoa Tâm lý học của Harvard University, Hoa Kỳ.

Biên tập: Matt Huston

Nguồn: What helps you feel better might depend on where you grew up | Tạp chí Psyche.co  

menu
menu